Cách mạng công nghiệp 4.0 đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ dựa vào tài nguyên là chính sang nền kinh tế dựa trên tài nguyên tri thức với trụ cột là internet và kỹ thuật số. Nền kinh tế số ra đời thay thế nền kinh tế truyền thống. Vì vậy, cần phải có sự thay đổi về cơ cấu lao động mà theo đó nguồn nhân lực số phải được chú trọng phát triển. Bài viết làm rõ khái niệm, nội hàm và đặc trưng của nguồn nhân lực số; đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam. Ông cha ta thường căn dặn: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. C. Mác cho rằng, con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất. Nhà tương lai học người Mỹ, Alvin Toffler nhấn mạnh vai trò của lao động trí thức: “Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên”. Xã hội loài người tồn tại và phát triển dựa vào hai nguồn tài nguyên là: Thiên nhiên và con người. Cái quý nhất trong nguồn tài nguyên con người là trí tuệ. Mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai thác cạn kiệt. Song, sự hiểu biết của con người đã, đang và sẽ không bao giờ chịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài nguyên trí tuệ không có giới hạn, trí tuệ con người là nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội. Thực tế chứng minh rằng, một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi, nhưng kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn, biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó; với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ trí thức xứng tầm; lực lượng công nhân kỹ thuật tay nghề cao, đông đảo và có các doanh nhân tài ba. Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức và trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định. Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao đều phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn vốn con người, vốn nhân lực”. Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và một môi trường chính trị xã hội ổn định. Trước tình hình đó em chọn đề tài: “Vai trò của nguồn lao động trong phát triển kinh tế ở nước ta” làm bài thu hoạch cho môn Kinh tế phát triển.
Trang 1B NỘI DUNG 3
I KHÁI NIỆM, LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN NGUỒN LAO ĐỘNG: 3
1 Các khái niệm: 3
2 Lý luận liên quan đến nguồn lao động: 3
II VAI TRÒ CỦA NGUỒN LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ: 5 1 Quan điểm của Đảng về phát huy vai trò của nguồn lao động: 5
2 Thực trạng nguồn lao động với tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam sau hơn 35 năm đổi mới: 6
a) Về số lượng nguồn lao động: 6
b) Về chất lượng nguồn lao động: 7
c) Về cơ cấu của nguồn lao động: 7
3 Hiệu quả sử dụng nguồn lao động Việt Nam: 10
4 Vai trò của nguồn lao động đối với phát triển kinh tế: 10
5 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam 13
C KẾT LUẬN 18
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 2A MỞ ĐẦU
Cách mạng công nghiệp 4.0 đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ dựa vào tài nguyên là chính sang nền kinh tế dựa trên tài nguyên tri thức với trụ cột là internet và kỹ thuật số Nền kinh tế số ra đời thay thế nền kinh tế truyền thống Vì vậy, cần phải có sự thay đổi về cơ cấu lao động mà theo đó nguồn nhân lực số phải được chú trọng phát triển Bài viết làm rõ khái niệm, nội hàm và đặc trưng của nguồn nhân lực số; đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực số ở Việt Nam
Ông cha ta thường căn dặn: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” C Mác cho rằng, con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất Nhà tương lai học người Mỹ, Alvin Toffler nhấn mạnh vai trò của lao động trí thức:
“Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; chỉ có trí tuệ của con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên” Xã hội loài người tồn tại và phát triển dựa vào hai nguồn tài nguyên là: Thiên nhiên và con người Cái quý nhất trong nguồn tài nguyên con người là trí tuệ Mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai thác cạn kiệt Song, sự hiểu biết của con người đã, đang và sẽ không bao giờ chịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài nguyên trí tuệ không có giới hạn, trí tuệ con người là nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội
Thực tế chứng minh rằng, một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi, nhưng kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nếu quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh
tế đúng đắn, biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó; với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ trí thức xứng tầm; lực lượng công nhân kỹ thuật tay nghề cao, đông đảo và có các doanh nhân tài ba
Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức và trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao đều phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và một môi trường
chính trị - xã hội ổn định Trước tình hình đó em chọn đề tài: “Vai trò của
Trang 3nguồn lao động trong phát triển kinh tế ở nước ta” làm bài thu hoạch cho
môn Kinh tế phát triển
Trang 4B NỘI DUNG
I KHÁI NIỆM, LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN NGUỒN LAO ĐỘNG:
1 Các khái niệm:
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của
sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa và xã hội Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào Như vậy, động lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội quy tụ lại là ở con người Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, phải thực
sự giải phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết là giải phóng người lao động, nâng cao kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người
Nguồn lao động là một bộ phận của dân số, những người lao động đang tham gia lao động và có khả năng lao động, nhưng chưa tham gia lao động (vì những lý do khác nhau)
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Lực lượng lao động là một bộ phận của dân số, trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp
Việc làm: Hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm gọi là việc làm
Thất nghiệp: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc mà không tìm được việc làm ở mức lương hiện hành
2 Lý luận liên quan đến nguồn lao động:
Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ Trong đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc
và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp) Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động
Nguồn lao động luôn được xem xét trên 2 mặt biểu hiện đó là số lượng
và chất lượng Về mặt số lượng nó bao gồm dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc
Trang 5làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định) Về mặt chất lượng nguồn lao động được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động
Người lao động là những người trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định Từ góc độ kinh tế học, người lao động là những người trực tiếp cung cấp sức lao động – một yếu tố sản xuất mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ/ hàng hóa cơ bản của nền kinh tế Những người đang lao động là những người có cam kết lao động, sản phẩm lao động đối với tổ chức, người khác Theo Bộ Luật Lao động nước ta, người lao động là người đến tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có giao kết và thực hiện hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động Luật Lao động cũng quy định rõ ràng, cụ thể về các quyền và nghĩa vụ của người lao động khi tham gia lao động, quy định về hợp đồng lao động, xử lý tranh chấp hợp đồng lao động, các chế độ chính sách đãi ngộ, phúc lợi xã hội bắt buộc
Như vậy, để hiểu rõ về người lao động chúng ta phải xem xét các yếu
tố gắn với lao động của người lao động như: sự chuẩn bị năng lực lao động, cam kết và thực thi cam kết lao động (bao gồm tiếp nhận yêu cầu lao động, phương pháp và phương tiện lao động, giá thành lao động, đãi ngộ lao động, thái độ lao động, động lực lao động), kết quả và chất lượng lao động, sự hài lòng và không hài lòng của các bên tham gia hợp đồng lao động
Trong nền kinh tế thị trường, tính chất lao động của người lao động có nhiều thay đổi như: quan hệ giữa chủ lao động – người lao động, lao động ngày một chuyên môn hóa; kiến thức, kỹ năng, sử dụng công nghệ cao ngày một nhiều; phải có thái độ lao động nghiêm túc, kỷ luật, đãi ngộ lao động ngày một tốt… Những người lao động ngại thay đổi, chậm tiến bộ đều bị tụt hậu, thất thế trong cạnh tranh và nhanh chóng bị đào thải khỏi thị trường lao động
Trong xã hội ngày một gia tăng các ngành nghề chuyên biệt nhau với chuyên môn riêng biệt Các nhà quản lý cũng phân hóa, tách công đoạn để điều hành, quản lý công việc hiệu quả tốt nhất Vì vậy, nguồn lao động cũng đòi hỏi phải có chuyên môn, kỹ năng kiến thức giỏi ứng với một hay một vài chuyên ngành nào đó và phù hợp về quy mô tổ chức, quy trình riêng biệt của từng ngành, nguồn lao động phải am hiểu tất cả các lĩnh vực có liên quan để lao động hiệu quả, ít sai sót Có nghĩa là mặt bằng tri thức, kỹ năng của người lao động đòi hỏi ngày một cao cả về bề sâu lẫn bề rộng
Trang 6Ngày nay, việc người lao động giao tiếp với nhiều người, làm cùng một lúc nhiều việc, nhiều loại yêu cầu, thông tin phải tiếp nhận xử lý trong một thời gian eo hẹp với hiệu quả chất lượng đòi hỏi ngày một cao… là chuyện bình thường Vì vậy, người lao động buộc phải có sức khỏe tốt, trong một đơn
vị thời gian đảm bảo sản lượng và chất lượng lao động tốt, có độ tập trung cao, chuyên môn giỏi, khai thác thế mạnh các công cụ mới Các dạng lao động thô sơ, đơn giản dần dần được máy móc và công nghệ đảm nhiệm Tỷ trọng lao động trí óc, sáng tạo ngày một cao để đáp ứng được tốc độ phát triển Vì thế, những phương pháp và công cụ lao động không ngừng được cải tiến, có tính thiết yếu trong hiệu quả công việc của người lao động
Người thất nghiệp cần phải hiểu là những người trong độ tuổi lao động,
có khả năng lao động, đang có nhu cầu tìm việc làm và nếu có việc làm là phải đi làm ngay
Tuy nhiên, để đánh giá về tình hình lao động và việc làm trong nền kinh tế, chúng ta cần biết thêm một tiêu chí khác là tỷ lệ lao động thiếu việc làm Đây là tiêu chí quan trọng được tính cho cả lao động ở khu vực nông thôn và thành thị nhưng chưa được công bố từ trước đến nay Ở Việt Nam, tỷ
lệ lao động thiếu việc làm thường cao hơn nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn thường cao hơn thành thị
II VAI TRÒ CỦA NGUỒN LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ:
1 Quan điểm của Đảng về phát huy vai trò của nguồn lao động:
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển, sử dụng lao động và tạo mở việc làm cho người lao động nhằm thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế
Đó là việc luôn quan tâm đến nâng cao chất lượng nguồn lao động thông qua phát triển giáo dục và đào tạo, coi giáo dục đóng vai trò then chốt Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chú trọng các nội dung: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả trong giáo dục và đào tạo; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể chất cho nhân dân; đẩy mạnh công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; bảo đảm công ăn việc làm cho người dân là một mục tiêu xã hội hàng đầu trong quá trình xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động
và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng
Trang 7toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nâng cao chất lượng nguồn lao động về chuyên môn, kỹ thuật, đạo đức, tác phong Chủ trương của Đảng, Nhà nước ta còn chú trọng đến điều chỉnh quy mô dân số nhằm đạt được mục tiêu cơ bản, hướng đến phát triển nguồn lao động hợp lý về mặt số lượng Thực tế, chủ trương của Đảng khẳng định rõ: chính sách dân số, việc làm được coi là một trong những mục tiêu quan trọng, giảm tốc độ tăng dân
số là một quốc sách, phải trở thành cuộc vận động rộng lớn, mạnh mẽ và sâu sắc trong toàn dân Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển thị trường lao động; đa dạng hóa các hình thức tìm việc làm, giới thiệu việc làm và tuyển chọn lao động; phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực; hình thành các giá trị con người mới, giá trị xã hội mới làm cơ sở, động lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân
Trải qua các kỳ Đại hội, Đảng ta đã tiến một bước dài trong tư duy phát triển nguồn lao động, Đảng nhận định: Phát triển nguồn nhân lực là một trong
ba đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học - công nghệ Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân; tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, việc làm và thu nhập Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “ tiếp tục đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực; nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trong tâm là hiện đại hóa giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh cuộc các mạng cộng nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng”
2 Thực trạng nguồn lao động với tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam sau hơn 35 năm đổi mới:
a) Về số lượng nguồn lao động:
Về quy mô nguồn lao động: Việt Nam là một quốc gia có dân số đông Năm 2019 dân số trung bình nước ta là 96,48 triệu dân; đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng với lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,8 triệu người, chiếm 57,84% dân số Đây là một lợi thế, nhưng cũng là thách thức trong việc
Trang 8tạo việc làm, hạn chế thất nghiệp, đặc biệt là thất nghiệp ở khu vực thành thị
và thiếu việc làm ở nông thôn nước ta
Về tốc độ tăng trưởng nguồn lao động: Dân số trung bình tăng từ 87,840 triệu người (2011) lên 96,48 triệu người (2019) Tốc độ tăng trung bình là 1,18%/năm, trong khi tốc độ tăng tự nhiên giảm dần hàng năm Tốc độ tăng dân số, kéo theo tốc độ tăng lao động
b) Về chất lượng nguồn lao động:
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua trình độ chuyên môn kỹ thuật, cụ thể là kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp Năm 2019, cả nước
có hơn 12,7 triệu lao động được đào tạo trong tổng số 54,7 triệu lao động từ
15 tuổi trở lên có việc làm, chiếm 22,8% Như vậy, cả nước hiện có trên 42 triệu người (chiếm 76,78% tổng số lao động) chưa được đào tạo để đạt trình
độ chuyên môn kỹ thuật nào đó Chất lượng lao động có sự chênh lệch rõ nhất giữa khu vực nông thôn và thành thị Ở thành thị, lao động đã được đào tạo chiếm 36,3%, trong khi ở nông thôn chỉ có 12,6% Đây chính là rào cản lớn cho việc cải thiện năng suất lao động
Về khả năng cạnh tranh của người lao động Khả năng cạnh tranh của người lao động Việt Nam còn thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực do trình độ tay nghề thấp, tác phong làm việc còn yếu, chưa bắt kịp với yêu cầu phát triển, đặc biệt là các ngành đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao
c) Về cơ cấu của nguồn lao động:
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam tuy theo hướng tích cực nhưng còn chậm và đang ở khoảng cách khá xa so với yêu cầu của một nước công nghiệp Tỷ trọng giá trị tăng thêm của khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản trong GDP (theo giá hiện hành) đã giảm đều từ mức 38,06% năm
1986 xuống 13,96% năm 2019; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 22,7% lên 34,49%; khu vực dịch vụ từ 38,6% lên 41,64% trong cùng thời kỳ Sau một thời gian có sự thay đổi nhanh, cơ cấu kinh tế nước ta trong những năm gần đây đang có xu hướng dịch chuyển chậm lại Các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, nhất là những ngành dịch vụ mang tính chất
“động lực” hay “huyết mạch” của nền kinh tế như tài chính, ngân hàng, logistics còn chiếm tỷ trọng thấp so với các nước trong khu vực Tỷ trọng lao
Trang 9động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm liên tục từ 55,1% năm
2005 xuống 49,5% năm 2010 và còn 34,7% năm 2019 Tuy nhiên, do tốc độ tăng lực lượng lao động khá nhanh, bình quân 1,9%/năm trong giai đoạn trên, nên lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn vẫn còn tỷ lệ khá cao So với các nước trong khu vực, tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản nước ta còn khá cao Năm 2014, ở nước ta có 46,3% lao động đang làm việc trong nông nghiệp, trong khi tỷ lệ này của Malaysia là 12,2%; Philippines là 30,4%; Indonesia là 34,3% và Thái Lan (2013) là 41,9% Mặt khác, phần lớn lao động làm việc trong khu vực này là lao động giản đơn, có tính thời vụ, việc làm không ổn định, nên giá trị gia tăng khu vực này tạo ra không cao, dẫn đến năng suất lao động thấp Thực tế hiện nay có tới 44,3% lao động của cả nước nhưng chỉ tạo ra 17,4% GDP'
Trong 10 năm gần đây, tốc độ tạo việc làm của khu vực công nghiệp và xây dựng tăng bình quân 4,9%/năm, nhanh hơn tốc độ tăng 4%/năm của khu vực dịch vụ Xu hướng này phù hợp với lý thuyết và thực tế là khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ có khả năng tạo việc làm nhanh hơn khu vực nông nghiệp Năm 2019, lao động đang làm việc trong khu vực công nghiệp
và xây dựng là 16,08 triệu người Điều này một phần phản ánh thực tế là lao động phi chính thức chủ yếu làm trong khu vực dịch vụ và nông nghiệp, đồng thời cho thấy dư địa còn rất lớn để phát triển việc làm trong khu vực công nghiệp và xây dựng
Chuyển dịch cơ cấu việc làm còn chậm Hầu hết lao động tập trung ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Phân bố lao động không đồng đều và cân đối giữa các vùng trong cả nước Lao động tập trung chủ yếu ở đồng bằng, đô thị lớn, nhưng ở nông thôn, miền núi, trung du lại thiếu Cơ cấu lao động theo ngành và vùng bất hợp lý thể hiện trình độ phát triển thấp của nền kinh tế
Năng suất lao động của Việt Nam thấp so với nhiều nước trong khu vực Năm 2019, NSLĐ Việt Nam theo giá hiện hành đạt 110,5 triệu đồng/lao động (tương đương 4.792 USD/lao động), theo giá so sánh (năm 2010) tăng 6,28%, giúp duy trì mức tăng NSLĐ toàn xã hội bình quân giai đoạn
2016-2019 đạt 5,8%/năm, cao hơn so với mức tăng bình quân 4,3%/năm của giai đoạn 2011-2015
Như vậy, tiêu chí này đã đạt mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết số
27/NQ-CP ngày 21-2-2017 của Chính phủ (tăng trên 5,5%) Đây là điểm nổi bật nhất
Trang 10của thay đổi cách thức hay chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn 2016-2020 NSLĐ giai đoạn 2016-2020 ước tính tăng 26,2%; trong đó, NSLĐ nội ngành tăng 16,6%; năng suất do chuyển dịch cơ cấu ngành tăng 9,4%; và do chuyển dịch lao động tăng 0,2%
Năm 2019, NSLĐ của khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 126,5 triệu đồng/lao động, tăng 16,8 triệu đồng/lao động so với năm 2016; khu vực dịch vụ đạt 129,8 triệu đồng/lao động, tăng 25,9 triệu đồng/lao động, đồng thời là khu vực có NSLĐ cao nhất trong 3 khu vực kinh tế; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 44,7 triệu đồng/lao động, tăng 11,6 triệu đồng/lao động Mặc dù NSLĐ của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản thấp nhất trong 3 khu vực kinh tế nhưng đây lại là khu vực có tốc độ tăng NSLĐ cao nhất (10,62%), tiếp theo là khu vực dịch vụ (tăng 5,66%) và khu vực công nghiệp và xây dựng (giảm 2,16%)
Theo giá so sánh, bình quân năm trong giai đoạn 2016-2019, NSLĐ toàn nền kinh tế tăng 6,01%, cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng 4,27% của giai đoạn 2011-2015 Trong đó một số ngành có tốc độ tăng NSLĐ cao như: Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 7,92%; bán buôn và bán lẻ tăng 6,45%; thông tin truyền thông tăng 7,64% Một số ngành có tốc độ tăng NSLĐ bình quân năm trong giai đoạn 2016-2019 thấp và giảm như: Khai khoáng tăng 0,48%; xây dựng tăng 0,33%; vận tải kho bãi tăng 3,06%; hoạt động kinh doanh bất động sản giảm 10,79%
Tính ra, tốc độ tăng NSLĐ của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2019 cao hơn các nước ASEAN-6 Tính theo sức mua tương đương (PPP 2011), NSLĐ của Việt Nam giai đoạn 2011-2019 tăng bình quân 4,87%/năm, cao hơn mức tăng bình quân của Singapore (1,37%/năm); Malaysia (2,04%/năm); Thái Lan (3,17%/năm); Indonesia (3,59%/năm); Philippines (4,33%/năm); Brunei (giảm 0,32%/năm) Nhờ đó, Việt Nam đã thu hẹp được khoảng cách tương đối với các nước ASEAN có trình độ phát triển cao hơn
Tuy nhiên, theo PPP 2011, NSLĐ của Việt Nam năm 2019 vẫn chỉ bằng 7,6% năng suất của Singapore; 19,5% của Malaysia; 37,9% của Thái Lan; 45,6% của Indonesia; 56,9% NSLĐ của Philippines và 6,89% của Brunei Điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn trong thời gian tới để có thể bắt kịp mức NSLĐ của các nước ASEAN-6