Khái niệm quản lý quỹ NSNN - Quản lý quỹ NSNN là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnhvực tổ chức thu NSNN, tổ chức quản lý nguồn thu, kiểm soát chi NSNN và điềuhòa vốn
Trang 1MÔN HỌC: LUẬT TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT QUẢN LÝ QUỸ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 4/2022
Trang 2
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ QUỸ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm quỹ NSNN
- Quỹ NSNN là toàn bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay có trên tàikhoản của NSNN các cấp tại một thời điểm
(Khoản 18 Điều 4 Luật NSNN 2015)
2 Khái niệm quản lý quỹ NSNN
- Quản lý quỹ NSNN là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnhvực tổ chức thu NSNN, tổ chức quản lý nguồn thu, kiểm soát chi NSNN và điềuhòa vốn trong kho bạc nhà nước nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả và sửdụng tiết kiệm, hiệu quả quỹ NSNN
- Đặc điểm:
Là hoạt động do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện
Quản lý quỹ NSNN được thực hiện trong quá trình tổ chức thu NSNN, cấpphát, thanh toán các khoản chi ngân sách và tổ chức điều hòa vốn trong hệ thống khobạc nhà nước
Trang 3· Mục đích của quản lý quỹ NSNN là nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, chitrả và sử dụng có hiệu quả quỹ NSNN
3 Các mô hình quản lý quỹ ngân sách nhà nước
Hiện nay trên thế giới có 2 loại mô hình tổ chức quản lý theo quỹ ngân sáchnhà nước
• Mô hình thứ nhất: toàn bộ các khoản thu và chi của nhà nước được tập trung thống
nhất dưới sự điều hành trực tiếp của Chính Phủ Việc điều hành ngân sách được thựchiện thông qua hệ thống ngành dọc với cơ quan chuẩn chỉ theo dự toán ở các địaphương Theo mô hình này chính quyền địa phương không có quyền hạn và tráchnhiệm trong việc điều hành hoạt động của các cơ quan này Mô hình quản lý quỹngân sách nhà nước tại Pháp là một ví dụ điển hình
• Mô hình thứ hai: Quỹ ngân sách nhà nước được phân cấp quản lý giữa chính phủ
trung ương và các cấp chính quyền địa phương Trong mô hình này, cơ cấu tổ chứcquản lý quỹ ngân sách được xây dựng phù hợp với cơ cấu tổ chức của các cấp chínhquyền địa phương
Việt Nam ta lựa chọn mô hình thứ trong tổ chức quản lý quỹ ngân sách nhànước
II PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ QUỸ NSNN
1 Khái niệm
- Là tổng hợp các quy phạm pháp luật định ra những nguyên tắc pháp lý vànhững chuẩn mực pháp lý cho các hoạt động mà các cơ quan NN có thẩm quyềnđược phép tiến hành trong quá trình quản lý quỹ NSNN
2 Nguyên tắc pháp lý trong quản lý quỹ NSNN
- Nguyên tắc hạch toán chính xác, đầy đủ, kịp thời mọi khoản thu, chi NSNNbằng đồng Việt Nam:
Tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 13 Luật NSNN 2015: Kế toán, quyết toán thu,chi NSNN quy định:
1 Thu, chi ngân sách nhà nước được hạch toán bằng Đồng Việt Nam Trường hợp cáckhoản thu, chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ thì được quy đổi ra Đồng Việt Nam
Trang 4theo tỷ giá hạch toán do cơ quan có thẩm quyền quy định để hạch toán thu, chi ngânsách nhà nước tại thời điểm phát sinh
2 Các khoản thu, chi của ngân sách nhà nước phải được hạch toán kế toán, quyết toánđầy đủ, kịp thời, đúng chế độ
=> Như vậy, nguyên tắc này đòi hỏi mọi khoản thu NSNN đều được hạch toántheo đúng năm ngân sách, cấp ngân sách và mục lục ngân sách Việc hạch toán phảiđược thực hiện kịp thời bằng đồng Việt Nam tại thời điểm phát sinh khoản thu.Những khoản thu NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động phải được quyđổi ra đồng VN để hạch toán Mặt khác, nguyên tắc này cũng đòi hỏi mọi khoản chiNSNN kể cả chi bằng ngoại tệ, hiện vật và ngày công lao động phải được quy đổi vàhạch toán chi bằng đồng VN theo từng niên độ ngân sách, từng cấp ngân sách và theomục lục NSNN
- Nguyên tắc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN
Theo nguyên tắc này tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soáttrước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán Nguyên tắc này được đặt ra khôngchỉ với cơ quan tài chính, kho bạc NN, các cơ quan NN ở trung ương và địa phương
mà đối với cả đơn vị sử dụng kinh phí NSNN
- Nguyên tắc thu hồi giảm chi NSNN
Trong quá trình quản lý, thanh toán, quyết toán chi NSNN nếu phát hiện thấycác khoản chi sai phải thu hồi giảm chi NSNN
- Nguyên tắc phân cấp trong công tác điều hòa vốn tại hệ thống kho bạc NN Nguyên tắc này thể hiện sự dịch chuyển của đồng vốn trong hệ thống kho bạc
NN Đây là sự chuyển giao vốn từ kho bạc NN cấp trên xuống cấp dưới nhằm đạtđược hiệu quả mục tiêu chung của hoạt động quản lý quỹ NSNN Việc phân cấptrong việc điều hòa vốn nhằm mục đích kiểm soát được việc sử dụng vốn cũng nhưduy trì hoạt động của kho bạc NN Cũng như đảm bảo cho kho bạc NN cấp trungương có quyền quyết định trong lĩnh vực then chốt, quan trọng, đồng thời đảm bảo sửquản lý tập trung và thống nhất của NN trong phạm vi cả nước
- Nguyên tắc điều hòa vốn trong kho bạc NN phải dựa trên cơ sở định mức, kếhoạch, khả năng thu và nhu cầu chi thực tế
Trang 5Nguyên tắc này yêu cầu: Thứ nhất, việc điều hòa vốn giữa các cấp kho bạc NNphải được tiến hành căn cứ vào định mức tồn quỹ, kế hoạch điều hòa vốn cũng nhưkhả năng thu và nhu cầu chi thực tế
Thứ hai, việc điều hòa vốn từ các kho bạc nhà nước cấp trên xuống kho bạcnhà nước cấp dưới không được vượt quá chênh lệch vốn thiếu
Thứ ba, Việc điều chuyển vốn từ kho bạc NN cấp trên xuống cấp dưới chỉđược thực hiện khi có lệnh của kho bạc NN cấp trên
=>Kho bạc NN phải căn cứ vào định mức tồn quỹ, kế hoạch điều chuyển vốn
và khả năng thu, nhu cầu chi thực tế tại đơn vị mình để làm lệnh điều chuyển vốn kịpthời
3 Chủ thể có thẩm quyền trong hoạt động quản lý quỹ ngân sách nhà nước
• Trước 1951, quỹ ngân sách nhà nước do Ngân khố quốc gia trực thuộc Bộ Tài chínhquản lý Năm 1951 Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhấtNha ngân khố và Nha tín dụng sản xuất nên Ngân hàng quốc gia quản lý quỹ ngânsách nhà nước, đến năm 1986 cùng với sự đổi mới của hệ thống ngân hàng, hoạtđộng này được giao cho ngân hàng chuyên doanh quản lý năm 1990 việc quản lýquỹ ngân sách nhà nước được giao cho Bộ Tài chính quản lý và thành lập hệ thốngkho bạc nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính Theo luật ngân sách nhà nước hiện hành,Chính phủ đảm nhận trách nhiệm quản lý ngân sách nhà nước, Bộ tài chính trực tiếpđứng ra thay mặt chính phủ thực thi trách nhiệm quản lý quỹ ngân sách nhà nước
• Bộ tài chính cùng với các cơ quan tài chính địa phương là hệ thống cơ quan quản
lý chuyên môn tổng hợp Dựa vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội cơ quan tàichính có trách nhiệm lập kế hoạch thu và chi ngân sách toàn bộ hệ thống, đồng thờitham gia kiểm tra, giám sát hoạt động có liên quan tới quỹ ngân sách nhà nước
• Kho Bạc Nhà Nước là cơ quan quản lý Nhà nước với hoạt động chủ yếu là quản lý
các quỹ tiền tệ, tài sản của Nhà nước và huy động vốn cho ngân sách nhà nước Khobạc Nhà nước sẽ mở tài khoản và quản lý tài khoản của các đơn vị dự toán ngân sáchnhà nước, đảm nhận hoạt động cung ứng các hoạt động thanh toán, chi trả, kiểm soát
chi ngân sách nhà nước theo từng đối tượng thụ hưởng theo dự toán được duyệt
Trang 6• Kho bạc Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, thành hệthống dọc từ trung ương đến địa phương, theo đơn vị hành chính, có cơ cấu tổ chứcnhư sau: – Bộ máy giúp việc Tổng giám đốc và không có hệ thống cấp xã
• Trong quá trình quản lý quỹ ngân sách nhà nước, kho bạc nhà nước còn phải phốihợp với một số cơ quan nhà nước khác như cơ quan tài chính, thuế, hải quan và cơquan chính quyền nhà nước ở địa phương
4 Nội dung và quy trình quản lý quỹ NSNN
a Quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước
- Kho bạc nhà nước:
+Kiểm tra, đối chiếu và xử lý tình hình thu, nộp ngân sách nhà nước
+Hạch toán kế toán, báo cáo, quyết toán thu ngân sách nhà nước
+Báo cáo, quyết toán thu ngân sách nhà nước
- Cơ quan thuế và cơ quan hải quan:
+Lập dự toán thu: thuộc phạm vi quản lý, chi tiết theo từng địa bàn, loại hìnhdoanh nghiệp Định kỳ hàng tháng lập kế hoạch thu tháng sau gửi kho bạc nhà nướcđồng cấp để phối hợp thực hiện thu ngân sách nhà nước
Trang 7+Tổ chức thu, nộp: Yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin để xác địnhnghĩa vụ thuế Phối hợp với kho bạc nhà nước phân định đối tượng nộp thuế Trựctiếp tổ chức thu ngân sách nhà nước với các đối tượng được phân công và nộp đầy
đủ, kịp thời vào kho bạc nhà nước Chủ động thông báo cho cơ quan thu khác trongtrường hợp hoàn thuế, nợ thuế, phạt thuế
- Cơ quan tài chính:
+Phối hợp với cơ quan thu, kho bạc nhà nước trong việc tập trung các khoảnthu ngân sách nhà nước
+Kiểm tra, đối chiếu, ra lệnh hoàn trả hoặc đề nghị hoàn trả các khoản thungân sách nhà nước theo quy định
+Phối hợp với kho bạc nhà nước, đối chiếu các khoản thu ngân sách nhà nước,đảm bảo hạch toán đầy đủ, chính xác
+Thẩm định báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước của ngân sách cấpdưới; lập báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước trong phạm vi quản lý
- Ngân hàng nơi đối tượng nộp mở tài khoản:
+Chuyển tiền theo yêu cầu của đối tượng nộp vào kho bạc nhà nước để nộpngân sách nhà nước; lập và gửi chứng từ đầy đủ, kịp thời, đúng mẫu
+Thực hiện trích tài khoản tiền gửi của đối tượng nộp để nộp ngân sách nhànước
b Kiểm soát chi ngân sách nhà nước
• Nghiệp vụ do kho bạc nhà nước thực hiện:
+ Các hoạt động kiểm soát: Kiểm soát trước khi chi, trong khi chi và sau khichi tiền
+ Hoạt động khác: Kiểm soát hồ sơ, chứng từ chi và thực hiện chi trả, tham giakiểm tra tình hình sử dụng ngân sách nhà nước; xác nhận số thực chi qua kho bạc nhànước Tạm đình chỉ, từ chối chi trả trong các trường hợp theo quy định
+ Các trường hợp kho bạc nhà nước được quyền tạm đình chỉ, từ chối chi trả,thanh toán: Chi không đúng mục đích, đối tượng dự toán được duyệt Chi khôngđúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.Không đủ các điều kiện chi theo quy định
Trang 8- Nghiệp vụ do cơ quan tài chính thực hiện:
+Thẩm tra việc phân bổ dự toán ngân sách nhà nước cho đơn vị sử dụng ngânsách nhà nước; nếu việc phân bổ không phù hợp thì yêu cầu cơ quan phân bổ ngânsách điều chỉnh lại
+Bố trí nguồn để đáp ứng chi
c Điều hòa vốn trong hệ thống kho bạc nhà nước
- Là việc điều vốn từ kho bạc nhà nước cấp dưới lên kho bạc nhà nước cấp trên vàngược lại
- Đặc điểm: Là nhiệm vụ trong quá trình quản lý quỹ ngân sách nhà nước Phải đượcthực hiện từng bước, từ khâu lập kế hoạch điều chuyển vốn đến khâu tổ chức thựchiện kế hoạch điều hòa vốn
III TỔNG QUAN VỀ NỢ CÔNG VÀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM TA HIỆN NAY
1 Khái quát về nợ công:
a Khái niệm nợ công:
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF):
• Theo nghĩa rộng: Nợ công là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụcủa Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương
và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước quyết định haytrên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước và trong trường hợp vỡ nợ, nhà nước phải trả nợthay)
• Theo nghĩa hẹp: Nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấpchính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnhthanh toán
Quan niệm về nợ công của Ngân hàng Thế giới cũng tương tự như quan niệmcủa Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Diễn đàn Thương mại và Pháttriển Liên hợp quốc, bao gồm 04 nhóm chủ thể sau:
1 Nợ của Chính phủ Trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương
2 Nợ của các cấp chính quyền trung ương
3 Nợ của Ngân hàng trung ương
Trang 94 Nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việcquyết định lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chínhphủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công được hiểu bao gồm 03 nhóm:
Nợ Chính phủ, Nợ được Chính phủ bảo lãnh và Nợ chính quyền trung ương
• Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, ngoài nước, được
ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân dân, Chính phủ hoặc các khoản vaykhác do Bộ tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của phápluật Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam pháthành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
• Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tíndụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh
• Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành
=> Từ các định nghĩa trên về nợ công, có thể khái quát: Nợ công là tổng giá trịcác khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vaynhằm bù đắp cho các khoản thâm hụt ngân sách
b) Đặc trưng cơ bản của nợ công:
Thứ nhất, nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước.Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ là trả nợ trực tiếp vàtrả nợ gián tiếp Trả nợ trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ làngười vay và do đó, cơ quan nhà nước sẽ chịu trách nhiệm trả nợ khoản vay Trả nợgián tiếp là trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh để một chủthể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả nợ thì trách nhiệm trả nợ
sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh
Thứ hai, nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơquan nhà nước có thẩm quyền Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằmđảm bảo hai mục đích: một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay
và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia;hai là, đề đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn Bên cạnh đó, việc
Trang 10quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị xã hội.Nguyên tắc quản lý nợ công của Việt Nam là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện
nợ công từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo haimục tiêu cơ bản trên
Thứ ba, mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là pháttriển kinh tế - xã hội vì lợi ích cộng đồng Nợ công được huy động và sử dụng khôngphải để thỏa mãn những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, đó là vì lợi íchchung của cộng đồng
c) Bản chất của nợ công:
• Nợ công có nhiều tác động tiêu cực, nhưng cũng có không có ít tác động
tích cực Một số tác động tích cực của nợ công chủ yếu:
• Thứ nhất, nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồnvốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ Nhà nước Với chínhsách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu
tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế
• Thứ hai, nợ công đóng góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân
cư Một bộ phận trong dân cư có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay
nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tếcho cả khu vực công lẫn khu vực tư
• Thứ ba, nợ công tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc
tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế - ngoại giao quan trọng củacác nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốnhợp tác kinh tế song phương
+ Tác động tiêu cực của nợ công:
• Nợ công gia tăng sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ
từ nước ngoài
• Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sửdụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí tràn lan
+ Bản chất của nợ công:
Trang 11• Nợ công chính là các khoản vay để trang trải thâm hụt ngân sách Các khoản vay này
sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp(nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế)
• Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sửdụng để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách (tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ánh mộtphần nào đó về mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công Mức độ an toàn hay nguyhiểm của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP mà quan trọng hơn, phụthuộc vào tình trạng phát triển của nền kinh tế)
• Khi xét đến nợ công, chúng ta không chỉ quan tâm đến tổng nợ, nợ hàng năm phải trả
mà phải quan tâm nhiều tới rủi ro và cơ cấu nợ (vấn đề được đặt ra ở đây là phải tínhtoán khả năng trả nợ và rủi ro trong tương lai chứ không phải chỉ là con số tổng nợGDP)
+ Tiêu chí đánh giá mức độ an toàn của nợ công được thể hiện cụ thể:
• Thứ nhất, giới hạn nợ công không vượt quá 50-60% GDP hoặc không vượt quá 150%kim ngạch xuất khẩu Ngân hàng thế giới đưa ra mức quy định ngưỡng an toàn nợcông là 50% GDP Các tổ chức quốc quốc tế cho rằng, tỷ lệ hợp lý đối với các nướcđang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP
• Thứ hai, dịch vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ trả
nợ của Chính phủ không vượt quá 10% chi ngân sách (tuy nhiên trên thực tế không
có hạn mức an toàn chung cho các nền kinh tế Không phải tỷ lệ nợ công/GDP thấp làtrong ngưỡng an toàn và ngược lại Mức độ an toàn của nợ công phụ thuộc vào tìnhtrạng mạnh hay yếu của nền kinh tế thông qua hệ thống chỉ tiêu kinh tế vĩ mô)
• Thứ ba, đánh giá nợ công trong mối liên hệ với các tiêu chí kinh tế vĩ mô Để đánhgiá đúng mức độ an toàn của nợ công không chỉ quan tâm đến tỷ lệ nợ/GDP, mà cầnphải xem xét nợ một cách toàn diện trong mối liên hệ với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô,nhất là tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động tổng hợp, hiệuquả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR), tỷ lệ thâm hụt ngân sách, mức tiết kiệm nội địa
và mức đầu tư xã hội,
d) Phân loại nợ công: