Bởi vậy, để tránh việc lừa dối khách hàng bằng giảm giả ảo, Nghị định 37 ngày 4/4/2006 của Việt Nam quy định: Tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến mại bằng cách giảm giá đối với
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I LỜI MỞ ĐẦU………2
II NỘI DUNG……… 2 1.KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI………2
2 NHỮNG ĐIỂM BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI……… 7
a Về hình thức khuyến mại……… 7
b Quy định về quyền và nghĩa vụ của thương nhân hoạt động khuyến mại…… 11
c Về trình tự, thủ tục thực hiện khuyến mại……….12
3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHUYẾN MẠI………… 12 III KẾT LUẬN……… 15
Trang 2TM2 HK -1 Phân tích những điểm bất cập trong quy định của pháp luật về hoạt động
khuyến mại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định đó
Bài làm
I LỜI MỞ ĐẦU
Luật thương mại quy định khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định Và việc thực hiện khuyến mại trong thực tế đã bộc lộ nhiều
những điểm bất cập Vậy ta có dưới đây là“ Những điểm bất cập trong quy định của pháp luật về hoạt động khuyến mại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định đó”
II NỘI DUNG 1.KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI
Khuyến mại là cách thức, biện pháp thu hút khách hàng thông qua việc dành lợi ích cho khách hàng, bao gồm lợi ích vật chất (tiền, hàng hóa) hay lợi ích phi vật chất( được cung ứng dịch vụ miễn phí) Và theo khoản 1 Điều 88 luật thương mại thì “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”
Nội dung cơ bản về hình thức khuyến mại, quyền và nghĩa vụ của thương nhân hoạt động khuyến mại, các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại, thủ tục thực hiện khuyến mại được quy định từ điều 88 đến điều 101, Luật thương mại năm 2005, từ điều 4 đến điều
20 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại
Điều 92 Các hình thức khuyến mại
Trang 3“ 1 Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền.
2 Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền.
3 Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
4 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định.
5 Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.
6 Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.
7 Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác.
8 Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.
9 Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận.”
Trang 4Các quy định nhằm đảm bảo nguyên tắc khuyến mại:
1 Trung thực, công khai, minh bạch: Chương trình khuyến mại phải được thực hiện hợp pháp, trung thực, công khai, minh bạch và không được xâm hại đến lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, của các thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác
2 Không phân biệt đối xử: Không được phân biệt đối xử giữa các khách hàng tham gia chương trình khuyến mại trong cùng một chương trình khuyến mại
3 Hỗ trợ khách hàng: Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại phải bảo đảm những điều kiện thuận lợi cho khách hàng trúng thưởng nhận giải thưởng và có nghĩa vụ giải quyết rõ ràng, nhanh chóng các khiếu nại liên quan đến chương trình khuyến mại (nếu có)
4 Chất lượng hàng hóa, dịch vụ: Thương nhân thực hiện khuyến mại có trách nhiệm bảo đảm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại và hàng hóa, dịch vụ dùng dùng
để khuyến mại
5 Không lạm dụng lòng tin: Không được lợi dụng lòng tin và sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm của khách hàng để thực hiện khuyến mại nhằm phục vụ cho mục đích riêng của bất kỳ thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân nào
6 Cạnh tranh lành mạnh: Việc thực hiện khuyến mại không được tạo ra sự so sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch và của thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân khác nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh
7 Không khuyến mại thuốc chữa bệnh: Không dược dùng thuốc chữa bệnh cho người,
kế cả các loại thuốc đã được phép lưu thông để khuyến mại
Và khi áp dụng các hoạt động khuyến mại trong thực tiễn, đã có nhiều vấn đề nảy sinh
Để tránh việc khách hàng bị thiệt hại về quyền lợi khi tham gia các chương trình khuyến
Trang 5mại, các nhà soạn luật đã có những chỉnh lý thích hợp để đảm bảo nguyên tắc khi thực hiện khuyến mại
Về thời hạn giảm giá: Nhiều doanh nghiệp khi niêm yết giá đề là giá được giảm 20%
hay 30%, nhưng bảng đó được yết quanh năm, với mức giá là một con số tuyệt đối không thay đổi Như vậy giá đó là giá bán thật, không phải là giá giảm và hành vi này được coi là lừa dối khách hàng Bởi vậy, để tránh việc lừa dối khách hàng bằng giảm giả ảo, Nghị định
37 ngày 4/4/2006 của Việt Nam quy định: Tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến mại bằng cách giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ không được vượt quá
90 (5ang mươi) ngày trong một năm; một chương trình khuyến mại không được vượt quá 45 (bốn mười lăm) ngày Như vậy, các doanh nghiệp vẫn có thể quanh năm thực hiện giảm giá, nhưng là sự giảm giá luân phiên từng nhóm mặt hàng mà mình kinh doanh vẫn không vi phạm quy định Hình thức giảm giá luân phiên thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có
số mặt hàng kinh doanh lớn như các siêu thị; đối với các doanh nghiệp chuyên doanh áp dụng ở mức hạn chế hơn
Về mức giảm giá Để tránh việc doanh nghiệp lợi dụng hình thức khuyến mại này để
bán phá giá hàng hóa, dịch vụ, pháp luật quy định: Mức giảm giá tối đa đối với hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá hàng hoá, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại Trên thực tế có nhiều doanh nghiệp, vì muốn bán hàng tồn kho hoặc hết thời trang, muốn thực hiện “đại hạ giá” ở mức 60 - 80% Do giá bán khuyến mại chỉ so sánh với giá “ngay trước thời gian khuyến mại” nên để thực hiện được điều này, doanh nghiệp phải chia làm nhiều chặng thời gian giảm giá (mỗi chặng có thể ngắn, hết chặng đầu
có thể nâng lên cao hơn một chút và sau đó lại giảm mạnh ở chặng thứ hai) mà vẫn không trái với quy định Giá trị của hàng hoá khuyến mại và hàng hoá dùng để khuyến mại Hàng hoá dùng để khuyến mại là “Hàng hoá, dịch vụ được thương nhân dùng để tặng, thưởng, cung ứng không thu tiền cho khách hàng”, tức là hàng tặng kèm khách hàng khi mua hàng Theo quy định, giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được
Trang 6khuyến mại không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại
đó trước thời gian khuyến mại, trừ các trường hợp giải thưởng trúng thưởng của các chương trình mang tính may rủi
Về xử lý giải thưởng không có người trúng: Có những doanh nghiệp khi thực hiện các
chương trình may rủi chưa trung thực và minh bạch, như yêu cầu khách hàng sưu tập đủ số nắp chai có in hình các bộ phận chiếc xe đạp để ghép thành chiếc xe sẽ có giải cao nhưng trên thực tế không phát hành đủ các nắp chai có in hết các bộ phận; hoặc thẻ cào trúng thưởng nhưng không phát hành thẻ có giải đặc biệt… Do dó, có những chương trình khuyến mại được quảng cáo với giải thưởng rất cao nhưng không có người trúng Doanh nghiệp
“câu” người tiêu dùng mua nhiều hàng để hy vọng trúng giải nhưng cuối cùng không mất chi phí giải thưởng cho khách hàng Nhằm tránh những chương trình như vậy, pháp luật quy
định: giải thưởng không có người trúng thưởng của chương trình khuyến mại mang tính may
rủi phải được trích nộp 50% giá trị đã công bố vào ngân sách nhà nước Doanh nghiệp hạch toán khoản nộp 50% giá trị giải thưởng không có người trúng thưởng của chương trình
khuyến mại vào chi phí giá thành của doanh nghiệp Tuy nhiên, các hình thức cụ thể của
khuyến mại mang tính may rủi khá đa dạng Do đó, một doanh nghiệp thực hiện chương trình một cách trung thực và minh bạch vẫn có thể xảy ra việc không có người trúng giải (giải cao hoặc thấp) và phải thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách
Các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại Ngoài những quy định có tính tổng
quát như cấm khuyến mại hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh hoặc chưa được phép lưu thông, cung ứng; hàng hoá kém chất lượng, làm phương hại đến môi trường, sức khoẻ con người; còn những quy định cấm khác:
1 Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi
2 Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức
Trang 73 Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng
4 Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân
5 Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
6 Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
7 Thực hiện khuyến mại mà giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại vượt quá hạn mức tối đa 50% hoặc giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mạiquá mức tối đa 50%
2 NHỮNG ĐIỂM BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI
a Về hình thức khuyến mại
Từ thực tiễn hoạt động khuyến mại, việc áp dụng các hình thức khuyến mại đã nảy sinh nhiều những bất cập thể hiện tính hạn chế của một số điều luật của pháp luật về hoạt động khuyến mại hiện hành
Thứ nhất, nếu thương nhân dùng hàng hóa, dịch vụ mà mình được kinh doanh hợp pháp để phát tặng không thu tiền của khách hàng, không kèm theo hành vi mua bán thì khi nào là hình thức hàng mẫu, khi nào là hình thức tặng quà
Ta có rất khó phân biệt giữa hình thức hàng mẫu và hình thức tặng quà Ví dụ như đối với việc công ty Cocacola tổ chức thực hiện việc phát tặng, uống tại chỗ số lượng lớn chai cocacola tại nhiều các địa điểm và gần đây nhất là tại trường đại học Luật Hà Nội Vậy đây
là hình thức hàng mẫu hay hình thức tặng quà? Đối với tình huống này, rất khó để phân biệt
Và đối với hàng mẫu và tặng quà thì nó lại có hai chế độ pháp lý khác nhau, nếu là hàng mẫu
Trang 8thì thương nhân sẽ không phải thực hiện bất cứ quy định nào về hạn mức khuyến mại, nếu là tặng quà thì phải thực hiện quy định tại khoản 2 điều 5 Nghị định số 37/2006/NĐ – CP ngày 04/4/2006 về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa dùng để khuyến mại( tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại)
Về vấn đề này ta biết, mục đích của thương nhân khi đưa hàng mẫu cho khách hàng là muốn giới thiệu với họ về hàng hóa, dịch vụ của mình, định hướng hành vi mua bán của họ sau khi kiểm nghiệm chất lượng của hàng mẫu Còn về mục đích của hình thức tặng quà là dùng giá trị của quà tặng để thu hút khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ của thương nhân bởi cùng với loại hàng hóa có chất lượng tương đương thì khách hàng sẽ có tâm lý muốn mua hàng hóa đang được khuyến mại, khách hàng vì quà tặng mà mua hàng
Chính vì thế mà pháp luật chỉ nên quy định việc tặng quà kèm theo việc mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ Còn lại thì các trường hợp đưa hàng hóa cho khách hàng không thu tiền sẽ được coi là hình thức hàng mẫu Tuy nhiên, sự phân biệt này sẽ không còn là cần thiết nếu như quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại được xóa bỏ trong pháp luật hiện hành Và việc xác định rõ bản chất của hình thức tặng quà còn cho phép việc phân biệt nó với các hình thức xúc tiến thương mại khác
Thứ hai, về các hình thức khuyến mại, mặc dù có bổ sung thêm mục đích xúc tiến việc mua hàng, nhưng quy định về các cách thức khuyến mại vẫn chỉ tập trung vào hoạt động xúc tiến việc bán hàng
Trong số các cách thức khuyến mại được quy định tại Điều 92 Luật Thương mại năm
2005, chỉ có thể áp dụng hình thức tặng quà, hình thức tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên và tổ chức các sự kiện quy định tại khoản 2 và khoản 7, 8 cho hoạt động khuyến mại để mua hàng Trên thực tế, nếu như việc giảm giá để tiêu thụ hàng hóa có thể làm nảy sinh hiện tượng bán phá giá thì việc nâng giá để thu mua, gom hàng hóa cũng có thể
Trang 9làm xuất hiện những nguy cơ đáng kể cho hoạt động kinh doanh của thương nhân trong cùng lĩnh vực hoạt động
Thứ ba, quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại gặp khá nhiều vướng mắc khi thi hành.
Đối với các chương trình khuyến mại của thương nhân kinh doanh dịch vụ thì việc xác định hạn mức giá trị dùng để khuyến mại rất khó thực hiện Nếu thương nhân tặng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền thì hạn mức tổng giá trị dịch vụ dùng để khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị dịch vụ được khuyến mại Cả hai mức “ tổng giá trị” này chỉ
có thể xác định sau khi thời gian khuyến mại kết thúc Nếu xác định vi phạm và xử lý vi phạm khi chưa hết thời gian khuyến mại sẽ không tránh khỏi sự bất đồng giữa cơ quan quản
lý và thương nhân, do mọi số liệu có thể chỉ là ước tính
Và còn có trường hợp thương nhân thực hiện nhiều hình thức khuyến mại trong một chương trình khuyến mại và việc xác định hạn mức giá trị dùng để khuyến mại cũng không đơn giản do còn thiếu cơ sở pháp lý để tính toán cụ thể Ví dụ như việc thực hiện chương trình “Những số 6 may mắn” của Viettelmobile được thực hiện từ 26/03/2006 đến 26/05/2006 với nội dung các thuê bao được tham gia rút thăm trúng thưởng 6 xe Innova, tặng ngay 60% cước hòa mạng và miễn phí 6 tháng cước thuê bao cho khách hàng trả sau, tặng 60% giá trị bộ hòa mạng và 25% mệnh giá thẻ của 6 thẻ nạp tiền tiếp theo cho khách hàng trả trước, tặng 25% giá trị thẻ nạp tiền đầu tiên cho khách hàng trả trước khóa 2 chiều trước ngày 26/03/2006 Vậy theo quy định của pháp luật hiện hành, việc xem xét chương trình khuyến mại này có nội dung nào vi phạm hay không sẽ gặp khá nhiều vướng mắc như:
- Rất khó xác định được tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, làm cơ sở xác định tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại có vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại hay không, bởi mỗi hình thức khuyến mại trong chương trình lại có đối tượng khách hàng khác nhau: việc rút thăm trúng thưởng dành cho tất cả các
Trang 10thuê bao đã hòa mạng từ trước đến nay, việc giảm giá, tặng quà lại chỉ dành cho các thuê bao hòa mạng trong thời gian khuyến mại
- Việc xác định hạn mức giá trị vật chất tối đa dùng để khuyến mại sẽ xác định trên cơ
sở tổng hợp cả ba hình thức hay xác định riêng cho từng hình thức Pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về vấn đề này
- Chỉ có thể tính chính xác giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại sau khi kết thúc đợt khuyến mại trên cơ sở xác định được số thuê bao hòa mạng mới, số thẻ được bán ra, thời gian cụ thể không thu cước thuê bao mà khách hàng sử dụng trên thực tế
- Đối với việc tặng 60% cước hòa mạng và 60% giá trị bộ hòa mạng mà Viettel thông báo, sẽ có những ý kiến khác nhau về việc xác định đây là hình thức khuyến mại: là tặng quà hay giảm giá Nếu đây là hình thức giảm giá thì nó sẽ phải thực hiện thêm quy định hạn mức giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ không được vượt quá 50% đơn giá của hàng hóa, dịch vụ trước thời gian khuyến mại, nếu vậy thì mức giảm giá trong trương hợp này đã vượt quá hạn mức mà pháp luật hiện hành cho phép, không những thế với thời gian giảm giá tối đa cho một loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ là 90 ngày/năm; mỗi đợt giảm giá không được quá 45 ngày mà đợt khuyến mại của Viettel là diễn ra trong 60 ngày vậy nếu thực hiện theo đúng như quy định của pháp luật thì sẽ rất phức tạp nếu như từ ngày thứ 46 Viettel không giảm giá phí hòa mạng cho khách hàng và các lợi ích khác vẫn giữ nguyên
Và đối với việc quy định về hạn mức giá trị và thời gian khuyến mại, ở pháp luật cạnh tranh, luật cạnh tranh chỉ cấm doanh nghiệp độc quyền, doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp
có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện hành vi “ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh” còn trong Luật thương mại thì quy định tất
cả hành vi giảm giá phải dưới 50% giá hàng hóa, dịch vụ và mọi hành vi giảm giá vi phạm các quy định về hạn mức này của mọi doanh nghiệp đều bị coi là hành vi vi phạm pháp luật