Nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn LaNâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn LaNâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn LaNâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn LaNâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn LaNâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn LaNâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn LaNâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn LaNâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn LaNâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn LaNâng cao vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CẦM VĂN KHIÊM
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CẦM VĂN KHIÊM
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã ngành: 8.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN DUY HOAN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của giáo viên hướng dẫn GS.TS Nguyễn Duy Hoan, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác
Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn này
Học viên
Cầm Văn Khiêm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu, thành quả cuối cùng là luận văn tốt nghiệp đã hoàn thành Để thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của GS.TS Nguyễn Duy Hoan cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Tôi xin chân thành cảm ơn Thường trực huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Mai Sơn; tập thể lãnh đạo và chuyên viên Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam huyện, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiện Phụ
nữ, Huyện đoàn huyện Mai Sơn; Lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQVN các xã Cò Nòi, Hát Lót, Mường Bon, Mường Chanh trên địa bàn huyện Mai Sơn đã quan tâm, tham gia đóng góp ý kiến, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô, đồng nghiệp và các anh, chị học viên để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Cầm Văn Khiêm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Các câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về nông thôn, phát triển nông thôn, XDNTM, các tổ chức CT-XH 4
1.1.2 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM 8
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về vai trò của các tổ chức xã hội trong XDNTM 14
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về phát huy vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM 17
1.2.3 Rút ra bài học đối với huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 21
Trang 6Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Khái quát đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tình hình KT-XH của địa phương 22
2.1.1 Khái quát về huyện Mai Sơn 22
2.1.2 Đặc điểm vùng nghiên cứu 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.2.1 Đánh giá vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM 24
2.2.2 Đánh giá kết quả XDNTM tại huyện Mai Sơn đến năm 2018 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 28
2.3.3 Phương pháp chuyên gia 28
2.3.4 Phương pháp phân tích 28
2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 28
2.4.1 Chỉ tiêu đánh giá vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM 28
2.4.2 Chỉ tiêu đánh giá kết quả XDNTM (5 nhóm - 19 tiêu chí) 29
2.4.3 Chỉ tiêu đánh giá mức độ hài lòng của người dân về kết quả XDNTM 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Khái quát công tác XDNTM ở huyện Mai Sơn 30
3.1.1 Công tác triển khai xây dựng nông thôn mới 30
3.1.2 Phát huy dân chủ trong XDNTM 31
3.2 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM tại huyện Mai Sơn 32
3.2.1 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong Ban chỉ đạo, Ban quản lý XDNTM 32
3.2.2 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong công tác tuyên truyền XDNTM 34
3.2.3 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong tham gia thảo luận chiến lược phát triển NTM 37
3.2.4 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc lập kế hoạch và quy hoạch XDNTM 38
Trang 73.2.5 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong phát triển kinh tế 41
3.2.6 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong huy động nguồn lực XDNTM 44
3.2.7 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong công tác giám sát XDNTM 47
3.2.8 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc nghiệm thu, quản lý sử dụng phát huy hiệu quả các công trình 48
3.2.9 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM 49
3.3 Đánh giá kết quả XDNTM tại huyện Mai Sơn đến năm 2018 51
3.3.1 Kết quả bước đầu trong thực hiện chương trình XDNTM tại huyện Mai Sơn 51
3.3.2 Tác động đến phát triển KT-XH 62
3.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình triển khai thực hiện chương trình XDNTM tại huyện Mai Sơn 65
3.4 Một số giải pháp nâng cao vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 67
3.4.1 Định hướng 67
3.4.2 Các giải pháp nâng cao vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT-XH : Chính trị - xã hội HĐND : Hội đồng nhân dân KT-XH : Kinh tế - xã hội MTTQ : Mặt trận tổ quốc UBND : Ủy ban nhân dân XDNTM : Xây dựng nông thôn mới
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình phát triển KT-XH của 4 xã vùng nghiên cứu 24 Bảng 2.2: Tổng hợp số lượng mẫu điều tra cán bộ hội viên các tổ chức
CT-XH ở mỗi xã 26 Bảng 3.1: Vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc tham gia Ban chỉ
đạo, Ban ban quản lý NTM các cấp huyện Mai Sơn 32 Bảng 3.2: Tham gia của đại diện các tổ chức CT-XH trong công tác
tuyên truyền tới người dân về XDNTM 34 Bảng 3.3: Các bước truyền thông triển khai XDNTM 37 Bảng 3.4: Mức độ tham gia các cuộc họp về NTM của các tổ chức CT-
XH tại 4 xã nghiên cứu 38 Bảng 3.5: Các tổ chức CT-XH tham gia lập kế hoạch 39 Bảng 3.6: Số lượng lớp tập huấn do các tổ chức CT-XH tổ chức
năm 2018 41 Bảng 3.7: Các đoàn viên, hội viên và người dân 04 xã tham gia tập
huấn, ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất năm 2018 42 Bảng 3.8: Vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc hỗ trợ các đoàn
viên, hội viên và người dân vốn sản xuất 43 Bảng 3.9: Các tổ chức CT-XH tham gia đóng góp kinh phí XDNTM 45 Bảng 3.10: Vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc vận động nhân
dân đóng góp đất đai XDNTM 45 Bảng 3.11: Vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc vận động người
dân góp công lao động xây dựng các công trình NTM trên địa bàn 4 xã 46
Trang 10Bảng 3.12: Kết quả cán bộ, hội viên của các tổ chức CT-XH tham gia
Ban giám sát XDNTM 47 Bảng 3.13: Công tác quản lý và sử dụng tài sản 49 Bảng 3.14: Đánh giá kết quả XDNTM trên địa bàn 04 xã 53 Bảng 3.15: Kết quả phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi qua 3
năm (2016 - 2018) 58 Bảng 3.16: Kết quả khảo sát sự hài lòng của người dân về kết quả
XDNTM trên địa bàn 04 xã 60 Bảng 3.17 Tác động của XDNTM đến thu nhập của người dân trên địa
bàn 04 xã nghiên cứu 62
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, dân số sống ở khu vực nông thôn chiếm trên 70% dân số cả nước, chính vì vậy, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng Trong hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn coi “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” như Nghị quyết Hội nghị Trung ương
7, khóa X của Đảng đã xác định Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn Đồng thời, khẳng định ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn
Để thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, ngày 14 tháng 6 năm 2009, Thủ trướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu
chí quốc gia về nông thôn mới (về sau được thay thế bằng Quyết định số
1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020) Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều
quyết định quan trọng về các cơ chế, chính sách: Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày
02 tháng 02 năm 2010 về phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 về ra phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020; Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 08 tháng 6 năm 2012 về sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
giai đoạn 2010 - 2020 (sau này được thay thế bằng Quyết định số 1600/QĐ-TTg
ngày 16 tháng 8 năm 2016 về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020) Những văn bản trên là cơ sở quan trọng để
các địa phương xây dựng và phát triển nông thôn
Trang 12Xác định XDNTM là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đóng vai trò rất quan trọng trong công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân đoàn kết, phát huy sức mạnh thực hiện thắng lợi chương trình XDNTM Trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã phối hợp phát động phong trào thi đua thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia XDNTM giai đoạn 2011 - 2020, thông qua các cuộc vận động như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với XDNTM, đô thị văn minh; “Cựu chiến binh gương mẫu chung sức đồng lòng XDNTM”; thanh niên xung kích, thanh niên tình nguyện bảo vệ môi trường nông thôn; phụ nữ với cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch” tham gia XDNTM Để thực hiện thắng lợi chương trình XDNTM trên địa bàn huyện Mai Sơn, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể CT-XH đã tham mưu cho Huyện ủy, phối hợp với chính quyền đưa nội dung, chương trình kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua XDNTM vào Chương trình công tác hàng năm, hướng dẫn cơ sở ký giao ước thi đua, xây dựng kế hoạch thực hiện, trở thành phong trào sâu rộng, huy động
cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở vào cuộc, qua đó đã tạo sự chuyển biến rõ nét về nhận thức và hành động trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân về XDNTM Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình XDNTM tại huyện Mai Sơn vẫn còn một số tồn tại: Vai trò của các tổ chức CT-XH chưa được phát huy đúng mức, hình thức tuyên truyền chậm đổi mới, nội dung chưa
đa dạng, phong phú Làm thế nào để đưa phong trào XDNTM trở thành một phong trào rộng lớn, phát huy vai trò của các tổ chức CT-XH, mỗi cộng đồng dân cư và cả
hệ thống chính trị cơ sở, phát huy tối đa nội lực và nguồn lực bên ngoài đang là vấn
đề đặt ra cho cấp ủy, chính quyền huyện Mai Sơn
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp:
“Nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của tổ chức
CT-XH trong xây dựng nông thôn mới;
Trang 13- Đánh giá vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của các tổ chức
CT-XH trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La;
- Đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của các tổ chức CT-XH trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
3 Các câu hỏi nghiên cứu
- Kết quả XDNTM tại huyện Mai Sơn so sánh với mục tiêu đã đề ra?
- Mức độ hài lòng của người dân về kết quả XDNTM?
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong thực hiện chương trình XDNTM được thể hiện như thế nào?
- Những kết quả đã đạt được trong việc tham gia XDNTM của các tổ chức CT-XH?
- Rút ra bài học kinh nghiệm gì nhằm phát huy vai trò của các tổ chức
CT-XH trong thực hiện chương trình XDNTM?
- Giải pháp cụ thể nào nhằm không ngừng nâng cao vai trò của các tổ chức
CT-XH trong thực hiện chương trình XDNTM đạt hiệu quả thiết thực?
4 Đối tượng nghiên cứu
- Các tổ chức CT-XH gồm: Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên trong huyện
- Một số tổ chức, cá nhân, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến các tổ chức
CT-XH trên địa bàn huyện Mai Sơn
5 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn 2015 - 2018; điều tra được tiến hành từ tháng 06/2018 đến tháng 12/2018 Các giải pháp đề xuất đến năm 2025
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu và đánh giá quá trình triển khai thực hiện, những kết quả đạt được trong thực hiện chương trình XDNTM, đặc biệt là vai trò các tổ chức CT-XH, những khó khăn và hạn chế trong việc phát huy vai trò của các tổ chức CT-XH, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về nông thôn, phát triển nông thôn, XDNTM, các
tổ chức CT-XH
1.1.1.1 Khái niệm về nông thôn và phát triển nông thôn
Theo GS Hoàng Việt: “Nông thôn là vùng sinh sống, làm việc của cộng đồng chủ yếu là nông dân, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, là nơi có mật độ dân
cư thấp, môi trường chủ yếu là thiên nhiên, cơ sở hạ tầng kém phát triển, tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp” Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở
là UBND xã
Phát triển nông thôn là phát triển toàn diện các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa
- xã hội, thu hút mọi người dân tham gia nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc
sống của người dân nông thôn
1.1.1.2 Khái niệm về XDNTM
a Mô hình nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Trung ương, NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng KT-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Với tinh thần đó, NTM có 5 tiêu chí cơ bản: Thứ nhất là nông thôn có làng
xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao
Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm là xã hội nông thôn
được quản lý tốt và dân chủ
Trang 15Để xây dựng nông thôn với 5 nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 14 tháng 6 năm 2009 ban hành Bộ tiêu chí
quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí (đến nay được thay thế bằng Quyết định số
1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016 - 2020)
b Đặc trưng của NTM
NTM giai đoạn 2010 - 2020 có các đặc trưng sau:
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy
- An ninh tốt, quản lý dân chủ
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao
c Vai trò của NTM trong phát triển KT-XH
Về kinh tế, Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường và
giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, cơ sở hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng sản xuất, giao lưu buôn bán, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
- Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, kích thích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị
- Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến
bộ khoa học - công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất, kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn
- Sản xuất hàng hóa với chất lượng sản phẩm mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng nhiều lao động vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu
Trang 16Về chính trị, Phát huy dân chủ với tinh thần tôn trọng pháp luật, gắn lệ làng,
hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, phát huy tính tự chủ của làng xã
Phát huy tối đa Quy chế dân chủ cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào XDNTM
Về văn hóa - xã hội, Tăng cường dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò tự chủ
trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
Về con người, Xây dựng nhân vật trung tâm của mô hình NTM, đó là người
nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có; là người nông dân kết tinh các tư cách công dân, thể nhân, dân của làng, người con của dòng họ, gia đình
Có kế hoạch, chương trình, lộ trình xây dựng người nông dân nông thôn thành người nông dân sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, thành nhân vật trung tâm của mô hình NTM, người quyết định thành công của mọi cải cách ở nông thôn
Người nông dân và các cộng đồng nông thôn là trung tâm của mọi chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn Đưa nông dân vào sản xuất hàng hóa, doanh nhân hóa nông dân, doanh nghiệp hóa các cộng đồng dân cư, thị trường hóa nông thôn
Về môi trường, Môi trường sinh thái phải được bảo tồn, củng cố và bảo vệ
Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
Các nội dung trên trong cấu trúc vai trò mô hình NTM có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, kích thích tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách
1.1.1.3 Khái niệm các tổ chức CT-XH
Trong cấu trúc của hệ thống CT-XH Việt Nam hiện nay bao gồm Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể: Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh, Liên đoàn Lao động
Trang 17Các tổ chức CT-XH thống nhất giữa hai mặt chính trị và xã hội Điều này thể hiện sự tập hợp đoàn kết các lực lượng quần chúng đông đảo để thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Phương thức tổ chức và hoạt động của các tổ chức này tuy khác với tổ chức Đảng và các cơ quan nhà nước nhưng đều gắn chặt với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao phó Các tổ chức CT-XH là hình thức tổ chức động viên, triển khai nguồn lực con người cho các mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam do Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý Cùng với Đảng, Nhà nước, các tổ chức CT-XH hợp thành hệ thống chính trị Việt Nam, trong đó Đảng giữ vai trò và trọng trách là người lãnh đạo trực tiếp Trong hệ thống CT-XH Việt Nam, với tính chất chính trị
và tính chất xã hội rộng lớn, các tổ chức CT-XH đóng vai trò là người tổ chức, vận động đông đảo quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ đặt ra đối với cách mạng Việt Nam thông qua những hình thức phù hợp
Trong phạm vi luận văn này nghiên cứu vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM gồm: Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên hiệp tự nguyện của các đoàn thể
nhân dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo; là tổ chức đại diện cho ý chí đại đoàn kết và nguyện vọng chân chính của nhân dân; nơi tập hợp trí tuệ của con người Việt Nam yêu nước, nơi thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên, phối hợp với chính quyền thực hiện nền dân chủ, chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân; giám sát, bảo vệ, tham gia xây dựng Nhà nước, quản lí xã hội
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức của thanh niên Việt
Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đoàn phối hợp với các cơ quan nhà nước, các đoàn thể và
tổ chức xã hội, các tập thể lao động và gia đình chăm lo giáo dục, đào tạo và bảo vệ thanh thiếu nhi; tổ chức cho đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia vào việc quản
lý nhà nước và xã hội
Trang 18Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ
nữ Việt Nam Hội tham gia tích cực trong các hoạt động vì hoà bình, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới Mục đích của Hội là hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
và chính đáng của phụ nữ Từ những tổ chức tiền thân cho đến Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Hội đoàn kết các tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất, trung
hậu, đảm đang, tài năng, trí tuệ góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hội nông dân Việt Nam có chức năng tập hợp, vận động, giáo dục hội viên nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; chăm lo bảo vệ các quyền và lợi ích của nông dân Việt Nam
Hội Cựu chiến binh Việt Nam là tổ chức đoàn thể thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một tổ chức trong
hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoạt động theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của Hội Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, tổ chức, động viên các thế hệ cựu chiến binh giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của cựu chiến binh, chăm lo giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc sống, gắn
bó tình bạn chiến đấu
1.1.2 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM
XDNTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Xác định rõ điều đó, các tổ chức CT-XH đã phát huy vai trò của mình trong việc XDNTM, là thành viên trong Ban chỉ đạo tích cực tham gia đóng góp ý kiến xây dựng đề án, lập quy hoạch, xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; Tuyên truyền vận
Trang 19động nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc XDNTM, tích cực tham gia phát triển kinh tế, đóng góp nguồn lực XDNTM, giám sát triển khai thực hiện chương trình, nghiệm thu đánh giá chất lượng và quản lý sử dụng các công trình
1.1.2.1 Vai trò của Mặt trận Tổ quốc
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM và các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức thành viên tuyên truyền, phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện trong các tầng lớp nhân dân về các chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước về XDNTM; phát huy cao độ tinh thần thi đua lao động sáng tạo, vai trò làm chủ trong mỗi tổ chức, mỗi cộng đồng dân cư, phát huy sức mạnh “ đẩy thuyền” là nhân dân, đưa phong trào đi lên cũng là nhân dân Ðể nhân dân tham gia làm tốt chương trình XDNTM, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xây dựng Ðề
án 01 về nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, với các tiêu chí XDNTM một cách toàn diện được thể hiện cụ thể, sâu sắc trong các nội dung xây dựng cuộc sống ở khu dân cư theo tinh thần Chỉ thị số 1869/CT-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Trên cơ sở đó, điểm tựa của phong trào bắt nguồn từ cộng đồng dân
cư, vận động các tầng lớp nhân dân hiểu rõ chính sách, làm đúng chính sách, đồng lòng chung sức đóng góp vào sự thành công chủ trương XDNTM do Ðảng, Chính phủ đề ra trong giai đoạn từ nay đến năm 2020
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân hướng dẫn, tổ chức cho nhân dân phát huy tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội trong việc quy hoạch, thực hiện các chương trình, dự án, xây dựng cơ sở hạ tầng; kịp thời phản ánh những ý kiến, kiến nghị của nhân dân, đề xuất với các cấp, các ngành xây dựng cơ chế, chính sách, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương, cơ sở tổ chức triển khai, thực hiện có hiệu quả chương trình này
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa tổ chức chương trình phối hợp hành động, vừa cổ vũ sự sáng tạo các hình thức thi đua của các tổ chức thành viên trong Mặt trận, của các tổ chức và cá nhân một cách rộng rãi trong toàn xã hội để huy động và
tổ chức thực hiện phong trào này
Trang 201.1.2.2 Vai trò của Hội Nông dân
Để góp phần giúp các địa phương sớm hoàn thành các tiêu chí XDNTM thì việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên nông dân không chỉ được xác định là nhiệm vụ mà còn là giải pháp trọng tâm của các cấp Hội Nông dân Tập trung
tổ chức nhiều hoạt động hỗ trợ nông dân như tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ vốn, vật tư nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phong trào Phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT giải ngân hàng trăm tỷ đồng cho nông dân vay để giảm nghèo và phát triển sản xuất bền vững Các cấp hội đã vận động hội viên nông dân dồn điền, đổi thửa để hình thành “Cánh đồng mẫu lớn”, các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh tập trung; hướng dẫn liên kết xây dựng tổ hợp tác, chi hội ngành nghề để hỗ trợ nhau trong sản xuất Các cấp hội đã vận động nông dân đoàn kết tương trợ, giúp đỡ nhau hàng chục tỷ đồng và hàng trăm nghìn ngày công để phát triển sản xuất Cùng với đó công tác dạy nghề, tư vấn giới
thiệu việc làm cho nông dân được quan tâm đẩy mạnh
Ngoài ra, trong XDNTM, các cấp hội đã vận động gia đình hội viên tự nguyện hiến đất, đóng góp tiền mặt, nguyên vật liệu, tài sản trên đất và ngày công lao động để
thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM
Hiện nay, các cấp Hội Nông dân tiếp tục tổ chức tuyên truyền để người nông dân xác định được vai trò chủ thể trong quá trình tham gia XDNTM và khơi dậy trong nông dân tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần sáng tạo vươn lên trong lao động, đồng thời phát động hội viên nông dân tích cực thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, xây dựng tổ
chức hội ngày càng vững mạnh
1.1.2.3 Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ
Thực hiện chương trình XDNTM các cấp hội Phụ nữ đã chủ động và tích cực trong công tác chỉ đạo, điều hành thông qua việc xây dựng kế hoạch, chương trình hành động hàng năm Đặc biệt là công tác tuyên truyền, phổ biến về chương trình XDNTM Thông qua hoạt động tuyên truyền đã góp phần nâng cao nhận thức, tinh thần trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có nhiều cán bộ, hội viên phụ nữ trở thành lực lượng nòng cốt tham gia XDNTM, nhiều
Trang 21mô hình hay, cách làm tốt do cán bộ phụ nữ thực hiện, nhiều tấm gương điển hình trong việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tích cực trong chuyển đổi ruộng đất đưa cơ giới hóa vào sản xuất, tự nguyện hiến đất, vườn, góp tiền, ngày công lao động phục vụ XDNTM, góp phần thay đổi bộ
mặt KT-XH ở vùng nông thôn trong thời gian qua
1.1.2.4 Vai trò của Hội Cựu chiến binh
Phát huy bản chất truyền thống anh Bộ đội cụ Hồ cán bộ, hội viên Hội Cựu chiến binh luôn nêu cao tính tiền phong gương mẫu, tham gia đóng góp tích cực XDNTM ở địa phương, thường xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên về ý nghĩa, mục đích chương trình mục tiêu Quốc gia về XDNTM Gắn phong trào thi đua "Cựu chiến binh gương mẫu" với phong trào thi đua cả nước chung sức XDNTM Nhờ vậy nhiều cán bộ, hội viên đã tham gia đóng góp vào quy hoạch XDNTM của địa phương, đặc biệt đã tích cực nêu gương sáng, hiến đất, hiến công để giải phóng mặt bằng, làm đường giao thông
nông thôn và các công trình phúc lợi công cộng ở địa phương
1.1.2.5 Vai trò của Đoàn thanh niên
Trong nhiều năm qua, đoàn thanh niên các cấp đã có nhiều phong trào hoạt động sôi nổi, thiết thực và hiệu quả Đặc biệt nhiều phong trào xung kích đã hướng về nông thôn khơi dậy tinh thần xung kích, vượt khó của thanh niên nông thôn góp phần chung tay XDNTM Thông qua các mô hình, hình thức hoạt động như; đẩy mạnh phong trào "4 đồng hành với thanh niên trên con đường lập thân lập nghiệp", "5 xung kích phát triển KT-XH và Bảo vệ Tổ quốc" đoàn thanh niên đã cùng các cấp, các ngành hỗ trợ thanh niên nông thôn trong các hoạt động như; chuyển giao kiến thức, kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt; hỗ trợ vốn vay để phát triển sản xuất, kinh doanh; phối hợp đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động trẻ Chính điều này đã từng bước hình thành lớp thanh niên nông thôn có kiến thức, tay nghề, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng trên chính mảnh đất quê hương mình Chính họ là lực lượng tiên phong trong việc khai thác tiềm năng, lợi thế của quê hương để phát triển kinh tế góp phần không nhỏ giải
quyết việc làm ở địa phương
Trang 221.1.2.6 Sự cần thiết nâng cao vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM
Những năm qua, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM, các cấp, các ngành, các tổ chức CT-XH đã tích cực tham gia tổ chức, triển khai thực hiện chương trình bằng nhiều hình thức, cách làm Mặc dù đã được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự tham gia nhiệt tình của các tổ chức CT-XH trong xã hội, nhưng vai trò của các tổ chức CT-XH vẫn chưa thể hiện được nhiều, chưa thật sự
đạt hiệu quả như mong muốn
Để XDNTM đi vào thực chất thì phải thực hiện tốt quy chế dân chủ "Dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng lợi" Trong đó vai trò của các tổ chức
CT-XH được thực hiện trong các nội dung làm tăng tính dân chủ của người dân:
- Dân biết có nghĩa là dân được biết rõ về NTM là gì thông qua tuyên
truyền, vận động của chính quyền và các tổ chức đoàn thể Nội dung NTM với 19 tiêu chí gì? Dân sẽ đóng vai trò thế nào để XDNTM? Nhà nước sẽ hỗ trợ như thế
nào? Cách làm cụ thể bắt đầu từ đâu? Ai sẽ hưởng lợi từ chương trình XDNTM?
- Dân bàn là dân có cơ hội được bàn bạc công việc của phát triển cộng
đồng, làm những gì cho NTM? Công trình trong tiêu chí nào được thực hiện trước mà đa số dân đồng tình? Cách làm từng công trình, từng tiêu chí ra sao? Cộng đồng địa phương tự đề ra những giải pháp nào là phù hợp với trình độ, nguồn lực của dân? Mỗi người dân phải có vai trò trách nhiệm gì? Nhà nước sẽ
hỗ trợ những gì? Các tổ chức CT-XH là các tác nhân tổ chức cho các thành
viên bàn bạc, ra quyết định
- Dân làm có nghĩa là dân tham gia hội họp bàn về ý tưởng, giải pháp thực
hiện tiêu chí? Tham gia thực hiện các công trình với tiến độ mà cộng đồng đề ra? Thực hiện công việc duy tu, sửa chữa các công trình do cộng đồng đã tham gia làm như thế nào? Các tổ chức CT-XH đứng ra vận động các hội viên tham gia, triển
khai làm các công trình, dự án
- Dân kiểm tra là ban giám sát cộng đồng gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc,
các tổ chức CT-XH, người dân theo dõi tiến độ thi công, thực hiện công trình, giám sát khối lượng và chất lượng công trình, dự toán thực tế, nghiệm thu công trình…
kiểm tra là bước tham gia cao nhất của người dân trong cộng đồng
Trang 23Các tổ chức CT-XH cử các thành viên tham gia kiểm tra, giám sát và có kiến
nghị với chính quyền để thực hiện tốt các nội dung
- Dân hưởng lợi chính là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên cần
chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng,… Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập Các tổ chức CT-XH tham gia quản lý , khai thác, vận hành các
công trình sau khi hoàn thành
Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm làm thay đổi bộ mặt của nông thôn cho phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Để thực hiện thành công chủ trương đó thì các tổ chức CT-XH đóng vai trò rất quan trọng Chương trình XDNTM với 19 tiêu chí sẽ không thực hiện được nếu không có sự tham gia đóng góp của các tổ chức đoàn thể Công cuộc XDNTM khó khăn, lâu dài đòi hỏi sự đóng góp rất lớn của các tổ chức đoàn thể Các tổ chức CT-XH cần nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình
để phấn đấu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa "Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh"
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM
- Về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về XDNTM luôn đề cao vai trò trách nhiệm và khuyến khích các tổ chức CT-XH tham gia các hoạt động XDNTM
- Về cơ chế, chính sách có tác động và ảnh hưởng đến trách nhiệm của các đoàn thể trong việc xây dựng kế hoạch và huy động nguồn lực trong XDNTM
- Về trình độ, năng lực của một số cán bộ, hội viên các đoàn thể vẫn còn hạn chế, làm giảm vai trò, trách nhiệm trong XDNTM;
Trang 24- Trình độ dân trí ở một số nơi còn thấp dẫn đến công tác tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người dân nông thôn gặp nhiều khó khăn Các tổ chức CT-XH có vai trò cùng vào cuộc để tập huấn kiến thức nâng cao trình độ cho người dân
- Do xuất phát điểm của vùng nông thôn còn thấp, cơ sở hạ tầng một số nơi còn thiếu, chưa được đầu tư đồng bộ, cơ cấu kinh tế chậm đổi mới, phong tục tập quán sinh sống lạc hậu Người dân còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại, sống cam chịu; đây là đặc tính khó thay đổi trong tư duy của người dân, họ trông chờ nguồn hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức khác Các tổ chức CT-XH cần có trách nhiệm tuyên truyền, vận động làm cho dân hiểu về quyền lợi trách nhiệm của mình; tổ chức để các hội viên, đoàn viên chủ động tham gia, đóng góp ý kiến, tiền của, công sức và chủ động kiểm tra giám sát, xây dựng các phương án phát triển kinh tế - xã hội
có khoảng 20 triệu xí nghiệp Hương Trấn, với số lao động là 130 triệu người
Từ sau khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, việc phát triển Xí nghiệp Hương Trấn được coi là con đường tất yếu vừa nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống nông dân, qua đó từng bước hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa nông thôn và nhất thể hóa nông thôn - thành thị Với 75% dân số sống ở nông thôn (hơn 900 triệu người/1,2 tỷ người) thì sự phát triển của xí nghiệp Hương Trấn không những có thể thu hút được lượng lớn sức lao động dư thừa ở nông thôn, mà còn phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn
Trang 25Là một loại hình xí nghiệp kinh tế do nông dân tự nguyện thành lập ngay tại quê hương mình trên cơ sở sử dụng nguồn tài nguyên, lao động và các nguồn lực kinh tế khác dưới sự quản lý của chính quyền các cấp, sự lãnh đạo của Đảng và quan tâm giúp đỡ của Nhà nước
Là một hình thức mới của công nghiệp hóa nông thôn, đã đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hóa, giảm chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn Do vậy, Trung Quốc rất chú ý phát triển nông nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp là chính và
lấy xí nghiệp Hương Trấn làm trụ cột để phát triển nông nghiệp và nông thôn Năm
2007, Xí nghiệp Hương Trấn đã đóng góp cho nền kinh tế Trung Quốc 6.962 tỷ NDT, chiếm 1/3 tăng trưởng GDP, tăng 332 lần so với giá trị tạo ra trong 30 năm cải cách mở cửa Đây chính là mô hình đặc biệt của Trung Quốc và nó đã được nhân rộng ra nhiều vùng ở nông thôn, tạo nên sức mạnh kinh tế to lớn, giải quyết những vấn đề xã hội gay cấn và mang ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc
1.2.1.2 Hàn Quốc
Theo bài đăng trên Tạp chí cộng sản (09/02/2012) [16] phân tích về kinh nghiệp XDNTM của Hàn Quốc, cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Phong trào Làng mới ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó
và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào làng mới và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân
Trang 26Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước
và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào
Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết, Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông
thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật
tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi làng
335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào NTM, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án
Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ sản
xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định
nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào làng mới là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo
Trang 27quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội
đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã thiết
lập lại các hợp tác xã kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộ hợp tác xã
do dân bầu chọn Phong trào làng mới là bước ngoặt đối với sự phát triển của hợp tác
xã hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Trong vòng 10 năm, doanh thu bình quân của 1 hợp tác xã tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won
Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn
dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm 1970, phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp nước, và đây được coi là một kỳ tích của phong trào SU
Phong trào làng mới của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng NTM ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành
xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào làng mới, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về phát huy vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM
1.2.2.1 Hà Tĩnh
Theo Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh (12/3/2015) [2]: về
chuyên mục XDNTM: Năm 2011, xã Khánh Lộc là một trong những xã được tỉnh
Trang 28Hà Tĩnh chọn làm xã điểm XDNTM Khi mới bắt đầu triển khai thực hiện chương trình XDNTM, xã chỉ đạt 8/19 tiêu chí, trong đó 8 tiêu chí này vẫn chưa thực sự bền vững Trong 4 năm, nông nghiệp, nông thôn ở đây đã được đầu tư lớn, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, phát triển thêm nhiều ngành nghề và các mô hình sản xuất hàng hóa hiệu quả, nhờ đó tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho nhiều lao động Nhân dân xã Khánh Lộc đã đóng góp nhiều ngày công lao động, đất đai, tiền của để thực hiện công cuộc XDNTM: hiến 49.700 m2 đất, giải tỏa 20.313m hành lang giao thông, trong đó có 8.190 m tường rào, đóng góp xây dựng, nâng cấp 34,3 km đường bê tông, 25,1 km kênh mương, nâng cấp trụ sở làm việc của
xã, các trường học, Trạm y tế, 8 nhà văn hóa thôn và nhiều công trình phúc lợi khác với tổng giá trị gần 100 tỷ đồng Với sự năng động của người dân, toàn xã đã xây dựng được 30 tổ liên kết sản xuất, 122 mô hình phát triển kinh tế có doanh thu
từ 50 triệu đến gần 01 tỷ đồng/năm; thành lập 4 hợp tác xã (kinh doanh tổng hợp; môi trường; chăn nuôi; sản xuất nấm, mây tre đan)
Thông qua thực hiện các phong trào thi đua yêu nước gắn với XDNTM, Mặt trận Tổ quốc xã phối hợp với các tổ chức thành viên đã làm tốt công tác tuyên truyền, triển khai thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; phối hợp tạo nguồn tín dụng cho hàng ngàn lượt hội viên, đoàn viên, nhân dân vay để phát triển sản xuất kinh doanh; phối hợp mở nhiều lớp tập huấn phổ biến kiến thức khoa học - công nghệ chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phòng trừ sâu bệnh, phổ biến kinh nghiệm sản xuất kinh doanh Các hộ nông dân đã tự giác chuyển đổi tập quán canh tác lúa từ sản xuất vụ Đông - Xuân với các loại giống dài ngày sang sản xuất 100% diện tích vụ Xuân với các loại giống ngắn ngày cho năng suất và hiệu quả cao Nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư, mua sắm các loại máy, nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp Toàn xã hiện có 65 máy cày, 4 máy gặt đập liên hợp, 45 máy tuốt lúa, 20 xe ô tô các loại
Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc xã phối hợp với các tổ chức thành viên tổ chức đăng ký thi đua xây dựng khu dân cư văn hóa, gia đình văn hóa Với sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu của cán bộ và nhân dân, Khánh Lộc đã có 7/9 thôn văn hóa; 9/9 thôn có nhà văn hóa, có sân chơi thể thao và nơi vui chơi của cộng đồng,
Trang 291.189/1.320 gia đình văn hóa Song song với đó, Mặt trận đẩy mạnh thực hiện các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện, hỗ trợ người nghèo Từ năm 2011 đến
2014 vận động được 124 triệu đồng xây dựng Quỹ tình nghĩa, phối hợp xây dựng 19 nhà tình nghĩa, xây dựng và bàn giao 19 nhà ở cho hộ nghèo, xây dựng 22 nhà ở cho các đối tượng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; tặng quà cho người có công, người nghèo trong các dịp lễ, tết; huy động nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, thúc đẩy phong trào khuyến học, khuyến tài phát triển sâu rộng đến từng gia đình, dòng họ, chi đoàn, chi hội; phối hợp làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, tổ chức truyền thông góp phần hạ tỷ lệ phát triển dân số
tự nhiên từ 1,2% năm 2011 xuống còn 0,8% năm 2014; tuyên truyền, vận động bảo
vệ môi trường trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt, thành lập hợp tác xã môi trường hoạt động có hiệu quả Các chi hội đoàn thể đ ăng ký tự quản 25 tuyến đường xanh - sạch - đẹp, vận động 100% hộ xây dựng các công trình vệ sinh đạt chuẩn
Kết quả, xã Khánh Lộc, huyện Can Lộc vươn lên mạnh mẽ về mọi mặt: Sản xuất phát triển; từ năm 2011 đến năm 2014, thu nhập bình quân từ 11 triệu đồng/người tăng lên 23,1 triệu đồng/người, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 18,7% xuống còn 2,7%; nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn tăng mạnh; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy; hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện; an ninh trật tự được đảm bảo Đến cuối năm 2014 xã đã về đích XDNTM Có được kết quả đó là nhờ sự nỗ lực, quyết tâm, đoàn kết, đồng lòng của cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân, trong đó nổi bật lên vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Khánh Lộc
1.2.2.2 Vĩnh Phúc
Theo Cổng thông tin điện tử Tỉnh đoàn Vĩnh phúc (10/3/2015) [1]: Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh đi đầu tập trung triển khai XDNTM từ rất sớm Đến tháng 11/2011 tất cả 112/112 xã trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã lập xong quy hoạch
và đề án XDNTM được UBND cấp huyện phê duyệt Sau 3 năm thực hiện Chương trình XDNTM, Vĩnh Phúc đã huy động mọi nguồn lực, đầu tư trên 10.929,514 tỷ đồng, vận động nhân dân đóng góp 483.676m2 đất và góp 94.479 ngày công lao động xây dựng các công trình nông thôn Đến hết năm 2013, có 20 xã đã đạt chuẩn
Trang 30NTM, 45 xã đạt 10 - 17 tiêu chí, 47 xã đạt 5 - 9 tiêu chí, là tỉnh đứng thứ nhất cả nước về tỷ lệ tiêu chí và đứng thứ 2 về số xã đạt chuẩn
Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM tỉnh Vĩnh Phúc đạt được những kết quả trên có sự tham gia tích cực của tổ chức Đoàn, đã phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ chung tay XDNTM Trong 3 năm triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM, toàn tỉnh đã có hơn 600 công trình, phần việc thanh niên đăng ký, trồng mới 120.000 cây xanh, tu bổ được hơn 200 km đường giao
thông với tổng số ngày công 1.987, giá trị gần 230 triệu đồng; vận động các hộ
thanh niên hiến đất với diện tích đất là 17.224 m2 ; tổ chức lắp gần 400 tấm bê tông cho trên 1000 m cống thoát nước; nạo vét và khơi thông dòng chảy được hơn 35 km dòng sông, kênh mương nội đồng, dọn vệ sinh 500m3 rác thải Phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức trên 30 lớp tập huấn về khoa học kỹ thuật và pháp luật cho đoàn viên thanh niên tại các huyện, thị, thành Đoàn đã thu hút hơn 1.400 người tham gia Dư nợ vốn vay ủy thác của ngân hàng chính sách xã hội là 182,145
tỷ đồng trong đó tiêu biểu là huyện Đoàn Yên Lạc có 46 tổ tiết kiệm vay vốn với dư
nợ 35 tỷ 700 triệu đồng, cả nhiệm kỳ có trên 150 dự án đã và đang vay vốn quỹ phát triển Tài năng trẻ tỉnh Vĩnh Phúc với mức vay 50 triệu đồng/dự án; nguồn vốn vay
từ quỹ Quốc gia về việc làm kênh trung ương là trên 2,8 tỷ đồng
Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn triển khai công trình thanh niên - xây dựng nhà văn hóa thôn tại 20 xã điểm XDNTM của tỉnh bằng các hoạt động thiết thực như: phối hợp với Hội Doanh nghiệp trẻ - Hội Sinh viên tỉnh Vĩnh Phúc và các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh tổ chức khởi công xây dựng 7 nhà văn hóa thôn với trị giá hơn 700 triệu đồng 9/9 các huyện, thị, thành Đoàn triển khai lắp đặt ngọn đèn thắp sáng đường làng với tổng chiều dài 334,4 km Đặc biệt, trong năm 2014, nhằm
cụ thể hóa phần việc thanh niên tham gia XDNTM, BTV Tỉnh Đoàn đã vận động ủng
hộ kinh phí xây dựng 20 sân thể thao tại các nhà văn hóa thôn thuộc huyện Sông Lô, Yên Lạc, Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc với tổng trị giá gần 200.000.000 đồng
Trong 3 năm, Tỉnh Đoàn đã triển khai phát 31.512 cuốn Bản tin sinh hoạt chi đoàn; 23.560 đĩa CD, 60.420 tờ rơi; 14.575 sổ tay hỏi đáp về nội dung thực hiện các tiêu chí XDNTM cho đoàn viên thanh niên 112 xã trên địa bàn tỉnh, tổ chức cuộc
Trang 31thi tìm hiểu về NTM trên Website Tỉnh Đoàn Tổ chức tuyên truyền vận động các
hộ gia đình thanh niên và người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nâng cao thu nhập, tham gia vào các Tổ hợp tác sản xuất, tự bỏ kinh phí để xây dựng đường ngõ xóm sạch đẹp không lầy lội vào mùa mưa, bảo vệ môi trường, tham gia mua BHYT tự nguyện… Nhờ công tác tuyên truyền của tổ chức Đoàn đã làm chuyển biến nhận thức, thu hút đông đảo đoàn viên thanh niên và nhân dân đồng tình ủng
hộ và tích cực tham gia XDNTM
1.2.3 Rút ra bài học đối với huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Các tổ chức đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền có tác động tích cực đối với hội viên, đoàn viên và người dân phấn khởi tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,
sự điều hành của Chính quyền hăng hái thi đua lao động sản xuất, thực hiện hiệu quả phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, chung tay giữ gìn vệ sinh môi trường, nông dân mạnh dạn áp dụng những tiến bộ khoa học
kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nâng cao đời sống thu nhập của người dân
Sự quan tâm lãnh đạo sâu sát của các cấp ủy đảng, sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền, sự tham gia tích cực của các tổ chức đoàn thể vận động cán bộ, hội viên, đoàn viên và nhân dân chung tay góp sức XDNTM Công tác vận động đóng góp xây dựng đường làng ngõ xóm, cơ sở hạ tầng được thực hiện bằng nhiều hình thức đa dạng phong phú được đông đảo cán bộ, hội viên, đoàn viên
và các tầng lớp nhân dân đồng tình hưởng ứng, nhiều hộ tự nguyện hiến đất, phá
dỡ tường rào công trình phụ, góp tiền, ngày công lao động để mở rộng đường giao thông, xây công trình phúc lợi Công tác dân vận của các tổ chức đoàn thể ở địa phương thực sự góp pần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương, XDNTM mang lại kết quả thiết thực
Trang 32Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Khái quát đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tình hình KT-XH của địa phương
2.1.1 Khái quát về huyện Mai Sơn
Mai Sơn là huyện nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Sơn La; phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, thành phố Sơn La và Mường La; phía Đông giáp huyện Bắc Yên, huyện Yên Châu; phía Tây giáp huyện Sông Mã; phía Nam giáp huyện Xiềng Khọ, tỉnh Hủa Phăn, Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với đường biên giới dài 6,4 km Thị trấn Hát Lót và trung tâm kinh tế - chính trị của huyện Mai Sơn Từ thành phố Sơn La đến trung tâm huyện theo đường Quốc lộ 6, dài khoảng 30 km
Từ Hà Nội đến huyện Mai Sơn có hai tuyến đường: Tuyến Quốc lộ 6 dài khoảng
270 km, hướng về Hà Nội qua các huyện Yên Châu, Mộc Châu, Mai Châu, Hòa Bình ; tuyến đường 113A (tức đường 13) đi qua huyện Bắc Yên, Phù Yên sang
tỉnh Yên Bái về Hà Nội dài khoảng 370 km Huyện có 22 đơn vị hành chính (21 xã
và 1 thị trấn) với tổng số 458 bản, tiểu khu (trong đó có 11 bản Tái định cư dự án Thủy điện Sơn La mới được thành lập)
Tổng diện tích tự nhiên 1.428 km2, trong đó: nhóm đất nông nghiệp:
4,72%); nguồn tài nguyên đất đai chưa được khai thác sử dụng lớn (gần 23%), khí
hậu thuận lợi, độ phì tự nhiên khá (chủ yếu là đất Feralit mùn đỏ vàng trên đá biến
chất (FHj) chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng quỹ đất với 43,50%, thích hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày) thuận lợi cho phát
triển sản xuất nông lâm nghiệp đa dạng mang tính sản xuất hàng hoá lớn với nhiều loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao như: Bò thịt, cà phê, mía, cây ăn quả
Dân số trên 160 nghìn người (dân số khu vực thành thị chiếm 8,4%); có 6 dân tộc chủ yếu cùng cộng cư sinh sống (dân tộc Thái chiếm 55,62%, dân tộc Kinh
30,53%, dân tộc Mông 7,42%, dân tộc Sinh Mun 3,23%, dân tộc Khơ Mú 2,49%; Dân tộc Mường 0,65%) Số người trong độ tuổi lao động của huyện khoảng
102.196 người (chiếm 63% dân số), trong đó: Lao động ở khu vực nông thôn
chiếm trên 89%; lao động ở khu vực thị trấn, thị tứ chiếm 9 - 10% Về cơ cấu lao
Trang 33động: Lao động trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp 77%; lao động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng 5,45%; lao động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, ngành nghề khác 17,55%
Huyện Mai Sơn có Quốc lộ 6 và Quốc lộ 4G đi qua, có sân bay Nà Sản,
có cảng Tà Hộc trên sông Đà hình thành các vùng kinh tế đặc trưng (vùng kinh tế
dọc Quốc lộ 6; vùng kinh tế dọc Quốc lộ 4G; vùng kinh tế hồ Sông Đà; kinh tế vùng cao, biên giới); hệ thống giao thông đường bộ, đường hàng không và đường thủy
khá thuận lợi tạo điều kiện cho huyện trong việc giao lưu, thông thương trao đổi hàng hoá, thông tin kỹ thuật, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế, tư nhân trong và ngoài huyện
Trong 5 năm thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH (2011- 2015), huyện Mai Sơn đã hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu KT-XH Kinh tế tiếp tục phát triển; cơ cấu kinh tế có bước chuyển biến tích cực Các nguồn lực trong huyện được chú trọng phát huy, việc huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển đạt kết quả khá; thu ngân sách vượt dự toán, đảm bảo đáp ứng nhu cầu chi Một số lĩnh vực xã hội có bước chuyển biến tích cực nhất là xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm; đời sống của nhân dân được cải thiện và nâng cao Quốc phòng an ninh được củng cố; trật tự
an toàn xã hội được duy trì, biên giới chủ quyền quốc gia được giữ vững Các hoạt động đối ngoại được tăng cường và mở rộng Với đặc thù là huyện miền núi, sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu, tỷ trọng nông - lâm nghiệp giảm từ 32,3% (năm 2010) xuống 30,1% (năm 2015); tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 33,5% (năm 2010) lên 35,4% (năm 2015); tỷ trọng dịch vụ - du lịch tăng từ 34,2% (năm 2010) lên 34,5% (năm 2015) Tổng giá trị sản xuất giai đoạn (2011-2015) đạt 35.225 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người năm 2015 khoảng 25,6 triệu đồng tăng 11,0 triệu đồng so với năm 2010
2.1.2 Đặc điểm vùng nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, tác giả chọn nghiên cứu trên địa bàn 04 xã
thuộc huyện Mai Sơn: xã Cò Nòi, xã Hát Lót, xã Mường Bon, xã Mường Chanh (là
các xã trong lộ trình đạt chuẩn nông thôn giai đoạn 2015 - 2020 theo Nghị quyết số 97/NQ-HĐND ngày 25/12/2015 của HĐND huyện về Chương trình XDNTM trên địa bàn huyện Mai Sơn đến năm 2020)
Trang 34Bảng 2.1: Tình hình phát triển KT-XH của 4 xã vùng nghiên cứu
Nòi
Xã Hát Lót
Xã Mường Bon
Xã Mường Chanh
Tổng diện tích tự nhiên Ha 9.435 5.583,61 3.944 2.911 Dân số Người 16.700 9.973 6.739 5.324
Tỷ lệ hộ nghèo % 4,84 3,57 5,6 11,58 Tổng giá trị sản xuất đồng Tỷ 613,149 310 197,4 134,7 Trong những năm gần đây, bốn xã trên có bước phát triển đáng ghi nhận, tỷ
lệ hộ nghèo giảm khá nhanh, thấp so với mặt bằng chung của huyện (18, 49%) Về
cơ sở vật chất của bốn xã khá đầy đủ, trụ sở UBND xã đều đã được đầu tư xây dựng nhà 3 tầng khang trang, hệ thống điện, trường học, trạm y tế được đầu tư đạt chuẩn, đường giao thông nông thôn được quan tâm đầu tư đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương, trao đổi hàng hóa của nhân dân
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong tham gia Ban chỉ đạo, Ban quản
lý XDNTM
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong công tác tuyên truyền XDNTM
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong tham gia thảo luận chiến lược
phát triển NTM
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong lập kế hoạch và công tác quy hoạch XDNTM
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc phát triển kinh tế
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong công tác giám sát XDNTM
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong nghiệm thu và quản lý sử dụng các
công trình
2.2.2 Đánh giá kết quả XDNTM tại huyện Mai Sơn đến năm 2018
- Công tác triển khai chương trình XDNTM
+ Việc tổ chức, quán triệt triển khai các văn bản của cấp trên, Bộ tiêu chí NTM
Trang 35+ Xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM; + Thành lập Ban chỉ đạo XDNTM
- Việc ban hành các văn bản tổ chức thực hiện chương trình XDNTM
- Phát huy dân chủ trong XDNTM (việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở)
- Kết quả bước đầu đạt được trong thực hiện chương trình XDNTM tại huyện Mai Sơn
- Đánh giá sự hài lòng của người dân về kết quả XDNTM tại huyện Mai Sơn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thu được trong nghiên cứu này bao gồm số liệu đã công bố (số liệu thứ cấp) và số liệu mới (số liệu sơ cấp)
2.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu đã công bố (số liệu thứ cấp)
Những thông tin, số liệu được thu thập từ tài liệu đã công bố chính thức của cơ quan Nhà nước: Trung ương, tỉnh, huyện về XDNTM ở cấp độ vĩ mô và
ở địa bàn nghiên cứu Thu thập thông tin từ những công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học đã được công bố, các tài liệu thống kê do các cơ quan của tỉnh, huyện và các xã thuộc huyện Mai Sơn cung cấp; những số liệu này thu thập chủ yếu ở các cơ quan như: Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Tài chính - Kế hoạch… các trang điện tử của Chính phủ, của các địa phương về phát triển nông nghiệp, nông thôn và XDNTM; Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên, thư viện Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên…
Phương pháp thu thập thông tin, số liệu đã công bố:
- Liệt kê các thông tin cần thiết có thể thu thập, hệ thống hóa theo nội dung
và địa điểm dự kiến thu thập
- Liên hệ với cơ quan cung cấp thông tin
- Tiến hành thu thập bằng ghi chép, sao chụp
- Kiểm tra tính thực tế của thông tin qua quan sát trực tiếp và kiểm tra chéo
Trang 362.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin mới (số liệu sơ cấp)
Huyện Mai Sơn có 01 thị trấn và 21 xã, trong đó có 3 xã khu vực I, 11 xã khu vực II và 8 xã khu vực III; do phạm vi quá rộng và các xã có điều kiện tự nhiên, KT-XH khác nhau, nên tác giải chọn 04 xã để nghiên cứu, phân tích: xã Cò Nòi, xã Hát Lót, xã Mường Bon, xã Mường Chanh là các xã đang trong lộ trình
đạt chuẩn NTM giai đoạn 2015 - 2020
Các tổ chức CT-XH nhân dân trong nông thôn bao gồm: Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Hội Người cao tuổi… Tuy nhiên do điều kiện thời gian nên tác giả chỉ chọn những tổ chức đoàn thể
có vai trò nổi bật và có nhiều hoạt động thiết thực trong phát triển KT-XH, đẩy mạnh quá trình XDNTM trên địa bàn đó là: Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội
Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên
Bảng 2.2: Tổng hợp số lượng mẫu điều tra cán bộ hội viên
các tổ chức CT-XH ở mỗi xã
TT Tên tổ chức
Cán bộ đoàn thể cấp huyện
Cán bộ đoàn thể cấp
xã
Cán bộ đoàn thể cấp Thôn
Hội viên
ở các đoàn thể Bản
1 Mặt trận tổ quốc Người 1 1 1 4
2 Hội Phụ nữ Người 1 1 1 4
3 Hội Nông dân Người 1 1 1 4
4 Đoàn Thanh Niên Người 1 1 1 4
5 Hội Cựu chiến binh Người 1 1 1 4
tổ chức đoàn thể 01 người (tổng bằng 05 người); điều tra ở mỗi xã, thôn, bản là 30
người (04 xã là 120 người), vậy tổng cả huyện và 04 xã là 125 mẫu
Trang 37Đối tượng điều tra cấp huyện, cấp xã là trưởng (hoặc phó) các tổ chức đoàn thể; cấp bản là chi hội trưởng; hội viên các chi hội gồm hai hội viên tích cực và hai hội viên trung bình Nội dung điều tra: về nhận thức, vai trò, trách nhiệm, sự tham gia của các cán bộ, hội viên trong phong trào XDNTM như: Hội họp, bàn bạc ra quyết định, đóng góp ý kiến, đóng góp tài chính, đóng góp công lao động, đóng góp đất đai, đóng góp vật tư….tham gia quản lý, giám sát, đánh giá Để XDNTM được tốt hơn trong thời gian tới và biết được những thuận lợi khó khăn, ưu điểm, tồn tại của hội về tổ chức vận động, giúp đỡ hội viên XDNTM
Trong quá trình nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn cán bộ lãnh đạo, những người đứng đầu các tổ chức đoàn thể Qua đó, để thu thập được một số thông tin cơ bản về cơ cấu tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ cũng như vai trò của các tổ chức CT-XH trong thực hiện chương trình XDNTM
Để có được số liệu mới, tác giả sẽ thông qua việc điều tra, khảo sát thực tế địa phương, phỏng vấn trực tiếp các cán bộ, hội viên theo nội dung đã chuẩn bị sẵn trong phiếu điều tra:
- Thiết kế bảng câu hỏi: Thiết kế bảng câu hỏi nhằm điều tra đối tượng là cán
bộ, hội viên của các tổ chức CT-XH về XDNTM tại huyện, tác động của nó đến hộ gia đình hội viên
- Phỏng vấn cán bộ các tổ chức CT-XH và hộ gia đình hội viên, đoàn viên theo bảng hỏi: Sử dụng bảng câu hỏi để phỏng vấn thử, sau khi phỏng vấn thử rồi chỉnh sửa bảng câu hỏi và tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ các tổ chức CT-XH và gia đình hội viên, đoàn viên, bởi đây là những người trực tiếp tham gia và được hưởng lợi từ các hoạt động của các tổ chức CT-XH đến chương trình XDNTM về những thông tin cơ bản của người được phỏng vấn về họ tên, tuổi, giới tính, trình độ học vấn, ; những hiểu biết của họ về NTM; sự tham gia của họ trong XDNTM; ý kiến, nhận xét của họ về hoạt động, vai trò của các tổ chức CT-XH trong thời gian qua, cũng như những nhu cầu của họ trong thời gian tới; hiệu quả từ việc XDNTM tại địa phương;
Trang 382.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi được thu thập, được phân loại và sắp xếp theo các tiêu thức
khác nhau Số liệu điều tra được phân tổ và xử lý trên máy tính (phần mềm
Microsof Office Exel) để tổng hợp và hệ thống hóa những tiêu thức cần thiết cùng
với việc sử dụng các con số tuyệt đối, tương đối và bình quân để phản ánh và đánh
giá vấn đề nghiên cứu
2.3.3 Phương pháp chuyên gia
Thu thập thông tin, tham khảo ý kiến từ UBND huyện Mai Sơn, Ban chỉ đạo XDNTM của huyện, các phòng chuyên môn của huyện, Ban quản lý XDNTM các
xã trên địa bàn huyện, Đồng thời tham khảo ý kiến hướng dẫn về chuyên môn
trong quá trình tiến hành nghiên cứu từ phía các thầy cô giáo tại trường
2.3.4 Phương pháp phân tích
2.3.4.1 Phương pháp thống kê mô tả
Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng KT-XH bằng việc mô tả thông qua các số liệu thu thập được Phương pháp này sử dụng các chỉ tiêu phân tích như
số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân và phương pháp phân tổ để phân tích tình hình KT-XH ở địa phương; phân tích, đánh giá vai trò của các tổ chức CT-XH cũng như những khó khăn hạn chế đối với vai trò của họ trong việc XDNTM ở địa
phương trong từng điều kiện, trường hợp cụ thể về vấn đề đó
2.3.4.2 Phương pháp so sánh
- So sánh định lượng: So sánh trước và sau khi thực hiện Chương trình
XDNTM tại huyện Mai Sơn
- So sánh định tính: Sử dụng những chỉ tiêu về KT-XH và môi trường để
đánh giá Trong quá trình so sánh cũng có thể kết hợp giữa so sánh định tính và
định lượng để phân tích vấn đề
2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu
2.4.1 Chỉ tiêu đánh giá vai trò của các tổ chức CT-XH trong XDNTM
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong tham gia thành lập Ban chỉ đạo, Ban quản lý XDNTM: Số người tham gia Ban chỉ đạo XDNTM cấp huyện, xã, Ban quản lý XDNTM cấp xã, bản
Trang 39- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong công tác tuyên truyền XDNTM: Số lượt, số buổi tuyên truyền, nói chuyện phổ biến
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong tham gia thảo luận chiến lược phát triển NTM: Số lượt người tham gia thảo luận, tỷ lệ người tham gia
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong lập kế hoạch và công tác qui hoạch XDNTM: Số người, số ý kiến tham gia xây dựng quy hoạch, kế hoạch
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc phát triển kinh tế: Số dự án của mỗi tổ chức, số người tham gia
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong huy động nguồn lực để XDNTM: Tổng số công đóng góp, tổng số kinh phí đóng góp, tổng diện tích đất đai hiến góp
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong công tác giám sát XDNTM: Số người tham gia giám sát cộng đồng
- Vai trò của các tổ chức CT-XH trong nghiệm thu và quản lý sử dụng các công trình: Số công trình, dự án do các tổ chức CT-XH quản lý
2.4.2 Chỉ tiêu đánh giá kết quả XDNTM (5 nhóm - 19 tiêu chí)
- Tiêu chí về quy hoạch;
- Nhóm tiêu chí về hạ tầng KT-XH: Giao thông, thủy lợi, điện, trường học,
cơ sở vật chất văn hóa, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, thông tin và truyền thông, nhà ở dân cư;
- Nhóm tiêu chí về kinh tế và tổ chức giám sát: Thu nhập, hộ nghèo, lao động
có việc làm, tổ chức sản xuất;
- Nhóm tiêu chí về văn hóa - xã hội - môi trường: Giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường và an toàn thực phẩm;
- Nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị: Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật; quốc phòng và an ninh
2.4.3 Chỉ tiêu đánh giá mức độ hài lòng của người dân về kết quả XDNTM
Trang 40Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Khái quát công tác XDNTM ở huyện Mai Sơn
3.1.1 Công tác triển khai xây dựng nông thôn mới
Thực hiện nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về XDNTM giai đoạn 2010 - 2020; Nghị quyết số 132/HĐND ngày 10/9/2015 của HĐND tỉnh thông qua Đề án XDNTM tỉnh Sơn La giai đoạn 2016-2020; huyện Mai Sơn đã thành lập Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM với 42 thành viên do đồng chí Bí thư Huyện ủy làm trưởng Ban chỉ đạo, đồng chí Phó Bí thư huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện làm phó trưởng Ban chỉ đạo, đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện phụ trách khối nông lâm nghiệp làm phó trưởng ban thường trực, thủ trưởng các cơ quan, đoàn thể, bí thư đảng ủy các xã là thành viên; UBND huyện xây dựng kế hoạch giai đoạn và kế hoạch chi tết hàng năng; chỉ đạo các phòng, ban chức năng chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch theo chức năng nhiệm vụ của mình; Phân công cụ thể từng phòng, ban phụ trách theo dõi, chỉ đạo các xã hoàn thành các tiêu chí XDNTM; đôn đốc các tổ chức đoàn thể tập trung chỉ đạo, tuyên truyền tới cán bộ, hội viên, đoàn viên, các tầng lớp nhân dân hiểu rõ
về chương trình XDNTM Ban chỉ đạo đã thành lập tổ giúp việc Ban chỉ đạo; hướng dẫn và chỉ đạo các xã thành lập cơ cấu, bộ máy quản lý, hoạt động như Ban chỉ đạo XDNTM, Ban quản lý xã, Ban phát triển và Ban giám sát cấp bản Huyện thành lập Hội đồng thẩm định, hướng dẫn các xã lập đồ án và đề án XDNTM
Huyện ủy, UBND huyện, Ban chỉ đạo chương trình XDNTM huyện Mai Sơn
đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các nội dung XDNTM; tổ chức thực hiện các nội dung như công tác tuyên truyền, phát động phong trào thi đua, lập quy hoạch, đề án, xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, xây