1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

QLDA bang microsoft project 2013

223 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 12,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sách được bố cục thành 9 chương, trình bày một số kiến thức tổng quan về dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng, đồng thời những tác vụ căn bản mà bạn cần thực hiện trong Microsoft Proje

Trang 1

See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/327112132

Quản lý dự án bằng phần mềm Microsoft Project 2013

Book · July 2017

CITATIONS

0

READS 4,701

Some of the authors of this publication are also working on these related projects:

Critical success factors for the implementation of the PPP infrastructure projects: a case of Vietnam View project

gentrification, preservation View project

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Cuốn sách “Quản lý dự án bằng phần mềm Microsoft Project 2013” được biên soạn nhằm mục đích hướng dẫn sử dụng chương trình Microsoft Project 2013 giúp bạn đạt được hiệu quả cao hơn trong việc quản lý dự án

Sách được bố cục thành 9 chương, trình bày một số kiến thức tổng quan về dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng, đồng thời những tác vụ căn bản mà bạn cần thực hiện trong Microsoft Project 2013 để xây dựng các kế hoạch của dự án, phân công nguồn lực cho dự án, theo dõi tiến độ, quản lý ngân sách và phân tích khối lượng công việc Các tác vụ được thiết kế theo từng đề mục cụ thể, bao hàm trong các chủ đề như khảo sát môi trường Microsoft Project 2013, tạo một dự án mới, xây dựng các tác

vụ, tạo các nguồn tài nguyên và ấn định các khoản chi phí, lập báo cáo về tiến độ thực hiện dự án, giải quyết những xung đột trong khi định thời biểu, giải quyết các vấn đề về nguồn tài nguyên, xem lại tiến độ công việc, phân tích tiến độ tài chính, và phối hợp nhiều dự án bên ngoài Project Server

Cuốn sách này cũng có thể được sử dụng như là một tài liệu tham khảo cho giảng dạy các môn học Tin học xây dựng, Tổ chức xây dựng và các môn học liên quan khác

Hy vọng với cuốn sách này, bạn sẽ thành thạo hơn trong việc sử dụng Microsoft Project 2013trong quản lý dự án và trở thành một nhà quản lý

dự án giỏi

Trang 4

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ

DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH

1.1 ĐẦU TƯ

1.1.1 Khái niệm về đầu tư

Đầu tư là hoạt động có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Theo cách hiểu thông thường thì đầu tư là việc bỏ ra một lượng nguồn lực xác định (tiền, của cải vật chất như máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu và nhân lực, ) tiến hành một hay nhiều hoạt động nhằm thu về kết quả lớn hơn lượng nguồn lực đã bỏ ra ban đầu Do ý nghĩa hết sức quan trọng của hoạt động đầu tư nên có nhiều khái niệm đầu tư của các nhà kinh tế

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, đầu tư là việc “bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh, hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới, hoặc thực hiện việc hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng” (trang

761, quyển 1, xuất bản năm 1995)

Theo John M Keynes, đầu tư theo cách hiểu thông thường nhất là việc cá nhân hoặc công ty mua sắm một tài sản Trong một số trường

hợp, đầu tư bị giới hạn trong việc mua tài sản chứng khoán

Theo P.A Samuelson, đầu tư là hoạt động tạo ra tư bản thực sự, dưới các dạng nhà ở, tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị

và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho Còn dưới dạng tài sản vô hình,

đầu tư có thể là giáo dục, nâng cao chất lượng nhân lực, các nghiên cứu, phát minh, Dưới góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được

hiểu là “Hoạt động kinh tế từ bỏ tiêu dùng hiện nay với tầm nhìn để tăng sản lượng trong tương lai” Trên góc độ rủi ro, đầu tư được hiểu là “canh

Trang 5

bạc tương lai” với niềm tin và kỳ vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn chi phí đầu tư ban đầu Theo quan điểm của P.A Samuelson, đầu tư

là sự hy sinh tiêu dùng hôm nay để có thu nhập cao hơn trong tương lai

và quá trình đó chứa đựng những rủi ro

Theo Pierrce Conso, khái niệm đầu tư cần được xem xét trên từng

quan điểm: (1) Theo quan điểm kinh tế, đầu tư là quy trình làm tăng tài sản cố định để sản xuất kinh doanh; (2) Theo quan điểm tài chính, đầu

tư là quá trình làm bất động hóa một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong

thời kỳ tiếp sau; (3) Theo quan điểm kế toán, đầu tư gắn liền với việc

phân bổ các khoản vốn đầu tư vào các mục đích chi cố định trong một thời gian nhất định để phục vụ cho việc quản lí kết quả đầu tư

Sachs - Larrain định nghĩa tổng quát về đầu tư như: "Đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế" Sản lượng ở đây bao gồm phần sản lượng được sản xuất

trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài - theo luồng sản phẩm; đối với loại sản phẩm hữu hình như nhà cửa, công trình XDCB, máy móc thiết bị hay các sản phẩm vô hình như bằng phát minh sáng chế, phí chuyển nhượng tài sản

Theo Khoản 5, Điều 3 của Luật đầu tư 2014 thì “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” [1]

Theo Khoản 15, Điều 4 của Luật đầu tư công 2014 “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội” [2]

Như vậy, có thể khái quát chung khái niệm của đầu tư “Đầu tư là quá

trình bỏ vốn bằng tài sản hữu hình hoặc vô hình để thu được lợi ích trong tương lai”

1.1.2 Phân loại

Có nhiều loại đầu tư khác nhau Căn cứ vào phương thức đầu tư, có

ba loại đầu tư là đầu tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư sản xuất Căn

Trang 6

cứ vào tính chất đầu tư, có hai loại đầu tư là đầu tư phát triển, đầu tư chuyển dịch Căn cứ vào thời gian đầu tư, có đầu tư dài hạn và đầu tư ngắn hạn,

Đầu tư tài chính là loại đầu tư, trong đó, người đầu tư bỏ tiền cho vay

hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất

Đầu tư thương mại là loại đầu tư, trong đó người đầu tư bỏ tiền ra để

mua hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán

Đầu tư sản xuất là loại đầu tư, trong đó người đầu tư bỏ tiền mua

(hoặc xây dựng, tạo mới) máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, nhà xưởng, thuê lao động, để tiến hành các hoạt động sản xuất nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác

Đầu tư dài hạn là đầu tư diễn ra trong khoảng thời gian từ 10 năm trở

lên, thường có quy mô lớn Đầu tư dài hạn thường là hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở vật chất lâu dài cho nền kinh tế, cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

Đầu tư ngắn hạn là đầu tư trong khoảng dưới 10 năm Đầu tư ngắn

hạn có tác dụng tạo lực đẩy cho sự phát triển của công ty trong từng thời

kỳ ngắn Đây là cách mà nhà đầu tư (cá nhân, doanh nghiệp, nhà nước)

có thể bổ trợ, củng cố kế hoạch dài hạn Thông qua đầu tư ngắn hạn, nhà đầu tư có thể thích ứng nhanh hơn, có đối sách tốt hơn, phản ứng nhanh nhạy hơn với sự biến động của thị trường, của nền kinh tế

Đầu tư chuyển dịch là loại đầu tư làm cho tài sản được dịch chuyển từ

người này sang người khác trong nền kinh tế, nhưng không làm tăng tài sản hay tiềm lực sản xuất cho nền kinh tế Đầu tư chuyển dịch làm cho tài sản của nhà đầu tư tăng lên nhưng làm giảm tài sản của người khác trong nền kinh tế và không làm cho nền kinh tế giàu lên nhờ tăng tài sản hoặc tăng thêm tiềm lực sản xuất Xét về bản chất, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại được coi là đầu tư chuyển dịch

Đầu tư phát triển là loại đầu tư làm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới

cho nhà đầu tư, cho tổ chức kinh tế, đồng thời, cho cả nền kinh tế Tài sản mới ở đây bao gồm cả tài sản tài chính, tài sản vật chất và tài sản trí

Trang 7

tuệ Xét về bản chất, đầu tư phát triển bao hàm cả đầu tư sản xuất và rộng hơn đầu tư sản xuất

Như vậy, có thể thấy rằng, đầu tư phát triển làm gia tăng tài sản cho nhà đầu tư, làm tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp và cho nền kinh

tế Đầu tư chuyển dịch không thực hiện được chức năng đó Nó chỉ làm dịch chuyển tài sản từ người này sang người khác, từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác trong nền kinh tế nhưng có thể tạo ra cơ hội kinh doanh phát triển cho chủ thể nhận chuyển dịch

1.1.3 Vốn đầu tư

1.1.3.1 Khái niệm

Vốn đầu tư là tiền tích lũy xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ; là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài… nhằm tái sản xuất; là tài sản cố định để duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới được bổ sung hoặc mới được đổi mới

1.1.3.2 Đặc điểm về vốn đầu tư

Thứ nhất, vốn được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản của sự phát triển và sinh lời Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng và sinh lời, trong

đó có yếu tố đầu tư Nhưng để bắt đầu một quá trình sản xuất hoặc tái mở rộng quá trình này, trước hết phải có vốn đầu tư Nhờ sự chuyển hóa vốn đầu tư thành vốn kinh doanh, từ đó tăng trưởng và sinh lời Trong các yếu tố tạo ra sự tăng trưởng và sinh lời, vốn đầu tư được coi là một trong những yếu tố cơ bản Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng của đầu tư trong việc phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan trọng kích thích các nhà đầu tư nhằm mục đích sinh lời

Tiếp theo, đầu tư, đặc biệt đầu tư trong lĩnh vực XDCB đòi hỏi một

khối lượng vốn lớn, khối lượng vốn đầu tư lớn nhằm tạo ra những điều

kiện vật chất kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho tăng trưởng và phát triển kinh tế như: Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, xây dựng các cơ sở công nghiệp luyện kim, chế tạo máy, công nghiệp hóa dầu, công nghiệp lương thực thực phẩm, ngành điện năng, đường giao thông,

Trang 8

Từ đặc điểm trên cho thấy, nếu sử dụng vốn kém hiệu quả, giám sát không sát sao, đầy đủ và đánh giá không chuẩn xác sẽ gây nhiều phương hại đến sự phát triển kinh tế xã hội

Thứ ba, quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một quá trình hoạt động khá dài mới có thể đưa vào sử dụng được vì sản phẩm XDCB mang tính

đặc biệt và tổng hợp Sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc về kiểu cách, tính chất và phụ thuộc vào nhiều yếu tố điều kiện tự nhiên, địa điểm hoạt động thay đổi liên tục và phân tán, thời gian khai thác sử dụng thường dài tùy thuộc vào tính chất dự án

Quá trình đầu tư thường gồm ba giai đoạn: Xây dựng dự án, thực hiện

dự án và khai thác dự án

- Giai đoạn xây dựng dự án, giai đoạn thực hiện dự án là giai đoạn tất yếu, những giai đoạn này lại kéo dài mà không tạo ra sản phẩm Đây chính là nguyên nhân “Đầu tư mâu thuẫn với tiêu dùng”, vì vậy, có nhà kinh tế cho rằng đầu tư là quá trình làm bất động hóa một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này, cho nên muốn nâng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cần chú ý tập trung các điều kiện đầu tư có trọng điểm đưa nhanh dự án vào khai thác, trong đó có biện pháp đưa từng phần vào sử dụng trước

- Khi xét hiệu quả đầu tư cần quan tâm xem xét toàn bộ ba giai đoạn của quá trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch, chỉ tập trung vào giai đoạn thực hiện dự án mà không chú ý vào cả thời gian khai thác dự án

- Do chu kỳ đầu tư kéo dài nên việc hoàn vốn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, phải lựa chọn trình tự bỏ vốn thích hợp để giảm mức tối

đa thiệt hại ứ đọng vốn ở sản phẩm dở dang, việc coi trọng hiệu quả kinh

tế do đầu tư mang lại là rất cần thiết nên phải có các phương án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự XDCB Thời gian hoàn vốn là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đo lường và ĐG hiệu quả vốn đầu tư

Cuối cùng, đầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn Rủi ro trong lĩnh vực

đầu tư XDCB chủ yếu là do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài và có nhiều yếu tố tác động Trong thời gian này, các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và cả tự nhiên ảnh hưởng nên sẽ gây ra những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường định hết các yếu tố tác động khi lập dự án

Sự thay đổi chính sách quốc hữu hóa các cơ sở sản xuất, thu hồi đất đai,

Trang 9

thay đổi chính sách thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trường, thay đổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại cho các nhà đầu tư

1.1.3.3 Nguồn hình thành vốn đầu tư

Nếu xét trên phương diện vĩ mô nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm 2 loại chính: Nguồn từ tiết kiệm trong nước và nguồn vốn từ nước ngoài Nguồn nước ngoài đưa vào dưới dạng đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, các khoản vay nợ, viện trợ, kiều hối

Vốn đầu tư công quy định tại Luật Đầu tư công 2014 gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư [2]

Trong nghiên cứu này, vốn nhà nước được hiểu bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do Nhà nước quản lý

- Vốn từ khu vực tư nhân:

Nguồn vốn khu vực tư nhân bao gồm tiết kiệm của người dân, tích lũy của doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã và kiều hối

Trong xu hướng khuyến khích đầu tư trong nước và cổ phần hóa những doanh nghiệp nhà nước làm ăn không hiệu quả thì nguồn vốn này

Trang 10

ngày càng lớn về quy mô và tỷ trọng so với vốn đầu tư của khu vực Nhà nước

b) Vốn nước ngoài

Nguồn vốn nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích luỹ cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động được vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại

Nó bao gồm: nguồn vốn hỗ trợ chính thức, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn tín dụng thương mại, vốn đầu tư gián tiếp, nguồn vốn từ thị trường vốn quốc tế

Tiêu chuẩn của Australia (AS 1379-1991) định nghĩa: Dự án là một

dự kiến công việc có thể nhận biết được, có khởi đầu, có kết thúc bao hàm một số hoạt động có liên hệ mật thiết với nhau

Định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 và theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 9000:2000: “Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực”

Theo “Cẩm nang các kiến thức cơ bản về quản lí dự án” của viện

Nghiên cứu quản lí dự án quốc tế (PMI-Project Management Institut) thì

“dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm,

Trang 11

dịch vụ hoặc kết quả duy nhất” Theo định nghĩa này, dự án có hai đặc tính:

- Tạm thời (hay có thời hạn): mọi dự án đều có điểm bắt đầu và điểm kết thúc xác định Dự án kết thúc khi mục tiêu dự án đạt được hoặc khi

đã xác định được rõ ràng là mục tiêu không thể đạt được và dự án bị chấm dứt

- Duy nhất: nghĩa là sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất đó khác biệt so với các sản phẩm đã có hoặc dự án khác Dự án liên quan đến việc gì đó chưa từng làm trước đây, và do vậy, là duy nhất Dù có thể có một vài thành phần hoặc công việc lặp lại ở các dự án khác nhau hoặc các giai đoạn khác nhau của dự án, nhưng về cơ bản, điều này không phủ định tính duy nhất của dự án

Theo tiêu chuẩn BSI ISO 21500 [6], một dự án là một tập hợp các quá

trình bao gồm các hoạt động được phối hợp và kiểm soát, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc, được thực hiện để đạt được các mục tiêu của dự án

Việc đạt được các mục tiêu của dự án đòi hỏi phải tạo được các kết quả thỏa mãn một số yêu cầu cụ thể Tiêu chuẩn này cũng khẳng định rằng các dự án đều mang tính duy nhất, vì chúng có thể khác nhau ở một

- Cách thức các quá trình được kết hợp lại để tạo ra sản phẩm

Như vậy có thể nhận thấy, thuật ngữ “Dự án” được giải thích theo nhiều cách diễn đạt khác nhau, hàm chứa những nội dung khác nhau

Tuy nhiên, điểm chung về nội hàm dễ nhận thấy của “dự án” đó là: Mỗi

dự án là một nỗ lực đồng bộ, có giới hạn (có ngày bắt đầu và ngày hoàn thành cụ thể), thực hiện một lần nhằm tạo mới hoặc nâng cao khối lượng, chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay của xã hội

Về mặt lý thuyết, dự án được hiểu là một công việc với các đặc tính sau: Cần tới nguồn lực (con người, máy móc, vật tư và tiền vốn); có mục

Trang 12

tiêu cụ thể; phải được hoàn thành với thời gian và chất lượng định trước;

có thời điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng; có khối lượng công việc cần thực hiện cụ thể; có ngân sách hạn chế và sự kết nối hợp lý của nhiều phần việc lại với nhau

Dự án được hiểu là một tập hợp các hoạt động nhằm tạo ra kết quả nhất định và có tính ràng buộc về thời gian, kinh phí và yêu cầu chất lượng Mỗi dự án có thể khác nhau về quy mô nhưng đều có hai đặc điểm chính sau:

- Thứ nhất, mỗi dự án đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc

Ngày bắt đầu có thể không rõ ràng, nhưng thời điểm kết thúc cần phải được xác định thật rõ để tất cả những người tham gia dự án hiểu được ý nghĩa của việc hoàn thành dự án

- Thứ hai, mỗi dự án đều phải tạo ra được một sản phẩm đặc trưng

Khác với những hoạt động đang diễn ra theo kế hoạch hàng ngày ở các đơn vị thường không có kết thúc và thường tạo ra những kết quả tượng tự nhau với những sản phẩm không mang tính đặc trưng, dự án tạo nên những sản phẩm với tính đặc thù cao, đáp ứng được ba yêu cầu kịp thời, đúng giá và đúng chất lượng để đưa vào hoạt động

Hầu hết các dự án khi lập ra, thực hiện thì đều cần có sự đầu tư về nguồn lực Nếu không phải là đầu tư tiền bạc, của cải hữu hình thì cũng phải đầu tư chất xám, công sức

Tóm lại: Dự án là một nhiệm vụ mang tính chất một lần, có mục tiêu

rõ ràng (trong đó bao gồm chức năng, số lượng và tiêu chuẩn chất lượng), yêu cầu phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định, có dự toán tài chính từ trước và nói chung không được vuợt qua dự toán đó

Như vậy, Dự án là đối tượng của quản lý và là tập hợp của những hoạt động khác nhau có liên quan với nhau theo một lôgíc, một trật tự xác định nhằm vào những mục tiêu xác định, được thực hiện bằng những nguồn lực nhất định trong những khoảng thời gian xác định Dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án không có tính chất đầu tư

b) Đặc trưng của dự án

Một dự án được đặc trưng bởi những nhân tố sau:

Trang 13

- Diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định;

- Nhiệm vụ đặc biệt chỉ thực hiện một lần;

- Công cụ quản lý đặc biệt;

- Các nguồn lực bị giới hạn;

- Nhân sự dự án là tạm thời, đến từ nhiều nguồn;

- Tập hợp các hoạt động tương đối độc lập (Subprojects);

- Có liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều đối tượng khác nhau

Các yếu tố tạo nên sự thành công của dự án:

- Sự đồng thuận giữa các bên tham gia chính về mục tiêu của dự án

- Có biện pháp khống chế quy mô cho phù hợp với kinh phí, nguồn nhân lực, và thời gian

- Có cơ chế giao tiếp thường xuyên và có hiệu quả giữa các bên tham gia

- Có một kế hoạch thể hiện hướng đi và trách nhiệm của các bên tham gia để đo lường tiến độ của dự án

- Có cam kết của lãnh đạo trong từng lĩnh vực liên quan

Một dự án được coi là thành công nếu đạt được những điều cụ thể sau:

- Hoàn thành đúng thời hạn quy định;

- Chi phí nằm trong dự toán đã được xác định;

- Quá trình thực hiện công việc hợp lý hoặc đạt được các yêu cầu kỹ thuật;

- Chủ đầu tư (hoặc người sử dụng) thỏa mãn (chấp nhận);

- Có rất ít thay đổi hoặc có sự nhất trí cho các thay đổi về phạm vi công việc;

- Không gây ra sự kiện bất lợi lớn cho đơn vị chủ quản của nhóm thực hiện dự án

1.2.1.2 Vòng đời của dự án

Tùy cách quan niệm mà gọi là chu kỳ hay vòng đời của dự án

Trang 14

Vòng đời của dự án gồm nhiều giai đoạn phát triển từ khi có ý tưởng đến việc triển khai nhằm đạt được kết quả của dự án Trong vòng đời này, công tác quản lý chú trọng vào phương thức kiểm soát nhằm giảm thiểu những nguồn lực và tiền của sử dụng vào những mục tiêu không chắc chắn

Vòng đời dự án xác định các giai đoạn mà một dự án phải trải qua tính từ lúc bắt đầu cho tới khi kết thúc dự án Các giai đoạn thường có cơ chế tự hoàn thiện kiểm soát quản lý thông qua các công việc giám sát, đánh giá Điển hình, sự chuyển tiếp giữa các giai đoạn thường có điểm mốc đánh dấu và một kết quả chuyển giao cụ thể, kèm theo những phê duyệt, tán thành của nhà tài trợ trước khi bước sang giai đoạn tiếp theo Vòng đời phát triển dự án là khung làm việc dùng để mô tả các giai đoạn trong quá trình phát triển và duy trì hệ thống Vòng đời phát triển

dự án cơ bản là nhóm các giai đoạn của dự án Các giai đoạn của dự án thay đổi tùy theo dự án, tổ chức hoặc lãnh vực kinh doanh, thường được chia thành 4 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn xây dựng, hình thành ý tưởng: Xây dựng và hình thành ý tưởng là việc xác định bức tranh toàn cảnh về mục tiêu, kết quả cuối cùng của dự án và phương pháp thực hiện dẫn tới kết quả đó Xây dựng ý tưởng dự án bắt đầu ngay khi hình thành dự án Khảo sát-tập hợp số liệu, xác định yêu cầu, đánh giá rủi ro, dự tính nguồn lực, so sánh lựa chọn dự

án, ¼ là những công việc triển khai và cần được quản lý trong gian đoạn này Quyết định lựa chọn dự án là những quyết định chiến lược dựa trên mục đích, nhu cầu và các mục tiêu lâu dài của tổ chức, doanh nghiệp Trong giai đoạn này những nội dung được xét đến là mục đích yêu cầu của dự án, tính khả thi, lợi nhuận tiềm năng, mức độ chi phí, mực độ rủi

ro và ước lượng các nguồn lực cần thiết Đồng thời cũng cần làm rõ hơn nữa ý tưởng dự án bằng cách phác thảo những kết quả và phương pháp thực hiện trong điều kiện hạn chế về nguồn lực Phát triển ý tưởng dự án không cần thiết phải lượng hoá hết bẳng các chỉ tiêu nhưng nó phải ngắn gọn, được diễn đạt trên cơ sở thực tế Kết thúc giai đoạn này là sự phê duyệt về chủ trương thực hiện dự án (ý tưởng)

- Giai đoạn phát triển: Là giai đoạn chi tiết xem dự án cần được thực hiện như thế nào, nội dung chủ yếu của giai đoạn này tập trung vào công

Trang 15

tác thiết kế và lập kế hoạch Đây là giai đoạn chứa đựng những công việc phức tạp nhất của dự án Nội dung chủ yếu bao gồm:

+ Thành lập nhóm dự án, xác định cấu trúc tổ chức;

+ Lập kế hoạch tổng thể;

+ Phân tích, lập bảng chi tiết công việc - WBS;

+ Lập kế hoạch tiến độ thời gian;

+ Lập kế hoạch ngân sách;

+ Lập kế hoạch nguồn lực cần thiết;

+ Lập kế hoạch chi phí;

+ Xin phê chuẩn thực hiện tiếp

Kết thúc giai đoạn này, tiến trình dự án có thể bắt đầu Thành công của dự án phụ thuộc rất lớn vào chất lượng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của các kế hoạch trong giai đoạn này

- Giai đoạn thực hiện: Là giai đoạn quản lý tổ chức triển khai các nguồn lực bao gồm các công việc cần thiết như xây dựng phòng ốc, hệ thống, lựa chọn công cụ, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt Đây là giai đoạn chiếm nhiều thời gian và nỗ lực nhất Những vấn đề cần xem xét trong giai đoạn này là những yêu cầu kỹ thuật cụ thể nhằm so sánh, đánh giá lựa chọn công cụ thiết bị, kỹ thuật lắp ráp, mua thiết bị chính, phát triển hệ thống Kết thúc giai đoạn này, các hệ thống được xây dựng và kiểm định, hệ thống có thể chuyển sang giai đoạn vận hành, đưa vào khai thác thử nghiệm

- Giai đoạn kết thúc: Trong giai đoạn kết thúc của chu kỳ dự án, cần thực hiện những công việc còn lại như hoàn thành sản phẩm, bàn giao hệ thống, công trình và những tài liệu liên quan; đánh giá dự án, giải phóng các nguồn lực Dưới đây là một số các việc cụ thể:

+ Hoàn chỉnh và lập kế hoạch lưu trữ hồ sơ liên quan đến dự án; + Kiểm tra lại sổ sách kế toán, tiến hành bàn giao và báo cáo;

+ Thanh quyết toán;

+ Đối với phát triển, xây dựng hệ thống cần chuẩn bị và bàn giao sổ tay hướng dẫn;

+ Lắp đặt, quản trị và sử dụng;

Trang 16

+ Bàn giao dự án, lấy chữ ký của khách hàng về việc hoàn thành; + Bố trí lao động, giải quyết công ăn việc làm cho những người từng tham gia dự án;

+ Giải phóng và bố trí lại thiết bị

Hình 1.1 Vòng đời của dự án [10]

Nếu không muốn gọi "Vòng đời" của dự án, người ta còn gọi với tên khác là "Chu kỳ" (hay Chu trình) của dự án Đó là quãng thời gian để hoàn thành quá trình đầu tư (kể từ bước xác định dự án đầu tư, đến các bước thực hiện đầu tư và bước khai thác, vận hành dự án để đạt được mục tiêu đã định)

Chu kỳ của dự án chia làm ba giai đoạn:

- Chuẩn bị đầu tư (Preparation) hay còn gọi là giai đoạn khởi động gồm nghiên cứu cơ hội, nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi;

- Thực hiện đầu tư (Implementation) gồm thiết kế và thi công xây dựng;

- Kết thúc đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng (Terminate and handover) gồm vận hành, khai thác, đánh giá sau dự án và kết thúc dự án

Trang 17

KÕt thóc chu kú

®Çu

t-§¸nh gi¸ dù ¸n

§-a dù ¸n vµo VËn hµnh dù ¸n

c«ng thi c«ng

ChuÈn bÞ

kÕ ThiÕt

Hình 1.2 Chu kỳ dự án đầu tư [9]

Có thể chia nhỏ các giai đoạn của dự án ra như sau:

+ Xác định dự án (Indentification);

+ Lập dự án (Design);

+ Trình, thẩm định, phê duyệt dự án (Get approval);

+ Thiết lập cơ chế hoạt động (Execution);

+ Điều hành, giám sát dự án (Operation);

+ Kết thúc, đưa dự án vào khai thác sử dụng (Terminate and handover)

1.2.2 Dự án đầu tư xây dựng công trình

1.2.2.1 Khái niệm

Theo giải thích của Luật Xây dựng Việt Nam năm 2014: “Dự án đầu

tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch

vụ trong một thời hạn và chi phí nhất định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng” [4]

Về phương diện lý luận, dự án đầu tư xây dựng công trình được hiểu

là các dự án đầu tư mà đối tượng đầu tư là công trình xây dựng, nghĩa là

dự án có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản như xây dựng nhà cửa,

Trang 18

đường sá, cầu cống, Không phải tất cả các dự án đầu tư đều có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản Vì thế, đối với những dự án đầu tư không liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản không gọi là dự án đầu tư xây dựng

Dự án đầu tư xây dựng công trình, xét về mặt hình thức là một tập hợp các hồ sơ, tài liệu thuyết minh chi tiết kế hoạch khả thi xây dựng công trình và các tài liệu liên quan khác xác định chất lượng công trình cần đạt được, tổng mức đầu tư của dự án và thời gian thực hiện dự án, hiệu quả kinh tế tài chính, hiệu quả kinh tế xã hội và đánh giá tác động môi trường của dự án

Dự án đầu tư xây dựng công trình, xét theo quan điểm hệ thống, có thể hiểu là một hệ thống, gồm nhiều phân hệ/ phần tử (hoạt động/ công việc) có mối liên hệ chặt chẽ về thời gian và không gian, vận hành trong những điều kiện ràng buộc/ giới hạn về nguồn lực và thời gian, chịu sự tác động của các yếu tố môi trường bên ngoài (môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội, luật pháp, công nghệ, tự nhiên, an ninh quốc phòng) và môi trường bên trong (sự tác động qua lại của các phần tử trong hệ thống - các chủ thể tham gia dự án: Chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn, nhà thầu cung cấp, nhà thầu xây lắp, nhà tài trợ tài chính,…)

Dự án đầu tư xây dựng công trình, xét theo quan điểm động, có thể hiểu là một quá trình biến ý tưởng đầu tư xây dựng công trình thành hiện thực trong sự ràng buộc về kết quả (chất lượng), tiến độ (thời gian) và nguồn lực (chi phí) đã xác định trong hồ sơ dự án và được thực hiện

trong những điều kiện không chắc chắn (rủi ro)

1.2.2.2 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình

Dự án đầu tư xây dựng công trình ngoài những đặc điểm chung của

Dự án đầu tư còn có nhiều đặc điểm đặc thù sau [7]:

a) Dự án đầu tư xây dựng công trình có tính đa mục tiêu

Trong mỗi Dự án đầu tư xây dựng công trình thường tồn tại nhiều mục tiêu khác nhau, các mục tiêu ấy có thể không đồng hướng thậm chí mâu thuẫn nhau Thông thường Dự án đầu tư xây dựng công trình có các

mục tiêu sau:

Trang 19

- Mục tiêu về kỹ thuật - công nghệ: quy mô, cấp công trình, các yêu cầu về độ bền chắc, về công năng sử dụng, về công nghệ sản xuất, về mỹ thuật, chất lượng,

- Mục tiêu về kinh tế tài chính: chi phí nguồn lực tối thiểu, thời gian xây dựng ngắn,

- Mục tiêu về kinh tế xã hội: cảnh quan, môi trường sinh thái, khả năng thu hút lao động, tạo việc làm, tiết kiệm đất đai,

- Các mục tiêu khác: mục tiêu chính trị, an ninh, quốc phòng, trật tự,

c) Dự án đầu tư xây dựng công trình có thời gian xây dựng dài, vốn đầu tư lớn

Sản phẩm cuối cùng của dự án đầu tư xây dựng công trìnhlà công trình được xây dựng xong hoàn thành bàn giao cho khai thác, sử dụng

Do khối lượng công việc rất lớn và phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau nên thời gian xây dựng công trình thường dài Vốn đầu tư cho xây dựng công trình cũng thường rất lớn

Do khối lượng và kích thước lớn, thi công chủ yếu lộ thiên, thời gian xây dựng dài nên chịu tác động nặng nề, nhiều mặt về thời tiết, khí và trượt giá

Trang 20

d) Dự án đầu tư xây dựng công trình chịu sự ràng buộc về thời gian

và chi phí nguồn lực

Thời gian thực hiện dự án, thời điểm khởi công và kết thúc, tổng mức chi phí cho việc thực hiện dự án đã được xác định Những ràng buộc này thường gây sức ép đối với các nhà thầu xây dựng trong quá trình thực hiện dự án, mặt khác nó thường mâu thuẫn với các mục tiêu của nhà thầu xây dựng, vì thế việc hoàn thành mục tiêu tổng thể (kết quả, thời gian,

chi phí) của dự án đầu tư xây dựng thường rất khó khăn trong thực tế e) Dự án đầu tư xây dựng công trình luôn tồn tại trong một môi trường không chắc chắn (tiềm ẩn nhiều rủi ro)

Dự án đầu tư xây dựng công trình thường phải thực hiện trong một thời gian dài, thậm chí kéo dài nhiều năm và thực hiện trong điều kiện môi trường tự nhiên Vì thế, có rất nhiều yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến dự

án đầu tư xây dựng Các yếu tố này có thể làm cho dự án không thành công như dự kiến ban đầu Dự án có thể bị tăng chi phí, kéo dài thời gian

thực hiện, có thể làm giảm sút hiệu quả đầu tư

f) Dự án đầu tư xây dựng công trình là sản phẩm mang tính thị trường (Công trình xây dựng là sản phẩm được trao đổi)

Trong thị trường xây dựng, sản phẩm xây dựng có một đặc điểm hết

sức khác biệt với các loại hình sản phẩm khác đó là:

- Người mua phải ngã giá mua sản phẩm khi chúng chưa hiện diện - sản phẩm (công trình xây dựng, dịch vụ xây lắp) được người bán khi

mình chưa làm ra;

- Hoạt động sản xuất và trao đổi diễn ra đồng thời;

- Hoạt động trao đổi sản phẩm vừa có tính giai đoạn, vừa có tính lâu

dài;

- Chi phí phát sinh luôn nảy sinh;

- Sản phẩm xây dựng có thể phải đưa vào sử dụng trước từng phần

Chính những đặc điểm này dẫn đến các rủi ro, bất định về chất lượng

sản phẩm, tiến độ thực hiện và chi phí thực hiện

1.2.3 Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình

Trang 21

Đối với dự án đầu tư xây dựng công trìnhthường được phân loại theo tính chất công trình của dự án, quy mô vốn đầu tư và theo nguồn vốn hay

phân loại theo hình thức đầu tư

1.2.3.1 Theo quy mô đầu tư

Tuỳ theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, dự án đầu tư trong nước được phân loại thành: dự án quan trọng quốc gia; dự án nhóm A;

dự án nhóm B; dự án nhóm C

Tiêu chí chủ yếu để phân nhóm dự án là ngành, lĩnh vực đầu tư, loại hình công trình và quy mô vốn của dự án đầu tư (tổng mức đầu tư) Tiêu chí phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Luật Xây dựng 2014 và Luật Đầu tư công

Ứng với mỗi loại dự án này Nhà nước quy định những quy chế quản

lý riêng được quy định trong Luật Xây dựng và nghị định của Chính phủ

về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

1.2.3.2 Theo tính chất công trình xây dựng

Theo Luật Xây dựng [4], dự án đầu tư xây dựng công trình được phân thành 6 nhóm:

- Dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng;

- Dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệp;

- Dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông;

- Dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn;

- Dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật;

- Dự án đầu tư xây dựng công trình khác

1.2.3.3 Theo cách thức quản lý vốn

Vốn đầu tư xây dựng công trình có nhiều nguồn khác nhau, do đó có nhiều cách phân loại chi tiết khác nhau theo nguồn vốn đầu tư như: phân loại theo nguồn vốn trong nước và nước ngoài; phân loại theo nguồn vốn Nhà nước và nguồn vốn ngoài nhà nước; phân loại theo nguồn vốn đơn nhất (sử dụng 1 nguồn vốn duy nhất) và nguồn vốn hỗn hợp, Tuy nhiên trong thực tế quản lý, phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình theo cách thức quản lý vốn được sử dụng phổ biến hơn Theo cách phân loại

này, dự án đầu tư xây dựng công trình được phân thành:

Trang 22

- Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước: Là những dự án có sử

dụng từ 30% vốn Nhà nước trở lên trong tổng vốn đầu tư của dự án

- Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn trong nước khác: Là những dự

án sử dụng vốn trong nước khác mà trong tổng vốn đầu tư của dự án không sử dụng vốn Nhà nước hoặc sử dụng vốn Nhà nước với tỷ lệ ít

hơn 30%

- Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài:

Là những dự án đầu tư mà nguồn vốn là của các tổ chức, cá nhân nước

ngoài đầu tư vào Việt Nam

1.2.3.4 Theo hình thức đầu tư

Theo cách phân loại này, dự án đầu tư xây dựng công trình được phân thành dự án đầu tư xây dựng xây dựng mới công trình; dự án đầu tư sửa chữa, cải tạo hoặc dự án đầu tư mở rộng, nâng cấp công trình

1.2.4 Trình tự và nội dung đầu tư xây dựng theo quy định của Việt Nam

Theo Điều 50 Luật Xây dựng [4] thì ”Trình tự đầu tư xây dựng có 03 giai đoạn gồm chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng, trừ trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ”

Nội dung từng bước theo quy định tại Điều 6 Nghị định 59/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/6/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng như sau [5]:

a) Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm

định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án;

b) Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao

đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải

có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng

Trang 23

hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác;

c) Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo

hành công trình xây dựng

Điều 53 - Luật Xây dựng: Nội dung Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu

tư xây dựng

1 Sự cần thiết đầu tư và các điều kiện để thực hiện đầu tư xây dựng

2 Dự kiến mục tiêu, quy mô, địa điểm và hình thức đầu tư xây dựng

3 Nhu cầu sử dụng đất và tài nguyên

4 Phương án thiết kế sơ bộ về xây dựng, thuyết minh, công nghệ, kỹ thuật và thiết bị phù hợp

5 Dự kiến thời gian thực hiện dự án

6 Sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động vốn; khả năng hoàn vốn, trả

nợ vốn vay (nếu có); xác định sơ bộ hiệu quả kinh tế - xã hội và đánh giá tác động của dự án

Điều 54 - Luật Xây dựng: Nội dung Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng

1 Thiết kế cơ sở được lập để đạt được mục tiêu của dự án, phù hợp với công trình xây dựng thuộc dự án, bảo đảm sự đồng bộ giữa các công trình khi đưa vào khai thác, sử dụng Thiết kế cơ sở gồm thuyết minh và các bản vẽ thể hiện các nội dung sau:

a) Vị trí xây dựng, hướng tuyến công trình, danh mục và quy mô, loại, cấp công trình thuộc tổng mặt bằng xây dựng;

b) Phương án công nghệ, kỹ thuật và thiết bị được lựa chọn (nếu có);

c) Giải pháp về kiến trúc, mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng công trình, các kích thước, kết cấu chính của công trình xây dựng;

d) Giải pháp về xây dựng, vật liệu chủ yếu được sử dụng, ước tính chi phí xây dựng cho từng công trình;

đ) Phương án kết nối hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài công trình, giải pháp phòng, chống cháy, nổ;

e) Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng và kết quả khảo sát xây dựng để lập thiết kế cơ sở

Trang 24

2 Các nội dung khác của Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng gồm: a) Sự cần thiết và chủ trương đầu tư, mục tiêu đầu tư xây dựng, địa điểm xây dựng và diện tích sử dụng đất, quy mô công suất và hình thức đầu tư xây dựng;

b) Khả năng bảo đảm các yếu tố để thực hiện dự án như sử dụng tài nguyên, lựa chọn công nghệ thiết bị, sử dụng lao động, hạ tầng kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, yêu cầu trong khai thác sử dụng, thời gian thực hiện, phương án giải phóng mặt bằng xây dựng, tái định cư (nếu có), giải pháp tổ chức quản lý thực hiện dự án, vận hành, sử dụng công trình và bảo vệ môi trường;

c) Đánh giá tác động của dự án liên quan đến việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tái định cư; bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái, an toàn trong xây dựng, phòng, chống cháy, nổ và các nội dung cần thiết khác;

d) Tổng mức đầu tư và huy động vốn, phân tích tài chính, rủi ro, chi phí khai thác sử dụng công trình, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án; kiến nghị cơ chế phối hợp, chính sách ưu đãi, hỗ trợ thực hiện dự án;

đ) Các nội dung khác có liên quan

Điều 55 - Luật Xây dựng: Nội dung Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng

1 Thiết kế bản vẽ thi công, thiết kế công nghệ (nếu có) và dự toán xây dựng

2 Các nội dung khác của Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm thuyết minh về sự cần thiết đầu tư, mục tiêu xây dựng, địa điểm xây dựng, diện tích sử dụng đất, quy mô, công suất, cấp công trình, giải pháp thi công xây dựng, an toàn xây dựng, phương án giải phóng mặt bằng xây dựng và bảo vệ môi trường, bố trí kinh phí thực hiện, thời gian xây dựng, hiệu quả đầu tư xây dựng công trình

Trang 25

Chương 2 QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

2.1 KHÁI NIỆM QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

2.1.1 Khái niệm

Từ những năm 50 của thế kỷ trước trở lại đây, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội, các nước đều cố gắng nâng cao sức mạnh tổng hợp của bản thân nhằm theo kịp cuộc cạnh tranh toàn cầu hóa Chính trong tiến trình này, các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn không ngừng xây dựng những dự án công trình có quy mô lớn, kỹ thuật cao, chất lượng tốt Dự án đã trở thành phần cơ bản trong cuộc sống xã hội Cùng với xu thế mở rộng quy mô dự án và sự không ngừng nâng cao về trình độ khoa học công nghệ, các nhà đầu tư dự án cũng yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng dự án Vì thế, quản lý dự

án trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của dự án

Hiện nay có nhiều cách diễn đạt khác nhau của các tác giả khác nhau

về khái niệm quản lý dự án như:

Theo Garold D.Oberlender trong “Project Management For Engineering and Construction” thì: “Quản lý dj án là nghệ thuật và khoa

học phối hợp con người, thiết bị, vật tư, tiền bạc, cùng với tiến độ để hoàn thành một dự án cụ thể đúng thời hạn trong vòng chi phí đã được duyệt” [13]

“Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép” [7]

“Quản lý dự án là việc ứng dụng các kiến thức, các kỹ năng, các công

cụ và các kỹ thuật vào các hoạt động dự án để đáp ứng các yêu cầu dự án” [14]

Trang 26

Một cách chung nhất có thể hiểu: Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và đánh giá toàn

bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án Quản lý dự án được thực hiện trong tất cả các giai đoạn khác nhau của chu trình dự án

2.1.2 Quản lý dự án thi công xây dựng trên công trường

Tuy có rất nhiều cách để thực hiện việc xây dựng công trình, theo các thủ tục, quy trình khác nhau nhưng luôn cần có một đơn vị chịu trách nhiệm quản lý cho quá trình xây dựng tại hiện trường Tùy vào phương pháp thực hiện của chủ đầu tư, cơ quan này có thể là chủ đầu tư, là đơn

vị thiết kế - xây dựng, một đơn vị quản lý xây dựng hoặc một nhà tổng thầu

Việc quản lý công tác xây dựng tại hiện trường được thực hiện tùy theo dự án, với giám đốc dự án được giao chịu trách nhiệm cho tất cả các khía cạnh của việc xây dựng Đối với các dự án lớn, thường người ta thiết lập văn phòng công trường trực tiếp ở trên công trường để phục vụ giám đốc dự án và nhân viên của ông ta Việc thiết lập mối quan hệ công việc tốt với rất nhiều cá nhân và tổ chức từ bên ngoài như các đơn vị thiết

kế, các đơn vị thi công, chủ đầu tư, nhà thầu phụ, các bên cung ứng vật

tư và thiết bị, các tổ chức công đoàn, các cơ quan quản lý nhà nước là nhiệm vụ quan trọng của việc chèo lái các công việc từ đầu đến cuối Việc quản lý dự án ở công trường được thực hiện theo hướng tập hợp tất

cả các thành phần cần thiết để hoàn thành dự án một cách vừa ý Các thủ tục quản lý được áp dụng cho giai đoạn thực hiện xây dựng trên công trương, nói chung, cũng đều có thể áp dụng được cho cả dự án, từ khái niệm đến khi khởi động [15]

Hoạt động xây dựng trên công trường có ít điểm chung với hoạt động sản xuất các sản phẩm đã chuẩn hóa Các chi phí đã chuẩn hóa, việc nghiên cứu thời gian và cử động, các sơ đồ quá trình, kỹ thuật đường cân bằng (LOB) - tất cả các công cụ quản lý truyền thống được sử dụng trong các ngành công nghiệp sản xuất không có nhiều ứng dụng lắm trong các

dự án xây dựng nói chung Về mặt lịch sử, việc quản lý dự án xây dựng

là một quá trình thô sơ và mang tính trực giác cao, được hỗ trợ bởi một

Trang 27

công cụ có ích nhưng nhiều khi lại không phù hợp - sơ đồ ngang Tuy nhiên, ngày càng có nhiều khái niệm quản lý khoa học được phát triển và ứng dụng Việc áp dụng các nguyên tắc này vào xây dựng đưa đến sự phát triển của các kỹ thuật kiểm soát việc quản lý về chi phí xây dựng, thời gian xây dựng, nguồn lực xây dựng và tài chính dự án, xem xét quá trình xây dựng một cách tổng thể là một hệ thống thống nhất Việc kiểm soát quản lý dự án một cách tổng hợp được áp dụng từ khái niệm cho đến kết thúc các hoạt động xây dựng

Hoạt động quản lý dự án xây dựng trên công trường bắt đầu với việc thực hiện hoạt động xây dựng đầu tiên, khi ngân sách xây dựng tổng hợp

và tiến độ thời gian chi tiết cho hoạt động được xây dựng Những vấn đề này tạo thành các mục tiêu chi phí và thời gian được chấp nhận và được

sử dụng như là các chỉ dẫn cho quá trình xây dựng thực tế Sau khi dự án bắt đầu, các hệ thống theo dõi được thiết lập để đo lường chi phí thực tế

và tiến trình thực hiện dự án theo các chu kỳ thời gian Hệ thống báo cáo cung cấp các thông tin tiến trình được đo lường dựa trên các mục tiêu đã được vạch chương trình Việc so sánh các chi phí và tiến trình tại hiện trường với kế hoạch đã được thiết lập một cách nhanh chóng sẽ giúp chỉ

ra các điểm chưa phù hợp (exceptions) mà cần phải hành động ngay Dữ liệu từ hệ thống có thể được sử dụng để thiết lập các dự báo về chi phí và thời gian hoàn thành công việc

Quá trình vừa được mô tả ở trên thường được gọi là “thủ tục quản lý bằng các trường hợp ngoại lệ” (management - by - exception procedure) Khi được áp dụng cho một dự án, nó tập trung vào việc nhắc nhớ và nhận dạng các vấn đề về sai lệch khi so sánh với các kế hoạch hoặc chuẩn mực

đã thiết lập

Các báo cáo thể hiện rõ các sai lệch từ chuẩn mực cho phép nhà quản

lý nhanh chóng nhận ra các phạm vi dự án đòi hỏi sự chú ý Ngay khi một hạng mục công việc được tiến hành cùng với kế hoạch, không cần hành động gì thêm, nhưng có rất nhiều phạm vi dự án đòi hỏi sự chú ý Công cụ quản lý nhờ các trường hợp ngoại lệ này rất có ích đối với các

dự án xây dựng

Ngoài chi phí và thời gian, hệ thống quản lý hiện trường cần quan tâm đến cả việc quản lý các nguồn lực công việc và kiểm soát tài chính dự án Các nguồn lực trong ngữ cảnh này bao gồm vật tư, lao động, thiết bị xây

Trang 28

dựng, và các nhà thầu phụ Việc quản lý các nguồn lực thực ra chính là việc nhận thức trước các nhu cầu, tiến độ và chi tiêu của dự án về nguồn lực cần thiết, và điều chỉnh các yêu cầu khi cần Việc kiểm soát tài chính

dự án có liên quan đến trách nhiệm của giám đốc dự án cho cả tổng dòng tiền được tạo ra bởi các công tác xây dựng và các điều khoản hợp đồng [15]

2.1.3 Quản lý dự án đầu tư xây dựng ở Việt Nam

Việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng ở Việt Nam, tùy thuộc vào nguồn vốn của dự án, được thực hiện dựa trên một hệ thống các quy định pháp luật tương đối nhiều và chi tiết, nhất là các dự án sử dụng vốn nhà nước Nghị định 59/2015/NĐ-CP cùng với các pháp luật điển hình như Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và các văn bản giải thích, hướng dẫn các pháp luật nói trên quy định rõ ràng việc quản lý các hoạt động xây dựng

ở các giai đoạn khác nhau của quá trình đầu tư xây dựng Riêng trong giai đoạn thi công xây dựng, Nghị định 59/2015/NĐ-CP đã quy định rõ 6 nội dung cần quản lý tại Điều 31, bao gồm:

(1) Quản lý chất lượng xây dựng công trình

(2) Quản lý tiến độ xây dựng thi công xây dựng công trình

(3) Quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình

(4) Quản lý chi phí đầu tư xây dựng trong quá trình thi công xây dựng

(5) Quản lý hợp đồng xây dựng

(6) Quản lý an toàn lao động, môi trường xây dựng

2.1.4 Các tiêu chuẩn đánh giá việc quản lý dự án

Một dự án thành công có các đặc điểm sau:

- Hoàn thành trong thời hạn quy định (Within Time);

- Hoàn thành trong chi phí cho phép (Within Cost);

- Đạt được thành quả mong muốn (Design Performance);

- Sử dụng nguồn lực được giao một cách hiệu quả (Effective) hay hợp lý; và hữu hiệu (Efficiency) hay tối ưu

Các nội dung này được thể hiện trong Hình 2.1 sau:

Trang 29

MụC TIÊU Yêu cầu về thành quả

Ngân sách cho phép

Chi phí

Thời hạn quy định

Thời gian

Thành quả

Hỡnh 2.1 Đỏnh giỏ sự thành cụng của dự ỏn [7]

Cú 10 yếu tố được đỏnh giỏ là ảnh hưởng đến dự ỏn, được chia thành hai nhúm như sau:

- Cỏc yếu tố chiến lược trong cỏc giai đoạn đầu của vũng đời dự ỏn;

- Cỏc yếu tố chiến thuật sẽ trở nờn quan trọng hơn ở cỏc giai đoạn sau của dự ỏn

Cỏc yếu tố này được thể hiện trong Hỡnh 2.2 dưới đõy

Theo dõi và phản hồi

Giao tiếp/thông tin

Tiến độ chi tiết

Mục tiêu của dự án

đ-ợc xác định rõ ràng

Công nghệ và chuyên môn

Nhân sự phù hợp

đ-ợc đào tạo

Hỗ trợ của lãnh đạo cấp cao

Hỡnh 2.2 Cỏc yếu tố ảnh hưởng đến sự thành cụng của dự ỏn

Bảng 2.1 cũn phõn loại cỏc yếu tố ảnh hưởng đến thành cụng của dự

ỏn từ cỏc gúc nhỡn khỏc nhau, từ phớa người dựng và từ phớa Giỏm đốc

dự ỏn

Trang 30

Bảng 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của dự án

án

Các dự án thành công cần % Các dự án thành công cần % Thỏa mãn yêu cầu của người

Bảng trên cho thấy mặc dù việc thỏa mãn yêu cầu của người dùng không phải là điều cả người dùng và đội dự án không thống nhất, ý tưởng

về việc làm cho họ vui vẻ có ý nghĩa khác nhau theo cách nhìn của hai phía Đội dự án quan niệm đó là sự thành công về mặt thương mại Cũng lưu ý rằng ngân sách với thời gian quan trọng hơn đối với người dùng

Có lẽ chất lượng đã được người dùng hiểu theo nghĩa khác, vì thế không xuất hiện trong 5 yếu tố đầu tiên như thể hiện trong bảng

2.1.5 Tác dụng của quản lý dự án

Mặc dù quản lý dự án đòi hỏi sự nỗ lực, tính tập thể và yêu cầu hợp tác giữa các thành viên nhưng tác dụng của nó rất lớn Các tác dụng chủ yếu đó là:

- Liên kết tất cả các hoạt động, công việc của dự án;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng/chủ đầu tư và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án;

- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án;

- Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh

và điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán được Tạo điều kiện cho sự đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng;

Trang 31

- Tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn

Tuy nhiên quản lý theo dự án cũng có mặt hạn chế của nó Những hạn chế đó là:

- Các dự án cùng chia nhau một nguồn lực của tổ chức;

- Quyền lực và trách nhiệm của nhà quản lý dự án trong một số trường hợp không được thể hiện đầy đủ;

- Phải giải quyết vấn đề "hậu dự án"

2.2 NỘI DUNG VÀ CÁC LĨNH VỰC QUẢN LÝ DỰ ÁN

2.2.1 Nội dung quản lý dự án

Quản lý dự án gồm 3 nội dung chủ yếu là lập kế hoạch; điều phối thực hiện mà chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện và giám sát các công việc dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã định

Lập kế hoạch: Đây là việc xây dựng mục tiêu, xác định những công

việc cần được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển kế hoạch hành động theo một trình tự lô-gic mà có thể biểu diễn dưới dạng sơ đồ hệ thống

Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phân phối các nguồn lực

bao gồm tiền vốn, lao động, máy móc thiết bị và đặc biệt là điều phối và quản lý tiến độ thời gian Nội dung này chi tiết hoá thời hạn thực hiện cho từng công việc và toàn bộ dự án

Giám sát: là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình

hình hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng

Trang 32

Các nội dung của quản lý dự án hình thành một chu trình năng động

từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó cung cấp các thông tin phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án Chu trình quản lý

dự án được thể hiện trên hình 2.3

Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án thể hiện ở chỗ các công việc phải được hoàn thành theo yêu cầu, đảm bảo chất lượng, trong phạm vi chi phí được duyệt, đúng thời gian và giữ cho phạm vi dự án không thay đổi

Ba yếu tố: thời gian, chi phí và chất lượng (kết quả hoàn thành) là những mục tiêu cơ bản và giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy mối quan hệ giữa 3 mục tiêu có thể khác nhau giữa các dự án, giữa các thời kỳ của một dự án, nhưng nói chung để đạt kết quả tốt đối với mục tiêu này thường phải "hy sinh" một hoặc hai mục tiêu kia Do vậy, trong quá trình quản lý dự án các nhà quản lý hy vọng đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa các mục tiêu của quản lý dự án

Tổ chức dự án theo một trình tự lôgic, chi tiết hoá các mục tiêu của dự án thành những công việc cụ thể và hoạch định một chương trình để thực hiện các công việc đó nhằm đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác nhau của

Trang 33

- Xây dựng và kiểm soát tiến độ

Lập kế hoạch, phân phối và giám sát tiến độ thời gian nhằm đảm bảo thời hạn hoàn thành dự án Chỉ rõ mỗi công việc kéo dài bao lâu, khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc và toàn bộ dự án khi nào hoàn thành

4

Quản lý

chi phí

- Lập kế hoạch nguồn lực

- Đảm bảo chất lượng

- Quản lý chất lượng

Triển khai giám sát những tiêu chuẩn chất lượng trong việc thực hiện dự án, đảm bảo chất lượng sản phẩm dự án phải đáp ứng mong muốn của chủ đầu

- Cung cấp thông tin

- Báo cáo kết quả

Đảm bảo các dòng thông tin thông suốt, chính xác và nhanh nhất giữa các thành viên của dự án và với các cấp quản lý khác nhau Có thể trả lời được các câu hỏi: ai cần thông tin về

dự án, mức độ chi tiết và báo cáo bằng cách nào

Trang 34

- Kiểm soát kế hoạch

- Quản lý hợp đồng

- Quản lý tiến độ cung ứng

Lựa chọn, thương lượng, quản lý các hợp đồng và điều hành việc mua bán nguyên vật liệu, MMTB, dịch vụ cần thiết cho dự án Giải quyết vấn đề: bằng cách nào dự án nhận được hàng hoá và dịch vụ cần thiết của các

tổ chức bên ngoài cung cấp cho dự

án, tiến độ cung cấp, chất lượng cung cấp

(Nguồn: Viện Nghiên cứu Quản lý dự án Quốc tế (PMI))

Quá trình quản lý được thực hiện trong suốt các giai đoạn đầu tư từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến khai thác dự án Trong từng giai đoạn đối tượng quản lý có thể khác nhau nhưng đều gắn với 3 mục tiêu

cơ bản của hoạt động quản lý dự án là: thời gian, chi phí và chất lượng/kết quả hoàn thành

2.3 QUẢN LÝ DỰ ÁN DỰA TRÊN CÁC LĨNH VỰC KIẾN THỨC VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN CỦA VIỆN QUẢN LÝ DỰ ÁN PMI (HOA KỲ)

2.3.1 Giới thiệu về PMI và các chuẩn mực quản lý dự án của họ

PMI - Viện quản lý dự án, đóng trụ sở tại Mỹ, là một hội nghề nghiệp

về quản lý dự án lớn nhất thế giới với hơn 600,000 thành viên ở hơn 185 nước trên thế giới Tài liệu “Cẩm nang các lĩnh vực kiến thức về quản lý

dự án” viết tắt là PMBOK của họ đã được tái bản có cập nhật liên tục, là một tài liệu rất nổi tiếng mang tính tiêu chuẩn về quản lý dự án

Viện Quản lý dự án (Mỹ) là một hiệp hội phi lợi nhuận có hơn 600,000 thành viên ở trên 185 nước trên thế giới Viện này cấp 6 loại chứng chỉ cho những người hành nghề quản lý dự án trên thế giới Đó là:

Trang 35

- Certified Associate in Project Management (CAPM): chứng chỉ hội viên quản lý dự án;

- Project Management Professional (PMP): chuyên gia quản lý dự án;

- Program Management Professional (PgMP): chuyên gia quản lý chương trình;

- PMI Agile Certified Practitioner (PMI-ACP): Chứng chỉ thực hành Agile của PMI;

- PMI Risk Management Professional (PMI-RMP): chuyên gia quản

lý rủi ro của PMI;

- PMI Scheduling Professional (PMI-SP): chuyên gia quản lý tiến độ của PMI;

- OPM3® Professional Certification: chứng chỉ OPM3

Tài liệu nổi tiếng nhất của họ: “Cẩm nang các kiến thức cơ bản về quản lý dự án” (Project Management Body of Knowledge - viết tắt là

PMBoK) giới thiệu 10 lĩnh vực (nội dung) quản lý dự án chung cho các loại dự án và phiên bản mở rộng của nó cũng giới thiệu thêm 4 lĩnh vực quản lý bổ sung cho ngành xây dựng

Thực tiễn quản lý dự án cho thấy các kiến thức, quá trình, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật phù hợp được áp dụng sẽ có những ảnh hưởng đáng

kể đến sự thành công của dự án Tài liệu PMBOK chỉ ra một bộ phận các kiến thức cần thiết cho quản lý dự án được thực tế công nhận rộng rãi là

có ích, có khả năng mang lại hiệu quả cao cho hầu hết các dự án Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các kiến thức này bắt buộc phải áp dụng vào tất cả các dự án, tổ chức thực hiện dự án hoặc đội dự án có trách nhiệm xác định cái gì là cần thiết cho mỗi dự án nhất định

Viện Quản lý dự án (Project Management Institute - PMI) đóng trụ sở tại Mỹ là một hiệp hội phi lợi nhuận có hơn 600,000 thành viên ở trên

185 nước trên thế giới Hệ thống quản lý dự án do tổ chức này phát triển được áp dụng phổ biến trên thế giới và trở thành một hệ thống chuẩn mực quốc tế được công nhận rộng rãi Theo hệ thống này, việc quản lý

dự án được thực hiện dựa trên một hệ thống 10 lĩnh vực kiến thức, đó là: (1) Quản lý tổng thể/tích hợp dự án; (2) Quản lý phạm vi dự án; (3) Quản

lý thời gian dự án; (4) Quản lý chi phí dự án; (5) Quản lý chất lượng dự

Trang 36

án; (8) Quản lý rủi ro dự án; (9) Quản lý mua sắm dự án và (10) Quản lý các bên hữu quan dự án [11]

14 lĩnh vực kiến thức quản lý dự án cho dự án xây dựng của PMI chứa trong nó 59 quá trình quản lý dự án, bao gồm 64 quá trình thuộc 14 lĩnh vực kiến thức, được trình bày chi tiết theo các nội dung: đầu vào, đầu ra, công cụ và kỹ thuật sử dụng

PMBOK giới thiệu các lĩnh vực kiến thức chung cho quản lý dự án và các lĩnh vực kiến thức bổ sung cho từng loại hình dự án riêng biệt Mỗi lĩnh vực kiến thức có thể được áp dụng vào quản lý dự án nhờ các quá trình nhất định, mỗi quá trình được mô tả chi tiết đầu vào, đầu ra, công

cụ và kỹ thuật cần sử dụng Những thông tin này được thu thập từ thực tế quản lý dự án ở khắp nơi trên thế giới, được các nhà thực hành nghề quản lý dự án đóng góp để cập nhật, cải tiến tài liệu này một cách liên tục nhằm cung cấp những chuẩn mực phù hợp nhất về quản lý dự án cho cộng đồng Các quá trình đơn lẻ trong các lĩnh vực kiến thức được nhóm thành 5 nhóm quá trình được thực hiện tuần tự (đôi khi gối tiếp) bao trùm tất cả các hoạt động của từng dự án/giai đoạn dự án, nhằm tăng cơ hội đảm bảo kết quả trung gian và kết quả cuối cùng của dự án phù hợp các mục tiêu đã được thiết lập, đó là: (1) Nhóm quá trình khởi động; (2) Nhóm quá trình hoạch định; (3) Nhóm quá trình thực hiện; (4) Nhóm quá trình theo dõi và kiểm soát dự án; và (5) Nhóm quá trình kết thúc dự án Phần sau đây sẽ trình bày tóm tắt về các mảng kiến thức chung cho tất

cả các dự án và các mảng kiến thức mở rộng cho ngành xây dựng do PMBOK giới thiệu [11, 16]

2.3.2 Các lĩnh vực kiến thức quản lý dự án theo chuẩn mực PMBOK

2.3.2.1 Quản lý tổng thể/tích hợp dự án (Project Integration Management)

Là việc tích hợp các lĩnh vực kiến thức khác lại thành một thể thống nhất Quản lý tổng thể bao gồm các quá trình và hoạt động cần thiết để nhận dạng, xác định, phối hợp, hợp nhất và điều phối các quá trình và các hoạt động quản lý dự án khác nhau trong việc quản lý một dự án Các quá trình quản lý tổng thể dự án bao gồm:

- Thiết lập điều lệ dự án (Project charter);

Trang 37

- Xây dựng kế hoạch quản lý dự án (Project Management Plan);

- Chỉ đạo và quản lý công việc của dự án;

- Theo dõi và kiểm soát công việc của dự án;

- Thực hiện kiểm soát thay đổi tổng thể;

- Kết thúc dự án hoặc pha/giai đoạn dự án

2.3.2.2 Quản lý phạm vi dự án (Project Scope Management)

Phạm vi dự án bao gồm các công việc cần phải thực hiện để có thể mang lại một sản phẩm, dịch vụ, hoặc kết quả với các đặc điểm và công năng xác định Quản lý phạm vi bao gồm các quá trình cần thiết để đảm bảo dự án bao gồm các công việc cần thiết và chỉ các công việc đó được thực hiện để hoàn thành dự án một cách thành công

Các quá trình quản lý phạm vi bao gồm:

- Lập kế hoạch quản lý phạm vi;

- Thu thập yêu cầu;

- Xác định phạm vi;

- Thiết lập cơ cấu phân chia công việc (WBS);

- Kiểm định phạm vi;

- Kiểm soát phạm vi

2.3.2.3 Quản lý thời gian dự án (Project Time Management)

Bao gồm các quá trình cần thiết để đảm bảo dự án hoàn thành đúng thời gian yêu cầu Các quá trình quản lý thời gian bao gồm:

- Lập kế hoạch quản lý tiến độ;

- Xác định các công việc;

- Sắp xếp thứ tự thực hiện các công việc;

- Dự tính nguồn lực cho các công việc;

- Dự tính thời hạn công việc;

- Lập tiến độ;

- Kiểm soát tiến độ

Một số quá trình bổ sung cho các dự án xây dựng:

- Xác định tỷ trọng công việc;

Trang 38

- Theo dõi tiến trình thực hiện dự án

2.3.2.4 Quản lý chi phí dự án (Project Cost Management)

Bao gồm các quá trình có liên quan đến việc hoạch định, dự toán chi phí, lập ngân sách, lập kế hoạch tài chính, huy động vốn, quản lý và kiểm soát chi phí sao cho dự án có thể hoàn thành trong phạm vi ngân sách được phê duyệt

Các quá trình quản lý chi phí dự án bao gồm:

- Lập kế hoạch quản lý chi phí;

- Dự toán chi phí;

- Xác định ngân sách;

- Kiểm soát chi phí

2.3.2.5 Quản lý chất lượng dự án (Project Quality Management)

Chất lượng được hiểu là mức độ một hệ các tính chất cố hữu của thành quả hoặc kết quả đáp ứng các yêu cầu đặt ra Quản lý chất lượng

dự án bao gồm các quá trình và hoạt động cần thiết của tổ chức thực hiện

dự án xác định rõ các chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng và trách nhiệm chất lượng nhằm mục tiêu giúp dự án thỏa mãn nhu cầu mà

vì nó dự án được tiến hành

Các quá trình quản lý chất lượng bao gồm:

- Lập kế hoạch quản lý chất lượng;

- Thực hiện đảm bảo chất lượng;

- Kiểm soát chất lượng

2.3.2.6 Quản lý nguồn nhân lực dự án (Project Human Resource Management)

Bao gồm các quá trình để tổ chức, quản lý và lãnh đạo đội dự án thực hiện tốt công việc của mình trong dự án

Đội dự án bao gồm những cá nhân được giao các vai trò và trách nhiệm liên quan đến việc hoàn thành dự án Các thành viên của đội dự án

có thể có các kỹ năng khác nhau, tham gia vào dự án toàn thời gian hoặc bán thời gian, hoặc cũng có thể tham gia hoặc rời bỏ dự án khi dự án đang thực hiện

Các quá trình quản lý nguồn nhân lực dự án bao gồm:

Trang 39

- Lập kế hoạch quản lý nguồn nhân lực;

Các quá trình quản lý giao tiếp như sau:

- Lập kế hoạch quản lý các hoạt động giao tiếp;

- Quản lý các hoạt động giao tiếp giao tiếp;

- Kiểm soát các hoạt động giao tiếp

2.3.2.8 Quản lý rủi ro dự án (Project Risk Management)

Rủi ro là một sự kiện hoặc điều kiện không xác định có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các mục tiêu của dự án

Quản lý rủi ro bao gồm các quá trình để thực hiện việc lập kế hoạch quản lý rủi ro, nhận dạng, phân tích các rủi ro, lập kế hoạch đối phó rủi

ro và theo dõi và kiểm soát rủi ro trong một dự án nhằm làm tăng khả năng xảy ra và ảnh hưởng của các sự kiện tích cực và giảm khả năng xảy

ra và hậu quả của các sự kiện tiêu cực trong dự án

Các quá trình quản lý rủi ro bao gồm:

- Lập kế hoạch quản lý rủi ro;

- Nhận dạng các rủi ro;

- Thực hiện phân tích định tính rủi ro;

- Thực hiện phân tích định lượng rủi ro;

- Lập kế hoạch đối phó rủi ro;

- Kiểm soát rủi ro

Trang 40

2.3.2.9 Quản lý mua sắm dự án (Project Procurement Management)

Hoạt động mua sắm được hiểu là bất kỳ hoạt động nào được thực hiện

để một tổ chức, cá nhân nào đó có được hoặc mua được một sản phẩm, dịch vụ, kết quả cần thiết Quản lý mua sắm dự án bao gồm các quá trình cần thiết để có được sản phẩm, dịch vụ, kết quả cần thiết cho đội dự án từ bên ngoài

Quản lý mua sắm dự án bao gồm cả các quá trình quản lý hợp đồng và kiểm soát thay đổi cần thiết để thiết lập và quản lý hành chính các hợp đồng cũng như các đơn đặt hàng; kiểm soát các vấn đề nảy sinh từ hợp đồng cũng như các bổn phận theo hợp đồng của đội dự án

Các quá trình quản lý mua sắm dự án bao gồm:

- Lập kế hoạch quản lý mua sắm;

- Thực hiện việc mua sắm;

- Kiểm soát mua sắm;

án Các bên hữu quan có thể liên quan trực tiếp đến dự án hoặc chỉ có những mối quan tâm mà có thể gây ra các ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến thành quả hoặc việc hoàn thành dự án Các bên hữu quan khác nhau có thể gây ra các xung đột trong dự án do họ có thể có các kỳ vọng đối nghịch nhau

Quản lý các bên hữu quan dự án bao gồm các quá trình cần thiết để nhận dạng các cá nhân, nhóm người, hoặc tổ chức mà có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi dự án, để phân tích các kỳ vọng của các bên hữu quan và ảnh hưởng của họ đến dự án, cũng như để thiết lập các chiến lược quản lý phù hợp nhằm có được các bên hữu quan tham gia vào các quyết định và việc thực hiện dự án Việc quản lý các bên hữu quan cũng tập trung vào các hoạt động giao tiếp thường xuyên liên tục với họ để hiểu rõ các nhu cầu và kỳ vọng của họ, để chỉ ra được các vấn đề nảy

Ngày đăng: 30/10/2021, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w