BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGUYỄN THỊ HỒNG VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG VIỆC TẠO VỐN XÃ HỘI C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ HỒNG
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
TRONG VIỆC TẠO VỐN XÃ HỘI CHO PHỤ NỮ
NÔNG THÔN HIỆN NAY
(Khảo sát tại xã Nhật Tân, huyện Tiên Lữ
và xã Trung Nghĩa, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ HỒNG
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
TRONG VIỆC TẠO VỐN XÃ HỘI CHO PHỤ NỮ
NÔNG THÔN HIỆN NAY
(Khảo sát tại xã Nhật Tân, huyện Tiên Lữ
và xã Trung Nghĩa, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên)
Chuyên ngành : Xã hội học
Mã số : 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nhạc Phan Linh
HÀ NỘI – 2015
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS Lưu Văn An
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các Thầy, Cô giáo Học viện Báo chí và Tuyên truyền vì đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và nhiệt tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Học viện
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các cán bộ, phụ nữ xã Nhật Tân, huyện Tiên Lữ và xã Trung Nghĩa, thành phố Hưng yên, tỉnh Hưng Yên đã cung cấp những thông tin cần thiết để giúp tôi hoàn thành bài luận văn này
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn thầy giáo TS Nhạc Phan Linh người hướng dẫn khoa học của luận văn, đã nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Thầy đã tận tình động viên hướng dẫn tôi từ định hướng cụ thể, chi tiết để dần dần tháo gỡ những khó khăn trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi cũng xin cảm ơn tới tất cả các anh, chị em, bạn bè đã giúp đỡ cho tôi trong thời gian qua
Và tôi xin cám ơn tới Bố, Mẹ, gia đình đã động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Hồng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Hồng
Trang 7Bảng 2.4: Biểu hiện mức độ thân thiết giữa các thành viên
Bảng 2.5: Điểm tích cực của những mối quan hệ mới 51 Bảng 2.6: Phụ nữ nông thôn tham gia các hoạt động xã hội khác 53 Bảng 2.7: nâng cao năng lực bản thân của phụ nữ nông thôn qua
Bảng 2.8: Các lĩnh vực được phụ nữ chia sẻ với nhau 63 Bảng 2.9: Tương quan giữa trình độ học vấn và mức độ tham gia cá
Bảng 1.10: Tương quan giữa tình trạng hôn nhânvà sự ảnh hưởng
của giới tính khi tham gia các hoạt động xã hội(%) 70
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1:Lý do phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội 42 Biểu đồ 2.2: Mức độ mở rộng mối quan hệ khi tham gia các hoạt
Biểu đồ 2.5: Hoạt động xã hội khuyến khích, tăng bạo rạn và chủ
Biểu đồ 2.6 Mức độ mở rộng mối quan hệ qua các hoạt động xã
Biểu đồ 2.7: Mức độ nhận được sự giúp đỡ từ mối quan hệ mới 58 Biểu đồ 2.8: Nội dung phụ nữ chia sẻ với mọi người 63 Biểu đồ 2.9: Đánh giá cách thức tổ chức các hoạt động xã hội 65 Biểu đồ 2.10: Trình độ học vấn người trả lời 67 Biểu đồ 2.11: Nghề nghiệp chính của người trả lời 69
Trang 9MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TRONG VIỆC TẠO VỐN XÃ HỘI CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN TỪ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI 23
1.1 Một số vấn đề lý luận về các tổ chức chính trị - xã hội 23
1.2 Lý luận về VXH và vai trò của VXH đối với phụ nữ nông thôn… 28
1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 34
Chương 2: THỰC TRẠNG TẠO VỐN XÃ HỘI CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN TỪ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 38
2.1 Thực trạng tạo vốn xã hội cho phụ nữ nông thôn từ các tổ chức chính tri - xã hội 38
2.2 Tác dụng của vốn xã hội đối với phụ nữ nông thôn 54
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo vốn xã hội cho phụ nữ của các tổ chức chính trị-xã hội 64
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 81
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phụ nữ Việt Nam là một lực lượng căn bản, nguồn nhân tố quan trọng đóng góp vào sự phát triển toàn diện xã hội Việt Nam Trải qua hàng nghìn năm xây dựng vì sự toàn vẹn lãnh thổ, đấu tranh chống thiên tai, duy trì nòi giống… Phụ nữ Việt Nam đã kiến tạo nên nhiều đức tính quý báu mang đậm bản sắc, truyền thống dân tộc
Xuyên suốt tiến trình hình thành và phát triển, phụ nữ luôn có quyền, đóng góp nhất định vào mọi thay đổi xã hội vì nền hoà bình, thống nhất và văn minh nhân loại Các thành tựu phần lớn đạt được đang làm thay đổi cách nhìn nhận từ các tầng lớp xã hội đối với người phụ nữ Được khẳng định phẩm chất và năng lực đối với các lĩnh vực hoạt động, những lĩnh vực phi truyền thống nhất
Chiếm 51% lực lượng lao động ở Việt Nam, phụ nữ ở nông thôn vẫn đóng vai trò chính trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Phụ nữ vẫn đóng vai trò chính trong công việc gia đình và nuôi dạy con cái Trong số các đại biểu của Quốc hội Việt Nam, tổ chức quyền lực cao nhất, phụ nữ chiếm 27,3% và được Liên Hiệp Quốc đánh giá là: "Phụ nữ Việt Nam tham gia hoạt động chính trị cao nhất thế giới" [47] Việt Nam
có tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%, thạc sỹ 33,95%, tiến sỹ 25,96%
Hiện nay, đất nước ta đang phát triển trên mọi lĩnh vực Kinh tế, Văn hóa và Xã hội Không chỉ ở đô thị, nông thôn Việt Nam cũng có nhiều đổi thay qua các chương trình, chính sách khác nhau, tiêu biểu như chương trình xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước nhằm thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.Trong đó, phụ
Trang 11nữ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và việc xây dựng nông thôn mới nói riêng
Phụ nữ là đối tượng thuộc nhóm yếu thế trong xã hội xưa và nay, mặc dù ngày nay đã có nhiều quan điểm tiến bộ những chính sách để bảo
vệ cũng như giúp đỡ phụ nữ phát triển, tuy nhiên nó vẫn không đem lại hiệu quả cao, có sự chênh lêch mức sống, trình độ văn hóa, hiểu biết tương đối lớn giữa phụ nữ ở thành thị và nông thôn
Phụ nữ là người góp phần tích cực trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước như: “Gia đình không sinh con thứ 3”,
“nuôi con khỏe, dạy con ngoan”, “Gia đình không có người thân phạm tội
và mắc tệ nạn xã hội”,… Họ là người đảm bảo cuộc sống gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững và an toàn cho mọi thành viên trong gia đình, nhưng phụ nữ vẫn là những người gặp nhiều khó khăn trong công viêc và cuộc sống, do nhiều nguyên nhân khác nhau từ bất bình đẳng giới, định kiến giới…và một nguyên nhân quan trọng đó là: phụ nữ thiếu VXH
“Vốn xã hội” là một thuật ngữ trong một hai thập niên gần đây được
đề cập nhiều trong giới khoa học xã hội, nhưng cho đến giờ, dường như giới học thuật vẫn chưa đi đến một định nghĩa thống nhất về khái niệm này
Năm 1990, nhà xã hội học người Mỹ James Coleman đưa ra một
cách định nghĩa về VXH, ông hiểu “ VXH bao gồm những đặc trưng
trong đời sống xã hội như sau: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực (norms) và sự tin cậy trong xã hội (social trust) – là những cái giúp cho các thành viên có thể hành động chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới mục tiêu chung”
Để phụ nữ nông thôn phát huy tiềm năng sáng tạo to lớn của mình, ngày càng trở thành chủ nhân đích thực của xã hội cần phát huy chính tài năng, lòng nhiệt tình và sức sáng tạo của phụ nữ Việc tạo VXH và nâng cao VXH cho phụ nữ nông thôn không thể thiếu sự tham gia của các tổ
Trang 12chức CT-XH tại địa phương mà cụ thể đó là:Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Những tổ chức này ngoài hỗ trợ chính sách, cơ chế còn là cầu nối tri thức cũng như tạo điều kiện cho phụ
nữ nông thôn học hỏi, phát triển bản thân Bên cạnh đó để nâng cao VXH cho phụ nữ nông thôn cần trả lời những câu hỏi căn bản như: Phụ nữ nông thôn hiểu như thế nào về VXH? Phụ nữ nông thôn đã sử dụng VXH như thế nào vào công việc và cuộc sống? Việc sử dụng VXH đem lại hiệu quả gì? Các tổ chức CT-XH tại địa phương đã làm gì, làm như thế nào để tạo VXH và nâng cao VXH cho phụ nữ nông thôn?Giải pháp nào để nâng cao vai trò của các tổ chức CT-XH tại địa phương trong việc tạo VXH, nâng cao vai trò sử dụng VXH trong quá trình phát triển của phụ nữ nông thôn?
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn kể trên, tác giả đã lựa chọn đề
tài: “Vai trò của các tổ chức CT - XH trong việc tạo VXH cho phụ nữ nông thôn hiện nay” (Khảo sát tại xã Nhật Tân, huyện Tiên Lữ và xã Trung Nghĩa, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên) làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Để phục vụ cho việc nghiên cứu và làm phong phú hơn đề tài của mình, tôi đã tham khảo nhiều tài liệu khác nhau Ở nước ngoài đã có nhiều bài báo, tạp chí, sách viết về đề tài VXH Đây chính là sơ sở khoa học cũng như nguồn tài liệu, tư liệu phong phú giúp ích cho đề tài luận văn:
Bài viết: “Social Capital and Civil Society”( được dịch là:VXH và
xã hội dân sự) của tác giả Francis Fukuyama Viện Chính sách công Đại học George Mason 1 tháng 10 năm 1999 Được đăng tải trên trang web:
Trang 13(https://www.imf.org/external/pubs/ft/seminar/1999/reforms/fukuyama.htm) Bài viết trình bày khái niệm VXH, chức năng của VXH, mối quan hệ của VXH và xã hội dân sự, cũng như việc làm thế nào để đo lường được VXH, xuất phát từ đâu để hình thành nên VXH và bằng cách nào để tăng cường VXH…bài viết đã trình bày một vấn đề nóng trong mối quan hệ giữa VXH và xã hội dân sự trong bối cảnh xã hội dân sự vẫn đang manh nha phát triển tại nước ta Đây là tài liệu tham khảo cho việc xây dựng và thực hiện luận văn
Bài viết:“Khái niệm VXH trong giới trẻ: Hướng tới một lý thuyết
mới” của các tác giả Nicole J Schaefer-McDaniel, The Graduate, Trung
tâm Đại học Thành phố New York , được đăng trên trang Web (http://www.colorado.edu/journals/cye/14_1/articles/article6full.htm)
Bài viết này cung cấp một tổng hợp quan trọng của việc xây dựng
và cũng giới thiệu một khung lý thuyết mới của VXH trong giới trẻ để khuyến khích nghiên cứu trong tương lai Tác giả hiểu nguồn VXH trong thanh niên bao gồm ba thành phần, hai trong số đó trước đây đã được thảo luận trong các tài liệu vốn lớn xã hội: 1) Mạng xã hội / tương tác và đời sống xã hội; 2) sự tin tưởng và có đi có lại; và 3) cảm giác thuộc về / nơi tập tin đính kèm Cuối cùng, kết quả có lợi của khám phá và đầu tư VXH trong dân số này sẽ được thảo luận Bài viết nêu định nghĩa về VXH và thủ đô văn hóa của Pierre Bourdieu, VXH trong gia đình và trường học của James Coleman, trình bày VXH ở trẻ em và thanh thiếu niên…bài viết cũng là một tư liệu có giá trị tham khảo với luận văn
Bài viết: “Nơi VXH trong sự hiểu biết Kết quả xã hội và kinh tế”
của tác giả Michael
Woolcockhttp://www.oecd.org/innovation/research/1824913.pdf)
Bài viết này cung cấp một giới thiệu ngắn gọn để các lý thuyết và thực nghiệm gần đây của VXH vì nó liên quan đến vấn đề phát triển kinh
Trang 14tế, đặc biệt tập trung vào tầm quan trọng của các nước OECD Làm như vậy nó tìm cách giải quyết ba câu hỏi cụ thể: (1) Làm thế nào là VXH, vốn con người, và khả năng xã hội có liên quan với nhau; (2) Làm thế nào
có thể VXH được đánh giá; và (3) Làm thế nào có thể mô hình tăng trưởng kinh tế hiện tại cho hơn tâm thích đáng đến nguồn VXH?
Bài viết: “Phương pháp tiếp cận kinh tế VXH” của các tác giả Edward
L Glaeser , David Laibson , Bruce Sacerdote NBER liệu làm việc số
7728 Ban hành trong tháng 6 năm 2000 Chương trình NBER (s): LE LS Xác định các yếu tố quyết định sự hình thành VXH, nó là cần thiết để hiểu được quyết định đầu tư VXH của các cá nhân VXH cá nhân sau đó sẽ được tổng hợp để đo VXH của một cộng đồng Bài báo tập hợp các bằng chứng
hỗ trợ các mô hình cá nhân dựa trên sự hình thành VXH, trong đó có bảy sự kiện: (1) mối quan hệ giữa VXH và tuổi tác ngày càng tăng đầu tiên và sau
đó giảm dần, (2) VXH giảm với tính di động dự kiến, (3 ) vốn đầu tư xã hội
là cao hơn trong nghề nghiệp với lợi nhuận lớn hơn cho các kỹ năng xã hội, (4) VXH là cao hơn các chủ nhà, (5) kết nối xã hội giảm mạnh với khoảng cách vật lý, (6) người đầu tư vào nguồn nhân lực cũng đầu tư vào nguồn VXH , và (7) VXH dường như có sự bổ sung giữa các cá nhân
Bài viết: “VXH là gì? Các yếu tố quyết định của Niềm tin và sự tin
cậy” của các tác giả Edward L Glaeser , David Laibson , Jose A
Scheinkman , Christine L Soutter NBER liệu làm việc số 7216 Ban hành trong tháng 7 năm 1999 Chương trình NBER (s): LS Sử dụng một mẫu của sinh viên đại học Harvard, phân tích tin tưởng và VXH trong hai thí nghiệm Tin tưởng hành vi và sự tin cậy tăng lên 46
Với kết nối xã hội; sự khác biệt về chủng tộc và quốc tịch làm giảm mức độ tin cậy Một số cá nhân xuất hiện để được liên tục tin tưởng hơn, nhưng những người này không nói rằng họ tin tưởng hơn trong các cuộc điều tra Câu hỏi khảo sát về lòng tin dự đoán đáng tin cậy không tin
Trang 15tưởng Chỉ có trẻ em ít đáng tin cậy Mọi người hành xử một cách đáng tin cậy hơn đối với cá nhân địa vị cao hơn, và do đó tình trạng tăng thu nhập trong thí nghiệm Như vậy, người có địa vị cao có thể được cho là có nguồn VXH hơn
Như vậy, ở nước ngoài VXH được quan tâm và nghiên cứu sớm hơn
so với ở nước ta, chính vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến VXH và vai trò của nó trong vấn đề lý thuyết cũng như áp dụng VXH vào thực tế trong chính sách phát triển kinh tế- xã hội cũng như tạo dựng vốn con người Tuy nhiên do những hạn chế về nguồn lực, trong khuôn khổ đề tài luận văn này, tác giả chỉ xin được giới thiệu một số bài viết, đề tài kể trên
Qua nghiên cứu với tiêu đề “VXH, xã hội dân sự và phát triển”,
Fukuyama (2001) khẳng định VXH là những chuẩn mực không chính thức thúc đẩy sự hợp tác giữa các cá nhân Theo ông, trong các hoạt động kinh tế, mỗi cá nhân sẽ giảm được nhiều chi phí giao dịch nhờ vào VXH giữa họ Fukuyama (2002) cũng cho rằng niềm tin, mạng lưới, xã hội dân sự và những thứ tương tự như là sự hợp tác là các hiện tượng phụ, là kết quả của VXH nhưng không phải là sự cấu thành của VXH [44] Ông đã dùng VXH như một tiêu chí chủ chốt để so sánh cơ cấu kinh tế và xã hội các nước Theo ông
“Chất lượng đời sống, cũng như khả năng cạnh tranh của một quốc gia, là tùy thuộc vào một đặc tính văn hóa duy nhất và lan tỏa trong quốc gia ấy, đó là mức độ tin cẩn trong xã hội" [44] VXH xuất hiện một cách ngẫu nhiên như là kết quả của các cá nhân khi tạo mạng lưới, và chỉ khi có hai người trở lên cùng tham gia và đạt được một kết quả của sự hợp tác
Trong bài báo “VXH và phát triển: Chương trình nghị sự sắp tới”
(2002), Fukuyama đã nhấn mạnh đến tính tích cực của VXH Ông bàn về mối liên hệ giữa VXH và sự phát triển trên phạm vi toàn cầu Ông chỉ ra cách mà VXH có thể đóng góp vào phát triển kinh tế và xóa bỏ đói nghèo Fukuyama giải
Trang 16thích rằng VXH đã giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiều doanh nghiệp ở Mỹ La tinh VXH cũng giúp cho nhiều người vượt ra khỏi những khó khăn trong giai đoạn suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng ở khu vực này Như vậy, có thể thấy VXH - theo Fukuyama được phát sinh một cách ngẫu nhiên và đó là kết quả của các mối tương tác được lặp đi lặp lại và điều quan trọng mà ông nhấn mạnh là các mối tương tác đó chỉ hữu dụng và có tác động tích cực khi các mối quan hệ đó được đặt trên một nền tảng tin cậy lần nhau giữa các thành viên của cộng đồng cùng tham gia vào các mối quan hệ này Fukuyama đã đưa ra những bằng chứng để chứng minh rằng nước Nhật phát triển được như ngày nay là do người Nhật có sự tin cẩn cao đối với nhau Qua nghiên cứu của mình, ông cũng đã chỉ ra tính hai mặt của VXH VXH trong các quan hệ họ hàng tạo ra sự trợ giúp hiệu quả cho doanh nghiệp hoặc cho các cá nhân trong những thời điểm mà điều kiện kinh tế khó khăn Tuy nhiên, điều này cũng mang lại những hệ quả tiêu cực như sự thiếu tin tưởng đối với người xa lạ,
từ đó, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi mà các doanh nghiệp lớn mạnh, phát triển lên Về hệ quả tiêu cực, ông còn cho rằng VXH có thể tạo ra bè phái, tham nhũng, và tâm lý coi tộc người của mình là trung tâm (trích lại từ Smith and Kulynych, 2002: 173) Fukuyama cũng đã có những nhận xét rằng trong các tổ chức tôn giáo thì sự tin cậy được tuân thủ một cách tuyệt đối và sự tin tưởng này còn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua việc xã hội hoá liên quan đến phong tục nhiều hơn là sự duy lý Sự tin tưởng, một trong những thành tố quan trọng tạo nên VXH trong một xã hội và nó có hiệu ứng lan tỏa hơn là chỉ trong bản thân một nhóm và niềm tin giữa những cá nhân, nhóm trong xã hội có thể có những tác động lớn hơn đến các lĩnh vực mà bản thân cá nhân, nhóm cũng không thể lường hết được, do VXH và vốn con người có ảnh hưởng qua lại với nhau
John Maliccio, Lawance Haddad, And Julia N May (1999) “VXH và sự
sinh ra thu nhập ở Nam Phi giai đoạn 1993 – 1998” Nghiên cứu này sử dụng
Trang 17dữ liệu điều tra ở những tỉnh lớn của Nam Phi để ước lượng hàm thu nhập bình quân đầu người với VXH Nghiên cứu cố định các yếu tố tác động khác
để xem thu nhập Kết quả nghiên cứu cho thấy VXH không có tác động đến thu nhập bình quân đầu người trong năm 1993 nhưng lại có tác động tỷ lệ thuận và có ý nghĩa vào năm 1998 Tác giả giải thích điều này do có sự thay đổi cấu trúc nền kinh tế Nam Phi, mà nguyên nhân là nạn phân biệt chủng tộc
ở Nam Phi đã được tháo bỏ
Nghiên cứu của Christan Bjonkov năm 2004 về “Tác động các yếu tố
cấu thành VXH tác động đến thu nhập” Ông chỉ ra mạng lưới xã hội của cá
nhân đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra thu nhập của người đó Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa nam và nữ khi tham gia mạng lưới xã hội đó trong việc tạo ra thu nhập Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng phụ nữ nhận được thu nhập từ mạng lưới xã hội nhiều hơn so với nam giới Như vậy, việc tận dụng vai trò của VXH trong việc tạo ra thu nhập được nữ giới tận dụng tốt hơn nam giới
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bên cạnh các công trình nghiên cứu, bài viết về VXH nước ngoài, ở trong nước hiện nay cũng có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khoa học cao,có rất nhiều đề tài nghiên cứu, sách, báo, tiểu luận, tap chí về vấn
đề liên quan đến đề tài luận văn ở trong nước như: tổ chức CT-XH, VXH
và phụ nữ Tuy nhiên mỗi đề tài lại đề cập đến những mảng khác nhau và
có những ưu điểm hạn chế riêng qua đó chứng tỏ được sự quan tâm, thái độ của mọi người cũng như tính cấp thiết của vấn đề này:
Mảng tài liệu về các tổ chức chính trị-xã hội:
Bài viết: “ Suy nghĩ về hệ thống CT- XH ở Việt Nam hiện nay” của
tác giả Trần Thái Dương, TS Đại học Luật Hà Nội được đăng trên tạp chí KHPL số 2(33)/2006 Tác giả đã trình bày quan niệm chung về hệ thống CT- XH, các thiết chế trong hệ thống CT- XH Việt Nam- Đặc điểm, vai
Trang 18trò.Điều có ý nghĩa quan trọng có thể rút ra qua những phân tích trên đây
là vai trò của các tổ chức CT - XH và các tổ chức xã hội đối với sự hình thành và phát triển của toàn bộ hệ thống CT - XH của đất nước đã tạo cơ
sở khách quan cho các hoạt động tham gia hay phản hồi của các tổ chức này đến hệ thống chính trị: Đảng và Nhà nước Đó có thể là các loại hoạt động khác nhau như tư vấn, giám định, phản biện xã hội Đây là cứ liệu quan trọng cung cấp thông tin về các tổ chức CT-XH cho luận văn
Bài viết: “ Hoạt động của các tổ chức nhân dân ở Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Ngọc Lâm Nguyên Vụ trưởng vụ Tổ chức Phi chính phủ Trong bài viết của mình ông đã đề cập đến chủ trương của Đảng và pháp luật nhà nước, thực trạng về tổ chức của các tổ chức nhân dân, vai trò của các tổ chức nhân dân, các tổ chức này đã và đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong xã hội và đưa ra một số kiến nghị Tác giả đã trao đổi về vai trò xã hội dân sự của các nước và một vài suy ngẫm về tổ chức nhân dân của Việt Nam Trên cơ sở đó để chúng ta nghiên cứu và đón nhận những nghiên cứu mới về vai trò của các tổ chức nhân dân của ta trong giai đoạn tới
Mảng tài liệu về phụ nữ:
Bài báo: “ Sức mạnh của nửa nhân loại” của tác giả Hoàng Sơn
đăng trên báo An ninh thủ đô, thứ bảy, ngày 08/03/2014 Tác giả nêu nhận định:Phụ nữ chiếm tới 50% dân số toàn cầu Vì thế, nếu biết tôn trọng quyền và phát huy hết tiềm năng của phụ nữ, thế giới sẽ giải quyết được rất nhiều thách thức đặt ra trên con đường phát triển Trong thế giới văn minh hiện nay, nhân loại không thể phát huy hết tiềm năng của mình nếu các quyền của phụ nữ không được tôn trọng và thực hiện đầy đủ; hoặc những tài năng và đóng góp to lớn của nữ giới không được nhìn nhận, đánh giá thỏa đáng Bài viết nêu nên vai trò của phụ nữ trong xã hội đã có
Trang 19những thay đổi cơ bản và cần nhìn nhận tạo điều kiện để phụ nữ phát triển cũng chính là tạo điều kiện cho toàn thể xã hội cùng phát triển
Bài báo: “ Phụ nữ nông thôn trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa” của tác giả Nguyễn Linh Khiếu, PGS.TS Tạp chí cộng
sản được đăng trên web Đại học Hoa sen, Trung tâm nghiên cứu giới và
xã hội Bài báo đề cập đến những xu hướng biến đổi của phụ nữ nông thôn, vai trò và vị trí của phụ nữ nông thôn, những thách thức và giải pháp cho phụ nữ nông thôn trong lao động, trong tiến trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa…thông qua đó, tác giả đưa ra những phân tích, lập luận cứng rắn, thuyết phục.Bài báo cho ta một cái nhìn cụ thể về vấn
đề phụ nữ nông thông cũng như vai trò của phụ nữ nông thôn trong điều kiện phát triển kinh tế- xã hội nói chung của đất nước
Mảng tài liệu về Vốn Xã hội:
Bên cạnh những bài viết về tổ chức CT-XH, phụ nữ, còn có nhiều bài viết đề cập đến VXH Khái niệm về VXH ở nước ta vẫn được coi là một khái niệm mới mẻ.Tuy nhiên, hiện nay đã có nhiều hơn những nghiên cứu về vấn đề này:
Luận án tiến sĩ của tác giả Nhạc Phan Linh với đề tài: “Vài trò liên
kết xã hội và tạo VXH của các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay” xuất bản tại Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
năm 2013 Bằng những lập luận chặt chẽ, tác giả đề cập đến một số vấn
đề lý luận chung về tiếp cận xã hội dân sự ở Việt Nam, trình bày mô hình
lý thuyết nghiên cứu vai trò của xã hội dân sự, liên kết xã hội của các tổ chức xã hội dân sự, tạo VXH của các tổ chức xã hội cùng những yếu tố ảnh hưởng và giải pháp phát triển xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay Luận án đã phát hiện ra những điểm mới về VXH như: Khối lượng Vốn Dân sự ở Việt Nam thực sự dồi dào, thể hiện qua sự gia tăng nhanh chóng
số lượng và các mạng lưới tổ chức XHDS (CSO) có phạm vi cả nước
Trang 20Hiệu quả của Vốn Dân sự được thể hiện rõ qua 04 nội dung: (1) giải phóng sức sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân; (2) phát triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; (3) thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội và (4) phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường , giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người;Trong các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò liên kết và trao VXH cho người dân của các
tổ chức XHDS, môi trường pháp lý bị hạn chế là yêu tố tác động nhiều nhất Trong các yếu tố nội tại của XHDS, hiệu quả và vai trò của các CSO phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố tài chính và con người; Giải pháp phát huy vai trò liên kết xã hội và cung cấp vốn dân sự đòi hỏi sự đồng bộ từ phía Nhà nước, Thị trường và bản thân các CSO.Đây là những phát hiện
có giá trị quan trọng cho những nghiên cứu tiếp theo có chủ đề liên quan
Luận văn: “ Vai trò của việc sử dụng VXH trong các doanh nghiệp
nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội” của tác giả Trần Tú Hoa năm
2010, Đại học Quốc gia Hà Nội- Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tác giả khẳng định VXH đóng vai trò là động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, đóng góp này thông qua việc phát triển các quan hệ xã hội như
sự chia sẻ, đoàn kết, nhất trí trong doanh nghiệp Luận văn nghiên cứu vai trò của việc sử dụng VXH trong các doanh nghiệp hiện nay, đây là một hướng nghiên cứu mới mở đầu cho việc nhìn nhận, đánh giá tầm quan trọng của nó đối với các doanh nghiệp, bên canh đó luận văn đã cung cấp nhiều khái niệm quan trọng, cơ bản về VXH
Luận văn “Vai trò của VXH trong xây dựng nông thôn mới (Nghiên
cứu trường hợp tại xã Thượng Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội)” của tác giả Đỗ Thị Ngân, chuyên ngành Xã hội học.Trường đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn.Luận văn đã chỉ ra được các loại hình VXH tồn tại ở địa phương, VXH không chỉ tồn tại dưới hình thức các liên kết
Trang 21truyền thống (họ hàng, gia đình …) mà còn cả những hình thức liên kết mới: các tổ chức và đoàn thể tự nguyện … VXH đã giữ vai trò năng động, tích cực trong Chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương Sự tham gia của người dân, của các tổ chức/ đoàn thể một mặt góp phần thực hiện các tiêu chí của Chương trình, mặt khác gia tăng thêm
sự cố kết cộng đồng, sự gắn bó chặt chẽ giữa người dân với các tổ chức/ đoàn thể Bên cạnh đó, thông qua cơ chế tác động của mạng lưới xã hội của mỗi cá nhân, gia đình mà sự phát triển kinh tế của người dân tại địa bàn nghiên cứu có những sự chuyển biến tích cực, như cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp, tiếp cận nguồn vốn vay, khoa học kĩ thuật … Chương trình xây dựng nông thôn mới có 19 tiêu chí, trải ra trên nhiều lĩnh vực phát triển nông thôn, song vai trò của VXH thể hiện nổi bật nhất là trong xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế của địa phương.VXH có thể giữ vai trò năng động và tích cực đối với Chương trình xây dựng nông thôn mới Qua đó, đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các loại hình VXH Luận văn cung cấp những thông tin rất sâu sắc về VXH trong xây dưng nông thôn mới giúp các nghiên cứu tiếp sau trong vấn đề nghiên cứu này
Luận án tiến sĩ “Vai trò của VXH trong phát triển kinh tế hộ ở nông
thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay - Nghiên cứu trường hợp tại Nam Định
và Bắc Ninh” của tác giả Khúc Thị Thanh Vân Trình bày những vấn đề lý
luận và thực tiễn về VXH và vai trò của VXH trong phát triển kinh tế hộ Nghiên cứu VXH ở đồng bằng sông Hồng hiện nay và đầu tư, duy trì, khai thác VXH trong phát triển kinh tế hộ đồng bằng sông Hồng (trường hợp tại Nam Định và Bắc Ninh)
Với bài viết “VXH và kinh tế” (Trần Hữu Dũng, 2003) Qua bài viết
này Trần Hữu Dũng đã lược duyệt và đánh giá một số quan niệm khác nhau
về VXH Tác giả đề cập đến các quan điểm lý thuyết của Pierre Bourdieu,
Trang 22James Coleman, Robert Putnam, Francis Fukuyama, Hernando de Soto Ông cho rằng cần phải làm rõ hơn đặc điểm của VXH trong mối quan hệ với các loại vốn khác
Bài viết: “ Thực trạng VXH ở Việt Nam: Hai vấn đề cần bàn” của
tác giả Hoàng Tụy được đăng trên web trường Đại học Văn hóa Hà Nội Bài viết đưa ra hai vấn đề nổi bật cần lưu ý để cải thiện thực trạng VXH ở Việt nam một là đánh giá đúng kết cấu nền tảng xã-hội-tâm-lý biểu hiện ở các đặc trưng tính cách, phong tục, tập quán, cách suy nghĩ, lối sống của người Việt; thứ hai là xem xét tình trạng phát triển của xã hội dân sự, tức
là những tổ chức tự nguyện của người dân trong sinh hoạt của cộng đồng bên ngoài thị trường và nhà nước Bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng VXH ở Việt Nam hiện nay Đây là nguồn tài liệu có giá trị gợi
mở có ý nghĩa cho việc triển khai luận văn
Bài viết: “VXH và sự cần thiết nghiên cứu VXH ở nông thôn Việt
Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh được trình bày tại Hội thảo
quốc tế Đóng góp của khoa học xã hội- nhân văn trong phát triển kinh tế-
xã hội, hay Tạp chí Xã hội học , số 3 (115), 2011 Bài viết đã nêu nên lịch
sử và những quan niệm khác nhau về VXH, bản chất hai mặt của VXH và tình hình nghiên cứu VXH tại Việt Nam, bên cạnh đó trình bày sự cần thiết nghiên cứu VXH ở nông thôn Việt Nam việc nghiên cứu vềVXH ởkhu vực nông thôn sẽ giúp nhận ra vai trò tích cực của loại vốn này trong giai đoạn đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay Qua bài viết, ta sẽ có cái nhìn cụ thể, chi tiết về VXH ở Việt Nam cũng như ý nghĩa của việc nghiên cứu VXH ở nông thôn giúp ích cho việc triển khai đề tài luận văn
Có thể thấy rằng, những nghiên cứu về tổ chức CT-XH, về phụ nữ và về VXH tương đối phong phú Tuy nhiên, từ quá trình tổng thuật tài liệu, tác giả nhận thấy chưa có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu về vai trò của các tổ
Trang 23chức CT-XH ở địa phương trong việc tạo VXH cho phụ nữ nông thôn Do vậy, việc triển khai nghiên cứu đề tài luận văn: “Vai trò của các tổ chức CT- XH trong việc tạo VXH cho phụ nữ nông thôn” ( Khảo sát tại xã Nhật Tân_huyện Tiên Lữ và xã Trung Nghĩa_Tp Hưng yên, tỉnh Hưng Yên) có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu trên, mỗi công trình có một cách nhìn riêng và ý nghĩa riêng, tuy nhiên qua đó, tác giả có cái nhìn tổng quan về khái niệm VXH, về tình hình nghiên cứu khoa học về VXH hiện nay cũng như
có cái nhìn khái quất về các tổ chức CT-XH, về phụ nữ để từ đó triển khai nghiên cứu đề tài luận văn khách quan, khoa học, đưa ra được điểm mới cho nghiên cứu của mình: Các tổ chức CT_XH có vai trò quan trọng trong việc tạo VXh cho phụ nữ nông thôn; Bằng nhiều phương pháp khác nhau, các tổ chức CT-XH đã tiến hành tạo VXH cho phụ nữ nông thôn qua các hoạt động xã hội đạt kết quả cao; nhờ có VXH phụ nữ nông thôn mở rộng được mối quan hệ xã hội của mình, cải thiện quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, làng xóm, quan hệ trong công việc; Phụ nữ nông thôn có cuộc sống tốt hơn nhờ VXH
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ vai trò của các tổ chức CT-XH tại địa phương trong việc tạo VXH, tăng cường độ rộng và chiều sâu của các mối quan hệ xã hội mang lại lợi ích cho phụ nữ nông thôn Từ đó đưa ra những kết luận, khuyến nghị, giải pháp nhằm khuyến khích các tổ chức CT-XH ở khu vực nông thôn tăng cường tạo VXH cho phụ nữ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về VXH, vai trò của việc sử dụng VXH, làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu đề tài
- Khảo sát thực trạng và nhu cầu về VXH của phụ nữ nông thôn
Trang 24- Tìm hiểu hoạt động tạo VXH cho phụ nữ nông thôn của các tổ chức CT-XH
- Phân tích các yếu tố tác động tới việc tạo VXH cho phụ nữ nông thôn của các tổ chức CT-XH tại địa phương
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu,từ đó đưa ra những kết luận, khuyến nghị, giải pháp nhằm khuyến khích các tổ chức CT-XH tạo VXH, tăng cường độ rộng và chiều sâu của các mối quan hệ xã hội mang lại lợi
ích cho phụ nữ nông thôn
4 Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Khung lý thuyết
Môi trường kinh tế - xã hội
VAI TRÒ
Tạo ra lợi ích thiết thực cho phụ nữ từ các mối quan hệ đó
THÚC ĐẨY PHỤ NỮ Thỏa mãn nhu cầu cá nhân
Đóng góp cho lợi ích công động
Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với phụ nữ
Trang 25Sơ đồ tương quan giữa các biến số là một khung tiếp cận hệ thống toàn diện, mục đích của sơ đồ là biến phụ thuộc, đây là vấn đề nghiên cứu Vai trò tạo VXH của các tổ chức CT-XH Các biến số độc lập được xác định nhằm giải thích các yếu tố tác động đến biến phụ thuộc, các biến số độc lập tác động, là những yếu tố ảnh hưởng đến biến số phụ thuộc: Vai trò tạo VXH của các tổ chức CT- XH cho phụ nữ nông thôn hiện nay
* Biến phụ thuộc:
- Tăng cường độ rộng mạng lưới quan hệ cho phụ nữ nông thôn: + Thu hút, khuyến khích, tăng cường sự chủ động kết nối, chia sẻgiữa phụ nữ nông thôn với nhau
+ Khuyến khích phụ nữ tham gia các sinh hoạt xã hội, các hoạt động cộng đồng
+ Cung cấp môi trường và các điều kiện cho phụ nữ chia sẻ, kết nối
- Tăng cường chiều sâu các mối quan hệ:
+ Duy trì kết nối liên tục của các phụ nữ nông thôn
+ Tạo sự chia sẻ tin cậy, thân thiết giữa phụ nữ nông thôn với nhau
- Tạo ra lợi ích thiết thực cho phụ nữ qua các mối quan hệ
+ Phát triển mạng lưới các quan hệ cá nhân của người phụ nữ nông thôn
+ Tăng cường sự chia sẻ, đoàn kết, tin cậy
+ Thúc đẩy chia sẻ các nguồn lực
+ Nâng cao năng lực giải quyết các vấn đề cá nhân
+ Hỗ trợ tăng cường vốn văn hóa và vốn kinh tế cho cá nhân
+ Thúc đẩy bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình
Trang 26- Đặc điểm nhân khẩu học của phụ nữ nông thôn:
+ Tên, Trình độ học vấn/ tuổi/ giới tính, nghề nghiệp
+ Trình độ, chuyên môn, tình trạng hôn nhân
* Biến can thiệp:
- Điều kiện kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội Chính sách pháp luật của nhà nước đối với phụ nữ
- Vị trí của phụ nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
(1) Việc tham gia các tổ chức CT-XH ở nông thôn có vai trò quan trọng thúc đẩy phụ nữ phát triển các mối quan hệ gia đình và xã hội
(2) Mức độ hiệu quả của việc tạo VXH của các tổ chức CT- XH chịu nhiều tác động của các yếu tố nhân khẩu học của người phụ nữ nông thôn
(3) VXH từ các tổ chức CT-XH đặc biệt hiệu quả đối với phụ nữ nông thôn trong những vấn đề sau hoàn thiện bản thân, thành công trong công việc, thúc đẩy hạnh phúc gia đình và góp phần đoàn kết cộng đồng
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của các tổ chức CT-XH ở địa phương xã Nhật Tân, huyện Tiên
Lữ và xã Trung Nghĩa, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên trong việc tạo VXH cho phụ nữ nông thôn
5.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu gồm 02 nhóm đối tượng:
(1) Đại diện các tổ chức CT-XH ở địa phương xã Nhật Tân, huyện Tiên Lữ và xã Trung Nghĩa, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Các tổ chức CT-XH được chọn để nghiên cứu gồm:
Hội phụ nữ
Trang 27 Hội nông dân
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Mặt trận tổ quốc
Hội Cựu chiến binh
(2) Phụ nữ nông thôn xã Nhật Tân, huyện Tiên Lữ và xã Trung Nghĩa, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
5.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian:
+ Địa bàn xã Nhật Tân- huyện Tiên Lữ- tỉnh Hưng Yên
+ Địa bàn xã Trung Nghĩa- thành phố Hưng Yên- tỉnh Hưng Yên
- Phạm vi thời gian: từ năm 2014 đến năm 2015
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác để tìm hiểu, nhận thức các vấn đề nghiên cứu
Trên quan điểm phương pháp luận của Mác, mọi sự vật, hiện tượng phải được xem xét trong mối liên hệ, tác động qua lại, trong mâu thuẫn và trong quá trình vận động phát triển không ngừng của lịch sử Mặt khác, mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong không gian, thời gian nhất định Người nghiên cứu cần xem xét các sự vật hiện tượng đó trên những cơ sở khoa học đó
Trên cơ sở phương pháp luận nhận thức duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác, đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận Xã hội học để tìm luận cứ chứng minh cho các giả thuyết nghiên cứu của đề tài luận văn
Trang 28Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các lý thuyết về VXH của Bourdieu và Coleman, và một số lý thuyết về VXH khác
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích các tài liệu có sẵn về
các tổ chức CT-XH, về phụ nữ và về VXH, vai trò của việc tạo VXH cũng như vai trò của việc sử dụng VXH đối với phụ nữ
Mục đích: Phương pháp nàyđược sử dụng để tìm hiểu khái quát
những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
Phương thức thực hiện: Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong
đề tài là phân tích số liệu thứ cấp
- Phương pháp quan sát: Trong quá trình phỏng vấn tiếp cận đối
tượng điều tra quan sát biểu hiện, thái độ của người trả lời
- Điều tra bằng bảng hỏi ( định lượng): Đề tài sử dụng phương
pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi anket là phương pháp chính nhằm thu thập những số liệu định lượng về vai trò tạo VXH của các tổ chức CT-
XH địa phương cho phụ nữ nông thôn
Phương pháp bảng hỏi Anket dùng cho đối tượng là phụ nữ nông thôn Trong phạm vi địa bàn xã Nhật Tân và Xã Trung Nghĩa, tác giả khảo sát toàn bộ các tổ chức CT-XH Cụ thể là các tổ chức sau:
Hội nông dân
Hội phụ nữ
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Hội cựu chiến binh
Mặt trận tổ quốc
* Trong đó:
- Phụ nữ nông thôn: cỡ mẫu ở mỗi thôn là 30 người:
Trang 29Căn cứ vào danh sách toàn bộ phụ nữ trong mỗi thôn (N) ta có công thức k=N/n với n = 30 Sau đó cứ k bước nhảy lấy 1 phụ nữ sao cho đủ 30 người
Trên địa bàn 2 xã Nhật Tân và Trung Nghĩa có tổng cộng 9 thôn Vì vậy mỗi thôn ta chọn ngẫu nhiên hệ thống 30 người dựa trên danh sách hội viên của Hội phụ nữ của xã: 9 * 30 = 270 người
- Phỏng vấn sâu( định tính):
Mục đích:Để bổ sung thông tin còn thiếu, tác giả sử dụng bản
hướng dẫn phỏng vấn sâu cá nhân nhằm tìm hiểu đặc trưng của đối tượng
và khai thác các thông tin bổ trợ
Phương thức thực hiện: Một bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu sẽ được
thiết kế để thu thập thông tin nhằm thực hiện mục đích của đề tài đặt ra
Đối tượng lãnh đạo các tổ chức CT-XH dùng PVS là phù hợp để khai thác và thu thập thông tin Để làm rõ vai trò của các tổ chức, nên phỏng vấn từng nhóm phụ nữ và nam giới là thành viên của từng tổ chức CT-XH Như vậy để có sơ sở đánh giá sát hơn
Tiến hành phỏng vấn sâu 24 trường hợp gồm các đối tượng và số lượng như sau:
- PVS lãnh đạo, hội trưởng các tổ chức CT_XH cấp xã: 3 người
- PVS lãnh đạo, hội trưởng các tổ chức CT_XH cấp thôn: 3 người
- PVS phụ nữ ở 2 xã: 18 người (2 người/ thôn)
- phương pháp sử lý thông tin:
Những bảng hỏi định lượng được xử lý trên máy tính bằng phần mềm SPSS 15.0 Những số liệu định lượng sẽ được xử lý dưới dạng tần suất và các tương quan nhằm so sánh, đánh giá vấn đề nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau
Trang 30Do số lượng phỏng vấn sâu không nhiều nên những thông tin định tính được sử lý thủ công bằng việc phân chia các thông tin theo nhóm chủ
đề cụ thể, phục vụ mục tiêu nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ vấn
Mối quan hệ chặt chẽ của các tổ chức CT-XH đối với phụ nữ ở khu vực nông thôn
Tìm ra vai trò tạo VXH của các tổ chức CT-XH địa phương trong việc tạo vống xã hội cho phụ nữ nông thôn
Cách truyền đạt VXH và ứng dụng VXH vào thực tiễn đời sống của phụ nữ nông thôn
Đưa thuật ngữ, khái niệm VXH phát triển rộng rãi và dễ hiểu hơn đối với toàn xã hội
7.2 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu vai trò của các tổ chức CT-XH ở địa phương trong việc tạo VXH cho phụ nữ nông thôn là một hướng nghiên cứu mới, mở đầu cho việc nhận định, đánh giá tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của các tổ chức CT-XH và phụ nữ nông thôn Việc áp dụng các lý thuyết
xã hội học vào nghiên cứu này góp phần làm sáng rõ cách thức vận dụng các lý thuyết xã hội học vào việc nghiên cứu vai trò của các tổ chức CT-
XH, cũng như vai trò của VXH( mạng lưới xã hội, uy tín, đoàn kết, tin
Trang 31tưởng, sẽ chia…) trong lĩnh vực tạo VXH cho phụ nữ nông thôn qua các
tổ chức CT-XH địa phương và việc phụ nữ nông thôn sử dụng VXH trong đời sống hiện nay
7.3 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu vai trò của các tổ chức CT-XH ở địa phương trong việc tạo VXH cho phụ nữ nông thôn sẽ cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý xã hội có được cái nhìn tổng quan về vai trò của việc tạo VXH và sử dụng VXH hiện nay Qua đó góp phần đưa ra những giải pháp hiệu quả cho việc phát triển VXH cho phụ nữ nông thôn nói riêng và xã hội nói chung
Kết quả nghiên cứu của đề tài, đặc biệt là các giải pháp nâng cao tạo dựng VXH và sử dụng VXH của các tổ chức CT-XH ở địa phương cho phụ nữ nông thông sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các tổ chức CT- XH địa phương, phụ nữ và những người quan tâm đến nghiên cứu về vai trò của các tổ chức CT-XH ở địa phương trong việc tạo VXH cho phụ
nữ nông thôn
8 Kết cấu sơ lược của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận trong việc tạo VXH cho phụ nữ nông thôn từ các tổ chức CT - XH
Chương 2: Thực trạng tạo VXH cho phụ nữ nông thôn từ các tổ chức CT - XH và các yếu tố ảnh hưởng
Trang 32Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TRONG VIỆC TẠO VỐN XÃ HỘI
CHO PHỤ NỮ NÔNG THÔN TỪ CÁC TỔ CHỨC
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
1.1 Một số vấn đề lý luận về các tổ chức chính trị - xã hội
1.1.1 Khái quát chung về các tổ chức chính trị - xã hội
Theo các tài liệu chính thức của Đảng như văn kiện, nghị quyết, các đoàn thể quần chúng và tổ chức xã hội đã đóng giữ vai trò quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta, Các tổ chức này đã động viên, tập hợp các tầng lớp nhân dân trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đấu tranh thống nhất nước nhà Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
đã có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự hình thành và củng cố Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam Vai trò này của các đoàn thể quần chúng đã được khẳng định rõ trong Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo
vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước” (Điều 9)
Tính chất, đặc điểm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức CT - XH
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức CT - XH là những bộ phận cấu thành
hệ thống chính trị của xã hội ta, được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện
và hoạt động theo nguyên tắc tự quản, nhằm đáp ứng những lợi ích đa dạng của các thành viên, thu hút đông đảo nhân dân vào tham gia quản lý các công việc nhà nước, công việc xã hội, nâng cao tính tích cực của mỗi công dân
Trang 33Trong xã hội ta, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình không chỉ bằng nhà nước mà còn thông qua các đoàn thể CT - XH, tổ chức xã hội
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức CT - XH là các tổ chức quần chúng của Đảng, là công cụ để tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng trong các tầng lớp nhân dân Đặc biệt trong thời kỳ chưa có chính quyền, Mặt trận và các tổ chức quần chúng của Đảng là các công cụ đắc lực của Đảng để vận động quần chúng, tập hợp, tổ chức quần chúng để tiến hành các đấu tranh cách mạng nhằm giành chính quyền Khi Đảng giành được chính quyền, trở 2 thành Đảng cầm quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị trong hệ thống dân chủ nhân dân, hệ thống chuyên chính vô sản trước đây, hệ thống chính trị hiện nay tiếp tục phát huy vai trò của mình trong vận động, tập hợp,
tổ chức quần chúng xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng, tăng cường và củng
cố nhà nước của dân, do dân, vì dân
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị trong hệ thống chính trị còn
là tổ chức của chính quần chúng; là người đại diện cho ý chí, tiếng nói của quần chúng; là công cụ, phương tiện bảo vệ lợi ích và quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân Do vậy tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức CT - XH phải dựa trên ý chí, nguyện vọng của quần chúng, đáp ứng các yêu cầu, lợi ích của các tầng lốp nhân dân Để phục vụ tốt các mục tiêu chính trị, Mặt trận và các tổ chức CT - XH trước hết phải phục vụ tốt lợi ích của các thành viên của mình, phải thật sự trở thành một tổ chức tự nguyện của nhân dân, hoạt động theo sáng kiến của nhân dân, phù hợp với các yêu cầu của đời sống dân chủ, tạo tiền đề quan trọng cho sự trưởng thành
xã hội dân sự ở Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức CT - XH trong hệ thống chính trị là những thiết chế tổ chức vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội
Vị trí của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức CT - XH trong hệ thống chính trị
Trang 34Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức quần chúng do Đảng ta thành lập và lãnh đạo, đặc biệt là Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức CT - XH luôn giữ một vị trí, vai trò quan trọng Ở mỗi một giai đoạn cách mạng, kể cả lúc thăng trầm hay cao trào, lúc chưa có chính quyền và trong điều kiện giành được chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức CT - XH luôn là các thành viên chiến lược trong hệ thống chính trị Vị trí này xuất phát từ các yếu tố sau:
Thứ nhất, Điều 9 Hiến pháp hiện hành cũng thể chế hoá vị trí pháp lý của
Mặt trận trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết, tăng cường nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo
và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước”
Thứ hai, về cả lý luận lẫn thực tiễn, nếu hệ thống chính trị không có Mặt
trận và các tổ chức CT - XH thì nó không còn là tổng thể các lực lượng chính trị được vận hành trong cơ cấu ổn định và cũng có nghĩa là không còn tổng thể các quan hệ chính trị để đảm bảo cơ chế vận hành của hệ thống chính trị nhằm phát huy quyền lực nhân dân
Thứ ba, vị trí của Mặt trận và các tổ chức CT - XH trong hệ thống chính
trị là vị trí mang tầm chiến lược bởi nó là hình thức tập hợp lực lượng, là trung tâm của đại đoàn kết dân tộc Đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc
1.1.2 Chức năng nhiệm vụ của các tổ chức chính trị -xã hội cấp xã
Giống hệ thống tổ chức của Đảng và chính quyền, các tổ chức CT –
XH cũng được tổ chức theo các cấp trung ương – tỉnh – huyện – xã Trên cơ
Trang 35sở chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước; cũng như các chỉ đạo của hệ thống tổ chức CT – XH cấp trên, tổ chức CT - XH cấp xã được xác định những chức năng cơ bản sau:
(1) Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật
Các tổ chức CT -XH ở cấp xã co nhiệm vụ động viên các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ, thông qua các hội nghị nhân dân cũng như thông qua tiếp xúc cá nhân, tổ chức nhân dân đóng góp ý kiến tham gia xây dựng Hiến pháp, sửa đổi các văn bản luật và các văn bản dưới luật; trực tiếp đóng góp ý kiến về chính sách, kế hoạch của Chính phủ cũng như chính quyền địa phương; tổ chức cho các đại biểu lắng nghe ý kiến cử tri về các chính sách, kế hoạch của Nhà nước; tổ chức hội nghị những người tiêu biểu trong các dân tộc, các tôn giáo để lấy ý kiến đóng góp vào các dự thảo góp phần xây dựng pháp luật
(2) Tham gia giám sát công tác quản lý hành chính nhà nước
- Các tổ chức CT -XH ở địa phương phát hiện và kiềm chế những việc
làm sai trái của các cơ quan Nhà nước như vi phạm các quyết định về quản lý,
vi phạm về tự do, dân chủ của công dân để báo cáo với các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết
- Các tổ chức CT -XH cấp xã, phường, thị trấn dưới sự chỉ đạo hướng
dẫn của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, cấp huyện tiến hành thành lập ban thanh tra nhân dân để giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở
- Các tổ chức CT -XH ở địa phương có chức năng giám sát việc thực
hiện nghĩa vụ, quyền hạn của cán bộ công chức nhà nước; kiến nghị những việc làm sai trái của cán bộ công chức nhà nước tới các cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm giải quyết, xử lý
- Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức CT -
XH ở địa phương là biện pháp quan trọng góp phần xây dựng, củng cố, hoàn
Trang 36thiện nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo
vệ chính quyền
(3) Tham gia các phong trào quần chúng cùng Nhà nước thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới
- Cùng với chính quyền, các tổ chức CT -XH ở địa phương tuyên truyền,
phổ biến nhân dân hiểu biết các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nhân dân thực hiện tốt quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Phối hợp cùng các cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện các chính sách
như thực hiện có hiệu quả chính sách tôn giáo, chính sách vay vốn xoá đói giảm nghèo, chính sách dân tộc và miền núi, phối hợp cùng Hội đồng nhân dân địa phương triển khai, thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở
- Tổ chức các cuộc vận động, thu hút sự đồng tình của quần chúng nhân
dân nhằm xoá bỏ những hủ tục lạc hậu, xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh
như cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư
- Phát huy truyền thống nhân ái của dân tộc, với phương châm “Nhà
nước và nhân dân cùng làm” toàn xã hội cùng lo, các tổ chức CT - XH ở địa phương vận động các tầng lớp nhân dân hưởng ứng và thực hiện các chính sách xã hội có hiệu quả
Trên cơ sở ba chức năng lớn như trên, các tổ chức CT – XH cấp xã như Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân (không có tổ chức công đoàn) cụ thể hóa các nhiệm vụ công tác gồm các hoạt động sau
(1) Thu hút, khuyến khích, tăng cường sự chủ động kết nối cộng đồng; khuyến khích người dân tham gia các sinh hoạt xã hội, các hoạt động cộng đồng
(2) Duy trì và thúc đẩy các mối quan hệ bền vững cho người dân, phát triển mạng lưới các mối quan hệ sâu rộng
Trang 37(3) Tạo môi trường chia sẻ tin cậy và các điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện các quyền dân chủ được pháp luật cho phép (4) Tạo ra giá trị, lợi ích thiết thực cho người dân về các nguồn lực kinh tế và các điều kiện về sinh kế
(5) Nâng cao năng lực giải quyết các vấn đề cá nhân, hỗ trợ tăng cường vốn văn hóa, vốn tri thức cho cá nhân
1.2 Lý luận về Vốn Xã hội và vai trò của Vốn Xã hội đối với phụ nữ nông thôn
1.2.1 Khái quát về Vốn Xã hội
Kể từ khi được nhà giáo dục học người Mỹ Lyda Judson Hanifan đưa
ra lần đầu tiên vào năm 1916, cho đến nay khái niệm VXH (VXH) đã được phát triển với nhiều định nghĩa và cách giải thích khác nhau Sau đó
đã được các nhà khoa học xây dựng nên thành lý thuyết về VXH
VXH (Social Capital) là một thuật ngữ đã được sử dụng từ đầu thế
kỷ XX, nhưng nó chỉ được sử dụng một cách rộng rãi sau công trình của Coleman, Bourdieu và Putnam vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 Thuật ngữ này liên quan đến mạng lưới xã hội, các chuẩn mực
và sự tán thành/thừa nhận khiến cho hành động hợp tác giữa các cá nhân
và các cộng đồng được dễ dàng
Trên thế giới hiện nay có nhiều quan điểm, định nghĩa của nhiều học giả khác nhau về VXH Trong nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng định nghĩa VXH của nhà Xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu (1930-2002) làm lý thuyết định hướng nghiên cứu
Theo Pierre Bourdieu, VXH được định nghĩa là một thuộc tính của mỗi cá nhân trong xã hội và bất cứ ai cũng có thế khai thác VXH nhằm đem lại các lợi ích kinh tế thông thường Có 3 điểm chính trong định nghĩa về VXH của Bourdieu.VXH là sự kế thừa vì ông cho rằng mồi cá nhân là sản phẩm của lịch sử, của giai cấp mà họ được sinh ra trong đó và
Trang 38bởi vậy họ được thừa hưởng một số VXH bao gồm cả những bất lợi, lợi
thế mà mạng lưới cá nhân của họ mang lại VXH của một cá nhân sẽđược
tích lũy thêm bằng các hoạt động của bàn thân cá nhân và có thể sử dụng
VXH đế chuyển hoá thành vốn kinh tế Bourdieu cũng cho rằng việc thiếu VXH là nguyên nhân khiến một số cá nhân chịu sự bất bình đẳng trong xã hội Trong lĩnh vực VXH cá nhân, vị trí của các cá nhân hoặc của các tổ
chức (nhóm xã hội) được xác định thông qua việc phân bố nguồn lực và
các quy tắc chi phối việc phân bổ nguồn lực này
Bourdieu phân biệt 3 loại vốn là: vốn kinh tế, vốn văn hoá và VXH Đối với vốn kinh tế thì đó là tiền, những thứ được đổi thành tiền hoặc có thể thay chế được, sở hữu được Về vốn văn hoá, ông phân biệt qua ba trạng thái: Hàm chứa trong bản thân từng người, được khách quan hoá qua các sản phẩm văn hoá và được thể chế hoá qua những chứng chỉ, bằng cấp Như vậy hiểu theo một nghĩa thông thường thì VXH của một cá nhân chính là mối quan hệ và danh tiếng của cá nhân đó trong xã hội và thực chất nó là mạng lưới xã hội của cá nhân đó, trong các chiều cạnh của quan
hệ cá nhân [47] Hiểu theo nghĩa này thì bất cứ một cá nhân có mạng lưới quen biết (trực tiếp hay gián tiếp ) sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tìm kiếm và qua đó khẳng định được đó khắng định vị trí/vị thế của họ trong
xã hội Các cá nhân đều có thể đầu tư cho 3 hình thức vốn này và họ sẽ có thể thu về những giá trị lợi nhuận khác nhau cho mỗi loại vốn khác nhau Tuy nhiên ông cũng lập luận rằng tất cả các loại vốn khác nhau đều bắt nguồn từ vốn kinh tế Và người ta có thế đầu tư các loại vốn này cũng giống như các kiểu đầu tư khác
Năm 1990, nhà xã hội hộc người Mỹ James Coleman đưa ra một
cách định nghĩa về VXH, ông hiểu “ VXH bao gồm những đặc trưng
trong đời sống xã hội như sau: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực (norms) và sự tin cậy trong xã hội (social trust) – là những cái giúp cho
Trang 39các thành viên có thể hành động chung với nhau một cách có hiệu quả nhằm đạt tới mục tiêu chung”
Trong cuốn sách nổi tiếng “Chơi Bowling một mình” (Bowling Alone), Robert Putnam đã đề cập đến lý thuyết VXH như là “ giá trị cốt lõi của các mạng lưới xã hội” Theo ông VXH cũng như vốn vật chất hay vốn con người, đều là những loại “vốn” có khả năng làm tăng năng suất từ những tác động tương hỗ của các mối tương tác thông qua các mạng lưới
xã hội, các quy tắc xã hội cũng như niềm tin của con người trong xã hội,
vì vậy, VXH có giá trị đối với những ai sử dụng nó.[19]
1.2.2 Đặc điểm của phụ nữ nông thôn
Phụ nữ nông thôn là những người phụ nữ sinh sống và làm việc ở nông thôn Trong cơ cấu dân số, gần 80% phụ nữ Việt Nam sống ở nông thôn Phụ
nữ nông thôn là một cộng đồng người phong phú, đa dạng gồm những dân tộc, tôn giáo, lứa tuổi, trình độ học vấn khác nhau và sinh sống ở những vùng nông thôn khác nhau Họ hoạt động ở mọi ngành nghề - kể cả những ngành nghề nặng nhọc và độc hại Theo thống kê, lao động nữ nông thôn chiếm 58,02% lực lượng lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp (riêng nông nghiệp, lao động nữ chiếm 56,29%) và họ, hiện đang sản xuất ra hơn 60% sản phẩm nông nghiệp Phụ nữ nông thôn Việt Nam là một trong hai chủ thể kinh
tế quan trọng nhất mang lại thu nhập cho các hộ gia đình
Các nghiên cứu gần đây cho thấy, phụ nữ nông thôn nước ta có một số đặc điểm sau: là lực lượng đông đảo nhất trong cơ cấu dân cư, cơ cấu lao động ở nông thôn; là nạn nhân của những hủ tục, tập quán truyền thống lạc hậu, của tệ phân biệt đối xử trọng nam, khinh nữ vẫn tồn tại thâm căn cố đế trong xã hội nông thôn; là người gánh chịu nặng nề nhất những mất mát, tai họa do hậu quả của các cuộc chiến tranh mấy chục năm qua; vừa là người sản xuất nuôi sống gia đình, vừa là người nội trợ trong gia đình, vừa là người tham gia các hoạt động quản lý, hoạt động cộng đồng; là người sinh đẻ, chăm
Trang 40sóc con cái, người già, người ốm trong gia đình; trình độ học vấn thấp, sự hiểu biết về kinh tế - xã hội hạn chế, ít có điều kiện tiếp cận và nâng cao trình
độ chuyên môn, kỹ thuật, khoa học và công nghệ; ít có điều kiện thụ hưởng các giá trị văn hóa tinh thần; bất bình đẳng với nam giới trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển kinh tế gia đình, cũng không phải là người quyết định những vấn đề quan trọng của gia đình
Lao động nữ nông thôn có một số ưu điểm: chiếm tỷ lệ cao nhất trong
cơ cấu lao động nông thôn; là dạng lao động đa năng (có thể đồng thời làm tốt
ở nhiều lĩnh vực: sản xuất, kinh doanh, nội trợ, nuôi dạy con, chăm sóc người già, người ốm, tham gia quản lý, lãnh đạo xã hội và cộng đồng ); có mặt ở mọi loại hình lao động trong đời sống xã hội nông thôn; lao động nữ vượt trội
về sự dẻo dai, bền bỉ, chăm chỉ, cần cù, kiên nhẫn; nhiều sáng tạo, năng động, khéo léo và luôn tuân thủ, phục tùng các nguyên tắc, các qui định của người
sử dụng lao động và của đặc trưng ngành nghề; phù hợp với những việc làm
ổn định có thu nhập chắc chắn, đều đặn;
Vì những lý do trên, trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH, lao động
nữ nông thôn có nhiều bất lợi không chỉ so với lao động nam giới mà cả lao động nữ ở các đô thị, các vùng công nghiệp Mặc dù, đối với lao động nữ thời gian lao động kéo dài, cường độ lao động cao, môi trường lao động nhiều ô nhiễm, môi trường văn hóa thấp kém nhưng nhìn chung thu nhập của họ thường thấp, không ổn định, bị phân biệt đối xử, chịu nhiều áp lực và thường không được bảo hiểm Hơn thế, trong điều kiện mở cửa và hội nhập, do tính chất thường phải gắn liền với gia đình của lao động nữ nông thôn nên họ đã
bỏ lỡ nhiều cơ hội và thời cơ để tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn ở các
đô thị hay các thị trường lao động quốc tế
Bên cạnh đó, lao động nữ nông thôn có một số hạn chế: Nhìn chung vóc dáng, sức mạnh, tốc độ, sức chịu đựng áp lực kém; tính cơ động, sự thích ứng của lao động nữ nông thôn không cao, do đó khó cạnh tranh trong điều