Đặt trong bối cảnh đó, nghiên cứu đề tài “Vai trò của các tổ chức CT-XH cấp cơ sở trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn: nghiên cứu trường hợp tại 2 xã” với mong muốn c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUYỄN THANH THỦY
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG VIỆC ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI CHO CƯ DÂN NÔNG THÔN:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI 2 XÃ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUYỄN THANH THỦY
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI CẤP CƠ SỞ TRONG VIỆC ĐẢM BẢO AN SINH XÃ HỘI CHO CƯ DÂN NÔNG THÔN:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI 2 XÃ
Ngành: Xã hội học
Mã số: 9 31 03 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TSKH Bùi Quang Dũng
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các dữ liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng ai khác công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Nguyễn Thanh Thủy
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU
DANH MỤC HỘP
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 4
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 5
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 10
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 12
7 Cơ cấu của luận án 12
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 14
1.1 Vị trí các tổ chức CT-XH trong hệ thống chính trị Việt Nam 14
1.1.1 Vị trí các tổ chức CT-XH nhìn từ các văn bản pháp luật của Nhà nước 14
1.1.2 Vị trí của các tổ chức CT-XH nhìn từ văn bản nội bộ của các tổ chức 16
1.2 Chính sách xã hội 18
1.3 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong vận động dân chủ cơ sở tại địa phương 21 1.3 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội 25
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 32
2.1 Định nghĩa các khái niệm làm việc 32
2.2 Thao tác hóa khái niệm 40
2.3 Các cách tiếp cận lý thuyết của đề tài 40
2.4 Hệ thống các chính sách an sinh xã hội 46
2.5 Khái quát tình hình kinh tế-xã hội của đất nước và địa bàn khảo sát 62
Trang 52.6 Đặc điểm và cơ cấu mẫu khảo sát 66
2.7 Khung/lược đồ phân tích 67
Chương 3: CÁC TỔ CHỨC CT-XH THAM GIA TRIỂN KHAI CÁC CHÍNH SÁCH TRỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN 70
3.1 Hỗ trợ thông tin, tư vấn phát triển sản xuất 70
3.2 Đào tạo nghề và giới thiệu việc làm 76
3.2.1 Đào tạo nghề 76
3.2.2 Giới thiệu việc làm 84
3.3 Hỗ trợ vay vốn thông qua hệ thống tín dụng địa phương 93
Chương 4: CÁC TỔ CHỨC CT-XH TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP XÃ HỘI TẠI NÔNG THÔN 119
4.1 Trợ giúp xã hội thường xuyên 119
4.1.1 Trợ giúp thường xuyên ở cấp độ toàn quốc 125
4.1.2 Trợ giúp thường xuyên ở cấp độ địa phương, tổ chức 134
4.2 Trợ giúp xã hội đột xuất 137
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 145
1 Kết luận 145
2 Khuyến nghị 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 165
Trang 6CHỮ VIẾT TẮT
BCH Trung ương Đảng Ban chấp hành Trung ương Đảng
LĐTB&XH Lao động, thương binh và xã hội
NHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tổ TK & VV Tổ tiết kiệm và vay vốn
UBTW MTTQ Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc
VBSP/NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Các giá trị mà hội viên nhận được khi tham gia vào tổ chức (%) 72 Bảng 3.2 Các dạng hỗ trợ nhận được từ các tổ chức (%) 73 Bảng 3.3 Thực trạng tiếp cận mạng lưới tín dụng của người dân 95 Bảng 3.4 Vốn ủy thác của NHCSXH thông qua Hội Nông dân và Hội Phụ nữ 100 Bảng 3.5 Thống kê số lượng hội viên của Hội Nông dân và Hội Cựu chiến binh
xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (người) 102 Bảng 4.1 Các hình thức ủng hộ từ thiện theo các nhóm (%) 128
Trang 8DANH MỤC BIỂU
Biểu 3.1 Tỷ lệ giữa những người biết và người tham gia một số hoạt động tại địa phương (%) 70 Biểu 3.2 Một số hình thức hỗ trợ người dân phát triển sản xuất ở các đoàn thể (%) 71 Biểu 3.3 Các tổ chức CT-XH tham gia các khâu trong hoạt động đào tạo nghề cho người lao động(%) 78 Biểu 3.4 Trình độ học vấn của những người có và không có được việc làm do các tổ chức CT-XH giới thiệu (%) 87 Biểu 3.5 Nguyên nhân NTL không được giới thiệu việc làm từ các đoàn thể theo mức thu nhập hộ gia đình (%) 89 Biểu 3.6 Mức sống hộ gia đình của người tham gia vay vốn NHCSXH ở mỗi đoàn thể (%) 106 Biểu 3.7 Lợi ích mà hội viên nhận được khi tham gia các đoàn thể (%) 109 Biều 3.8 Lý do NTL tham gia vào các tổ chức CT-XH (%) 109 Biểu 3.9 Tỷ lệ tham gia các tổ chức đoàn thể vì được vay vốn ưu đãi (%) 110 Biểu 4.1 Các hình thức trợ giúp xã hội tại địa bàn khảo sát (%) 117 Biều 4.2 Người dân biết đến các hoạt động trợ giúp xã hội thông qua các nguồn (%) 118 Biều 4.3 Các giá trị tinh thần mà hội viên nhận được khi tham gia tổ chức (%) 11200 Biểu 4.4 Mức độ tham gia của các tổ chức trong vận động đóng góp từ thiện (%) 11264 Biểu 4.5 Người dân biết đến hoạt động đóng góp từ thiện của các đoàn thể thông qua các hình thức (%) 11275 Biểu 4.6 Trợ giúp các hộ gia đình xã Khánh Hòa, tỉnh Cà Mau gặp vấn đè nhà
ở (%) 136 Biểu 4.7 Người dân đánh giá vai trò tổ chức các chương trình ủng hộ, quyên gips của chính quyền và đoàn thể (%) 139
Trang 9DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1 Tình hình đào tạo nghề, tập huấn, chuyển giao KHKT tại các địa phương 76 Hộp 3.2 Sàn giao dịch việc làm: kết nối người lao động và doanh nghiệp 83 Hộp 3.3 Đoàn Thanh niên xã Ninh Lai, Sơn Dương, Tuyên Quang với mô hình
hỗ trợ, giới thiệu việc làm cho đoàn viên 84 Hộp 3.4 Nguồn vay vốn của người dân 104 Hộp 4.1 Mô hình hỗ trợ hội viên của Hội Phụ nữ 133 Hộp 4.2 Mô hình hỗ trợ xây nhà cho hộ gia đình nghèo của Đoàn Thanh niên 137
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng chính thức với hộ nông dân 94 Hình 3.2 Tỷ lệ cho vay vốn giữa các đoàn thể (%) 100 Hình 3.3 Đối tượng tham gia vay vốn tại các đoàn thể thông qua NHCSXH (%) 103 Hình 3.4 Các bước tiến hành vay vốn từ vốn vay ủy thác của NHCSXH thông qua các đoàn thể 105
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Điều 9, Hiến pháp năm 1980 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam- bao gồm
các chính đảng, Tổng công đoàn Việt Nam, tổ chức liên hiệp nông dân tập thể Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và các thành viên khác của Mặt trận - là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giáo dục và động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ tập thể, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc” Kể từ khi được thành lập, các tổ chức CT-XH1 giữ vai trò vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia đấu tranh giành chính quyền, chống giặc ngoại xâm, thống nhất và xây dựng đất nước Từ khi Đổi mới, các văn bản pháp luật, chính sách về các tổ chức CT-XH một mặt cho thấy sự thay đổi trong tư duy lý luận của Đảng về vị trí, vai trò của các tổ chức CT-XH trong bối cảnh đất nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mặt khác, các văn bản này cũng ghi nhận nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc tạo hành lang pháp lý, điều kiện thuận lợi để các tổ chức CT-XH phát huy được vai trò trong xây dựng và phát triển đất nước trong tình hình mới Bên cạnh đó, các tổ chức CT-XH cũng nhận thức rất rõ vị trí, nhiệm vụ của mình, trong đó vận động, đoàn kết nhân dân vẫn được xác định là nhiệm vụ chủ đạo Hiến pháp năm 2013 đã chỉ rõ, vai trò của các tổ chức CT-XH là “đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình”
Hiện nay, các tổ chức CT-XH còn chứng tỏ vai trò nhiều hơn trong phát triển kinh tế - xã hội bằng việc tham gia bổ sung, hỗ trợ các dịch vụ xã hội cho Chính phủ
Từ giữa thập niên 90, người ta biết đến các tổ chức CT-XH nhiều hơn thông qua việc tham gia trong các chương trình xóa đói giảm nghèo không những với tư cách là tổ chức trợ giúp trực tiếp mà còn là cầu nối giữa người dân với các gói trợ giúp phát triển Các tổ chức này có vai trò quan trọng trong việc điều hành các chương trình tín
1 Đề tài này do đặt trọng tâm nghiên cứu vào các tổ chức CT-XH ở các xã nông thôn nên các tổ chức CT-XH được xem xét bao gồm: Mặt trận tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Trang 12dụng tại các địa phương và nó thực sự có ý nghĩa khi Ngân hàng Chính sách xã hội bắt đầu giao phó các chương trình tín dụng cho Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh và Đoàn thanh niên Sự tham gia của các tổ chức CT-XH vào những chương trình giảm nghèo một mặt nâng cao hiệu quả của chương trình, mặt khác cũng cho thấy những biến đổi về vai trò nhằm thích ứng với bối cảnh mới của các tổ chức này Thực tế trên cho thấy, hiện nay các tổ chức CT-XH đang đứng trước rất nhiều
cơ hội cũng như thách thức, các tổ chức này ngày càng thể hiện vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực, hoạt động trong cộng đồng với mục tiêu chung hướng tới đảm bảo cuộc sống tốt hơn cho các thành viên Tuy nhiên, do có những hạn chế nhất định mà cho đến hiện nay vai trò các tổ chức CT-XH trong việc đảm bảo an sinh xã hội thường chỉ được ghi nhận ở hợp phần xóa đói giảm nghèo Trong khi ở các hợp phần khác của hệ thống an sinh xã hội như: thị trường lao động, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, chúng ta vẫn nhận thấy được vai trò của các tổ chức đoàn thể này mặc dù không được ghi nhận một cách trực tiếp và chính thức
Mặt khác, ở Việt Nam, cho đến nay, nhà nước vẫn là chủ thể chính cho toàn bộ
hệ thống an sinh xã hội quốc gia, từ việc hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện và đảm bảo ngân sách Tuy nhiên, mức độ bao phủ, mức hưởng và khả năng tiếp cận các dịch vụ ASXH thấp, nguồn lực dành cho an sinh xã hội còn hạn chế Hiện nay, trong
hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam hiện nay người ta nói nhiều đến thực tế khi nhà nước không thể (hoặc chưa thể) đảm bảo độ bao phủ tới hầu hết cư dân đặc biệt là cư dân ở khu vực nông thôn [24] Trong điều kiện đó, vai trò của hệ thống an sinh xã hội phi nhà nước với những tổ chức, hội, nhóm có ý nghĩa nhất định trong phát triển xã hội hướng tới an sinh cộng đồng và xa hơn là hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân theo Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/06/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
Đặt trong bối cảnh đó, nghiên cứu đề tài “Vai trò của các tổ chức CT-XH cấp
cơ sở trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn: nghiên cứu trường hợp tại 2 xã” với mong muốn có được những nhìn nhận, đánh giá một cách rõ ràng
và cụ thể về vai trò của các tổ chức CT-XH trong thời điểm hiện tại, cách thức mà họ
Trang 13hướng tới đảm bảo an sinh xã hội cho cộng đồng trong tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và biến đổi xã hội hiện nay Từ đó góp phần có một cái nhìn chung và toàn diện về vấn đề đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn của các tổ chức này, tính hiệu quả và phù hợp trong đảm nhận vai trò này của các đoàn thể Qua đó, đưa ra những khuyến nghị phù hợp về cách thức hoạt động của các tổ chức hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu vai trò của các tổ chức CT-XH cấp cơ sở trong việc đảm bảo an sinh
xã hội cho cư dân nông thôn thông qua việc các tổ chức này thực hiện triển khai, hỗ trợ các chính sách về thị trường lao động và trợ giúp xã hội trong cộng đồng cư dân nông thôn Trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức CT-XH trong bối cảnh biến đổi xã hội hiện nay Trong đó, mục tiêu cụ thể đó là:
- Tìm hiều vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc hỗ trợ triển khai các chính sách thị trường lao động Thể hiện trong một số mặt: hỗ trợ thông tin và tư vấn, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm; hỗ trợ vay vốn;
- Tìm hiểu vai trò của các tổ chức CT-XH trong hoạt động trợ giúp xã hội tại địa phương thông qua một số hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên và trợ giúp xã hội đột xuất;
2 2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập khung khái niệm, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu;
- Tìm hiểu vị trí, vai trò của các tổ chức CT-XH trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay;
- Phân tích vai trò của các tổ chức CT-XH cấp cơ sở trong hỗ trợ triển khai các chính sách thị trường lao động nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn;
- Phân tích vai trò của các tổ chức CT-XH cấp cơ sở trong thực hiện trợ giúp xã hội cho cư dân nông thôn
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của các tổ chức CT-XH cấp cơ sở trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Các hộ gia đình tại khu vực nông thôn của hai tỉnh Tuyên Quang (huyện Sơn Dương)
và Cà Mau (huyện U Minh)
- Cán bộ chính quyền, các tổ chức CT-XH và người dân tại hai địa phương trên
3.3 Phạm vi nghiên cứu
3.3.1 Về không gian nghiên cứu
Cuộc nghiên cứu được tiến hành khảo sát tại 4 xã thuộc 2 tỉnh đại diện cho 2 khu vực miền Bắc và miền Nam: Tuyên Quang và Cà Mau Cụ thể:
- Miền Bắc: xã Đại Phúc và xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
- Miền Nam: xã Khánh Lâm và xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau
Đây là 2 xã có nhiều đặc điểm tương đồng về mức sống, trong khi Tuyên Quang là một xã vùng núi với thành phần chủ yếu người dân tộc Cao Lan thì ở Cà Mau là một tỉnh miền biển còn nghèo Hai xã đều thuộc diện các xã vùng núi, hải đảo được ưu tiên trong đó Cà Mau là xã đặc biệt nằm trong chương trình 135 của Chính phủ
Ban đầu, nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã thuộc 2 tỉnh, nhưng do quá trình thu thập dữ liệu cho thấy số lượng mẫu không đáp ứng được kỳ vọng trong nghiên cứu ban đầu và thêm nữa số lượng mẫu ít cũng khiến cho các nghiên cứu, đánh giá
của chúng tôi không mang tính đại diện Do vậy, để đảm bảo tính hiệu lực và tính
có giá trị trong các số liệu nghiên cứu chúng tôi đã bổ sung thêm 2 xã tại 2 tỉnh nâng tổng số xã tiến hành khảo sát tại 2 tỉnh là 4 xã
3.3.2 Về thời gian
Phạm vi thời gian ở đây được hiểu là những đánh giá của người dân và bản thân các thành viên đoàn thể trong một khoảng thời gian gần nhất khi họ có cơ hội tiếp cận với các hoạt động của các tổ chức này cho tới thời điểm chúng tôi tiến hành
Trang 15khảo sát Nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 9/2016
3.3.3 Về vấn đề nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn ở hai trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đó là: vai trò của các tổ chức CT-XH trong hỗ trợ triển khai các chính sách thị trường lao động và trợ giúp xã hội cho cư dân nông thôn
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Các tổ chức CT-XH đã thực hiện vai trò trong việc hỗ trợ triển khai các chính sách thị trường lao động như thế nào và gặp khó khăn gì trong quá trình thực hiện?
- Các tổ chức CT-XH đã thực hiện vai trò trong việc hỗ trợ triển khai các chính sách trợ giúp xã hội như thế nào và gặp khó khăn gì trong quá trình thực hiện?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Các tổ chức CT-XH cấp cơ sở đã tham gia một cách tích cực và giải quyết được nhiều vấn đề trong triển khai chính sách thị trường lao động
- Các tổ chức CT-XH cấp cơ sở đã tham gia một cách tích cực và giải quyết được nhiều vấn đề trong triển khai chính sách trợ giúp xã hội
4.3 Cơ sở phương pháp luận
Vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn là một hiện tượng xã hội mà chúng ta hoàn toàn có thể nhận thức về nó, đánh giá về tính khả thi của nó để từ đó rút ra các bài học quan trọng cho công cuộc phát triển đất nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Việc tìm hiểu, phân tích vai trò của các đoàn thể CT-XH trong đảm bảo an sinh xã hội ở hai phương diện là thị trường lao động và trợ giúp xã hội – 2 trụ cột chính của hệ thống
an sinh xã hội quốc gia sẽ góp phần đưa ra những đánh giá một cách tổng quan về vấn đề đảm bảo an sinh xã hội của nhà nước nói chung và của chính các tổ chức đoàn thể nói riêng Từ đó đưa ra những chính sách phù hợp với bối cảnh phát triển xã hội
Trang 16hiện nay Sự kết hợp giữa tư duy duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cho chúng ta
có cái nhìn một cách toàn diện và hệ thống về các quan hệ xã hội
4.4 Phương pháp nghiên cứu
4.4.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp là một phương pháp nghiên cứu quan trọng đối với luận án này Thông qua việc tìm, đọc, phân tích và đánh giá các nghiên cứu đã tiến hành trước đó, các tài liệu, văn bản về pháp luật giúp tác giả có những cái nhìn đa chiều đối với chủ để nghiên cứu Từ đó nhìn ra được những điểm mạnh cũng như những hạn chế của các tác giả đi trước nhằm hạn chế sự trùng lắp trong nghiên cứu của mình
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở tổng quan các nguồn tài liệu như sau: i) Các văn bản pháp luật của Nhà nước, của các tổ chức CT-XH; ii) Các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước (KX) về vai trò, vị trí của các tổ chức CT-XH; iii) Các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới chủ đề nghiên cứu của luận án
4.4.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
Bên cạnh phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi, luận án cũng tiến hành các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Đây được coi là một trong những phương pháp hỗ trợ quan trọng giúp cung cấp, bổ sung các thông tin mà phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi còn thiếu
* Phương pháp phỏng vấn sâu: Đối tượng của các cuộc phỏng vấn sâu bao gồm:
- Lãnh đạo đại diện Đảng và Chính quyền: 11 trường hợp;
- Cán bộ phụ trách các đoàn thể ở cấp xã: 20 trường hợp;
- Người dân là thành viên hoặc không phải là thành viên của các tổ chức CT-XH: 20 trường hợp
Thông qua các cuộc trao đổi này, chúng tôi có thể thu thập được các thông tin
ít mang tính chất đại chúng hoặc ít người quan tâm về hoạt động của các tổ chức
CT-XH Những đánh giá của những tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động của các đoàn thể này giúp chúng tôi nhìn nhận ra thực trạng cũng như những ưu điểm hay hạn chế trong quá trình thực hiện hoạt động nói chung
Trang 17hay vấn đề đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn nói riêng Nội dung của cuộc phỏng vấn sâu được xây dựng dựa trên mục tiêu, nội dung nghiên cứu nhằm cung cấp các thông tin cần thiết và góp phần chứng minh một cách chi tiết hơn các giả thuyết của nghiên cứu có phù hợp hay không phù hợp với thực tiễn tại hai địa bàn nghiên cứu
* Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm được chúng tôi tiến hành với 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung, đối tượng là đại diện cán bộ các đoàn thể chính trị-xã hội ở cấp thôn/ấp và các trưởng thôn/ấp Số lượng người tham gia một cuộc thảo luận nhóm này dao động từ 5-6 người
Mục đích của các cuộc thảo luận nhóm này nhằm cung cấp các thôn tin cụ thể, chi tiết hơn về hoạt động của các đoàn thể chính trị-xã hội ở cấp thôn/ấp: những hoạt động họ đang tiến hành, những khó khăn đang mắc phải hay đánh giá hiệu quả của các mô hình, hoạt động được chỉ đạo từ cấp xã đưa xuống
4.4.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Luận án sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi như là một trong những phương pháp thu thập dữ liệu chính của đề tài Với phương pháp này, chúng tôi có thể thu thập được các thông tin cần thiết cho vấn đề nghiên cứu với số lượng mẫu nhiều và các nội dung thu thập phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu của luận
án Bảng hỏi được xây dựng dựa trên các mục tiêu, nội dung nghiên cứu của luận án
và có sự góp ý của giáo viên hướng dẫn cùng các chuyên gia am hiểu chủ để nghiên cứu này Đây là nguồn dữ liệu quan trọng để phân tích trong chương 3 và chương 4 của luận án Quy trình tiến hành như sau:
Xây dựng bảng hỏi: Một bảng hỏi cấu trúc gồm hệ các câu hỏi chia theo từng nội dung được thiết kế riêng cho nghiên cứu này Bảng hỏi bao gồm nhiều phần, mỗi phần ứng với một nội dung nghiên cứu của đề tài Bên cạnh việc sử dụng bảng hỏi có
sẵn được thiết kế từ đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu vai trò của các tổ chức CT-XH sau 5 năm xây dựng nông thôn mới và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng nông thôn mới của các tổ chức CT-XH này“ do PGS TS Lê Cao
Trang 18Đoàn làm chủ nhiệm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là cơ quan chủ trì (tổ chức nghiên cứu tại 7 tỉnh), chúng tôi cũng đã thiết kết một bảng hỏi bổ sung thêm các dữ liệu cần thiết cho cuộc nghiên cứu (và đây là phần dữ liệu chính cho chương
3 và chương 4 của luận án) Việc xây dựng bảng hỏi được xây dựng dựa trên những chỉnh sửa, góp ý của giáo viên hướng dẫn và một số chuyên gia trong lĩnh vực
Quy trình chọn mẫu: Chúng tôi tiến hành chọn mẫu tại 2 tỉnh Tuyên Quang và
Cà Mau; tại mỗi tỉnh chúng tôi sẽ chọn các huyện/xã dựa trên một hệ các tiêu chí đáp ứng mục đích nghiên cứu của đề tài Ở đây các tiêu chí chọn mẫu bao gồm:
- Địa bàn: Sở dĩ chúng tôi chọn 2 tỉnh Tuyên Quang và Cà Mau là do: đây là hai địa bàn đại diện cho hai khu vực miền bắc và miền nam Tuyên Quang là khu vực thuộc miền núi phía bắc nước ta, với địa thế vừa có khu vực núi cao vừa có khu vực đồng bằng (tại 2 xã lựa chọn khảo sát thì Đại Phú là xã khu vực đồng bằng trong khi xã Ninh Lai là địa bàn nằm trong khu vực của dãy núi Tam Đảo) Trong khi đó ở Cà Mau là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long với ba mặt giáp biển, là địa phương chịu ảnh hưởng khá rõ nét của tình trạng xâm nhập mặn – một trong những vấn đề rất lớn cần phải đối mặt với khu vực này hiện nay và trong những năm sắp tới Tại 2 xã nghiên cứu là Khánh Hòa và Khánh Lâm mặc dù không giáp biển nhưng nền kinh tế lại bị tác động khá rõ từ tình trạng xâm nhập mặn
Mặt khác, 4 xã thuộc 2 tỉnh Tuyên Quang và Cà Mau mà đề tài nghiên cứu đều năm trong danh mục các tỉnh, huyện, xã khó và đặc biệt khó khăn Do vậy đây là các xã được hưởng khá nhiều ưu tiên về mặt chính sách (được hưởng 100% bảo hiểm
y tế, hỗ trợ vốn vay cho người dân phát triển kinh tế, v.v.) Đối với những xã này, bên cạnh sự hỗ trợ của nhà nước thông qua các chính sách, chủ trương phát triển kinh tế-
xã hội thì sự trợ giúp từ phía các tổ chức, các nhóm xã hội là rất cần thiết nhằm giúp người dân có cơ hội tiếp cận tốt hơn Trong bối cảnh hệ thống an sinh xã hội của nước
ta còn chưa bao phủ được hết tới mọi người dân thì sự trợ giúp của các tổ chức này
là cần thiết đặc biệt hữu ích đối với những địa bàn còn gặp nhiều khó khăn như tại 4
xã mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu
Trang 19Trong số 6 huyện và 1 thị xã thuộc tỉnh Tuyên Quang và 8 huyện và 1 thành phố thuộc tỉnh Cà Mau chúng tôi lựa chọn mỗi địa phương một huyện với tiêu chí có
đủ các ngành nghề: nông, lâm ngư nghiệp và dịch vụ (so với các huyện còn lại trong cùng 1 địa phương) Tại mỗi huyện chúng tôi lựa chọn 2 xã với yêu cầu về ngành nghề tương tự, có đủ tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình chính sách, v.v Ở mỗi
xã, chúng tôi lựa chọn các thôn/xóm/ấp với những yêu cầu tương tự Ngoài ra lựa chọn những thôn/ấp ở xa và cả những thôn/ấp ở gần trung tâm xã nhằm tìm ra những
sự khác biệt hay không Tuy nhiên, do đặc điểm ở khu vực phía nam diện tịch của các ấp lớn hơn rất nhiều so với đơn vị thôn ở phía bắc nên trong quá trình phỏng vấn
đi lại gặp tương đối khó khăn
- Tuổi người trả lời: từ 18 tuổi trở lên và dưới 60 tuổi (trong độ tuổi lao động), những người minh mẫn, không bị bệnh tật và có khả năng nhận thức Do trên địa bàn nghiên cứu có một tỷ lệ không nhỏ là những lao động đang làm việc tại các công ty thuộc các khu công nghiệp nên đối tượng phỏng vấn trong nhóm trong độ tuổi lao động bị hạn chế hơn so với nhóm từ 50-60 tuổi – thường là ông bà ở nhà trông cháu Đề tài gặp khá nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với những người đang đi làm tại các công
ty
- Giới tính người trả lời: đề tài lựa chọn nam và nữ trả lời nhằm đảm bảo cân bằng 50-50 giữa 2 giới Tuy nhiên trong thực tế cuộc nghiên cứu, do một số người được chọn đi làm việc hoặc không thể sắp xếp tiến hành phỏng vấn nên chúng tôi phải phỏng vấn vợ/chồng của họ Do vậy cơ cấu giới tính của cuộc nghiên cứu bị lệch hơn
so với dự định ban đầu
Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, mỗi tầng tương ứng với các tiêu chí đề ra theo thứ tự ưu tiên Đơn vị mẫu khảo sát là hộ gia đình, với 400 đơn vị mẫu (hộ gia đình) Chúng tôi áp dụng việc tính toán bước nhảy
để chọn mẫu dựa trên một danh sách các đối tượng thỏa mãn các tiêu chí mà chúng tôi đưa ra Cơ cấu mẫu sẽ bao gồm những đối tượng được chọn theo bước nhảy và dành tỉ lệ 10% cho mẫu dự phòng Đối tượng phỏng vấn là chủ hộ hoặc vợ/chồng chủ
hộ có độ tuổi từ 18-60 và không mắc các bệnh ảnh hưởng đến nhận thức
Trang 20Quy trình khảo sát: Tại các địa phương khảo sát, nghiên cứu sinh cùng một nhóm các chuyên gia, cán bộ có chuyên môn trong lĩnh vực xã hội học tiến hành khảo sát, thu thập số liệu Việc thu thập thông tin dựa trên các cuộc phỏng vấn trực tiếp, mặt đối mặt, giữa điều tra viên và người trả lời Việc giám sát được thực hiện hàng ngày bằng việc kiểm tra bảng hỏi ngay trong ngày phỏng vấn
Xử lý số liệu khảo sát: Các bảng hỏi thu thập được sẽ được kiểm tra chéo và làm sạch ngay tại địa bàn khảo sát để hạn chế tối đa những sai sót và/hoặc thiếu khuyết thông tin Sau khi xây dựng khung nhập liệu, mã hóa thông tin thu thập được chúng tôi tiến hành nhập liệu đảm bảo mọi thông tin thu được đều được ghi nhận trong cơ sở dữ liệu Trên cơ sở bộ dữ liệu gốc, chúng tôi tiến hành xử lí dữ liệu trên chương trình SPSS 20.0 Kết quả cho thấy, nhìn chung chất lượng số liệu đảm bảo độ tin cậy, logic, đáp ứng yêu cầu đặt ra của nghiên cứu
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
về vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn Liệu họ có thực sự đảm nhận tốt vai trò góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho
Trang 21cư dân nông thôn? Nếu có thì vai trò đến đâu và nếu không thì tại sao lại không đảm nhận được vai trò này Trả lời được những câu hỏi này thông qua các dữ liệu của cuộc nghiên cứu từ đó góp phần đưa ra những đánh giá phù hợp về vai trò của các tổ chức CT-XH hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi xã hội thì điều này hoàn toàn là cần thiết và có ý nghĩa
Ngoài ra, đề tài cũng góp phần đóng góp thêm cho bộ môn xã hội học chính trị ở Việt Nam hiện nay
5.2 Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu này còn tồn tại một số hạn chế như sau:
- Do đây là một nghiên cứu tiến hành tại nông thôn nên các tổ chức CT-XH chỉ bao gồm: MTTQ, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn thanh niên (tổ chức Công đoàn không nằm trong nghiên cứu này của chúng tôi)
- Hệ thống an sinh xã hội theo quan điểm nghiên cứu của chúng tôi gồm 3 hợp phần chính gồm: thị trường lao động, bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội Trong nghiên cứu này, tìm hiểu vể vai trò của các tổ chức CT-XH trong đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn chúng tôi chỉ tìm hiểu hai hợp phần là thị trường lao động và trợ giúp
xã hội Hợp phần bảo hiểm xã hội gồm bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, do đặc trưng mẫu nghiên cứu tại nông thôn nên vấn đề tham gia bảo hiểm xã hội còn nhiều hạn chế Mặt khác, 4 xã nghiên cứu thuộc diện các xã nghèo khó khăn ở vùng núi, hải đảo xa xôi nên được miễn phí 100% thẻ BHYT Do vậy chúng tôi không tìm hiểu hợp phần BHXH trong nghiên cứu này
- Chính sách thị trường lao động gồm các chính sách: việc làm, đào tạo nghề, xuất khẩu lao động, tín dụng, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, v.v Tuy nhiên quan điểm của chúng tôi về hệ thống chính sách thị trường lao động có liên quan trực tiếp và tác động tới các tổ chức CT-XH chỉ bao gồm các chính sách việc làm, chính sách đào tạo nghề và chính sách tín dụng
Trang 226 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Về mặt lý thuyết, đề tài góp phần kiểm chứng tính phổ biển cũng như độ chính xác, hợp lý và khả năng ứng dụng của một số lý thuyết xã hội học được vận dụng trong luận án là lý thuyết vai trò và lý thuyết về xã hội học tổ chức Ngoài ra,
đề tài cũng góp thêm các luận cứ cho bộ môn xã hội học chính trị ở Việt Nam hiện nay Đây là bộ môn chưa thực sự phát triển mạnh ở nước ta trong khi trên thế giới đây là chuyên ngành quan trọng và được đầu tư, nghiên cứu Nghiên cứu này của chúng tôi hi vọng góp thêm vào việc bổ sung thêm cơ sở lý luận cho cũng như thực tiễn cho bộ môn này và từ đó góp phần mở rộng, thu hút sự quan tâm nhiều hơn nữa của giới nghiên cứu tới các bộ môn chuyên ngành này của xã hội học
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu này sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách, chính quyền địa phương và cả người dân đánh giá được hiệu quả tham gia đảm bảo an sinh xã hội của các tổ chức CT-XH Từ đó đưa ra những chính sách và cơ chế hoạt động phù hợp Thêm nữa, thông qua nghiên cứu này cũng sẽ giúp cho các tổ chức CT-XH có thể nhìn lại và đánh giá hoạt động của chính tổ chức mình từ đó đưa ra những kế hoạch, biện pháp thực hiện góp phần đem lại hiệu quả trong quá trình thực hiện của tổ chức
- Nghiên cứu về vai trò của các tổ chức CT-XH ở Việt Nam hiện nay trong vai trò đảm bảo an sinh xã hội dường như là một hướng nghiên cứu chưa thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tìm hiểu vai trò này một mặt đánh giá một cách rõ hơn về vai trò của các tổ chức CT-XH tham gia trong hoạt động đảm bảo an sinh xã hội cho cộng đồng Thông qua đó đưa ra được những đánh giá về tính hiệu quả hay không hiệu quả của các tổ chức trong hoạt động này nhằm rút kinh nghiệm cho các
cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình an sinh xã hội đảm bảo hiệu quả tốt hơn
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, báo cáo luận án được trình bày trong 4 chương Chương 1 dành cho việc tổng quan tình hình nghiên cứu; Chương 2 xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài;
Trang 23hai chương còn lại dành cho việc phân tích vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn thông qua hai trụ cột chính của hệ thống
an sinh xã hội đó là thị trường lao động và trợ giúp xã hội Trong đó Chương 3 phân tích vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc hỗ trợ triển khai các chính sách thị trường lao động nhằm đảm bảo an sinh xã hội; Chương 4 phân tích vai trò của các tổ chức này trong việc trợ giúp xã hội đối với cư dân nông thôn Kết cấu nói trên nhằm đáp ứng được mục tiêu và các vấn đề nghiên cứu đặt ra trong đề tài này
Trang 24Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Mục này trình bày tổng quan tình hình các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề của luận án Việc rà soát và hệ thống hóa các chủ đề, vấn đề từ các nghiên cứu đi trước là cần thiết, để từ đó tìm kiếm những bằng chứng mới trên cơ sở học hỏi, kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả khác
Hợp phần của hệ thống an sinh xã hội gồm 3 hợp phần chính: thị trường lao
động, bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội Tuy nhiên, chưa có bất cứ một nghiên cứu
nào về vai trò của các tổ chức CT-XH tham gia hỗ trợ thực hiện triển khai các hợp phần này Trong quá trình tìm hiểu để tổng quan các tài liệu có liên quan đến vấn đề
vai trò của các tổ chức CT-XH trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn, chúng tôi trình bày 4 nhóm vấn đề chính có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, bao gồm: vị trí của các tổ chức CT-XH trong hệ thống chính trị Việt Nam xét theo hai khía cạnh: vị trí của các tổ chức này nhìn từ các văn bản pháp quy của nhà nước
và vị trí của các tổ chức này nhìn từ vị trí các văn bản nội bộ của tổ chức; chính sách
xã hội; vai trò của các tổ chức CT-XH trong vận động dân chủ cơ sở tại địa phương; vai trò của các tổ chức CT-XH trong xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội
Do có nhiều tác giả trong và ngoài nước cùng đánh giá về một vấn đề nên, để tiện theo dõi, chúng tôi sẽ không tách nghiên cứu trong nước và nước ngoài trong phần trình bày
1.1 Vị trí các tổ chức CT-XH trong hệ thống chính trị Việt Nam
1.1.1 Vị trí các tổ chức CT-XH nhìn từ các văn bản pháp luật của Nhà nước
Kể từ khi được thành lập, các tổ chức CT-XH2 giữ vai trò vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia đấu tranh giành chính quyền, chống giặc ngoại xâm,
2 Các tổ chức CT-XH bao gồm: Mặt trận tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Liên đoàn lao động Đề tài này, do đặt trọng tâm nghiên cứu vào các tổ chức CT-XH ở các xã nông thôn nên chúng tôi không xem xét vai trò của Liên đoàn lao động Do vậy, các tổ chức CT-XH được xem xét bao gồm: Mặt trận tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Trang 25thống nhất và xây dựng đất nước Từ khi Đổi mới, các văn bản pháp luật, chính sách
về các tổ chức CT-XH một mặt cho thấy sự thay đổi trong tư duy lý luận của Đảng
về vị trí, vai trò của các tổ chức CT-XH trong bối cảnh đất nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mặt khác, các văn bản này cũng ghi nhận nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc tạo hành lang pháp lý, điều kiện thuận lợi để các tổ chức CT-XH phát huy được vai trò trong xây dựng và phát triển đất nước trong tình hình mới Bên cạnh
đó, các tổ chức CT-XH cũng nhận thức rất rõ vị trí, nhiệm vụ của mình, trong đó vận động, đoàn kết nhân dân vẫn được xác định là nhiệm vụ chủ đạo
Vị trí chính trị của các tổ chức CT-XH này lần đầu tiên được khẳng định tại Điều 9 Hiến pháp năm 1980 Từ khi Đổi mới, quan điểm của Đảng đối với các tổ chức chính trị-xã hội tiếp tục có những thay đổi quan trọng, coi đó là tổ chức của
đông đảo quần chúng nhân dân và hướng hoạt động về cơ sở Theo đó “cán bộ chủ chốt các đoàn thể quần chúng không nhất thiết phải là đảng viên” (Hội nghị lần thứ
năm BCH Trung ương Đảng khoá VI, 1988) Phương hướng hoạt động của các tổ chức này cũng tập trung hướng vào các hoạt động ở cơ sở nhằm thu hút sự tham gia đông đảo của nhân dân vào các phong trào cách mạng (Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam (18/12/1986)
Đến Hiến pháp năm 1992, vai trò của các tổ chức CT-XH được nhìn nhận cụ thể hơn và đến Hiến pháp năm 2013, vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội được
khẳng định là "đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình” Điều 9 Hiến pháp năm 2013 quy định: MTTQ Việt Nam là
tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức
CT-XH, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam Định cư ở nước ngoài Hội nông dân, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh là các tổ chức CT-XH được thành lập trên
cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp
và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Trang 26Tại nghị Quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XI đã coi các tổ chức chính trị-xã hội như là “đoàn thể nhân dân” với vai trò cùng với MTTQ tập hợp nhân dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người dân và cùng hướng về cơ
sở Luật Mặt trận tổ quốc năm 1999, Luật tổ chức HĐND và UBND, luật số
11-LCT/HĐNN7, ngày 30/6/1983 xác định rõ cùng với các đoàn thể chính trị-xã hội khác, MTTQ là cơ quan có sự cộng tác chặt chẽ và là chỗ dựa cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân trong các hoạt động của mình Bên cạnh đó, cơ quan này cùng với các đoàn thể đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện giám sát, kiến nghị và
phản biện xã hội (Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 3/6/2013)
1.1.2 Vị trí của các tổ chức CT-XH nhìn từ văn bản nội bộ của các tổ chức
Mặt trận tổ quốc Việt Nam:
MTTQVN có tư tưởng nhất quán về vai trò của mình trong hệ thống chính trị Việt Nam thông qua các văn bản pháp luật Điều này thể hiện trong mục tiêu, nhiệm
vụ của tổ chức này từ nhiệm kỳ 2004-2009 đến nhiệm kỳ 2009-2014 hiện nay Đó là tinh thần tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động cùng với các cơ quan nhà nước3 Chức năng giám sát được thể hiện cụ thể trong một số lĩnh vực được quy định tại các văn bản cụ thể của tổ chức: Kế hoạch số 471/KH-MTTW-BTT ngày 17/4/2014, Thông tri 28/TTr-MTTW-BTT ngày 17/4/2014
Hội nông dân
Trải qua sáu kỳ Đại hội, Hội Nông dân Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng trong Nghị quyết hành động phù hợp với tình hình thực tiễn phát triển của giai cấp nông dân nói riêng và đất nước nói chung Cụ thể, tại chủ đề của Đại hội IV là
“Đoàn kết-Đổi mới-Dân chủ-Phát triển” đã được thay thế bằng chủ đề “Đoàn kết-Đổi mới-Hội nhập-Phát triển” tại đại hội V Tại Đại hội lần thứ VI năm 2013, phương châm “Đoàn kết-Đổi mới-Chủ động-Hội nhập-Phát triển bền vững” đã cho thấy
3 Điều lệ Đại hội đại biểu toàn quốc mặt trận tổ quốc Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ
2009-2014 http://www.mattran.org.vn/Home/daihoi7/daihoiMTTQVN-VII.htm#10
Trang 27những bước chuyển trong chiến lược phát triển của Hội để bắt kịp nhịp độ phát triển không chỉ của Việt Nam mà còn hội nhập vào xu thế toàn cầu
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ V năm 1982 đề ra các nhiệm vụ cho phụ nữ Việt Nam giai đoạn 1982-1987 đó là tập trung vào việc nâng cao giác ngộ ý thức chính trị, xây dựng và bảo vệ tổ quốc vì độc lập dân tộc, tổ chức hoạt động hội Đến đại hội Đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ VI năm 1987, vấn đề về phụ nữ và trẻ
em đã được quan tâm và đề cập đến nhiều hơn bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị Hiện nay, Hội đã chú trọng nhiều hơn các hoạt động liên quan trực tiếp tới các thành viên, chú trọng đến việc nâng cao trình độ cho hội viên Như vậy, bên cạnh
vị trí chính trị sẵn có, hội phụ nữ cho thấy tổ chức này có sự biến chuyển về nhận thức trong việc chủ động hơn trong các chương trình hành động với đối tượng hướng đến được cụ thể hơn
Đoàn thanh niên
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ X (nhiệm kỳ 2012-2017) là sự khẳng định những nhiệm vụ, vai trò của Đoàn thanh niên được thể hiện trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) thông qua đề án "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" và Nghị quyết số 45/NQ-CP về ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X Văn kiện nhấn mạnh đến vai trò của đoàn trong việc tham gia xây dựng chính quyền; phát triển và quản lý xã hội; tuyên truyền, vận động đoàn viên thanh niên thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, v.v
Hội cựu chiến binh
Tháng 01-2002 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ra Nghị quyết chuyên đề số 09-NQ/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác CCB Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới” Điều lệ Hội 2007 cũng xác định rõ vai trò “tham mưu giúp cấp ủy Đảng và làm nòng cốt tập hợp, đoàn kết, vận động Cựu chiến binh thực hiện các nhiệm vụ chính trị-xã hội của cách mạng, của Hội; tham
Trang 28gia giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước”
1.2 Chính sách xã hội
Các tổ chức đoàn thể có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện quy định pháp luật
về an sinh xã hội bao gồm: tiếp nhận các ý kiến phản ảnh của nhân dân, trực tiếp tiếp thu các thông tin, tài liệu để xem xét, theo dõi và phát hiện hành vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân….trong việc thực hiện quy định pháp luật về
an sinh xã hội, kiến nghị trực tiếp với chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân, …các tổ chức có thẩm quyền để giải quyết (QĐ số 31/2011/QĐ-TTg ngày 2/6/2011) Trước đó, Chính phủ đã ban hành nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập nhằm phát triển các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, môi trường, xã hội… Ngoài ra, nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường Kèm theo đó là Thông tư
số 135/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008 của Bộ tài chính quy định các điều kiện được hưởng chính sách khuyến khích phát triển xã hội hóa giáo dục, y tế đã tạo thuận lợi đẩy mạnh xã hội hóa đới với lĩnh vực giáo dục, y tế Để tạo nguồn tài chính cho các
tổ chức xã hội, quyết định 21/2003/QĐ-TTg ngày 29/1/2003 và thông tư 123/2003/TT-BTC ngày 16/12/2003 của Bộ tài chính, theo đó Nhà nước hỗ trợ kinh phí toàn bộ hoặc một phần từ ngân sách cho các tổ chức CT-XH-nghề nghiệp, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp có hoạt động gắn với nhiệm vụ của nhà nước
Chương trình phối hợp số 937 giữa Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Thanh tra Chính phủ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam ký ngày 7 tháng 7 năm 2014 về việc giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội trong các loại hình doanh nghiệp trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đặc thù, thế mạnh của tổ chức Công đoàn để triển khai có
Trang 29hiệu quả các chương trình công tác của Mặt trận và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tránh sự chồng chéo về nội dung, đối tượng trên cùng địa bàn giám sát [96] Theo đó, Mặt trận cùng với các cơ quan này thông qua giám sát kiến nghị với các cơ quan chức năng có các giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tình trạng nợ, chậm và trốn đóng BHXH của người sử dụng lao động; có thêm cơ sở thực tiễn để tham gia góp ý sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội, nhằm bảo vệ tốt hơn quyền được tham gia và hưởng BHXH của người lao động Ngoài ra, chương trình phối hợp số 42 ngày 10 tháng 9 năm 2014 giữa 5 cơ quan, tổ chức: Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Bộ Y tế, Liên hiệp các hội KH&KT VN, Tổng hội Y Dược học VN, Hội Dược học VN trong việc giám sát chấp hành pháp luật của các cơ sở y
tế tư nhân thông qua các hoạt động: chủ trì, hướng dẫn triển khai chương trình ở các địa phương, tuyên truyền vận động chính sách [4] Trong bối cảnh hiện nay, khi
cả nước có hơn 30.000 phòng khám tư nhân, 39.000 nhà thuốc tư nhân, song ngành
y tế từ Bộ đến các sở y tế các tỉnh, thành phố chỉ có 250 thanh tra viên, do đó, phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể trong phối hợp giám sát hoạt động hành nghề y dược tư nhân là hết sức cần thiết [76]
Có thể thấy, vai trò trong đảm bảo an sinh xã hội được quy định đối với các tổ chức mới chỉ dừng ở mức độ trong vai trò giám sát, trợ giúp cùng với các cam kết hỗ trợ tài chính của Chính phủ đối với các hoạt động này
Nhìn từ phía người dân, có thể cũng đồng thời là hội viên (thực tế hoặc ghi danh) của các đoàn thể quần chúng, thì các tổ chức này cũng thể hiện vai trò tích cực trong cộng đồng Các tổ chức CT-XH cùng với các tổ chức khác của làng xã dưới sự chỉ đạo trực tiếp của của Đảng bộ xã đang thể hiện như là một cộng đồng tự quản chính sách xã hội mạnh và có tổ chức [14] Người dân đánh giá cao các tổ chức này trong việc góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao vai trò của phụ nữ, phòng chống tham nhũng, chống tệ nạn xã hội, tăng cường đoàn kết cộng đồng, thúc đẩy bình đẳng, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, v.v Thực tế đó cho thấy, một mặt các tổ chức CT-XH không chỉ chú trọng vào chức năng tập hợp, giáo dục quần chúng tham gia
và thực hiện có hiệu quả các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước Mặt
Trang 30khác, họ cũng đã coi việc bảo vệ, đáp ứng những nhu cầu, lợi ích chính đáng của các thành viên trong tổ chức mình như là một chức năng cơ bản [62] Đó chính là một trong những nguyên nhân quan trọng thúc đẩy các tổ chức này hoạt động ngày càng
có hiệu quả, thu hút sự tham gia của đông đảo thành viên
Khảo sát của Nguyễn Đức Vinh cho thấy những đánh giá tích cực về góp phần xóa đói giảm nghèo với tỷ lệ được ghi nhận cao nhất là Hội Phụ nữ (73%), Hội nông dân (30%) và Hội cựu chiến binh (21%) Nhìn chung, Hội phụ nữ được tỷ lệ người dân ghi nhận cao nhất so với các tổ chức khác trong việc tác động tích cực đến hoạt động “nâng cao vai trò phụ nữ” (82%) [64] Đối với tác động “trợ giúp, bảo vệ Đảng, chính quyền” và “chống tham nhũng”, Hội Phụ nữ có tỷ lệ người dân ghi nhận đứng thứ hai, thấp hơn so với Hội Cựu chiến binh Ngoài hai khía cạnh trên, Hội Cựu chiến binh còn được đánh giá cao trong việc tác động tích cực đến “chống tệ nạn xã hội”,
“tăng cường đoàn kết cộng đồng”, “phát huy dân chủ”, thúc đẩy công bằng, bình đẳng
và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần” Đoàn Thanh niên được đánh giá cao trong các hoạt động bảo vệ môi trường và chống các tệ nạn xã hội [88], [64] Ngoài ra, cung cấp thông tin bổ ích cho người dân đặc biệt là phụ nữ là một trong những ưu điểm tuyệt đối trong các cuộc họp được tổ chức bởi các tổ chức quần chúng (hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên) [83] Điều đó cho thấy, mặc dù trong thực tế có một
tỷ lệ không nhỏ những hội viên tham gia có tính chất ghi danh và hình thức thì cũng không thể phủ định phạm vi ảnh hưởng của chúng khi các tổ chức này tiến hành các hoạt động đồng bộ từ trung ương tới địa phương [114]
Tuy nhiên theo đánh giá, việc duy trì và phát triển các tổ chức CT-XH hiện nay vẫn phải trên cơ sở vận động là chủ yếu chứ chưa phải là tự chủ tham gia với ý thức xây dựng cộng đồng và xã hội [64] Cách thức hoạt động của các đoàn thể chính trị-xã hội vẫn mang tính “hành chính hóa” và các đoàn thể này đang làm việc do Ủy ban nhân dân phân công “sai khiến” nên đánh mất các chức năng thực sự của một hội [8] Cách thức tham gia còn mang tính bị động như vậy nên có cảm giác rằng các tổ chức chủ động ở cấp địa phương như hợp tác xã hay nhóm sở thích lại “không hiệu quả trong việc huy động sự tham gia” và chỉ “lãnh đạo địa phương chứ không phải
Trang 31người dân bình thường biết về các chính sách và chương trình” [45] Một nghiên cứu của Bế Quỳnh Nga cho thấy phong trào của các hội đoàn thể chưa thực sự thu hút được sự quan tâm của người dân do chưa đi sâu đi sát vào đời sống của quần chúng, chưa nắm bắt được nhu cầu cũng như mong muốn thực sự của họ, chỉ mang tính hình thức chưa có chiều sâu, hoạt động tuyên truyền, truyền thông chưa hiệu quả [6] Thực chất, xem xét việc tham gia các đoàn thể quần chúng của các thành viên không chỉ để tìm những lý do, động cơ, sức hút từ các tổ chức mà còn là sự nhận định, đánh giá về vai trò của các tổ chức đoàn thể quần chúng Quan trọng hơn đó là sự phản ánh “tiếng nói” của các tổ chức quần chúng trong việc đưa ra các quyết định về kinh tế, xã hội địa phương [9]
1.3 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong vận động dân chủ cơ sở tại địa phương
Sự tham gia của người dân vào các hoạt động chính trị, xã hội được coi như một giá trị dân chủ và như một cơ hội cho sự phát triển tự thân và đầy đủ của mỗi cá nhân Ngay cả trong trường hợp mọi quyết định cuối cùng đều là ý chí của đa số, các nhóm thiểu số vẫn được phép vận dụng những phương pháp đã được thể chế hoá để giành ảnh hưởng hoặc thắng lợi cho quan điểm của mình Một trong những cách thức người dân thực hiện những quyền dân chủ của mình là thông qua các tổ chức xã hội [90] Nội dung sinh hoạt quan trọng của Mặt trận tổ quốc và tổ chức đoàn thể ở cơ sở hiện nay là thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở theo Chỉ thị số 30 CT-TW của Bộ Chính trị và Nghị định số 29/CP của Chính phủ bắt đầu có hiệu lực từ năm 1998 Liên quan đến vấn đề này, tài liệu nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu á đánh giá việc thông qua Nghị định Dân chủ cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia tích cực hơn của các tổ chức chính tri-xã hội trong các quyết định ở cơ sở Nghị định này được sửa đổi vào năm 2005, các tổ chức CT-XH đóng vai trò tích cực trong việc tổ chức và giám sát thực hiện Nghị định này ở xã, phường [1] Kết quả thống kê cho thấy: trong vòng 2 năm (2005-2006), 165 chức danh là Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và 2.304 trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố đã bị xem xét miễn nhiệm do không nhận được sự tín nhiệm cao của nhân dân và Mặt trận
Trang 32Tổ quốc ở cơ sở [41] Thông qua tuyên truyền, giám sát, xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở mà Mặt trận cùng các đoàn thể góp phần hạn chế những xung đột giữa các tầng lớp nhân dân cũng như giữa nhân dân với chính quyền [72] Từ đó, góp phần xây dựng bộ máy chính quyền cấp cơ sở vững mạnh, thiết lập mối quan hệ đoàn kết, hợp tác giữa chính quyền với người dân
Đảm bảo dân chủ cơ sở cần phải được thực hiện một cách trực tiếp và gián tiếp Đó là đảm bảo cho người dân biết các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để họ được bàn, được kiểm tra một cách trực tiếp những công việc của chính quyền và những vấn đề có liên quan trực tiếp tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của
họ [82] Bên cạnh đó, một cách gián tiếp thông qua các đoàn thể như Mặt trận tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh v.v người dân được giám sát hoạt động của chính quyền, đảm bảo cho nhân dân ở cơ sở được
tự bàn bạc, tự quyết định hoạt động của mình trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước [19]
Việc còn né tránh những vấn đề bức xúc, phức tạp, chưa dũng cảm bênh vực, bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhân dân khiến cho hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức CT-XH trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở chưa đạt được kết quả như mong muốn [91] Bởi đại diện của các đoàn thể chính trị-xã hội là những người rất gần dân, nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của dân Vì thế, nếu các đoàn thể này nói lên tiếng nói của người dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của nhân dân sẽ đem lại lợi ích cho cả hai phía: người dân và chính quyền tại các địa phương Tác giả Nguyễn Duy Quý cho rằng, sự phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nếu không có những quy chế hiệu quả, phù hợp sẽ dẫn đến tình trạng: các đoàn thể luôn ở thế bị động và luôn phải “gõ cửa” chính quyền [62]
Theo Trần Thái Dương, các tổ chức CT-XH thống nhất giữa hai mặt chính trị
và xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc vận động nhân dân thực hiện các nhiệm
vụ đặt ra đối với cách mạng Việt Nam thông qua những hình thức phù hợp Mặt trận
Tổ quốc có chức năng tham chính, tham nghị và giám sát; đoàn kết nhân dân, chăm
Trang 33lo đời sống, lợi ích của các thành viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân
[99] Điều đó càng cho thấy tầm quan trọng của các tổ chức này thông qua việc tổ chức các hoạt động thể hiện sự tham gia của người dân (hoạt động kiểm tra, giám sát)
ở mức độ cao nhất [54] Như thế, so với các tổ chức xã hội khác thì các tổ chức
CT-XH tham gia một cách trực tiếp hơn trong việc tham gia và tuân thủ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Các tổ chức CT-XH là thiết chế quan trọng, là môi trường thuận lợi để hội viên
có cơ hội thực hành cũng như phát huy dân chủ, được chia sẻ thông tin, bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng, hợp pháp [92] Như cách nói của người nông dân Nam bộ:
ở trong Hội (đoàn thể) thì cái thân phận người nghèo của anh ta mới được cải thiện Như thế tư cách thành viên của một đoàn thể quần chúng là cái làm cho anh ta – người nông dân nghèo – có khả năng trở thành một “con người bình đẳng” như người khác [11] Đó trở thành một trong những động cơ quan trọng nhất thúc đẩy người nông dân tham gia một cách nhiệt tình nhất Để có được những kết quả đó, các đoàn thể ở
xã, thôn từng bước thay đổi cách thực hoạt động thông qua việc: lắng nghe hơn ý kiến đóng góp của đoàn/hội viên và nhân dân; đổi mới tổ chức và hoạt động theo hướng dân chủ hóa và công khai hóa; từng bước thay đổi phương pháp và tác phong làm việc; làm cho đoàn viên, hội viên ý thức rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình với tổ chức, v.v [51] Và trong một chừng mực nhất định thì các đoàn thể này cũng chuyển tài những kiến nghị, ý kiến của người dân thuộc nhóm mình phụ trách tới Đảng hay nói một cách khác là thực hiện giám sát đối với hoạt động của cơ quan nhà nước [84]
Trong một nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Hữu Nghị cho rằng các tổ chức CT-XH đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, thực hiện pháp luật cũng như tham gia giám sát Và vai trò này thể hiện rõ nhất thông qua tư cách là một trong những thành viên không thể thiếu của ban hòa giải, các tổ chức này cùng với cán bộ
tư pháp và lãnh đạo thôn đóng vai trò quan trong trọng việc giải quyết các xích mích, khiếu nại chủ yếu hướng đến việc đảm bảo của một nền dân chủ cơ sở [85]
Trang 34Nghiên cứu tại 5 tỉnh Tây Nguyên tiếp tục khẳng định điều này, theo đó các đoàn thể chính trị-xã hội là tổ chức đầu tiên được người dân thông báo giải quyết các
vi phạm hay xích mích xảy ra tại cơ sở Cách làm như vậy cũng nhận được sự ủng hộ của chính quyền cấp xã và trưởng thôn/buôn [12] Thực tế đó cho thấy, có thể có sự hạn chế về khả năng kiểm tra các cơ quan hành pháp của các tổ chức quần chúng do
sự phụ thuộc vào Đảng và ngân sách nhà nước Nhưng ở cấp cơ sở, các tổ chức quần chúng cho thấy họ tự chủ hơn so với các tổ chức ở cấp trung ương [112] Tuy nhiên, việc hỗ trợ của chính quyền các cấp nhất là về kinh phí, thực hiện chế độ khoán kinh phí theo cơ sở, không có cơ chế ràng buộc, bảo đảm, đang tạo tâm lý thụ động, biến các đoàn thể từ một tổ chức có tính độc lập trở thành tổ chức đơn thuần giúp việc cho chính quyền cơ sở [19]
Mặt khác, một thực tế hiện nay dù đang hoạt động cũng như được đầu tư lớn nhưng các tổ chức CT-XH có xu hướng hành chính hóa và xa dần với cách tiếp cận
đi vào quần chúng – cái vốn là đặc trưng của các tổ chức này lúc mời thành lập [107]
Có lẽ tính hình thức vẫn còn khá rõ dẫn tới mức độ của khả năng kiểm tra, giám đối với các tổ chức này chỉ dừng lại ở mức tối thiểu Mô hình chung, việc thiếu những cơ chế mở hơn nữa cho sự tham chính của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức đoàn thể đã hạn chế hiệu quả hoạt động của chính các cơ quan nhà nước [18] Sự hạn chế về trình
độ chung và năng lực công tác đặc biệt về khả năng tổ chức, vận động, thuyết phục người dân dẫn đến việc trình bày, phổ biến quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chính sách còn chưa rõ, thiếu sức thuyết phục Dẫn đến uy tín và vai trò của các đoàn thể trong phát động, tuyên truyền các phong trào còn khá thấp [101] Các tổ chức chính trị-xã hội được tổ chức và hoạt động rập khuôn theo lối “hành chính” và hầu như đã
“hành chính hóa”, lệ thuộc vào chính quyền, mất khả năng kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền Vai trò đại điện cho quyền lợi của các hội viên tập hợp quần chúng, thực hành dân chủ ở cơ sở nhiều nơi bị lu mờ [87] Nói như tác giả Trần Khắc Việt, thì đó là một trong những khuyết tật kéo dài của các tổ chức CT-XH trong số rất nhiều những khuyết tật đó là: hành chính hóa, cán bộ bộ công chức hóa, hoạt động mang tính phong trào bề nổi, xa rời cơ sở, chưa tự chủ được tài chính [98]
Trang 351.4 Vai trò của các tổ chức CT-XH trong xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội
Kể từ khi Đổi mới, các đoàn thể chứng tỏ vai trò nhiều hơn trong phát triển kinh tế xã hội bằng việc tham gia cung cấp các dịch vụ xã hội cho Chính phủ Các tổ chức này cho thấy chức năng kép mà họ đang đảm nhận: vừa mang tính chất xã hội
và vừa mang tính chất phát triển [57] Từ giữa thập niên 90, khi chương trình xóa đói giảm nghèo trở thành một nhiệm vụ chiến lược, các tổ chức CT-XH đã trở nên năng động hơn Các hoạt động giảm nghèo trở thành tâm điểm hoạt động của các tổ chức
xã hội nói chung và các đoàn thể chính trị-xã hội nói riêng Trong vòng 9 năm 1999), thông qua cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” các đoàn thể tại các địa phương đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 30% xuống còn 11%; vận động đóng góp hàng trăm tỷ đổng giúp các hộ nghèo có vốn sản xuất [19] Vai trò của các tổ chức này thực sự có ý nghĩa khi Ngân hàng Chính sách
(1990-xã hội bắt đầu giao phó các chương trình tín dụng cho các đoàn thể địa phương [123]
Rõ ràng, việc định hướng cho hoạt động của các tổ chức cùng với “quyền” tham gia của hội viện đã tạo ra độ đa dạng và phức tạp hơn so với trước kia [50] Trong bối cảnh khi mà các chính sách hỗ trợ tín dụng cho người dân đặc biệt các hộ nghèo dường như chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế với những ràng buộc về các thủ tục như: đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tài sản thế chấp, dự án sản xuất… Cùng với thực tế đó là Quỹ tín dụng xã chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân4 [95] thì sự bảo lãnh thông qua các tổ chức CT-XH là sự lựa chọn gần như duy nhất dành cho cư dân nông thôn đặc biệt là các hộ nghèo
Theo báo cáo của ngân hàng chính sách (VBSP) chi phí tín thác của VBSP chi trả cho các tổ chức CT-XH năm 2012 là 1.412 tỷ đồng và đến năm 2013 con số tiếp tục tăng lên 1.862 tỷ đồng và dự kiên của năm 2014 là 2066,1 tỷ đồng [107] Thực tế
đó cho thấy hiệu quả về hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong việc cung cấp vốn tín dụng cho hộ nông dân Nghiên cứu của tác giả Bùi Quang Dũng và đồng nghiệp đưa ra lý do mà người dân tham gia các Hội là vì đó là nơi cung cấp các khoản tín
4 chỉ có 12,3% xã ấp của Đông Nam bộ có Quỹ tín dụng xã
Trang 36dụng ngắn hạn và những kiến thức khuyến nông cho người dân, bên cạnh các nguồn chính thức khác [11]
Các nghiên cứu hiện nay cho thấy ta thấy được vai trò của các tổ chức, các quỹ tín dụng trong việc hỗ trợ người dân với tư cách như là những tổ chức phúc lợi xã hội
hỗ trợ, trợ giúp người dân đặc biệt là những nhóm yếu thế Ở Philippine, Trung tâm Phát triển nông thôn và nông nghiệp (CARD) áp dụng mô hình của ngân hàng Grameen (Bangladest) từ những năm 1980 và cho đến nay đã trở thành một tổ chức
có quy mô rộng lớn và trở thành một tổ chức tài chính chính thức giúp cho phụ nữ nghèo và và những người thiệt thòi Trong khi đó, ở Thái Lan Viện Phát triển cộng động (trực thuộc chính phủ) lại hướng đến nhóm đối tượng là những người lao động thuộc khu vực phi chính thức bằng việc hỗ trợ tiền mặt cho họ thông qua quỹ phúc lợi cộng đồng Ở Indonesia, hình thức trợ giúp này lại thông qua tổ chức tôn giáo hướng tới đối tượng thụ hưởng đó là người nghèo [115] Ở Việt Nam, các tổ chức đoàn thể cũng đóng vai trò tương tự như vậy khi chúng ta thấy được vai trò của các
tổ chức này trong việc giúp người nghèo có cơ hội tiếp cận những nguồn vốn vay ưu đãi Thể hiện qua việc chính quyền xã chấp nhận cho người dân vay vốn của ngân hàng chính sách hay ngân hàng nông nghiệp chỉ cần thông qua thư giới thiệu hoặc một giấy tờ tương tự như thế từ phía Hội phụ nữ, Hội nông dân hay bất cứ một tổ chức nào trong hệ thống các tổ chức CT-XH [124] Bên cạnh đó, các yếu tố như: trình
độ văn hóa của chủ hộ, điều kiện kinh tế của hộ, giới tính chủ hộ, thủ tục lãi suất cho vay, thời gian vay vốn và lượng vốn vay của các tổ chức cũng là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và rõ ràng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn của người dân [68] Trong khi đó, một nghiên cứu tại Đài Loan cho thấy các hội, hiệp hội sử dụng vốn nội lực như là nguồn vốn chính cho hội viên vay vốn.Hiện nay có 4 hiệp hội lớn ở Đài Loan: Hiệp hội nông dân, Hiệp hội thuỷ lợi, Hiệp hội ngư dân và Hợp tác xã marketing cây
ăn quả Các hội này là những nhóm hợp tác đa mục đích, do chính những người nông dân lập ra nhằm mang lại những lợi ích cho chính họ Các hiệp hội này đóng vai trò tích cực trong việc cung cấp tiền vốn vay cho người dân với mục đích sản xuất và marketing [116] Như vậy, với nhiều quốc gia vai trò an sinh, trợ giúp đối với nhóm
Trang 37yếu thế chủ yếu tập trung ở chính bản thân năng lực của các tổ chức với sự huy động nguồn vốn tự thân Trong khi đó ở Việt Nam, mô hình này có sự khác biệt đôi chút khi mà nhà nước vẫn là người đứng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp nguồn vốn
và thông qua các tổ chức để tiến hành phân phối và kiểm soát nguồn vốn đến với các nhóm đối tượng Các đoàn thể địa phương đặc biệt là hội Phụ nữ không chỉ tham gia
hỗ trợ vốn cho người dân thông qua ngân hàng chính sách mà đoàn thể này còn cho thấy vai trò của mình trong các tổ chức tài chính vi mô trong việc vận dụng mạng lưới thành viên của mình để rà soát và hỗ trợ vay vốn cho những người nghèo có nhu cầu [65] Tuy nhiên một quan điểm khác lại cho rằng việc phân bổ nguồn tài chính cho nhiều đầu mối (Ủy ban nhân dân, các tổ chức đoàn thể ) với nhiều nguồn quỹ khác nhau (từ vốn Nhà nước, vốn huy động trong dân,…) khiến nguồn vốn bị phân tán nên các phần chia cấp thường quá nhó, không phát huy được hiệu quả trong đầu
tư xóa đói giảm nghèo bền vững [100] Tất nhiên, không thể không nói tới chiều ngược lại của vấn đề, đó là sự phân tán nguồn vốn đồng nghĩa với việc mạng lưới được thụ hưởng sẽ mở rộng hơn, tạo thêm nhiều cơ hội được tiếp cận nguồn hỗ trợ nhất là những hộ gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Như thế, nếu so với mô hình tổ chức của một số nước thì các tổ chức đoàn thể ở nước ta đóng vai trò là tổ chức trung gian trong các hoạt động phúc lợi xã hội hướng tới các nhóm đối tượng xã hội yếu thế, đặc thù
Theo đánh giá của Norlund, trong suốt những năm 2000 chứng kiến sự dịch chuyển trọng tâm hoạt động của các tổ chức CT-XH ở Việt Nam Theo đó, hoạt động hầu hết của các tổ chức này là nhằm hướng tới mục tiêu giảm nghèo, từ thiện nhân đạo, tự quản, phát triển nghề nghiệp nhưng lại ít hướng tới các vấn đề pháp lý [123] Các tổ chức CT-XH trong những thập niên vừa qua là nơi huy động đóng góp từ thiện
ở Việt Nam nhằm hỗ trợ các nạn nhân và người nghèo [21] Nghiên cứu ở Nam Định
và An Giang cho thấy, từ thiện là một trong ba hoạt động chính mà người dân trong các tổ chức đoàn thể tham gia trong đó Nam Định chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với An Giang [23] Trong một nghiên cứu của ISEE (2015) cho thấy, người dân đánh giá cao các tổ chức nhà nước trong hoạt động từ thiện mang nhiều ưu trội về tính chất “đúng
Trang 38đối tượng’, “kịp thời”, “phù hợp với nhu cầu cần giúp đỡ” Tất nhiên không loại trừ trường hợp người dân không biết về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ đề đánh giá [46]
Các tổ chức này triển khai các chiến dịch do nhà nước khởi xướng, nhưng họ cũng thực hiện hàng ngàn dự án và chương trình tín dụng cho người nghèo Nhiều đại diện của các đoàn thể chính trị-xã hội cho biết tổ chức của họ tham gia vào các lĩnh vực như công tác xã hội, xóa đói giảm nghèo, tăng cường dân chủ cơ sở, thúc đẩy phát triển kinh tế và đấu tranh cho bình đẳng giới [126] Một phần không nhỏ dẫn tới thành công của các dự án quốc tế về giảm nghèo đó là sự lựa chọn các tổ chức CT-XH tại địa phương tham gia với tư cách là đối tác chịu trách nhiệm chính nhưng đồng thời họ cũng chính là người hưởng lợi (các thành viên) do vậy đảm bảo tính nhiệt tình, trách nhiệm rất cao của người tham gia dự án [104]
Vai trò của các tổ chức CT-XH cũng được đặc biệt nhấn mạnh như là một trong những giải pháp tích cực góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế, văn hóa và đảm bảo an sinh xã hội cho cư dân nông thôn Phát huy vai trò của hội nông dân trong việc đẩy mạnh thực hiện Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng (phong trào sản xuất, kinh doanh giỏi) được xem như là một cách thu hút đông đảo hội viên tham gia [106] Các hoạt động kinh tế - xã hội đã được các tổ chức đoàn thể này vận dụng một cách khá linh hoạt phù hợp với người dân địa phương, từ đó tạo ra được hiệu quả trong các hoạt động của các hội cũng như sự gắn kết giữa người dân với hội cũng như với chính quyền địa phương [8] Các tổ chức tiêu biểu cho việc tập hợp lực lượng và đại đoàn kết toàn dân song chưa bao quát hết toàn bộ các tầng lớp nhân dân
và chưa đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu đa dạng và phong phú của người dân Việc tập hợp các thành viên, hội viên là đối tượng chính của các tổ chức như Mặt trận và các tổ chức CT-XH hiện nay vẫn còn nhiều lúng túng, hiệu quả chưa cao [92] Do
đó xây dựng, phát triển các dự án có thể coi là cách thức hữu hiệu để tập hợp và thu hút sự tham gia của người dân
Trang 39Có nhiều cách thức để các tổ chức xã hội nói chung và tổ chức CT-XH nói riêng tham gia vào quá trình phát triển xã hội Tại Hàn Quốc, “phong trào cải thiện làng mới” do tổng thống Park Chung Hee phát động trong đó thông qua việc đảm nhận vai trò của các tổ chức cộng đồng như Hội Nông dân, Liên hiệp Hội Phụ nữ, Liên hiệp Hội Thanh niên (tổ chức thống nhất từ trung ương tới địa phương) nhằm
“phát triển tinh thần của nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ và chính sách để kích thích mạnh tinh thần và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân [117]
Có thể nói, Hàn Quốc đã khai thác triệt để đặc điểm tâm lý xã hội của cư dân nông thôn trong đó tình cảm cộng đồng và sự cố kết chặt chẽ là nhân tố quan trọng
Kerkveliet cho rằng có bốn vai trò chính của các tổ chức xã hội ở Việt Nam: (1) thực hiện các hợp đồng dịch vụ; (2) tham gia xây dựng luật và chính sách; (3) giám sát các dự án của chính phủ và doanh nghiệp; (4) truyền tải các ý kiến của công dân tới các cơ quan chính quyền [120] Nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với quan điểm này, nhấn mạnh tới vai trò của các tổ chức xã hội trong việc giám sát các dự án chính phủ và doanh nghiệp, đặc biệt là những dự án sử dụng nguồn lực của nhà nước [69]
Nếu như trước kia, nhận thức về vị trí, vai trò về mặt trận, đoàn thể của cấp ủy chưa đầy đủ dẫn đến chưa mạnh dạn giao các chương trình dự án cho tổ chức đảm trách, nhiều đoàn thể không biết đến các chương trình, dự án tại địa phương [30] Trong giai đoạn hiện nay đã có sự biến đổi, năm 2010, từ kết quả của 300 cuộc phỏng vấn đối với các tổ chức xã hội ở Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội, trong đó có các tổ chức CT-XH, Wischermann chứng minh các tổ chức này, với sự năng động của nó, đã hoạt động tích cực hơn, phát triển nhanh hơn so với các nhiệm vụ được giao và cơ chế hoạt động đã ấn định [127] Đây cũng là lí do những tổ chức CT-XH ngày càng chiếm
vị trí quan trọng trong việc quản lý nhà nước trong những năm gần đây Theo Nguyễn Thu Nghĩa, thông qua tổ chức hội, các thành viên có điều kiện được tăng cường mở rộng các nguồn vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh hạn chế được hiện tượng cho vay nặng lãi; được giúp đỡ về vốn để phát triển kinh tế trong trường hợp gặp khó khăn; được đào tạo nghề, giới thiệu và tạo việc làm[78]
Trang 40Việc lựa chọn hội phụ nữ tham gia có thể coi là quyết định chiến lược bởi những đặc trưng “nhiệt tình, trách nhiệm, chịu học hỏi các kỹ năng mới, hiểu biết kỹ gia cảnh người vay” nên đã thành công đến hàng chục vòng vay vốn với khoản tiết kiệm trong mỗi dự án lên đến tiền triệu [63] Bằng hành động thiết thực của mình hội phụ nữ tạo ra một mạng lưới an sinh quan trọng và bền vững thông qua những hoạt động chính thức cũng như phi chính thức [57] Và đó chính là động cơ quan trọng gia tăng số lượng hội viện của tổ chức này nói riêng cũng như các tổ chức xã hội nói chung
Những lợi ích thu được khi tham gia vào hội/tổ chức như là được chia sẻ kiến thức thông tin, hay bồi dưỡng chuyên môn, năng lực bản thân chính là lý do khiến những người hoạt động tích cực trong các tổ chức CT-XH đánh giá hoạt động của các
tổ chức này chủ yếu với hai mức độ quan trọng và rất quan trọng [53] Một số địa phương, các đoàn thể chính trị-xã hội thành lập các nhóm đổi công lao động và từ đó giảm thiểu sự đóng góp về mặt tài chính của người dân [54] Một nghiên cứu của Dale tại Đài Loan cho thấy người ta tham gia vào các hiệp hội, hội ví dụ như Hiệp hội nông dân, Hiệp hội thủy lợi v.v vì ở đó họ được nâng cao tri thức nông nghiệp, các kỹ năng gia tăng sản xuất, tăng thu nhập nông nghiệp và cải thiện điều kiện sống của mình Ngoài ra tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn cũng là một vấn đề được quan tâm Thông qua hiệp hội thủy lợi hơn 60% đất nông nghiệp có hệ thống thuỷ lợi [116]
Tiểu kết Chương 1
Từ những điểm luận tài liệu nói trên cho thấy, về mặt chính sách vai trò đảm bảo an sinh xã hội đối với cư dân nông thôn của các tổ chức CT-XH chưa được thể hiện một cách rõ nét Chúng ta mới chỉ thấy được vai trò giám sát, trợ giúp của các
tổ chức này song hành cùng với các cam kết hỗ trợ tài chính của Chính phủ trong các chương trình an sinh xã hội
Thực tiễn cho thấy, các tổ chức CT-XH không chỉ đảm bảo thực hiện hoạt động tuyên truyền, phổ biến các chính sách, chủ trường đặc biệt là việc tham gia thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Ngoài ra, họ cũng đã coi việc bảo vệ, đáp ứng những