MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế hiện nay, ngoài việc sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao, giá cả cạnh tranh, mẫu mã đa dạng, chăm sóc khách hàng tốt, việc kích cầu tiêu dùng là vấn đề cần đư
Trang 1A MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế hiện nay, ngoài việc sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao, giá cả cạnh tranh, mẫu mã đa dạng, chăm sóc khách hàng tốt, việc kích cầu tiêu dùng là vấn đề cần được quan tâm, để làm được việc đó, điều đầu tiên thương nhân nghĩ đến là "khuyến mại", khuyến mại như thế nào, hình thức ra sao, luật pháp Việt Nam quy định gì luôn được các thương nhân có quy mô hoạt động lớn quan tâm nhiều so với các thương nhân hoạt động nhỏ, lẽ Để hiểu rõ quy định pháp luật về hoạt động khuyến mại, chúng tôi tìm hiểu và thực hiện chuyên đề về
"Khuyến mại, thực trạng áp dụng và một số bất cập trong quản lý".
B NỘI DUNG
I Tìm hiểu về khuyến mại
1 Khái niệm và đặc điểm của hình thức khuyến mại
1.1 Khái niệm
Khoản 1 điều 88 Luật Thương mại 2005 quy định: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”
Theo quy định này ngoài những đặc điểm chung của hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến mại là một hoạt động xúc tiến thương mại có đặc điểm riêng cho phép phân biệt với các hình thức xúc tiên thương mại khác là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định để tác động tới thái độ và hành vi mua bán hàng hóa của họ So với Luật Thương mại năm 1997, Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa về khuyến mại có bổ sung thêm hai điểm về mục đích của khuyến mại và cách thức khuyến mại thông qua quan hệ dịch vụ Cụ thể là mục đích của khuyến mại không chỉ nhằm xúc tiến việc bán hàng mà còn xúc tiến việc mua hàng Mặc
dù, khuyến mại để bán hàng là hoạt động phổ biến của thương nhân, do thương nhân tiến hành như một nhu cầu tất yếu để cạnh tranh mở rộng thị trường nhưng đối với các doanh nhân thương mại, việc khuyến mại để mua hàng, gom hàng cũng
có thể trở thành nhu cầu tất yếu cần thiết để hoàn thành kế hoạch kinh doanh
1.2 Đặc điểm của khuyến mại
- Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại là thương nhân Quan hệ dịch vụ này hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại giữa thương nhân có nhu cầu khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ
Trang 2- Cách thức xúc tiến thương mại: Là dành cho những khách hàng những lợi ích nhất định Tùy thuộc vào mục tiêu của đợt khuyến mại, tùy thuộc vào trạng thái cạnh tranh, phản ứng của đối thủ cạnh tranh trên thương trường, tùy thuộc điều kiện kinh phí dành cho khuyến mại, lợi ích mà thương nhân dành cho khách hàng có thể là quà tặng, hàng mẫu để dùng thử, mua hàng giảm giá… hoặc lợi ích phi vật chất khác
- Mục đích của khuyến mại là xúc tiến việc mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ Để thực hiện mục đích này, các đợt khuyến mại có thể hưởng tới mục tiêu lôi kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ của khách hàng, giới thiệu sản phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hóa của doanh nghiệp, tăng cường hàng đặt mua… thông quan đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ
2 Các hình thức khuyến mại
Điều 92 Luật Thương mại năm 2005 và từ điều 7 đến điều 13 của Nghị định
số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại, các hình thức khuyến mại được áp dụng
phổ biến trong hoạt động thương mại bao gồm: hàng mẫu; tặng quà; giảm giá;
bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ; bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi; bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi và tổ chức các sự kiện vì mục đích khuyến mại Các quy định về hình thức khuyến
mại là cơ sở pháp lý để thương nhân dành lợi ích cho khách hàng theo những cách thức khác nhau, nhằm mục đích xúc tiến mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Từ những quy định của Luật Thương mại 2005, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ, quy định cụ thể như sau:
2.1 Hàng mẫu: Đưa hàng hóa mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng
dùng thử không phải trả tiền
1 Hàng mẫu đưa cho khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùng thử phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đang hoặc sẽ bán, cung ứng trên thị trường
2 Khi nhận hàng mẫu, dịch vụ mẫu, khách hàng không phải thực hiện bất
kỳ nghĩa vụ thanh toán nào
3 Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại Tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền theo hình thức đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu phải chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng mẫu, dịch vụ mẫu
Trang 3và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc sử dụng hàng mẫu, dịch vụ mẫu
2.2 Tặng quà:
Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại bằng hình thức tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền, không kèm theo việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Phải chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng hóa, tặng cho khách hàng, dịch vụ không thu tiền và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó
2.3 Giảm giá: Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng,
giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng
ký hoặc thông báo Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ
1 Trong trường hợp thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá thì mức giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại trong thời gian khuyến mại tại bất kỳ thời điểm nào phải tuân thủ quy định tại Điều 6 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP
(Điều 6 Mức giảm giá tối đa đối với bàng hóa, dịch vụ được khuyến mại: Mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại).
2 Không được giảm giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ trong trường
hợp giá bán hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quy định giá cụ thể
3 Không được giảm giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ xuống thấp hơn mức giá tối thiểu trong trường hợp giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ thuộc diện Nhà nước quy định khung giá hoặc quy định giá tối thiếu
4 Tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến mại bằng cách giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ không được vượt quá 90 (chín mươi) ngày trong một năm; một chương trình khuyến mại không được vượt quá 45 (bốn mười lăm) ngày
5 Nghiêm cấm việc lợi dụng hình thức khuyến mại này để bán phá giá hàng
hóa, dịch vụ
2.4 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ:
Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định
Trang 41 Phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ kèm theo hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng là phiếu để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của chính thương nhân đó hoặc để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của thương nhân, tổ chức khác
2 Giá trị tối đa của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ được tặng kèm
theo một đơn vị hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng trong thời gian khuyến mại phải tuân thủ quy định hạn mức tối đa về giá trị vật chất dùng để khuyến mại
quy định tại (Điều 5 37/2006/ NĐ-CP ngày 04/04/2006 của Chính phủ Giá trị vật
chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại đó trước thời gian khuyến mại)
3 Nội dung của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ phải bao gồm các
thông tin liên quan được quy định tại (Điều 97 Luật Thương mại 2005 Giá trị bằng tiền hoặc lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng từ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ; địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ và các loại hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng có thể nhận được từ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch
vụ đối với hình thức khuyến mại quy định tại khoản 4 Điều 92 của Luật Thương mại 2005)
2.5 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi: Bán hàng, cung ứng
dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ
và giải thưởng đã công bố
1 Phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ kèm theo hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng là phiếu để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của chính thương nhân đó hoặc để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của thương nhân, tổ chức khác
2 Giá trị tối đa của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ được tặng kèm
theo một đơn vị hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng trong thời gian khuyến mại phải tuân thủ quy định hạn mức tối đa về giá trị vật chất dùng để khuyến mại
quy định tại (Điều 5 Nghị định 37/2006/ NĐ-CP ngày 04/04/2006 của Chính phủ
Giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại đó trước thời gian khuyến mại)
3 Nội dung của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ phải bao gồm các thông tin liên quan được quy định tại Điều 97 Luật Thương mại Loại giải thưởng
và giá trị của từng loại giải thưởng; thể lệ tham gia các chương trình khuyến mại,
Trang 5cách thức lựa chọn người trúng thưởng đối với các hình thức khuyến mại quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 92 của Luật Thương mại 2005
2.6 Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự chương trình khuyến mại mang tính may rủi:
1 Việc mở thưởng chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải được
tổ chức công khai, theo thể lệ đã công bố, có sự chứng kiến của khách hàng Trong trường hợp giá trị giải thưởng từ 100 triệu đồng trở lên, thương nhân phải thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước về thương mại có thẩm quyền theo quy định tại
(khoản 1 Điều 15 Nghị định 37/2006/ NĐ-CP ngày 04/04/2006 của Chính phủ Thương nhân thực hiện các hình thức khuyến mại quy định tại Mục 2 chương này phải gửi thông báo bằng văn bản về chương trình khuyến mại đến Sở Công thương nơi tổ chức khuyến mại chậm nhất 7 (bảy) ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại.)
2 Trong trường hợp việc trúng thưởng được xác định trên cơ sở bằng chứng
trúng thưởng kèm theo hàng hóa, thương nhân thực hiện khuyến mại phải thông báo về thời gian và địa điểm thực hiện việc đưa bằng chứng trúng thưởng vào hàng hóa cho cơ quan quản lý nhà nước về thương mại có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 37/2006/ NĐ-CP ngày 04/04/2006 của Chính phủ Thương nhân thực hiện các hình thức khuyến mại quy định tại Mục 2 chương này phải gửi thông báo bằng văn bản về chương trình khuyến mại đến Sở Công Thương nơi tổ chức khuyến mại chậm nhất 7 (bảy) ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại
3 Chương trình khuyến mại mang tính may rủi có phát hành vé số dự thưởng phải tuân thủ các quy định sau đây:
a) Vé số dự thưởng phải có hình thức khác với xổ số do nhà nước độc quyền phát hành và không được sử dụng kết quả xổ số của nhà nước đế làm kết quả xác định trúng thưởng;
b) Vé số dự thưởng phải in đủ các nội dung về số lượng vé số phát hành, số lượng giải thưởng, giá trị từng loại giải thưởng, địa điểm phát thưởng, thời gian, địa
điểm mở thưởng và các nội dung liên quan quy định tại (Điều 97 Luật Thương mại;
Loại giải thưởng và giá trị của từng loại giải thưởng; thể lệ tham gia các chương trình khuyến mại, cách thức lựa chọn người trúng thưởng đối với các hình thức khuyến mại quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 92 của Luật Thương mại 2005)
c) Việc mở thưởng chỉ áp dụng cho các vé số đã được phát hành
Trang 64 Tổng thời gian thực hiện khuyến mại đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ không được vượt quá 180 (một trăm tám mươi) ngày trong một năm, một chương trình khuyến mại không được vượt quá 90 (chín mươi) ngày
5 Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày hết thời hạn trao giải thường, giải thưởng không có người trúng thưởng của chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải được trích nộp 50% giá trị đã công bố vào ngân sách nhà
nước theo quy định tại (khoản 4 Điều 96 Luật Thương mại Đối với một số hình
thức khuyến mại quy định tại khoản 6 Điều 92 của Luật Thương mại 2005, thương nhân phải trích 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước trong trường hợp không có người trúng thưởng)
6 Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công Thương hướng dẫn cụ thể việc thực hiện khoản 5 Điều này
2.7 Tổ chức trương trình khách hàng thường xuyên: Tổ chức chương
trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác
1 Thương nhân thực hiện khuyến mại phải tuân thủ quy định về thông báo các thông tin liên quan tại Điều 97 Luật Thương mại; có trách nhiệm xác nhận kịp thời, chính xác sự tham gia của khách hàng vào chương trình khách hàng thường xuyên
2 Thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận việc mua hàng hóa, dịch vụ phải có đầy
đủ các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Ghi rõ tên của thẻ hoặc phiếu;
b) Điều kiện và cách thức ghi nhận sự tham gia của khách hàng vào chương trình khách hàng thường xuyên, việc mua hàng hóa, dịch vụ của khách hàng
Trong trường hợp không thể ghi đầy đủ các nội dung nêu tại điểm này thì phải
cung cấp đầy đủ, kịp thời các nội dung đó cho khách hàng khi khách hàng bắt đầu tham gia vào chương trình;
c) Các nội dung liên quan được quy định tại Điều 97 của Luật Thương mại
2.8 Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại
2.9 Các hình thức khuyến mại khác nếu được cư quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận
Trang 73 Các nguyên tắc khi thực hiện các hình thức khuyến mại:
Điều 4 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại Quy định nhằm đảm bảo các nguyên tắc khuyến mại gồm có: Trung thực, công khai, minh bạch: Chương trình khuyến mại phải được thực hiện hợp pháp, trung thực, công khai, minh bạch và không được xâm hại đến lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, của các thương nhân, tổ chức hoặc
cá nhân khác Không phân biệt đối xử: Không được phân biệt đối xử giữa các khách hàng tham gia chương trình khuyến mại trong cùng một chương trình khuyến mại Hỗ trợ khách hàng: Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại phải bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho khách hàng trúng thưởng nhận giải thưởng và có nghĩa vụ giải quyết rõ ràng, nhanh chóng các khiếu nại liên quan đến chương trình khuyến mại (nếu có) Chất lượng hàng hóa, dịch vụ: Thương nhân thực hiện khuyến mại có trách nhiệm bảo đảm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng dùng để khuyến mại Không lạm dụng lòng tin: Không được lợi dụng lòng tin và sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm của khách hàng để thực hiện khuyến mại nhằm phục vụ cho mục đích riêng của bất kỳ thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân nào Cạnh tranh lành mạnh: Việc thực hiện khuyến mại không được tạo ra sự so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch
vụ của mình với hàng hóa, dịch và của thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh Không khuyến mại thuốc chữa bệnh: Không dược dùng thuốc chữa bệnh cho người, kế cả các loại thuốc đã được phép lưu thông để khuyến mại
II THỰC TRẠNG VÀ BẤT CẬP TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI
1 Thực trạng áp dụng các hình thức khuyến mại
Theo Luật Thương mại 2005 của Việt Nam, các hình thức khuyến mại bao gồm: Dùng thử hàng mẫu miễn phí; Tặng quà; Giảm giá; Tặng phiếu mua hàng; Phiếu dự thi; Các chương trình may rủi; Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên; Chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí
Trong thực tế, các hình thức này được các thương nhân áp dụng khá linh hoạt và có sự kết hợp giữa nhiều hình thức một lúc, như vừa giảm giá vừa tặng quà, vừa giảm giá vừa bốc thăm trúng thưởng, giảm giá hoặc tặng quà trong những
"giờ vàng mua sắm" nhất định trong ngày (thường là giờ thấp điểm để kích thích tiêu dùng) Giảm giá thường là hình thức được các thương nhân áp dụng nhiều nhất
Trang 8a Về vấn đề kiểm soát giá cả và chất lượng sản phẩm khuyến mại: một thực
tế là do các điểm kinh doanh hàng hóa quá nhiều, thời gian khuyến mại ngắn nên
có nhiều chương trình khuyến mại mà các cơ quan quản lý nhà nước không thể nắm rõ hết Việc quản lý chương trình khuyến mại theo pháp luật hiện rất khó khăn Vì vậy đây cũng là một kẽ hở để thương nhân làm không đúng quy định, không thông báo với cơ quan quản lý trước 7 ngày, trước khi áp dụng các chương trình khuyến mại theo quy định Người tiêu dùng thường phải chấp nhận một giá
cả và chất lượng sản phẩm không đúng như thông tin khuyến mại mà các thương nhân đưa ra khi mua hàng "thanh lý" hay "xả hàng tồn" hiện nay
Ví dụ, trong lĩnh vực điện máy, có thể nhận thấy trên địa bàn thành phố Cần Thơ hiện nay, không phải trung tâm điện máy nào cũng có thể vừa bán hàng với giá ưu đãi vừa có thể đảm bảo quyền lợi khách hàng từ chất lượng sản phẩm đến các dịch vụ hậu mãi, bảo hành Hầu như các hệ thống siêu thị đều rầm rộ quảng cáo trên phương tiện tuyền thông những thông điệp giá gây sốc, trong đó có những đơn vị đưa ra mức giảm giá đến 50% Giúp cho người tiêu dùng có thể dễ dàng chọn lựa cho mình sản phẩm điện máy với giá hấp dẫn Bên cạnh đó không ít người tiêu dùng vẫn e ngại bởi tìm một số điểm bán hàng thật tin cậy để mua sắm làm một vấn đề không nhỏ
Một ví dụ khác của các cửa hàng, đại lý bán lẽ thì mặt hàng được của hàng chọn 'thanh lý", "xả hàng" chủ yếu tập trung vào nhóm mỹ phẩm, quần áo, giày dép, kính mắt, túi xách, Các chủ cửa hàng thường áp dụng hình thức nâng giá niêm yết hàng trước khi áp dụng chương trình 'thanh lý", "xả hàng", khiến cho khách hàng tương mua hàng được giá rẻ, nhưng thực chất giá sản phẩm vẫn giữ nguyên, thậm chí còn cao hơn giá chưa được "thanh lý", "xả hàng"
Như vậy, một vấn đề đạt ra qua những thực trạng nêu trên là "Pháp luật về
khuyến mại hiện hành đã đủ các chế tài để quản lý hiệu quả các hành vi khuyến mại nêu trên?"; "Giải pháp nào hiệu quả?" Luật Thương mại 2005 có quy định
"cấm hành vi khuyến mại thiếu trung thực hay gây hiểu lầm về hàng hóa, dịch vụ
để lừa dối khách hàng", tuy nhiên Luật quy định là một chuyện còn cơ chế kiểm soát được các hành vi khuyến mại tương tự thì Nhà nước còn chưa đủ để có thể quản lý, kiểm soát được thực trạng các hoạt động khuyến mại không đảm bảo về giá và chất lượng sản phẩm khuyến mại như hiện nay
b Về tình xác thực của thông tin lợi ích vật chất mà khách hàng được hưởng trong đợt khuyến mại: trong thực tế, khách hàng luôn là người chịu thiệt
thòi do những hành vi gian lận trong khuyến mại hoặc do các sai sót kỹ thuật trong
Trang 9in ấn tem, phiếu, vật phẩm có chứa đựng thông tin về lợi ích vật chất mà khách hàng được hưởng trong chương trình khuyến mại Vấn đề đặt ra là pháp luật hiện hành đã có cơ chế nào để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng? Với hình thức đăng ký khuyến mại trong thời gian dài (tháng hoặc tuần, ) mà không đủ hàng bán cho khách, do nhà kinh doanh đã thông tin sai sự thật Ví dụ, trường hợp này thường gặp ở một số của hàng kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng, thương nhân đăng
ký chương trình khuyến mại thời gian từ đầu tháng 3/2012 đến 31/12/2012 khi khách hàng đổi một bình gas loại 12kg sẽ được tặng 1 trong 5 phần quà (thau inox khoảng 18.000 đồng, bộ chén thủy tinh 6 cái khoảng 18.000 đồng, 03 cái tô khoảng 18.000 đồng, bộ hộp nhựa chứa thức ăn khoảng 18.000 đồng, bộ dao 3 cái giá khoảng 60.000 đồng) khi khách hàng gọi đổi gas và yêu cầu nhận bộ dao thì được nhân viên bán hàng trả lời "hết hàng" đề nghị đổi tặng phẩm khác
c Mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại vượt quá giá hàng hóa quy định
Ví dụ: Trong dịp tết Nguyên đán năm 2010, Hãng Hàng không giá rẻ Jetstar Pacific Airlines (JPA) tung ra chương trình mua vé vào dịp giao thừa với giá 0
đồng JPA đã gửi e-mail đến cho những khách hàng, trong đó có đoạn: "Chương
trình khuyến mại bắt đầu từ 00:01 ngày 14/2 và kết thúc vào lúc 12:00 ngày 14/2 hoặc khi vé được bán hết" Đây là nội dung khẳng định chương trình khuyến mại
trên bán vé với giá 0 đồng dưới hình thức "lì xì" cho khách hàng
Điều 6 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 04/4/2006 có quy định về "mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại" Nhưng thực tế có một số thương nhân khuyến mại vướt mức quy định
Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP cũng quy định rõ: "Trong trường hợp thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá thì mức giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại trong thời gian khuyến mại tại bất kỳ thời điểm nào phải tuân thủ quy định tại Điều 6 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/04/2006 của Chính phủ"
Giá vé máy bay khuyến mại giảm giá không được giảm thấp hơn 50% giá vé trước thời gian khuyến mại Nên, chương trình khuyến mại bán vé với giá 0 đồng vào đêm 30 tết của Hãng Hàng không JPA là vi phạm quy định của pháp luật về hoạt động khuyến mại
Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP, nếu gọi đây là chương trình khuyến mại bán vé giảm giá thì JPA đã vi phạm pháp luật, còn xem
Trang 10đây là chương trình khuyến mại tặng vé máy bay cho khách hàng và cung cấp dịch
vụ không thu tiền, thì sẽ không vi phạm điều cấm của pháp luật Đây là vấn đề liên quan đến việc canh tranh trong thương mại
Và căn cứ vào khoản 5 Điều 46 Luật Cạnh tranh 2004, thì việc bán vé máy bay với giá 0 đồng của Hãng Hàng không JPA là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh Tuy nhiên, đây có thể hiểu là trường hợp khuyến mãi bằng hình thức tặng
hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền, không kèm theo việc
mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thì được pháp luật cho phép
Thêm một vài ví dụ khác, giảm giá là hình thức khuyến mại được các thương nhân sử dụng nhiều nhất Các thương hiệu quần áo thời trang nổi tiếng như Blue Exchange, Việt Thy, Forcy, có những thời điểm tổ chức các cuộc khuyến mại giảm giá đến 80% Ngoài ra, các hình thức khuyến mại khác cũng được quy định của Luật thương mại và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP thì mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ không vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời điểm khuyến mại Trên thực tế cơ quan có thẩm quyền đã quản lý vấn đề vượt quá hạn mức khuyến mại cho phép như thế nào? Do lực lượng quản lý nói chung, cán bộ Quản lý thị trường, Thanh tra chuyên ngành Công Thương nói riêng quá mỏng, nên việc kiểm tra, kiểm soát còn hạn chế
Như vậy khái quát một số nét về thực trạng có thể thấy, hoạt động khuyến mại
ở nước ta hiện nay rất phong phú, đa dạng về hình thức, cách thức khuyến mại Bên cánh đó là sự thiếu tôn trọng pháp luật về khuyến mại, bất chấp quy định của pháp luật để đưa ra mọi "chiêu thức" dù trái pháp luật để thực hiện mục tiêu kinh doanh của thương nhân, các hoạt động khuyến mại diễn ra rầm rộ nhưng kém về chất lượng, độ trung thực, công khai, minh bạch, gây khó khăn cho sự quản lý của các cơ quan nhà nước
2 Những bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động khuyến mại và cá giải pháp hoàn thiện
Qua khái quát tình hình, thực trạng hoạt động khuyến mại ở nước ta hiện nay, cho chúng ta thấy, trong hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành về khuyến mại rõ ràng có những hạn chế, bất cập, chưa tương thích và chưa đầy đủ các cơ chế, biện pháp để giúp nhà nước quản lý, kiểm soát chặt chẽ được các hoạt động khuyến mại hiện nay
a Về trình tự thủ tục thực hiện khuyến mại:
Luật Thương mại 2005 và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP đã có những quy định hợp lý Tuy nhiên, theo khoản 3 điều 16 và khoản 3 điều 17 của Nghị định số