1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích những điểm bất cập trong quy định của pháp luật về hoạt động khuyến mại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định đó

17 884 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 118 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nên hủy bỏ các quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa dịch vụ dùng để khuyến mại, hạn mức về thời gian thực hiện khuyến mại...13 3.Bổ sung quy định về trách nhiệm cá nhân của thương

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ……….1

I.Một số vấn đề lý luận về khuyến mại và pháp luật về khuyến mại 1 1 Khái niệm và đặc điểm khuyến mại 1

1.1 Khái niệm 1

1.2 Đặc điểm 1

1.3 Vai trò 2

2 Thực trạng pháp luật về khuyến mại ở Việt Nam 3

2.1 Các quy định về quyền và nghĩa vụ của thương nhân thực hiện hoạt động khuyến mại 3 2.2 Các quy định về hình thức khuyến mại 3

2.3 Các quy định về hoạt động khuyến mại bị cấm 4

2.4 Các quy định về dịch vụ khuyến mại 4

2.5 Các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại 5

3 Thành tựu thực hiện pháp luật khuyến mại ở Việt Nam 5

II ĐIỂM BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI 6 1 Bất cập trong quy định về hình thức khuyến mãi: 6

2 Bất cập về quyền và nghĩa vụ của thương nhân trong hoạt động khuyến mãi 10

3 Bất cập về trình tự, thủ tục thực hiện khuyến mại 12

III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 12 1 Nên hủy bỏ quy định nghĩa vụ nộp 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách Nhàn ước trong trường hợp không có người trúng thưởng 12

2 Nên hủy bỏ các quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa dịch vụ dùng để khuyến mại, hạn mức về thời gian thực hiện khuyến mại 13

3.Bổ sung quy định về trách nhiệm cá nhân của thương nhân hoặc người đại diện hợp pháp của thương nhân và trách nhiệm cá nhân của người được giao tổ chức chương trình khuyến mại 14

4 Quy định nhằm tránh sự nhầm lẫn 2 hình thức “hàng mẫu” và “tặng quà” 14 KẾT LUẬN 14

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Được biết đến như là một hình thức xúc tiến thương mại hết sức quan trọng, góp phần đưa những thông tin của sản phẩm, dịch vụ đến với người tiêu dùng, quảng bá thương hiệu, thu hút khách hàng…… Khuyến mại là một hình thức xúc tiến thương mại rất phổ biến và được rất nhiều thương nhân sử dụng Vì vậy, cần

có một hệ thống các quy định pháp luật vừa cụ thể, hợp lý nhưng cũng thông thoáng, tích cực để quản lý hình thức này Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam về hoạt động khuyến mãi vẫn còn bộc lộ một số điểu bất cập cần phải khắc phục Sau đây,

em xin làm rõ đề tài: “Phân tích những điểm bất cập trong quy định của pháp

luật về hoạt động khuyến mại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định đó”.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Một số vấn đề lý luận về khuyến mại và pháp luật về khuyến mại

1 Khái niệm và đặc điểm khuyến mại

1.1 Khái niệm

Tại Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005) có quy định

“Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến

việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định” Như vậy, khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của

thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định

Quy định trên cho thấy khuyến mại là một trong bốn hình thức xúc tiến thương mại được LTM 2005 quy định, bao gồm: khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm và trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ Khuyến mại khác với các hình thức xúc tiến khác ở dấu hiệu các thức thực hiện xúc tiến thương mại: tạo ra những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mạnh mẽ việc bán hàng và cung ứng dịch vụ là dành cho khách hàng những lợi ích nhất định

1.2 Đặc điểm

Với khái niệm như trên, khuyến mại có những đặc điểm sau:

Trang 3

- Về chủ thể: Chủ thể thực hiện khuyến mại là thương nhân Pháp luật thừa nhận quyền hoạt động khuyến mại của thương nhân nhằm điều chỉnh hài hòa lợi ích của các chủ thể liên quan đến việc thực hiện hoạt động này của họ Thương nhân là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động thương mại một cách thường xuyên

và mang tính nghề nghiệp

- Về cách thức xúc tiến thương mại: Thương nhân khi thực hiện hoạt động khuyến mại tức là đã mang lại cho khách hàng những lợi ích nhất định (vật chất hoặc tinh thần) Ví dụ: Khách hàng có thể nhận được quà tặng, hàng mẫu để dùng thử, mua hàng giảm giá… Khuyến mại là hoạt động tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thuộc nhóm hành vi thương mại không trực tiếp sinh lời Giá trị thương mại của hành vi này thể hiện ở tác dụng kích thích nhu cầu mua sắm của khách hàng để thông qua đó thỏa mãn nhu cầu lợi nhuận của thương nhân

- Về mục đích của khuyến mại: Mục đích của khuyến mại là xúc tiến việc bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ Để thực hiện mục đích này, các hoạt động khuyến mại có thể hướng tới mục tiêu lôi kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ của khách hàng, giới thiệu một sản phẩm mới, tăng lượng hàng đặt mua, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hóa của doanh nghiệp… Thông qua đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ Ngoài ra, khuyến mại còn giúp thương nhân có nhiều cơ hội trong việc thăm dò thi hiếu của thị trường

1.3 Vai trò

Ngày nay, tốc độ phát triển kinh tế rất nhanh kéo theo đó là sự đa dạng về hàng hóa, dịch vụ làm cho khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn Các thương nhân đều muốn sản phẩm của mình được khách hàng lựa chọn nên đã sử dụng các chiêu bài khuyến mại nhằm thu hút khách hàng

Thứ nhất, khuyến mại là công cụ hữu hiệu để thương nhân chiếm lĩnh thị

trường, nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất

Thứ hai, khuyến mại là công cụ hữu hiệu phản ánh sự liên lạc giữa người sản

xuất và người tiêu dùng Bởi thông qua hoạt động khuyến mại, thương nhân có thể

Trang 4

nhận được những đánh giá, nhìn nhận về những ưu, nhược điểm của hàng hóa, dịch vụ đó từ khách hàng Từ đó, họ có thể quyết định thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của thị trường

Thứ ba, khuyến mại tạo điều kiện kích thích người tiêu dùng sử dụng sản

phẩm với nhiều sự lựa chọn khác nhau Thông qua khuyến mại, người tiêu dùng thấy được sự ưu đãi từ phía nhà sản xuất sẽ mua nhiều hàng hơn…Từ đó nhà sản xuất cũng có thể có thêm nhiều lợi nhuận hơn, tạo điều kiện để nâng cấp chất lượng sản phẩm phục vụ người tiêu dùng tốt hơn

2 Thực trạng pháp luật về khuyến mại ở Việt Nam

Hiện nay, hoạt động khuyến mại ở Việt Nam chủ yếu chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật sau: LTM 2005, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP, Luật Cạnh Tranh năm 2004 và Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2001 và các văn bản pháp luật khác liên quan

2.1 Các quy định về quyền và nghĩa vụ của thương nhân thực hiện hoạt động khuyến mại

Quyền của thương nhân thực hiện khuyến mại được ghi nhận tại Điều 95 LTM 2005 và nghĩa vụ của thương nhân thực hiện khuyến mại tại Điều 96 Ngoài

ra nghĩa vụ thông tin phải thông báo công khai còn phải đúng quy định tại Điều 97,

về cách thức thông báo Điều 98 LTM 2005 Qua các quy định nêu trên thì pháp luật cũng giúp định hướng phần nào cho các thương nhân để họ thực hiện hoạt động khuyến mại

2.2 Các quy định về hình thức khuyến mại

Các hình thức khuyến mại được quy định tại Điều 92 LTM 2005:

1 Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử

không phải trả tiền

2 Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền

Trang 5

3 Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo

4 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định

5 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

6 Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ

và giải thưởng đã công bố.

7 Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ

mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác.

8 Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại

9 Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận.

2.3 Các quy định về hoạt động khuyến mại bị cấm

Nhằm hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh, Điều 100 LTM 2005 đã quy định 10 hoạt động khuyến mại bị Nhà nước cấm thực hiện Như vậy, Nhà nước mong muốn các doanh nghiệp thực hiện đúng và đầy đủ để đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng

2.4 Các quy định về dịch vụ khuyến mại

Dịch vụ khuyến mại là một loại hình dịch vụ thương mại, thương nhân kinh doanh dịch vụ tổ chức, thực hiện khuyến mại cho thương nhân khác theo thỏa thuận trong hợp đồng để hưởng thù lao Cơ sở pháp lý của hoạt động này là hợp đồng dịch vụ được ký kết bằng văn bản giữa thương nhân kinh doanh dịch vụ và thương nhân thuê dịch vụ, trong đó thỏa thuận rõ về hình thức khuyến mại, thời

Trang 6

gian thực hiện, nội dung công việc cần thực hiện, thù lao dịch vụ (Điều 89, 90 LTM 2005)

2.5 Các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại

Các quy định pháp luật về quản lý Nhà nước đối với hoạt động khuyến mại có nội dung quy định thẩm quyền quản lý Nhà nước đối với thương nhân thực hiện khuyến mại, thủ tục hành chính mà thương nhân phải thực hiện khi khuyến mại, thủ tục hành chính mà thương nhân phải thực hiện khi khuyến mại (đăng ký/ xin phép trước khi thực hiện khuyến mại…); cơ chế giám sát quá trình hoạt động khuyến mại; kiểm tra, thanh tra phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về khuyến mại…Bộ Công Thương là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện quản

lý Nhà nước các hoạt động xúc tiến thương mại trong đó có khuyến mại Cục xúc tiến thương mại là cơ quan trực thuộc Bộ Công thương, giúp Bộ quản lý Nhà nước trong hoạt động xúc tiến thương mại Cục chịu trách xây dựng và trình Bộ trưởng phê duyệt chiến lược chính sách và các chương trình khác…trong phạm vi quản lý

đó là hoạt động xúc tiến thương mại

3 Thành tựu thực hiện pháp luật khuyến mại ở Việt Nam

Quá trình thực hiện khuyến mại đã đạt được những thành tựu đáng kể như:

Khuyến mại có ảnh hưởng lớn đến nhận thức, sự lựa chọn của công chúng Nếu sử dụng đúng khuyến mại sẽ đem lại hiệu quả và lợi ích thiết thực cho các doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả xã hội Nó giúp kích cầu tiêu dùng, tạo ấn tượng tốt cho người tiêu dùng với của hàng bán lẻ, siêu thị, gián tiếp thúc đấy sản xuất, tạo không khí thương mại sôi động, ngược lại, nó có thể gây phản hồi tiêu cực tới chính các đối tượng này

Các quy định pháp luật về hoạt động khuyến mại có ý nghĩa không chỉ thiết lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh mà còn bảo vệ được những lợi ích chân chính trong xã hội Hiện nay, ngày càng có rất nhiều hoạt động khuyến mại được thực hiện đem lại lợi ích cho việc phát triển kinh tế Số lượng các chương trình khuyến mại cũng tăng rất nhanh, đây cũng là nhân tố khiến cho tình trạng gian lận phát triển Theo như số liệu thống kê như sau [6, tr36] đã phản ánh sự phát triển của hoạt động khuyến mại

ở Việt Nam.

Trang 7

Tháng 1-6 năm 2005 540 chương trình 271 tỷ đồng

Những năm gần đây, một số chương trình khuyến mại độc đáo được các thương nhân tung ra thị trường nhằm thu hút khách hàng như chương trình khuyến mại tặng miễn phí nhiên liệu cho khoảng 2000km trong điều kiện vận hành chuẩn của Ford Việt Nam trong năm 2005 khi mua xe Ford Everest; chương trình “đợt khuyến mại lớn nhất trong lịch sử ngành thông tin di động ”

II ĐIỂM BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI

1 Bất cập trong quy định về hình thức khuyến mãi:

Thứ nhất: Nếu thương nhân dùng hàng hóa, dịch vụ mà mình được kinh doanh hợp phát để phát tặng không thu tiền cho khách hàng không kèm theo hành

vi mua bán thì khi nào là hình thức hàng mẫu, khi nào là hình thức tặng quà?

Tháng 6 năm 2006, tại trung tâm thương mại Big C Hà Nội, công ty TNHH nước giải khát Coca Cola tổ chức phát tặng uống tại chỗ số lượng lớn chai nước giải khát Coca Cola loại 300ml cho mọi đối tượng khách hàng Đó là hình thức

“tặng quà” hay “hàng mẫu”? Nếu là “hàng mẫu”, thương nhân không phải thức hiện bất cứ quy định nào về hạn mức khuyến mại, nếu là “tặng quà”, thì phải thức hiện quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 4/4/2006 về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa dùng để khuyến mại (tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị của hang hóa, dịch vụ được khuyến mại)

Thiết nghĩ, mục đích của thương nhân khi đưa hàng mẫu cho khách hàng là muốn giới thiệu với họ về hàng hóa, dịch vụ của mình, định hướng hành vi mua bán của họ sau khi kiểm nghiệm chất lượng của hàng mẫu Khác với điều này, mục đích của hình thức tặng quà là dùng giá trị của quà tặng để thu hút khách hàng mua bán hàng hóa, dịch vụ của thương nhân bởi vì cùng với loại hàng hóa có chất lượng tương đương, khách hàng sẽ có tâm lý muốn chọn mua hàng hóa đang được khuyến mại, khách hàng vì quà tặng mà mua hàng Chính vì vậy, pháp luật chỉ nên

Trang 8

quy định việc tặng quà kém theo việc mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ Còn lại, các trường hợp đưa hàng hóa cho khách hàng không thu tiền sẽ được coi là hình thức hàng mẫu Tuy nhiên, sự phân biệt này sẽ không còn cần thiết nếu như quy định về hạn mức tố đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mãi được xóa bỏ trong pháp luật hiện hành Mặt khác, việc xác định rõ bản chất trên đây của hình thức tặng quà còn cho phép phân biệt nó với hình thức xúc tiến thương mại khác Hãng điện tử Panasonic phát tặng bong bay có in chữ “Panasonic” tại một trung tâm thương mại, hành vi này tức chất là quảng cáo chứ không phải là tặng quà, vì lợi ích khách hàng có được từ một quả bong bay không thể là sức hút của họ đến với sản phẩm của công ty

Thứ hai: Về các hình thức khuyến mại, mặc dù có bổ sung thêm mục đích xúc tiến việc mua hàng, nhưng quy định về các cách thức khuyến mại vẫn chỉ tập trung vào hoạt động xúc tiến việc bán hàng Trong số tám các thức khuyến mại được quy định tại Điều 92 Luật Thương mại 2005, chỉ có thể áp dụng hình thức tặng quà, hinhg thức tổ chức chương trình khách hàng và tổ chức các sự kiện quy định tại khoản 2 và khoản 7,8 cho hoạt động khuyến mại để mua hàng Trong thực

tế, nếu như việc giảm giá để tiêu thụ hàng hóa có thể làm nảy sinh hiện tượng bán phá giá, thì việc nâng giá để thu mua, gom hàng cũng có thể làm xuất hiện những nguy cơ đáng kể cho hoạt động kinh doanh của thương nhân

Thứ ba: Quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại gặp khá nhiều vướng mắc khi thi hành

Đối với các chương trình khuyến mại của thương nhân kinh doanh dịch vụ, việc xác định hạn mức giá trị dịch vụ cho khách hàng không thu tiền thì hạn mức tổng giá trị dịch vụ dùng để khuyến mại không được vượt quá 50%, tổng giá trị dịch vụ được khuyến mại Các hai mức “tổng giá trị” này chỉ có thể xác định sau khi kết thúc thời gian khuyến mại Nếu xác định vi phạm và xử lý vi phạm khi chưa hết thời gian khuyến mại sẽ không tránh khỏi bất đồng giữa cơ quan quản lý

và thương nhân, do mọi số liện có thể chỉ là ước định

Từ 24/12/2003 đến 31/1/2004, công ty cổ phần Internet một kết nối (OIC) thức hiện chương trình khuyến mại sử dụng thẻ “Fone & Net” với nội dung miễn

Trang 9

phí tất các các cuộc gọi từ Việt Nam đến 20 quốc gia và vùng lãnh thổ Bộ Thương mại đã có công văn số 6071/TM-XTTM ngày 30/12/2003 yêu cầu OIC dừng chương trình khuyến mại với lý do chương trình miễn phí cuộc gọi này vi phạm Điều 3 Nghị định 32/1999/NĐ-CP ngày 5/5/1999 về khuyến mại, quảng cáo thương mại và hội chợ triển lãm quy định trị giá hàng hóa dùng để khuyến mại không được vượt quá 30% giá của hàng hóa, dịch vụ trước thời gian khuyến mại (sau này, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 4/4/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về xúc tiền thương mại sửa đổi hạn mức này thành 50% và chia ra mức tính theo đơn giá dịch vụ và theo tổng giá trị đợt khuyến mại) Cũng thời điểm

đó, tức là khi đang trong thời gian khuyến mại, OIC không thừa nhận vi phạm theo kết luận của bộ thương mại vì cho rằng họ chỉ miễn phí cuộc gọi đến 20 quốc gia

đã xác định trong thời gian khuyến mại, các hướng dẫn vẫn thu tiền theo bảng giá hiện hành (tối thiểu 1540 đồng/phút), trị giá đợt khuyến mại này không vượt quá 30% tổng doanh thu bán ra

Đặc trưng của dịch vụ là tiêu dùng ngay, do đó khi chưa hết thời hạn khuyến mại, chỉ có thể ước tính giá trị các cuộc gọi miễn phí và tổng giá trị cuộc gọi của khách hàng trong thời gian đó Nếu như áp dụng các quy định hiện hành về hạn mức tối đa giá trị dịch vụ dùng để khuyến mại (50%), sẽ vẫn gặp phải những vướng mắc tương tự khi giải quyết vụ việc này Ngược lại, nếu đợi hết thời gian khuyến mại mới các định vi phạm để xử lý thì mục đích chống bán phá giá và đảm bảo cạnh tranh lành mạnh khi ban hành điều luật lại không thực hiện được

Trường hợp thương nhân thực hiện nhiều hình thức khuyến mại trong một chương trình khuyến mại, việc xác định hạn mức giá trị dùng để khuyến mại cũng không đơn giản do còn thiếu cơ sở pháp lý để tính toán cụ thể Viettel là thương nhân thường xuyên kết hợp thực hiện nhiều hình thức khuyến mại ttrong một chương trình khuyến mại

Chương trình “Những số 6 may mắn” của Viettelmobile được thực hiện từ 26/3/2006 đến 26/5/2006 với nội dung các thuê bao được tham gia rút thăm trúng thưởng 6 xe Innova, tặng ngay 60% cước hòa mạng và miễn phí 6 tháng cước thuê

Trang 10

bao cho khác hàng trả sau, tặng 60% giá trị bộ hòa mạng và 25% giá trị thẻ nạp tiền đầu tiên cho khách hàng trả trước khóa 2 chiều trước ngày 26/3/2006

Trong chương trình này, Viettelmobile đã thực hiện các hình thức: Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủ (rút thăm trúng thưởng 6 xe Innova); Giảm giá 60% cước hòa mạng, 60% giá trị bộ hòa mạng và 25% mệnh giá thẻ nạp tiền; Tặng quà bằng 6 tháng cước thuê bao Theo quy định hiện hành, việc xem xét chương trình khuyến mại này có nôi dung nào vi phạm hay không sẽ gặp khá nhiều vướng mắc, đó là:

- Khó có thể xác định được tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, làm cơ sở xác định tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại có vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ dugnf để khuyến mại hay không, vì mỗi hình thức khuyến mại trong chương trình lại có đối tượng khách hàng khác nhau: Việc rút thăm trúng thưởng dành cho tất các các thuê bao đã hòa mạng từ trước đến nay, việc giảm giá, tặng quà lại chỉ dành cho các thuê bao hòa mạng trong thời gian khuyến mại

- Việc xác định hạn mức giá trị vật chất tối đa dùng để khuyến mại sẽ xác định trên cơ sở sự tổng hợp các ba hình thức hay xác định riêng cho từng hình thức? Pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về vấn đề này

- Chỉ có thể tính chính xác giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại sau khi kết thúc đợt khuyến mại trên cơ sở xác định được số thuê bao hòa mạng mới,

số thẻ được bán ra, thời gian cụ thể không thu cước thuê bao mà khách hàng sử dụng trên thực tế

- Đối với việc tặng 60% cước hòa mạng và 60% giá trị bộ hòa mạng và Viettel thông báo, sẽ có ý kiến khác nhau về xác định hình thức khuyến mại: Là tặng quà hay là giảm giá? Nếu là hình thức giảm giá thì phải thực hiện thêm quy định hạn mức giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch

vụ không được vượt quá 50% đơn giá của hàng hóa, dịch vụ trước thời gian khuyến mại Mặc dù thông báo là “tặng 60%” nhưng thức chất phải coi đây là giảm giá cước hòa mạng cho mỗi thuê bao (đơn giá hòa mạng cho mỗi thuê bao là 179.000 đồng) Nếu tính riêng hình thức này trong chương trình khuyến mại thì mức giảm giá trên đây vượt quá hạn mức tối đa mà pháp luật hiện hành cho phép

Ngày đăng: 17/02/2016, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w