Khái niệm và đặc điểm khuyến mại Theo khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại 2005: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiếnthương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
————————
Tiểu luận cuối kỳ
Học phần: Luật thương mại 2
Mã học phần: BSL 2002 (3 tín chỉ) Giảng viên: Ths Nguyễn Đăng Duy
Đề tài 5 PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI
Sinh viên thực hiện:
Hà Nội – 06/2021
Trang 2MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 2
B PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI 3
1.1 Khái niệm và đặc điểm khuyến mại 3
1.2 Các hình thức khuyến mại 4
1.3 Quyền và nghĩa vụ của thương nhân thực hiện khuyến mại 4
1.4 Các hành vi khuyến mại bị cấm 5
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ KHUYẾN MẠI 5
2.1 Quy định về thời hạn giảm giá 6
2.2 Quy định về mức giảm giá 6
2.3 Quy định về hình thức khuyến mại 7
2.4 Quy định về thông báo khuyến mại 7
CHƯƠNG 3: NHỮNG BẤT CẬP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN MẠI TẠI VIỆT NAM 8
3.1 Những bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành về khuyến mại 8
3.2 Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về khuyến mại 10
C PHẦN TỔNG KẾT 10
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình toàn cầu hoá hiện nay, Việt Nam đang dần mở rộng cánh cửa thươngmại Song chính trong môi trường mới này, khi hàng hoá được lưu thông tự do hơn thìtính cạnh tranh của hàng hoá lại càng trở nên gay gắt hơn Do vậy, chỉ những sản phẩmnào chiếm được ưu thế trên thương trường, được người tiêu dùng chấp nhận thì mới cóthể đứng vững và tiếp tục phát triển Để làm được điều này thì các thương nhân cần phải
có những hoạt động tích cực hướng đến khách hàng nhằm hỗ trợ cho việc tiêu thụ sảnphẩm hàng hoá, dịch vụ Theo đó, hoạt động khuyến mại dần hình thành và phát triển,đóng góp vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp các thương nhân tìm kiếm cơ hội,định hướng tiêu dùng cho khách hàng
Với sự ra đời của Luật Thương mại 2005, Luật Cạnh tranh 2018… đã đưa hoạt độngkhuyến mại vào diện điều chỉnh bằng cách thiết lập hành lang pháp lý, xây dựng các hoạtđộng cần thiết cho thương nhân khi thực hiện các hành vi, đồng thời thiết lập môi trườngcạnh tranh lành mạnh bảo vệ lợi ích của các chủ thể kinh doanh Hoạt động khuyến mạiluôn giữ một vị trí quan trọng trong việc góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp; trở thành đòn bẩy hữu hiệu giúp các doanh nghiệp tìm được đầu ra cho sảnphẩm hàng hoá, dịch vụ và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Trong bối cảnh ViệtNam đang tích cực, chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, côngtác khuyến mại ngày càng trở nên cấp thiết Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam ngày càngphát triển sôi động, chính vì thế mà những quy định về khuyến mại sớm bộc lộ những hạnchế của mình Vì vậy, nghiên cứu về khuyến mại không chỉ khắc phục được những hạnchế trong quy định pháp luật hiện hành mà còn giúp chúng ta tìm ra những phương hướnggiải quyết, nâng cao hiệu quả của hoạt động khuyến mại
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI
1.1 Khái niệm và đặc điểm khuyến mại
Theo khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại 2005: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiếnthương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụbằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định” Khuyến mại có thể được hiểu làcách thức, biện pháp thu hút khách hàng thông qua việc dành lợi ích cho khách hàng, baogồm lợi ích vật chất như tiền, hàng hoá hay lợi ích phi vật chất như được cung ứng dịch
vụ miễn phí nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
Qua quá trình xem xét và phân tích các quy định cụ thể về hoạt động khuyến mạitrong Luật Thương mại 2005 và Nghị định 37/2006/NĐ-CP ngày 4/4/2006 của Chính phủquy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại (gọi tắt là Nghị định37) có thể thấy hoạt động khuyến mại nói riêng có những đặc trưng sau:
Về mặt chủ thể: Theo quy định tại khoản 2 Điều 88 Luật Thương mại 2005 thì
thương nhân có thể tự mình thực hiện hoạt động khuyến mại hoặc thông qua một thương
nhân chuyên kinh doanh dịch vụ khuyến mại trên cơ sở một hợp đồng dịch vụ Về cách
thức tiến hành: Cách thức tiến hành hoạt động khuyến mại là dành cho khách hàng những
lợi ích nhất định Đó không chỉ là những lợi ích về mặt vật chất như quà tặng, hàng mẫudùng thử… mà còn có thể là những lợi ích về mặt tinh thần như tổ chức cho khách hàngtham gia các chương trình văn hoá, nghệ thuật, giải trí… Tuỳ thuộc vào mục tiêu của đợtkhuyến mại, trạng thái cạnh tranh, phản ứng của đối thủ cạnh tranh trên thương trường,tuỳ thuộc vào điều kiện kinh phí dành cho khuyến mại mà thương nhân lựa chọn hình
thức cho phù hợp Về đối tượng được hưởng lợi từ hoạt động khuyến mại: đó có thể là khách hàng, hoặc trung gian phân phối VD như các đại lý bán hàng Về mục đích của
hoạt động khuyến mại: xúc tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ Các hoạt động
khuyến mại hướng tới mục tiêu lôi kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ của kháchhàng, giới thiệu một sản phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn đến hànghoá của doanh nghiệp, tăng lượng hàng mua… từ đó tăng cao thị phần của doanh nghiệptrên thị trường hàng hoá, dịch vụ
Trang 51.2 Các hình thức khuyến mại
Theo Điều 92 Luật Thương mại 2005, thương nhân có thể thực hiện khuyến mại theomột trong số các hình thức: 1 Đưa hàng hóa mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàngdùng thử không phải trả tiền 2 Tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ khôngthu tiền 3 Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch
vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo.Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theohình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ 4 Bán hàng, cung ứng dịch
vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng mộthay một số lợi ích nhất định 5 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi chokhách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố 6 Bán hàng,cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việctham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựatrên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ, giải thưởng đã công bố 7 Tổ chứcchương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứtrên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiệndưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hìnhthức khác 8 Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giảitrí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại…
1.3 Quyền và nghĩa vụ của thương nhân thực hiện khuyến mại
Quyền và nghĩa vụ của thương nhân thực hiện khuyến mại được quy định tại Điều 95
và Điều 96 Luật Thương mại 2005:
Điều 95 Quyền của thương nhân thực hiện khuyến mại: 1 Lựa chọn hình thức,
thời gian, địa điểm khuyến mại, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại 2 Quy định cáclợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng phù hợp với khoản 4 Điều 94 của Luật này 3.Thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình
4 Tổ chức thực hiện các hình thức khuyến mại quy định tại Điều 92 của Luật này
Điều 96 Nghĩa vụ của thương nhân thực hiện khuyến mại: 1 Thực hiện đầy đủ
các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật để thực hiện các hình thức khuyến mại 2.Thông báo công khai các nội dung thông tin về hoạt động khuyến mại cho khách hàng
Trang 6theo quy định tại Điều 97 của Luật này 3 Thực hiện đúng chương trình khuyến mại đãthông báo, cam kết với khách hàng 4 Đối với một số hình thức khuyến mại quy định tạikhoản 6 Điều 92 của Luật này, thương nhân phải trích 50% giá trị giải thưởng đã công bốvào ngân sách nhà nước trong trường hợp không có người trúng thưởng Bộ trưởng Bộ
TM quy định các hình thức khuyến mại cụ thể thuộc các chương trình mang tính may rủiphải thực hiện quy định này 5 Tuân thủ các thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ khuyếnmại nếu thương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyếnmại
1.4 Các hành vi khuyến mại bị cấm
Các hành vi khuyến mại bị cấm được quy định tại Điều 100 Luật Thương mại 2005sửa đổi, bổ sung năm 2019: 1 Khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hànghóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa đượcphép cung ứng 2 Sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụcấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưuthông, dịch vụ chưa được phép cung ứng 3 Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia đểkhuyến mại cho người dưới 18 tuổi 4 Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu, bia có độcồn từ 15 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức 5 Khuyến mại thiếu trung thựchoặc gây hiểu lầm về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng 6 Khuyến mại để tiêu thụhàng hóa kém chất lượng, làm phương hại đến môi trường, sức khỏe con người và lợi íchcông cộng khác 7 Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan nhà nước, tổchức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân 8 Hứa tặng, thưởngnhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng 9 Khuyến mại nhằm cạnh tranhkhông lành mạnh 10 Thực hiện khuyến mại mà giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyếnmại vượt quá hạn mức tối đa hoặc giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại quá mứctối đa theo quy định tại khoản 4 Điều 94 của Luật này
Trang 7CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VỀ KHUYẾN MẠI 2.1 Quy định về thời hạn giảm giá
Nhiều doanh nghiệp khi niêm yết giá đề là giá được giảm 20% hay 30%, nhưng bảng
đó được yết quanh năm, với mức giá là một con số tuyệt đối không thay đổi Như vậy, giá
đó là giá bán thật, không phải là giá giảm và hành vi này được coi là lừa dối khách hàng.Bởi vậy, để tránh việc lừa dối khách hàng bằng giảm giá ảo, Nghị định 37/2006 ngày04/04/2006 của Chính Phủ đã quy định: “Tổng thời gian thực hiện chương trình khuyếnmại bằng cách giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ không được vượtquá 90 ngày trong một năm; một chương trình khuyến mại không được vượt quá 45ngày” Như vậy, các doanh nghiệp vẫn có thể quanh năm thực hiện giảm giá, nhưng là sựgiảm giá luân phiên từng nhóm mặt hàng mà mình kinh doanh vẫn không vi phạm quyđịnh Hình thức giảm giá luân phiên thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có số mặthàng kinh doanh lớn như siêu thị, đối với các doanh nghiệp chuyên doanh áp dụng ở mứchạn chế hơn
2.2 Quy định về mức giảm giá
Trên thực tế có nhiều doanh nghiệp, vì muốn bán hàng tồn kho hoặc hết thời trang,muốn thực hiện “đại hạ giá” ở mức 60% - 80% Do giá bán khuyến mại chỉ so sánh vớigiá “ngay trước thời gian khuyến mại” nên để thực hiện được điều này, doanh nghiệp phảichia làm nhiều chặng thời gian giảm giá, mỗi chặng có thể ngắn, hết chặng đầu có thểnâng lên cao hơn một chút và sau đó lại giảm mạnh ở chặng thứ hai mà vẫn không trái vớiquy định là: “Mức giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượtquá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại” Trên thực tế chothấy, nhiều mức giá được niêm yết một đằng, giá bán lại một nẻo
Không ít người tiêu dùng chỉ biết so sánh về giá, nên loại nào rẻ, loại nào nhiều quàtặng là họ mua Trước tâm lý này, các đại lý buộc phải tung ra các chương trình khuyếnmãi bằng hình thức tặng quà Mới đây, các doanh nghiệp đã bắt đầu có chính sách trợ giábằng cách áp doanh số đại lý Chính vì thế, nhiều đại lý đã đẩy mạnh khuyến mãi nhằmcạnh tranh
Trang 82.3 Quy định về hình thức khuyến mại
Các hình thức khuyến mại được pháp luật quy định rất chi tiết và cụ thể Tuy nhiên,trên thực tế việc áp dụng các hình thức này còn có nhiều sự nhầm lẫn Nhiều thương nhân
đã lợi dụng những “ranh giới” mỏng manh giữa các hình thức này để thực hiện hoạt độngkhuyến mại bất hợp pháp Giữa hình thức “tặng quà” và dùng thử hàng mẫu miễn phí:mục đích của thương nhân là khi đưa hàng mẫu cho khách hàng là muốn giới thiệu với họ
về hàng hóa, dịch vụ của mình, định hướng hành vi mua bán của họ sau khi kiểm nghiệmchất lượng của hàng hóa, dịch vụ của thương nhân Bởi với hàng hóa có chất lượng tươngđương, khách hàng sẽ có tâm lý muốn chọn mua hàng hóa đang được khuyến mại, kháchhàng vì quà tặng mà mua hàng Hình thức khuyến mại mà các hãng viễn thông rất hay sửdụng hiện nay là “mua 1 tặng 1” hay “nạp thẻ nhân đôi tài khoản”… Hình thức này cóphần giống với hình thức “giảm giá” nhưng thực ra về bản chất thì không phải như vậy.Khi giảm giá, khách hàng sẽ được mua sản phẩm với giá bán thấp hơn lúc chưa khuyếnmại, còn với hình thức “mua 1 tặng 1” khách hàng sẽ được tặng 100% giá trị của hànghóa đã mua Trong 8 hình thức khuyến mại mà Luật Thương mại 2005 quy định thì không
có hình thức nào gọi là “mua 1 tặng 1” Nếu các doanh nghiệp muốn áp dụng hình thứckhác ngoài 8 hình thức đó thì phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về thương mạitại địa phương Nhưng nếu các doanh nghiệp sử dụng hình thức “mua 1 tặng 1” với việctăng 100% giá trị của hàng hóa như vậy cũng vi phạm quy định hạn mức tối đa về giá trịhàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại
2.4 Quy định về thông báo khuyến mại
Theo điều 96 của LTM, trước khi tiến hành hoạt động khuyến mại, thương nhân phảiđăng ký và gửi thông báo bằng văn bản đến cơ quan quản lý nhà nước về thương mại tạiđịa phương nơi tổ chức khuyến mại Nhưng qua các dấu hiệu khảo sát cho thấy, hầu nhưcác thương nhân thực hiện khuyến mại đều không thực hiện quy định này của pháp luật
Trang 9CHƯƠNG 3: NHỮNG BẤT CẬP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN MẠI TẠI VIỆT NAM
3.1 Những bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành về khuyến mại
Qua khái quát tình hình, thực trạng hoạt động khuyến mại ở nước ta hiện nay chothấy, trong hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành về khuyến mại rõ ràng cónhững hạn chế, bất cập, chưa tương thích và chưa đủ các cơ chế, biện pháp để giúp nhànước quản lí, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khuyến mại hiện nay Cũng như các hìnhthức xúc tiến thương mại khác, khuyến mại đã mang lại cho thương nhân nhiều cách tiếpcận với thị trường Tuy nhiên trong thực tế áp dụng pháp luật vào các hoạt động khuyếnmại của các thương nhân vẫn còn tồn tại những vấn đề cần xem xét
Thứ nhất, các quy định của pháp luật thương mại về hai hình thức khuyến mại: đưahàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền” và “tặngquà, cung ứng dịch vụ không thu tiền, không kèm theo việc mua, bán hàng hóa, cungứng” còn tồn tại nhiều điểm khác nhau Nếu là “đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu đểkhách hàng dùng thử không phải trả tiền” thì thương nhân không phải chịu bất cứ quyđịnh nào về hạn mức khuyến mại, trong khi đó nếu là “tặng quà, cung ứng dịch vụ khôngthu tiền, không kèm theo việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ” thì thương nhân phảiquy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa (“Tổng giá trị của hàng hoá, dịch vụ dùng đểkhuyến mại mà thương nhân thực hiện trong một chương trình khuyến mại không đượcvượt quá 50% tổng giá trị của hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại” khoản 2 Điều 5 Nghịđịnh 37) Chính do sự tương đồng về bản chất, hành vi và các quy định pháp luật không
rõ ràng, không xác định rõ các trường hợp được áp dụng, nên trong quá trình thực hiệncác thương nhân thực hiện khuyến mại thường có xu hướng chuyển từ quà tặng sang hàngmẫu nhằm tránh các quy định về hạn mức tối đa
Thứ hai, về quy định xử lý giải thưởng tồn đọng Theo khoản 4 điều 96 Luật thươngmại 2005 thì thương nhân khuyến mại theo hình thức “bán hàng, cung ứng dịch vụ kèmtheo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi” phải có nghĩa vụ “sung công”50% giá trị giải thưởng vào ngân sách nhà nước nếu không có người trúng thưởng Quyđịnh này không đảm bảo quyền lợi của các thương nhân bởi số lượng hàng hoá thươngnhân dùng khuyến mại cũng tương ứng với lượng hàng hoá cần tiêu thụ Khi thực hiện
Trang 10hoạt động khuyến mại cũng đồng nghĩa với việc doanh số bán hàng của họ không đượcnhư mong muốn vậy mà còn phải mất một khoản đóng cho ngân sách nhà nước thì điềunày là không thực tế Hơn thế việc hàng hoá khuyến mại là hiện vật cũng gây khó khăntrong việc nộp vào ngân sách nhà nước khi việc định giá các sản phẩm đó không phải lúcnào cũng dễ dàng Khi đưa ra quy định này các nhà làm luật muốn hạn chế tình trạngkhuyến mại gian dối, thiếu trung thực của thương nhân về cơ cấu, số lượng và sự phânphối giải thưởng Tuy nhiên cần hiểu rằng không phải thương nhân nào khi thực hiện hoạtđộng khuyến mại cũng có hành vi gian lận lừa dối, hơn nữa trong hình thức khuyến mạinày việc có còn tồn đọng giải thưởng hay không còn phụ thuộc vào việc có khách hàngtrúng thưởng hay không Vì vậy việc hạn chế tình trạng gian lận của thương nhân theophương thức này là không thật sự phù hợp.
Thứ ba, về vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, LTM 2005 và Nghị định số37/2006/NĐ – CP đã quy định về hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại; về hàng hoá, dịch
vụ dùng để khuyến mại; quyền và nghĩa vụ pháp lý của thương nhân thực hiện khuyếnmại; các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại; về nguyên tắc thực hiện khuyếnmại Tuy nhiên, những quy định này chưa thực sự đầy đủ để đảm bảo lợi ích của kháchhàng Trong thực tế, khách hàng luôn là người phải chịu thiệt thòi do những hành vi gianlận trong khuyến mại hoặc do các sai sót kỹ thuật trong in ấn tem, phiếu, vật phẩm cóchứa đựng thông tin về lợi ích vật chất mà khách hàng được hưởng trong đợt khuyến mại.Thứ tư, về trình tự, thủ tục thực hiện khuyến mại, LTM 2005 và Nghị định số37/2006/NĐ – CP đã có những quy định hợp lý Tuy nhiên, theo khoản 3 điều 16 vàkhoản 3 điều 17 của Nghị định số 37/2006/NĐ – CP thì cơ quan quản lý nhà nước cóthẩm quyền khi nhận hồ sơ đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại phải xem xét, xácnhận bằng văn bản về việc đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại, trường hợp khôngxác nhận phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do Nhưng luật lại không quy định cácđiều kiện để thương nhân có được sự xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền và trong trường hợp bị từ chối xác nhận thì luật cũng không quy định những quyềncủa thương nhân trong trường hợp này Quy định như trên đã biến thủ tục “đăng ký”thành thủ tục “xin phép” Như vậy sẽ hạn chế quyền tự do hoạt động khuyến mại củathương nhân, qua đó gián tiếp ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng Theo Điều 17
Trang 11Nghị định 175/2004/NĐ – CP ngày 10/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực thương mại thì mức phạt cao nhất đối với hành vi vi phạm quy định
về khuyến mại là 70.000.000 VNĐ Mức phạt như vậy dường như còn thấp nên sẽ không
đủ sức răn đe Do đó, mà tình trạng vi phạm quy định về khuyến mại còn rất phổ biến
3.2 Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về khuyến mại
Mục tiêu của việc hoàn thiện pháp luật về Thương mại là nâng cao tính chặt chẽ củapháp luật nhưng vẫn đảm bảo được các nguyên tắc vốn có Nhưng pháp luật về khuyếnmại nước ta còn rất nhiều tồn tại và hạn chế Trong đó, đặc biệt nổi lên những vấn đề nhưviệc hiểu và vận dụng các hình thức khuyến mại theo quy định của pháp luật, các quyđịnh về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa… để hoàn thiện pháp luật về khuyến mại chúng tacần phải:
Một là, cần xem xét huỷ bỏ quy định nghĩa vụ nộp 50% trị giá giải thưởng đã công
bố vào ngân sách nhà nước theo khoản 4 Điều 96 Luật Thương mại 2005 Quy định nàykhông đảm bảo quyền lợi của các thương nhân bởi lẽ như đã phân tích ở trên không phảithương nhân nào khi thực hiện hoạt động khuyến mại cũng có hành vi gian lận lừa dối,hơn nữa trong hình thức khuyến mại này việc có còn tồn đọng giải thưởng hay không cònphụ thuộc vào việc có khách hàng trúng thưởng hay không Vì vậy việc hạn chế tình trạnggian lận của thương nhân theo phương thức này là không thật sự phù hợp
Hai là, việc thực hiện các quy định về hình thức khuyến mại còn gặp nhiều sự nhầmlẫn giữa các thương nhân Đặc biệt là hình thức “hàng mẫu”, “tặng quà” Vì vậy trong quátrình xây dựng pháp luật chúng ta cần đưa ra những quy định hoặc văn bản hướng dẫn cụthể hơn giúp thương nhân phân biệt dễ dàng hai hình thức này
Ba là, cần quy định rõ ràng, cụ thể về các hình thức khuyến mại, các dấu hiệu, cácquy định pháp luật cho từng loại, giúp cho các thương nhân và các cơ quan quản lý Nhànước dễ dàng nhận diện
Bốn là, các quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mạicần có sự quy định rõ ràng, hợp lý Theo quy định của Luật TM 2005 và NĐ hướng dẫnthì hạn mức tối đa giá trị hàng hoá, dịch vụ đối với hình thức khuyến mại giảm giá là 50%
và hạn mức về tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại cũng không được vượtquá 50% tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ trước khuyến mại Tuy nhiên theo quy định tại
Trang 12điều 14 Luật cạnh tranh thì việc giảm giá của thương nhân trong thời gian khuyến mạicũng có thể là “bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đốithủ cạnh tranh” Như vậy nếu một doanh nghiệp vừa có vị trí thống lĩnh thị trường, vừathực hiện hoạt động khuyến mại giảm giá với mức 50% và dưới toàn bộ so với các doanhnghiệp khác sẽ phải chịu sự điều chỉnh của cả hai bộ luật Như vậy việc đưa ra hạn mứctối đa đã phần nào làm phức tạp, chồng chéo giữa các ngành luật khác nhau gây nên sựkhó khăn cho các cơ quan quản lý khi xử lý vi phạm Một vấn đề cũng đang tồn tại đó làthương nhân muốn tuân thủ các quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hoá, dịch vụ tuynhiên pháp luật lại không quy định cụ thể nguyên tắc, tiêu chí xác định hạn mức giá trị tối
đa dùng để khuyến mại, đặc biệt là đối với chương trình khuyến mại của thương nhânkinh doanh dịch vụ và các chương trình khuyến mại có kết hợp nhiều hình thức khuyếnmại
Năm là, cần bổ sung hoàn thiện các quy định của pháp luật như: bổ sung các quyđịnh về trách nhiệm của cá nhân thương nhân hoặc người đại diện khi thực hiện cácchương trình khuyến mại mang tính may rủi để đảm bảo tính trung thực về giải thưởng vàchọn người trúng thưởng Một vấn đề nữa đang diễn ra hiện nay là việc thiếu kiểm soátchất lượng của hàng hoá dùng cho khuyến mại Trong các văn bản quy định chi tiết vềhoạt động khuyến mại thường chỉ tập trung vào giá và số lượng của hàng hoá các thươngnhân dùng cho hoạt động khuyến mại Trong khi đó chất lượng hàng hoá khuyến mại lại
bị thả nổi mà trong nhiều trường hợp đây là các sản phẩm tồn kho lâu ngày, chất lượng đãsuy giảm Vì vậy pháp luật cần bổ sung các quy định về chất lượng, chủng loại của hànghoá được sử dụng cho khuyến mại nhằm tránh tình trạng khách hàng bị lừa đang diễn ra ởnhiều nơi