2 Tại Việt Nam BHĐC được định nghĩa trong luật cạnh tranh 2004: "Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây: a Việc tiếp thị đế bán lẻ hàng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
- -
-BÀI TIỂU LUẬN NHÓM: PHÁP LUẬT BÁN HÀNG ĐA CẤP
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
Lớp : Luật Thương mại 2 Giang viên: TS Bùi Đăng Duy
Danh sách thành viên:
Hà Nội - Năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1: Khái quát về bán hàng đa cấp và pháp luật bán hàng đa cấp tại Việt Nam
1 Nguồn gốc, lịch sử hình thành bán hàng đa cấp……….1
2 Khái niệm bán hàng đa cấp, pháp luật bán hàng đa cấp……….3
2.1Khái niệm bán hàng đa cấp……….4
2.2Pháp luật bán hàng đa cấp ……… 4
3 Đặc điểm bán hàng đa cấp……… 5
4 Phân biệt BHĐC với BHĐC bất chính………5
Chương 2: Nội dung bán hàng đa cấp và pháp luật bán hàng đa cấp………5
1 Tổng quan về mối quan hệ Pháp luật bán hàng đa cấp……… 6
1.1 Chủ thể quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp……… 6
1.2 Về khách thể quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp……… 6
1.3 Về nội dung quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp………7
2 Quyền và nghĩa vụ chủ thể tham gia quan hệ pháp luật BHĐC……… 8
2.1 Quyền và nghĩa vụ của nhà nước………8
2.2 Quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp BHĐC……….9
2.3Quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHĐC……… 9
3.Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp……… …10
Chương :Cơ sở thực tiễn bán hàng đa cấp và pháp luật bán hàng đa cấp…… 12
3.1 Thực trạng kinh doanh đa cấp tại Việt Nam……… 13
3.2 Những điểm hạn chế và khó khăn trong việc quản lí BHĐC, pháp luật BHĐC……… 13
3.3Hoàn thiện hệ thống pháp luật BHĐC……….14
3.4 Kinh nghiệm quốc tế hoàn thiện pháp luật BHĐC………15
KẾT LUẬN……….16 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
BHĐC: Bán hàng đa cấp
Bảng 1.1 Văn bản pháp lý quốc tế BHĐC
Bảng 1.2 Phân biệt BHĐC và BHĐC bất chính
Bảng 1.3 Số liệu doanh thu bán hàng đa cấp giai đoạn 2015 - 2020 (nguồn Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng)
Trang 3Dẫn Nhập:
Ngày nay cùng sự phát triển kinh tế thị trường, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, con người đã có thể chế tạo ra hàng loạt những sản phẩm hiện đại như xe hơi, tivi, …song vấn đề về tiêu thụ sản phẩm, đưa những thành quả làm ra đến người tiêu dùng một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất Đây cũng là tiền đề cơ sở cho sự ra đời phương thức kinh doanh mới, rất ưu việt phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng và tiết kiệm được các chi phí tốn kém cho khâu trung gian và quảng cáo tiếp thị đó là hoạt động bán hàng đa cấp Mặc dù đạt được nhiều thành tích trong quá trình vận hành và phát triển Tuy nhiên thực tễ mọi người con hiểu sai về mô hình bán hàng đa cấp, nhầm lẫn với mô hình đa cấp bất chính, liệu rằng pháp luật có những quy định gì về BHĐC Từ
cơ sở trên đặt ra nhiều vấn đề nghiên cứu BHĐC Vì vậy nhóm sinh viên tiếp cận, nghiên cứu BHĐC, vì đây là vấn đề khá rộng nên nhóm tập trung khai thác BHĐC những cái căn bản nhất từ cơ sở lý luận khái niệm BHĐC, pháp luật BHĐC, đến những đặc điểm BHĐC, từ đó tiếp cận các vấn đề pháp luật nội dung và thực tiễn BHĐC ở Việt Nam và đưa ra những kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật BHĐC hiện nay
Chương 1: Khái quát về bán hàng đa cấp và pháp luật bán hàng đa
cấp tại Việt Nam
1 Nguồn gốc, lịch sử hình thành bán hàng đa cấp
BHĐC được ra đời đầu tiên ở Mỹ 1 nguồn gốc của phương thức bán hàng đa cấp hay còn gọi kinh doanh theo mạng lưới (multi-level marketing) gắn liền với tên tuổi của Nhà Nghiên cứu Dinh dưỡng người Mỹ - Carl Rehnborg Ông được xem là cha đẻ của một ngành kinh doanh có triển vọng nhất trong thế kỷ 21 bởi đã phát minh và nhân rộng ý tưởng tiếp thị mạng lưới vào trong cuộc sống
Vào đầu thập niên 1970, việc bán hàng đa cấp lại chịu sức ép từ nhiều phía khác nhau Năm 1975, trong hội đồng liên bang Hoa Kỳ có những người phản đối kinh doanh đa cấp và quy kết nó với cái gọi là "hình tháp ảo" - một hình thức kinh doanh bất hợp pháp Sau cùng, cuối năm 1979 tòa án thương mại Liên Bang Hoa Kỳ công nhận phương pháp kinh doanh của Amway không phải là "hình tháp ảo" và được chấp nhận về mặt luật pháp Từ đó Bộ luật đầu tiên về kinh doanh đa cấp đã ra đời tại Mỹ
và ngành này chính thức được công nhận Từ 1949-1990 trải qua ba làn sóng phát triển, BHĐC đã ngày càng lớn mạnh và mở rộng phạm vi ra nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam
2 Khái niệm bán hàng đa cấp, pháp luật bán hàng đa cấp.
2.1 Khái niệm bán hàng đa cấp
1 Lịch sử phát triển của ngành bán hàng đa cấp-cổng thông tin điện tử bộ công thương
Trang 4Thế kỷ XXI đang chứng kiến sự thay đổi trong thói quen mua hàng của người tiêu dùng Thay vì nằm một nơi nào đó trên kệ trong các hệ thống siêu thị, cửa hàng truyền thống, giờ đây hàng hóa đang tự tìm đến người tiêu dùng Người ta gọi phương pháp mới mẻ đó với cái tên Phương thức bán hàng trực tiếp (Direct Selling ).Bán hàng trực tiếp (Direct Selling) gồm 2 phương thức cơ bản:
Thứ nhất, bán hàng đơn cấp (Single Level Marketing): nhân viên tiếp thị (hay
còn gọi là đại diện bán hàng, phân phối viên, đại lý, ) bán lẻ sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng và hưởng hoa hồng trên số sản phẩm do chính mình tiêu thụ được
Thứ hai, kinh doanh đa cấp (Multi Level Marketing): nhân viên tiếp thị ngoài
việc bán lẻ trực tiếp cho người tiêu dùng còn được quyền tuyển các nhà tiếp thị khác làm nhà phân phối cho mình, xây dựng mạng lưới tiếp thị riêng của mình và hưởng hoa hồng trên sản phẩm do chính mình và mạng lưới của mình tiêu thụ được 2
Tại Việt Nam BHĐC được định nghĩa trong luật cạnh tranh 2004: "Bán hàng
đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Việc tiếp thị đế bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia Bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;
b) Hàng hóa được người tham gia Bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc người tham gia;
c) Người tham gia Bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc các lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia Bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp Bán hàng đa cấp chấp thuận 3
Như vậy, khái niệm BHĐC được hiểu là “hoạt động kinh doanh sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh, trong đó người tham gia được hưởng tiền hoa hồng tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác từ kết quả kinh doanh của mình và của những người khác trong mạng lưới”4
2.2 Khái niệm pháp luật bán hàng đa cấp
Hiện tại chưa có nhà nghiên cứu pháp lý nào đưa ra khái niệm pháp luật về BHĐC Tại Việt Nam, quy định pháp luật quản lí BHĐC chủ yếu ghi nhận tại nghi định 42 mà chưa đưa lên thành Luật như nhiều nước (Malaysia, Canada… ) Hiện nay luật điều chỉnh duy nhất đề cấp đến phương thức BHĐC là luật Cạnh tranh Tuy nhiên pháp luật cạnh tranh chỉ điều chỉnh một phần nội dung quản lý hoạt động BHĐC khi có dấu hiệu bất chính xảy ra Phần điều chỉnh liên quan đến quản lí hành chính đối với hoạt động BHĐC không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật cạnh tranh
Vì vậy để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động BHĐC chân chính và ngăn chặn các
2 Đoàn Văn Bình (2006) Một số vấn đề pháp lý về bán hàng đa cấp ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Đại học luật
Hà Nội
3 Luật canh tranh 2004
4 Khoản 1 điều 3 Nghị định số 40.2018/ NĐ-CP ngày 12 tháng 3 của Chính Phủ về quản lí hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp
Trang 5hiện tượng bất chính Tổng hợp văn bản pháp luật tạo thành hệ thống bán hàng đa cấp,
pháp luật bán hàng đa cấp được hiểu là “là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bán hàng đa cấp”
Trên thế giới hầu hết các quốc gia để tránh nhầm lẫn bán hàng đa cấp thông thường và bán hàng đa cấp bất chính hầu hết các nước đều có luật, văn bản pháp lý thừa nhận bán hàng đa cấp, cấm kinh doanh theo mô hình kim tự tháp, đồng thời quản
lý chặt chẽ phương thức bán hàng đa cấp.5
đa cấp
hình kim tự tháp (2003)
(2002)
Austalia, Grazia
Luật Thương mạị
3.Đặc điểm bán hàng đa cấp
Thứ nhất, BHĐC là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa, đặc điểm này
được thể hiện ở 2 khía cạnh
Một nó là phương thức bán lẻ hàng hóa, nói cách khác thông qua mạng lưới tiếp thị, doanh nghiệp tổ chức bán hàng đa cấp sẽ thiết lập được mối quan hệ mua bán sản phẩm trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng mà không tốn phí các khoản đầu tư thành lập, duy trì mạng lưới phân phối dưới dạng cửa hàng giới thiệu sản phẩm hoặc các đại lý phân phối theo pháp luật thương mại Điều này cũng giúp chúng ta phân biệt với đại lý thương mại khi đại lý thương mại cần thương nhân, có trụ sở và được bên giao đại lý trả thù lao.6 Ngược lại bên BHĐC được thực hiện bởi cá nhân người tham gia BHĐC và không được trả thù lao mà nhận hoa hồng từ sản phẩm được bán
5 Bộ thương mại (2004) Kỷ yếu hội thảo lấy ý kiến dự thảo nghị định về giám sát hoạt động bán hàng đa cấp.
Trang 6Hai là BHĐC chỉ xảy ra trên thị trường hàng hóa, Nói cách khác đối tượng của BHĐC chỉ là hàng hóa mà không đặt ra đối với thị trường dịch vụ Một khi BHĐC được hiểu như phương thức tiếp thị để cung ứng trong thị trường dịch vụ sẽ không thể
là BHĐC
Thứ hai doanh nghiệp BHĐC tiếp thị hàng hóa thông qua những người tham
gia được tổ chức ở nhiều cấp khác nhau Hiểu một cách đơn giản người tham gia BHĐC là những cộng tác viên trong việc tiếp thị và bán hàng hóa, vì vậy khi giới thiệu và bán lẻ sản phẩm doanh nghiệp đã không phải là người trực tiếp thiết lập quan
hệ với người tiêu dùng mà không nhân danh doanh nghiệp Thêm nữa bản thân người BHĐC không phải là nhân viên công ty, nên Doanh nghiệp cũng không phải chịu trách nhiệm về hành vi của người tham gia trước khách hàng Bên cạnh đó người tham gia tổ chức thành những cấp khác nhau theo phương thức mỗi người tham gia ở một mạng lưới phân phối mới khi doanh nghiệp chấp nhận Mạng lưới mới tạo ra cấp phân phối tiếp sau cấp phân phối của người tạo ra chúng
Thứ ba người tham gia được hưởng tiền hoa hồng tiền thưởng, lợi ích kinh tế
khác từ kết quả bán hàng của mình và của người tham gia khác trong mạng lưới do
họ tổ chức Cách thức phân chia lợi ích như trên không chỉ kích thích người tham gia tích cực tiêu thụ hàng hóa mà còn kích thích họ tích cực tạo lập hệ thống phân phối cấp dưới BHĐC có thể đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng như mua được như mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất nên tránh được hàng giả, hàng kém chất lượng Đối với doanh nghiệp BHĐC tiết kiệm được chi phí quảng cáo cắt giảm được hàng loạt các chi phí khác như chi phí thuê mặt bằng trưng bày
4 Phân biệt BHĐC và BHĐC bất chính
Thực tiễn bây giờ có rất nhiều người còn hiểu sai với BHĐC là hình thức lừa đảo, thông qua hình thức buôn bán tiếp thị để bán những sản phẩm kém chất lượng đến với người dân Để phân biệt sự khác biệt đó nhóm đưa ra bảng so sánh để chúng
ta có cái cách hiểu đúng về BHĐC.7
Sản phẩm Cần có sản phẩm tốt chỉ khi có
sản phẩm tốt thì doanh nghiệp BHĐC mới có cơ sở để giới thiệu đến người dùng , mới tin tưởng mua sản phẩm
BHĐC bản chất là giới thiệu, chia sẻ về các sản phẩm chất lượng tốt để bán cho người tiêu dùng Như vậy nếu sản phẩm không tốt sẽ khó có thể bán được hàng
6 Nguyễn Thị Hằng (2011), Những vấn đề pháp lý về hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội
7 Vũ Văn Tú “Hoàn thiện pháp luật bán hàng đa cấp tại Việt Nam theo kinh nghiệm một số nước trên thế giới
Trang 7Người tham gia Đào tạo phân phối tốt, đây là
những người giúp doanh nghiệp giới thiệu và bán hàng cho người tiêu dùng Do đó doanh nghiệp BHĐC cần phải đào tạo kỹ lưỡng cho nhà phân phối của mình để họ hiểu về sản phẩm và có kỹ năng bán hàng tốt
Dùng nhiều cách buộc người tham gia phải mua hàng hoặc dóng tiền Việc tiêu dùng hoặc bán hàng hóa của doanh nghiệp BHĐC là tùy thuộc vào nhu cầu khả năng của bản thân, doanh nghiệp không được bắt buộc cá nhân phải bỏ tiền ra mua hàng để được tham gia
Tuyển dụng Chủ yếu tập trung bán hàng không
tập trung tuyển dụng.Hoạt động BHĐC được thực hiện qua hệ thống phân phối do đó, song song với việc bán hàng doanh nghiệp cũng phải tuyển dụng và xây dựng
hệ thống nhà phân phối, tuy nhiên việc bán hàng phải được chú trọng hàng đầu
Chỉ tập trung tuyển dụng, nếu doanh nghiệp BHĐC chỉ chú trọng tổ chức các buổi tuyển dụng mà không đào tạo bán hàng cho nhà phân phối thì chúng ta cần cẩn trọng Bởi vì chỉ có bán hàng mới mang về doanh thu cho doanh nghiệp
và từ đó nhà phân phối được trả hoa hồng
Hứa hẹn nhiều khoản lợi hấp dẫn, thực chất BHĐC chỉ là hình thức bán hàng phân phối hàng hóa, không phải là một hình thức đầu tư, do đó chỉ thực sự có thu nhập nếu thực
sự bán được hàng và những người do chúng ta giới thiệu cũng bán được
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG PHÁP LUẬT BÁN HÀNG ĐA CẤP TẠI VIỆT NAM 1.Tổng quan về mối quan hệ pháp luật trong bán hàng đa cấp
Quan hệ pháp luật về bán hàng đa cấp là quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật khác nhau trong lĩnh vực bán hàng đa cấp, từ đó làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia quan hệ được pháp luật quy định và nhà nước đảm bảo thực hiện Cấu trúc gồm 3 thành phần gồm: chủ thể quan hệ, khách thể quan hệ và nội dụng quan hệ
Trang 81.1 Về chủ thể quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp.
Đây là các bên tham gia quan hệ pháp luật, có các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo luật định, ở trong quan hệ pháp luật về bán hàng đa cấp, chủ thể gồm: Nhà nước với vai trò quản lý, doanh nghiệp BHĐC, người tham gia BHĐC, khách hàng là người tiêu dùng Mỗi chủ thể ngoài đáp ứng năng lực chủ thể theo quy định pháp luật còn đáp ứng điều kiện đặc thù của quan hệ pháp luật này, cụ thể là với doanh nghiệp bán hàng đa cấp là tại điều 7 Nghị định 40/2018/NĐ-CP và với người tham gia bán hàng
đa cấp là điều 28 Nghị định 40/2018/NĐ-CP.Ở đây chủ thể chính tham gia quan hệ pháp luật BHĐC bao gồm doanh nghiệp BHĐC và người tham gia BHĐC
Thứ nhất doanh nghiệp BHĐC có thể là doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra sản
phẩm đem bán hoặc doanh nghiệp phân phối các sản phẩm từ các thương nhân khác nhau, nó có thể là doanh nghiệp trong nước hoặc nước ngoài tùy thuộc vào mức độ
mở cửa của thị trường của mỗi nước cũng như môi trường kinh doanh nội địa
Thứ hai người tham gia BHĐC tham gia vào mạng lưới BHĐC thông qua hợp
đồng Lợi nhuận của người này nhận được từ phía công ty BHĐC thông qua việc bán hàng của chính mình và của những người khác thuộc hệ thống do mình lập ra Địa vị pháp lý của họ hết sức đặc biệt họ có thể là người đại lý, nhân viên tiếp thị, vừa là nhân viên bán hàng cũng là người vận chuyển hàng sản phẩm đến tay người tiêu dùng
Đối với chủ thể pháp luật BHĐC cần quan tâm đến chủ thể đặc biệt đó là nhà nước Sự tham gia của nhà nước thể hiện thông qua ban hành các văn bản pháp luật, ban hành bộ thủ tục đăng ký để được cấp GĐK, nhà nước giữ vai trò điều tiết và quản
lý Ví dụ mức hoa hồng trả cho người tham gia thường bị khống chế ở một mức độ nhất định (Việt Nam không quá 40%)8
1.2 Về khách thể quan hệ pháp luật BHĐC
Đây có thể hiểu là những gì mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia vào quan hệ pháp luật mà ở đây là quan hệ pháp luật về bán hàng đa cấp Vì quan hệ bán hàng đa cấp là một quan hệ mang tính thương mại nên mục đích mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia quan hệ là lợi ích vật chất, với doanh nghiệp bán hàng đa cấp là lợi nhuận thu được khi bán được hàng, với người tham gia bán hàng đa cấp là hoa hồng, tiền thưởng hay lợi ích kinh tế khi họ bán được hàng, còn với người tiêu dùng thì là hàng hóa được bán
1.3 Về nội dung quan hệ pháp luật BHĐC: Phần này gồm quyền và nghĩa vụ của các
chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật Với quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp mỗi chủ thể đều có các quyền và nghĩa vụ riêng được pháp luật về bán hàng đa cấp quy định
2 Quyền và nghĩa vụ chủ thể tham gia quan hệ bán hàng đa cấp
2.1 Quyền và nghĩa vụ của Nhà nước
8 Quốc hội (2004) Luật cạnh tranh số 27/2004 (QH1) Hà Nội điều 27 khoản 3
Trang 9Với vai trò là chủ thể quản lý quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp, quyền đồng thời
là nghĩa vụ của chủ thể Cơ quan có thẩm quyền trực tiếp nhất trong quản lý hoạt động bán hàng đa cấp là Bộ Công thương với hai cục là Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng và Tổng cục quản lý thị trường
Mặc dù có nhiều quyền hạn và trách nhiệm khác nhau xong tựu chung lại có thể thấy cả 2 cục đều thực hiện 3 nhóm trách nhiệm khác nhau Nhóm thứ nhất là nhóm nghĩa vụ quản lý, hành chính thể hiện ở việc cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi hay xác nhận các loại giấy tờ quan trọng trong hoạt động bán hàng đa cấp của doanh nghiệp Nhóm thứ hai là nhóm nghĩa vụ giám sát, thể hiện ở các hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh đa cấp của doanh nghiệp, đồng thời tự mình hoặc chuyển tới cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về kinh doanh đa cấp Nhóm cuối cùng là nhóm nghĩa vụ pháp luật, thể hiện ở việc đào tạo đội ngũ cán bộ am hiểu pháp luật, giáo dục pháp luật cho người dân đồng thời tham gia xây dựng và sửa đổi pháp luật về bán hàng đa cấp khi cần thiết9
Ngoài ra, kinh doanh bán hàng đa cấp lại là hoạt động ảnh hưởng tới rất lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, chính vì vậy ngoài trách nhiệm của cơ quản lý trực tiếp nhất, pháp luật còn quy định về trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan, thể hiện trong điều 55 Nghị định 40/2018/NĐ-CP, chúng gồm: bộ công an, bộ y
tế, bộ tài chính,… ngân hàng nhà nước Mỗi cơ quan tổ chức này mang nhiệm vụ nghĩa vụ riêng
Cuối cùng với hoạt động bán hàng đa cấp tại các địa phương thì không thể thiếu vai trò của các chính quyền địa phương, mà cụ thể là Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, được thể hiện tại điều 56 Nghị định 40/2018/NĐ-CP, ngoài quy định về trách nhiệm ban hành quy chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan tại địa phương trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh đa cấp trên địa bàn tại điểm a và báo cáo theo định kỳ hàng năm hoặc đột xuất với Bộ Công Thương về công tác quản lý hoạt động bán hàng đa cấp trên địa bàn
2.2 Quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp bán hàng đa cấp
Nhìn chung doanh nghiệp bán hàng đa cấp cũng là một pháp nhân thực hiện hoạt động kinh doanh và chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại, Luật dân sự, và một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan Tuy nhiên do đặc thù của mô hình này, doanh nghiệp bán hàng đa cấp cũng cần có sự điều chỉnh riêng phù hợp với thực tiễn
và đảm bảo sự vận hành ổn định của nền kinh tế, quyền lợi của người tiêu dùng
Đối với hình thức hoạt động: Các doanh nghiệp bán hàng đa cấp đóng vai trò cung
cấp cho các Nhà phân phối trong hệ thống để đưa sản phẩm dịch vụ đó đến tay người tiêu dùng Tự xác định mô hình kinh doanh đa cấp để tiến hành kinh doanh, mô hình này quyết định đến sự hấp dẫn và mức chi trả hoa hồng cho các nhà phân phối, nó cũng là cơ sở quan trọng nhất của hình thức bán hàng đa cấp
9 Quốc hội (2005) Luật thương mại số 36/2005/QH1 Hà Nội , Hà Nội.
Trang 10Về đối tượng kinh doanh: Doanh nghiệp bán hàng đa cấp được kinh doanh tất cả
hàng hóa được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật Nhưng bên cạnh đó Nghị định 42/2015/NĐ – CP cũng đặt ra đã giới hạn một số đối tượng kinh doanh đối với hoạt động bán hàng đa cấp:10
● Hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh, danh mục hàng hóa
hạn chế kinh doanh, hàng hóa đang bị áp dụng biện pháp khẩn cấp buộc phải thu hồi, cấm lưu thông hoặc tạm ngừng lưu thông theo quy định của pháp luật
● Hàng hóa là thuốc; trang thiết bị y tế; các loại thuốc thú y (bao gồm cả
thuốc thú y thủy sản), thuốc bảo vệ thực vật; hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế; các loại hóa chất nguy hiểm và sản phẩm có hóa chất nguy hiểm theo quy định của pháp luật
Về thủ tục đăng ký kinh doanh: Nghị định 42/2015/NĐ – CP đã quy định thủ tục đăng
ký kinh doanh phải được thực hiện theo quy định của luật này
● Đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp: để có thể đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp các doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu như: có đủ điều kiện kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận kinh doanh theo yêu cầu của pháp luật, Ký quỹ tại một ngân hàng thương mại hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, có quy tắc hoạt động, trả lương thưởng đúng theo quy định của pháp luật
● Đối với chủ doanh nghiệp bán hàng đa cấp là thành viên hợp danh đối với công
ty hợp danh, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân, thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần, …công ty cổ phần phải là những cá nhân chưa từng giữ một trong các chức vụ nêu trên tại doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 1 Điều 14 Nghị định này
2.3 Quyền và nghĩa vụ của người tham gia bán hàng đa cấp
Theo khoản 3, điều 3 của Nghị định số 40/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp thì người tham gia bán hàng đa cấp được giải thích là
“cá nhân giao kết hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp” Tức là chủ thể tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp thông qua hợp đồng
Về điều kiện tham gia bán hàng đa cấp, chúng được quy định tại điều 28, Nghị định số 40/2018/NĐ-CP như sau:11
“1 Người tham gia bán hàng đa cấp là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật
2 Những trường hợp sau không được tham gia bán hàng đa cấp:
a) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, sản xuất, buôn bán hàng cấm, quảng cáo gian dối, lừa dối khách hàng, lừa
10 Nghị định 42/2015/NĐ-CP
11 đi u 28, Ngh đ nh s 40/2018/NĐ-CP đi u ki n tham gia bán hàng đa c p ề ị ị ố ề ệ ấ