1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thảo luận dân sự 2 lần 2

16 540 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 300,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 2 Câu hỏi: Suy nghĩ của anhchị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên. 2 VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 4 Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng? 5 Câu 2: Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 042016AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao? 5 VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC 7 Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anhchị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu: 8 Câu 2: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao? 9 Câu 3: Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao? 10 VẤN ĐỀ 4: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG CÓ GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN: 12 Đối với vụ việc thứ nhất: 12 Câu 1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch: 12 Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì? 13 Câu 3: Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu: 13 Câu 4: Suy nghĩ của anhchị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu. 14 Đối với vụ việc thứ hai: 14 Câu 1: Vì sao Toà án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu? 14 Câu 2: Suy nghĩ của anhchị về hướng xác định trên của Toà án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)? 15 Câu 3: Cho biết hệ quả của việc Toà án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ. 15

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

KHOA LUẬT HÌNH SỰ

MÔN HỌC: LUẬT DÂN SỰ.

Trang 2

MỤC LỤC

VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 3 Câu hỏi: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên.3 VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 5 Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng? 6 Câu 2: Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao? 6 VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC 8 Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015

và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu: 9 Câu 2: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao? 10 Câu 3: Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao? 11 VẤN ĐỀ 4: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG CÓ GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN: .13

*Đối với vụ việc thứ nhất: 13 Câu 1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch: 13 Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì? 14 Câu 3: Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu: 14 Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu 15

* Đối với vụ việc thứ hai: 15 Câu 1: Vì sao Toà án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu? 15 Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Toà án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)? 16 Câu 3: Cho biết hệ quả của việc Toà án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ 16

Trang 3

VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

Câu hỏi: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên.

(1) Bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015;

Đây là một giao kết bằng hình thức văn bản, theo khoản 4 Điều 400 BLDS 2015: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản…” Tòa án nhận định chưa

khách quan, trên thực tế là D đã có hành vi gửi chấp nhận giao kết hợp đồng cho bên

đề nghị “Tháng 1 năm 2020 và tháng 2 năm 2020, D đã gửi cho A và B chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của mình nhưng D không chứng minh được đã gửi chấp nhận

đề nghị giao kết hợp đồng cho C (C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D).” Hành vi này đã được thực hiện, có thể D đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết nhưng vì lí do khách quan nào đó chưa đến được tay C hoặc D quên gửi cho C Qua đó thấy được D đã có động thái gửi chấp nhận đề nghị kết luận trên là chưa chính xác

(2) Chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều

394 BLDS 2015:

Đây là một giao kết bằng hình thức văn bản, trong tình huống không đề cập đến vấn đề giao kết có quy định thời hạn trả lời chấp nhận của bên có đề nghị hay không, nên ta sẽ xem xét vấn đề là giao kết không có quy định thời hạn trả lời Theo khoản 1 Điều 394 BLDS 2015:

“Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.

Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.”

Trang 4

Như vậy, việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý, Bộ luật dân sự chỉ nói là thời hạn hợp lý, nhưng như thế nào là thời hạn hợp lý thì Bộ luật dân sự lại không đề cập đến Thiết nghĩ không quy định thời hạn thì ta dựa vào ý của bên đề nghị để xem xét một cách khách quan Trong tình huống trên các chủ

thể tham gia đề nghị giao kết với D đã có hành động cụ thể như sau: “Tháng 1 năm

2018, A (pháp nhân), B (cá nhân) và C (cá nhân) gửi cho D một đề nghị giao kết hợp đồng (là điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp, bằng văn bản và có chữ ký của cả 3 chủ thể).” Thông qua hành động cả 3 chủ thể là A, B và C đã ký vào văn bản

đó, ta có thể nhận thấy rằng cả 3 chủ thể mong muốn được xác lập giao kết này Hướng giải quyết trên của Tòa án quá nóng vội chưa dựa trên ý chí mong muốn của các bên chủ thể tham gia vào giao kết

(3) Chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới:

Hướng giải quyết chưa thỏa đáng

Tòa án đã áp dụng vội vàng khoản 1 Điều 394 BLDS 2015: “…nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi

là đề nghị mới của bên chậm trả lời ” Bởi lẽ trong đề nghị giao kết của các bên không

quy định rõ thời hạn trả lời chấp nhận giao kết nên việc xác định bên đề nghị giao kết

hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời là rất khó xác định “Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.” Vì “thời hạn hợp lý” BLDS đề cập đến còn rất

mơ hồ Xét về mặt ý chí các bên mong muốn tham gia vào giao kết thông qua các hành động như: A, B và C ký vào văn bản đề nghị giao kết, D cũng có hành động là gửi trả lời chấp nhận đề nghị Tòa án nên xem xét kỹ là các bên có thỏa thuận cho giao kết này

có hiệu lực trên thực tế không, như vậy thể mới thể hiện được tinh thần của Luật dân sự

Trang 5

VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

*Tóm tắt Án lệ số 04/2016/AL về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”; “Định đoạt tài sản chung của vợ chồng”; “Xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận” Án lệ được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến (nguyên đơn) khởi kiện ông Lê Văn Ngự (bị đơn)

về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tại thành phố Hà Nội

- Khái quát nội dung của án lệ:

“Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên kí hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không kí tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không kí tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất có công khai; người không kí tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất.”

- Cụ thể, được thể hiện dưới bản án, được tóm tắt như sau:

“Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26/04/1996: Việc chuyển nhượng nhà, đất diễn ra

từ năm 1996, sau khi mua nhà, đất, ông Tiến, bà Tý đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở Trong khi đó, gia đình ông Ngự, bà Phấn vẫn ở trên diện tích còn lại, liền kề với nhà ông Tiến, bà Tý Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho các người con Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà Tý thì ngày 26/4/1996, ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất của bà

Tý ông Tiến khi xây dựng nhà Như vậy có cơ sở xác định bà Phấn biết việc có chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự và vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý,

Trang 6

cùng thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà Tý bà không biết là không có căn cứ.”

Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?

Theo khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 về Thời điểm giao kết hợp đồng dân sự:

“2 Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”.

BLDS 2005 xem im lặng trong giao kết là một sự trả lời chấp nhận giao kết

Theo khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 về Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:

“2 Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.

 BLDS 2015, im lặng không được coi là một sự trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Im lặng được xem là chấp nhận giao kết hợp đồng chỉ là một ngoại lệ, được

áp dụng với điều kiện đó là trong hoàn cảnh được các bên thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được các bên xác lập trước đó

BLDS 2015 quy định cụ thể vấn đề này nhằm hạn chế những trường hợp phát sinh tranh chấp không đáng có từ việc im lặng Đồng thời, việc điều chỉnh này giúp mở rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh, phù hợp với thói quen, tập quán giao kết hợp đồng, mua bán hàng hóa

Câu 2: Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

- Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống của bà Chu, ông Bùi với ông Văn là thuyết phục

- Án lệ 04/2016/AL liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, còn tình huống trên liên quan đến việc định đoạt tài sản là tài sản sở hữu chung của các thành viên trong gia đình, nhưng Tòa án vẫn áp dụng Án lệ này vì:

Trang 7

+ Tài sản trong cả hai vụ việc đều thuộc sở hữu chung hợp nhất, được quy định tại Điều 210 BLDS 2015

+ Ở hai vụ việc đều có tình tiết: các chủ sở hữu chung còn lại đều biết việc chuyển nhượng nhà đất nhưng thời điểm đó không ai có ý kiến gì Sau một thời gian vì một lí

do nào đó, các chủ sở hữu chung này lại yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu vì chưa có sự đồng ý của họ

- Hướng giải quyết của Tòa án: trong trường hợp nhà đất là tài sản chung mà có người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng cho người khác, những người còn lại không có

ký tên trong hợp đồng nhưng có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, những người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất Bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý,

đồng thời cũng sử dụng một cách công khai qua việc: “Năm 2004, ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không

ai có ý kiến gì” Có thể thấy Người không ký tên trong hợp đồng này đã biết mà không

có ý kiến phản đối thì được xác định là người đó đã đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất

Trang 8

VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC

Điều 401 Hình thức hợp đồng dân sự 2005

1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi

cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định

2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản

có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Điều 408 Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được

1 Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu

2 Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng

có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được

3 Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực

Điều 411 Hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được

1 Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu

2 Trong trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được, nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được

Trang 9

3 Quy định tại khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được, nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý

Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS

2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu:

Bộ luật dân sự 2015 đã khắc phục một số bất cập trong áp dụng vào thực tế của

bộ luật dân sự 2005 về vấn đề hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thực hiện được

- “kí kết” với “giao kết”:

Điều 411 BLDS 2015 đặt vấn đề hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được sẽ bị

vô hiệu ngay từ khi kí kết, điều đó đồng nghĩa với việc điều luật này chỉ chi phối

những hợp đồng được hình thành bằng văn bản, trong khi đó trong chính bộ luật này,

Điều 401 BLDS 2015 quy định hình thức hợp đồng có khẳng định: “1 Hợp đồng dân

sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định” Vậy những hợp đồng được hình thành theo phương thức khác sẽ được giải

quyết thế nào nếu có đối tượng không thể thực hiện được thì luật này chưa đề cập đến Điều 408 BLDS 2015 thay từ “kí kết” bằng “giao kết”, mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật, tức mọi phương thức thành lập hợp đồng hợp pháp đều được chi phối bởi luật này nếu trong hợp đồng có đối tượng không thực hiện được Thay đổi này là hoàn toàn chính xác, khắc phục được khuyết điểm của BLDS 2005

- Bỏ cụm từ “vì lí do khách quan”:

Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 chấp nhận hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được vì lí do khách quan (động đât, lũ lụt, ) Tuy nhiên cũng có trường hợp hợp đồng không thể thực hiện được vì lí do chủ quan, nhưng lại không thể xử vô hiệu

vì vướng yếu tố này trong luật Nếu hợp đồng không vô hiệu nhưng không thể thực hiện sẽ phải xử lí như thế nào thì vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng trong trường hợp này

BLDS 2015 đã bỏ yếu tố “vì lí do khách quan”, thừa nhận hợp đồng có thể bị vô hiệu

Trang 10

đổi này là vô cũng hợp lí, thừa nhận lí do chủ quan hay khách quan không ảnh hưởng đến hiệu lực hợp đồng mà chỉ ảnh hưởng đến trách nhiệm mà các bên phải chịu

- Thay đổi cụm từ “giá trị pháp lý” thành “hiệu lực”:

Hợp đồng vô hiệu sẽ là hợp đồng không có giá trị pháp lí, nhưng hợp đồng không có giá trị pháp lí chưa chắc đã vô hiệu, đó có thể là hợp đồng chưa kí kết hoặc đã hết hiệu lực Vậy nên BLDS 2015 thay thế cụm từ “giá trị pháp lí” bằng hiệu lực sẽ bao quát và thực tế hơn

Tuy nhiên cũng có các vấn đề mà BLDS 2015 chưa giải thích được rõ ràng như: nếu trong hợp đồng bị vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có tiền đặt cọc thì số tiền đặt cọc đó sẽ xử lí như thế nào Hay khoản 3 điều luật này cũng gây tranh cãi về việc quyền lợi của các bên khi có các phần khác của hợp đồng vẫn có thể thực hiện

Câu 2: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể

thực hiện được: Theo khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 : « Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.”

Nguyên nhân dẫn đến việc đối tượng trong hợp đồng không thể thực hiện được sẽ quyết định đến thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Trường hợp 1 : Không áp dụng thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

 Các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác, hoặc trốn tránh nghĩa vụ mà đối tượng giao kết hợp đồng không có thực hoặc không thể thực;

 Việc dẫn đến đối tượng hợp đồng không thể thực hiện là tự nhiên, các yếu

tố nằm ngoài sự kiểm soát của các bên tham gia hợp đồng, …

Trường hợp 2: Trường hợp thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là 02 năm:

 Hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế

Ngày đăng: 12/11/2021, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w