Trong việc dạy học, mục đích của dạy chính tả là rèn luyện cho học sinh viết thành thạo, thuần thục chữ viết tiếng Việt theo các chuẩn chính tả, tạo cho các em có một kĩ năng, kĩ xảo chí
Trang 1I ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3
HỌC TỐT PHÂN MÔN CHÍNH TẢ
II ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiếng Việt là một trong những bộ môn quan trọng trong nhà trường nhằm thực hiện mục đích giáo dục phát triển toàn diện nhân cách học sinh Mục đích của dạy môn Tiếng Việt là: Dạy cho học sinh biết sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp và
mở rộng hiểu biết thông qua các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Đọc đúng thành
thạo Tiếng Việt, viết đúng thành thạo chữ Việt là hai yêu cầu cơ bản nhất, trọng tâm nhất trong suốt quá trình học tập của học sinh trong nhà trường tiểu học Đó cũng là hai yêu cầu luôn tồn tại song song với nhau Có đọc đúng, thành thạoTiếng Việt mới giúp các em viết đúng chữ Việt Ngược lại quá trình viết là quá trình giúp các em tư duy chính xác lại kí hiệu về âm, vần, tiếng, từ Phân môn chính tả trong nhà trường tiểu học giúp học sinh tiểu học hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả Nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết chuẩn Tiếng Việt Vì vậy, phân môn chính tả có vị trí quan trọng trong nội dung chương trình môn Tiếng Việt ở phổ thông, nhất là ở tiểu học
- Trong thực tế, học sinh mắc lỗi chính tả rất nhiều Có những học sinh viết sai hơn 10 lỗi ở một bài chính tả khoảng 60 chữ Khi chấm bài Tập làm văn, tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính
tả Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát
- Vì lý do đó, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt phân môn chính tả’’.
- Đề tài được nghiên cứu ở lớp 3A trường TH và THCS Phước Năng từ tháng 10/2018 đến tháng 01/2019
III CƠ SỞ LÝ LUẬN
- Hiện nay Đảng và nhà nước ta xem “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, chúng ta cần đạt đến mục tiêu là giáo dục phát triển toàn diện cho học sinh Ở bậc Tiểu học, việc đầu tiên là phải dạy cho học sinh đọc thông viết thạo tiếng Việt rồi mới có thể học tốt các môn học khác và thực hành giao tiếp trong cộng đồng Nói đến học tiếng Việt là nói đến việc sử dụng ngôn ngữ bởi vì như Lê-nin đã từng nói: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người Ngôn ngữ giao tiếp được thể hiện qua việc nói và viết Nhiệm vụ của chúng ta là giúp học sinh ý thức được vai trò xã hội của ngôn ngữ, nắm vững các phương tiện, kết cấu và quy luật cũng như hoạt động chức năng của nó Học sinh
Trang 2cần hiểu rằng người ta nói và viết không phải chỉ để cho mình nghe mà cho người khác cho nên ngôn ngữ phải chính xác, rõ ràng, đúng đắn và dễ hiểu
Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta không chỉ lúc nào cũng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói mà ngôn ngữ viết đóng một vai trò quan trọng Yêu cầu đầu tiên và cũng rất quan trọng của ngôn ngữ viết là phải viết đúng chính tả Trong việc dạy học, mục đích của dạy chính tả là rèn luyện cho học sinh viết thành thạo, thuần thục chữ viết tiếng Việt theo các chuẩn chính tả, tạo cho các em có một kĩ năng, kĩ xảo chính tả Để hình thành cho học sinh kĩ xảo chính tả, có thể tiến hành theo hai cách: Có ý thức và không có ý thức
- Cách không có ý thức (còn gọi là phương pháp máy móc) chủ trương dạy chính tả không cần biết đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ vựng và ngữ pháp của chính tả, mà chỉ đơn thuần là viết đúng từng trường hợp cụ thể Cách dạy này tốn nhiều thời giờ công sức mà không thúc đẩy được sự phát triển của tư duy, chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định
- Cách có ý thức (còn gọi là phương pháp có ý thức) chủ trương cần dạy chính tả bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các mẹo luật chính tả Trên cơ sở
đó, tiến hành luyện tập và từng bước đạt tới các kĩ xảo chính tả Việc hình thành các kĩ xảo chính tả bằng con đường có ý thức sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức Đó là con đường ngắn nhất và có hiệu quả cao
Trên cơ sớ đó và từ các buổi tập huấn về phương pháp dạy học chính tả theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, tôi đưa ra một số biện pháp nhằm giúp các em viết chính tả một cách có ý thức nhằm làm giảm bớt lỗi chính tả khi viết bài và làm tập làm văn
IV CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1 Đặc điểm chung của lớp:
a Thuận lợi:
- Tất cả học sinh của lớp đều đọc thông tiếng Việt, đa số các em đều có ý thức trong việc rèn luyện viết chính tả, tốc độ viết của các em đều đạt theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học
- Được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường, tổ chuyên môn và các cấp chính quyền địa phương
- Về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng học tập phục vụ cho việc dạy và học bản thân tôi nghiên cứu làm một số đồ dùng để phục vụ cho mỗi tiết học tương đối đầy đủ
b Khó khăn:
Trang 3- Trong lớp đối tượng là người dân địa phương nên việc đọc sai và viết thiếu
dấu thanh và lẫn lộn các chữ cái còn nhiều, một số em tiếp thu còn chậm, trí nhớ kém
- Một số phụ huynh ít quan tâm đến việc học của con em mình còn khoán trắng cho giáo viên
2 Thực trạng của việc dạy- học môn chính tả ở lớp 3A:
- Một số học sinh chưa nắm được các quy luật, quy tắc chính tả nên thường
viết sai, lẫn lộn một số chữ như:
+ g/ gh : gi nhớ , gê sợ, gé thăm,
+ c/ k : Céo co, con ciến, cể chuyện,
+ng/ ngh : ngỉ ngơi, nge nhạc,
+ ch/tr : mặt chời, ánh chăng …
- Một số học sinh chưa hiểu nghĩa, phát âm sai các tiếng, từ, nên thường viết sai các lỗi sau :
+ s/x : Cây xấu, củ xắn, san xẻ, sinh đẹp, sin lỗi
+ d/ gi : bây dờ , dan nhà , giỗ dành,
+ ai/ ay : hát hai, mái bai, chay rượu,
+ an/ ang : cây bàn , bàng bạc,
+ ăt/ ăc : giặc giũ, mặt quần áo, mặc trời
+ ân/ âng : cái câng, dâng làng; nân niu, nhà tần,
+ un/ uôn /uông : buồng bã, buồn chuối , bùn ngủ,
+ êt/ êch : đũa lệt, trắng bệt,
+ ~/ ? : sữa xe đạp , hướng dẩn , dổ dành, , mải mê
- Sau các buổi học chính tả, tôi yêu cầu các em tự chữa lỗi thì các em chưa
có kĩ năng (thói quen) chữa lỗi nên việc chữa lỗi chỉ thực hiện qua loa, lấy lệ, không mang lại hiệu quả qua việc chữa lỗi (những lỗi đã chữa rồi sau đó vẫn tái diễn trở lại)
- Đa số học sinh chưa có cách (mẹo) ghi nhớ chính tả nên khi gặp các tiếng chứa âm vần dễ lẫn các em sẽ viết sai ngay
Ngay từ đầu năm học, tôi nhận thấy rằng học sinh lớp tôi còn nhiều em viết sai chính tả nên tôi tiến hành khảo sát 27 bài chính tả của lớp 3A, kết quả như sau:
TS
HS
Số lần
khảo sát
Không mắc lỗi
Mắc 1 lỗi
Mắc 2 lỗi
Mắc 3-5 lỗi
Mắc 6-7 lỗi
Mắc 8-9 lỗi
Mắc trên 9 lỗi
Trang 4Lần 1-Tuần 5 – Nghe - viết bài: Người lính dũng cảm.
Lần 2 -Tuần 6 - Nghe viết bài: Nhớ lại buổi đầu đi học
Từ các khó khăn, thực trạng trên, tôi đưa ra một số giải pháp nhằm giúp học sinh phần nào khắc phục lỗi và học tốt hơn ở môn chính tả
V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1 Tăng cường việc tri giác chữ viết bằng thị giác gắn với nghĩa của từ:
Muốn ngăn ngừa lỗi chính tả cho học sinh chúng ta cần giúp các em ghi nhớ chữ viết gắn liền với nghĩa của từ - từ có vấn đề chính tả Cách tốt nhất là cung cấp cho các em từ trong ngữ cảnh Ngữ cảnh có ý nghĩa đặc biệt giúp các em nắm được nghĩa của từ một cách dễ dàng
Ví dụ: Trong bài chính tả Nghe - viết: Các em nhỏ và cụ già.Tôi biết chắc chắn rằng sẽ có em viết sai chữ “buồn” trong câu: Ông đang rất buồn Đối với các em viết tốt thì các em đã hiểu được nghĩa của từ này nên sẽ viết đúng còn các
em yếu chính tả thì các em sẽ viết có thể là: buồng, bùn (Mặc dù khi đọc chính
tả tôi đã cố gắng để phát âm cho chuẩn) Vì vậy tôi muốn các em nắm rõ nghĩa
của từ này, tôi đưa ra một số thẻ từ có ghi sẵn các từ như: buồn bã, buồng chuối, buồn cười,…, bùn đất và một số thẻ nghĩa, thẻ hình Tôi vừa tổ chức dưới hình
thức trò chơi vừa để các em tiếp cận nhiều bằng mắt đến các từ đó để hiểu được nghĩa của từ lại vừa giúp các em hứng thú hơn qua trò chơi
Tâm trạng của người đang gặp việc đau thương hoặc đang có điều
không được như ý
Đât và nước hòa trộn sền sệt thường trơn và trượt
Có cảm giác khó nhịn được cười
Buồng chuối
Trang 5Tôi tổ chức cho các em gắn nhanh thẻ từ và thẻ nghĩa để giúp các em có thêm số vốn từ , sau khi hiểu nghĩa của từ tôi lại cho các em vận dụng đặt câu có
từ vừa nêu, tôi kết hợp sửa câu cho các em để khi viết văn ,khi cần sử dụng từ, nếu còn phân vân về chữ viết các em sẽ liên tưởng đến ngữ cảnh và suy ra cách viết chữ
Để các em nhớ lâu các từ có vấn đề chính tả , tôi thường tổ chức cho các
em trong một tiết chính tả sẽ trở đi trở lại với từ cần ghi nhớ nhiều lần Chẳng hạn ,lần thứ nhất vào bài học,yêu cầu học sinh đọc thầm bằng mắt ngữ cảnh để hiểu nghĩa của từ và nhớ ngữ cảnh.Lần thứ hai yêu cầu học sinh lựa chọn các từ trong ngữ cảnh vừa cung cấp để điền vào một ngữ cảnh khác Lần thứ ba yêu cầu học sinh đặt câu với từ vừa học
Ví dụ: Bài chính tả nghe - viết: Nhớ Việt Bắc.
Với từ: đan nón, chắc chắn sẽ có em viết sai không phân biệt giữa đan – đang.
Lần 1: Tôi yêu cầu các em đọc thầm 2 câu thơ sau và tìm tiếng có vần an : Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Lần 2: Tôi yêu cầu các em hãy điền từ đan hay đang vào chỗ trống cho
thích hợp:
Mùa đông đã đến , trời bắt đầu se lạnh, mẹ tôi ngồi áo len cho tôi Lần 3: Tôi yêu cầu các em đặt câu có từ vừa tìm
Những thao tác điền từ, đặt câu, tạo từ mới đều được thực hiện bằng tay và mắt ,giảm nói và đọc
Đồ dùng dạy học cho hoạt động này: Một số thẻ từ và thẻ nghĩa trống
,gặp từ nào khó hoặc có vấn đề về chính tả thì ghi vào Một số thẻ hình có sẵn ở sách hoặc sưu tầm để giúp các em thích thú hơn khi học chính tả
Ví dụ :
Điền im hay iêm:
Trang 6Quả t Bơm t
Điền từ tim hay tiêm vào chỗ chấm cho thích hợp :
Mẹ em bị bệnh , bác sĩ đã khám bệnh và đang thuốc cho mẹ
( xem tranh ảnh ở phụ lục )
2 Tăng cường thao tác phân tích âm tiết ở học sinh
Phân tích ngôn ngữ là một phương pháp đặc thù trong dạy học tiếng Việt Ở phân môn chính tả , phương pháp này thể hiện cụ thể ở phân tích âm tiết ( chữ viết )
Lỗi chính tả có thể xảy ra ở một hoặc nhiều bộ phận cấu tạo nên âm tiết ( chữ viết) tiếng Việt Vì vậy phân tích âm tiết có tác dụng tăng cường hiệu quả tri giác chữ viết, khắc sâu cách viết đi liền với nghĩa từ mà nó biểu đạt Nhưng điều quyết định chất lượng là cần để việc phân tích đó cho học sinh làm Khi tiến hành phân tích âm tiết ,học sinh buộc phải quan sát chữ viết một cách tường tận ( không còn nghe lơ mơ từ lời người khác đọc), buộc phải tự tay viết ra chữ, thao tác nhiều, chữ và nghĩa sẽ gắn chặt vào trí nhớ, chắc chắn sẽ giảm lỗi
Khi chuẩn bị cho tiết chính tả, tôi yêu cầu các em đọc thầm bài và tự viết ra các tiếng, từ mà các em thường hay viết sai vào bảng cá nhân ( có mẫu sẵn ) và
tự phân tích để các em khắc sâu được cách viết các chữ đó Sau đó tôi sẽ gọi một vài em lên bảng để kiểm tra bằng cách tôi sẽ đọc lại một số từ mà em đó vừa chọn và phân tích Khi các em đã viết đúng rồi thì tôi sẽ giúp các em hiểu thêm nghĩa của từ đó để các em nhớ và vận dụng khi viết các từ này
Đồ dùng dạy học cho hoạt động này:
Với biện pháp này tôi đã chuẩn bị từ giữa HKI cho mỗi em một bảng in sẵn bằng một tờ giấy A và ép nhựa để các em dùng bằng bút xạ xóa được, tôi vận động quỹ từ phụ huynh, mua cho mỗi em một cây bút xạ dùng khi học chính tả
và cả các môn học khác
Bảng in sẵn mặt trước như sau:
Từ hoặc cụm
Dấu thanh
Bấp bênh
Bấp bênh
B b
âp ênh
Sắc ngang
Trang 7Giữ gìn
.
.
v.v
(Còn mặt sau kẻ dòng trống để cho các em luyện đặt câu với từ vừa tìm hoặc từ có vấn đề chính tả) 3 Tăng cường yêu cầu học sinh tự chữa lỗi chính tả Sau khi chấm bài của học sinh , tôi tổng hợp những lỗi mà đa số các em thường gặp đưa ra lưu ý trước lớp trong giờ chính tả Khi chữa bài ,tôi chỉ cho học sinh thấy loại lỗi mà các em hay vấp phải.Có thể yêu cầu các em hay mắc lỗi trả lời các câu hỏi sau: -Trong bài chính tả vừa qua em đã mắc những lỗi nào? -Những lỗi đó thường ở bộ phận nào của tiếng ?( v.v )
Khi đã ý thức được loại lỗi mình thường mắc ,nếu gặp những chữ có vấn đề chính tả của mình ,học sinh sẽ thận trọng hơn khi viết chữ Trong bước chữa bài, tôi thường đưa ra lỗi của các em rồi đưa ra mẫu đúng để các em đối chiếu ,sau đó yêu cầu các em về nhà phân tích lại các chữ mà các em đã sửa để nhớ lâu hơn và sẽ không tái lại lần sau.Tôi sẽ kiểm tra việc chữa lỗi của các em ở tiết chính tả sau Dần dần năng lực tự kiểm tra và tự chữa lỗi của học sinh sẽ được hình thành Đồ dùng dạy học cho hoạt động này là : Sổ tay chính tả dùng cho học sinh: mỗi tổ 1 quyển, các em sẽ chuyền tay nhau ghi lại các lỗi mà các em đã chữa, việc ghi lỗi vào sổ tay chính tả còn giúp cho cả tổ thấy được lỗi sai của bạn và tự chữa lỗi cho mình và cũng là yêu cầu kiểm tra kết quả học tập của các đôi bạn được phân công Cuối mỗi tuần tôi sẽ dựa vào đó theo dõi và kiểm tra sự tiến bộ của các em Ví dụ: 4 Ghi nhớ mẹo luật chính tả: Tổ 1: Tuần 6.Bài :N-V Bài tập làm văn Tên Số lỗi Lỗi sai Chữa lỗi Hoa: 3 làm dúp
làm giúp
Phôn: 4 vui vẽ
ngạt nhiên
vui vẻ ngạc nhiên
Trang 8Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các
âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê Ngoài ra, tôi cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:
- Để phân biệt âm đầu tr/ch:
+ Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch,
ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…
+Chỉ tên những người thân thuộc: cha, chú, chị, chồng, cháu,…
- Để phân biệt âm đầu s/ x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt
đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô…
- Những từ có phụ âm đầu “kh” thường viết với dấu hỏi như: khẩn, khỏi,
khởi, khủng, khoảng, khoản, khỉ,… Nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ là: khe khẽ, khập khiễng ,
- Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn: một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp
bênh, không vững chắc: Gập ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh…
- Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng
đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng, ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch…
- Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu,
khuỵu chân;
- Vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ: ngoằn ngoèo, khoèo chân
5 Một số dạng bài tập chính tả ( Sử dụng trong các tiết dạy phụ đạo)
Tôi đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể Ở mỗi bài tập, tôi sẽ tổ chức thi đua ,chấm điểm thường xuyên vào các tiết học phụ đạo, nói chung ở các tiết học vận dụng này tôi để cho các em làm bài một cách tự nhiên ,thoải mái không gò ép, khuyến khích là chủ yếu để các em tự tin trong việc học chính tả Sau mỗi lần chữa bài ,tôi rút ra cho các em những điều cần ghi nhớ
- Bài tập trắc nghiệm:
*Khoanh tròn vào chữ cái trước những chữ viết đúng chính tả:
Trang 9c Giải lụa d Dải lụa
* Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô trống trước những chữ viết sai chính tả:
Giặc quần áo Giặt quần áo
* Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng chính tả:
- Bài tập chọn lựa:
* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
Cháu bé đang uống ……… (sửa, sữa)
Học sinh … mũ chào thầy giáo (ngả, ngã).
Đôi …… này đế rất …… (giày, dày)
Sau khi …… con, chị ấy trông thật …… (xinh, sinh)
* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
Học sinh … đèn học bài… đêm khuya (trong, chong)
Lan thích nghe kể……….hơn đọc……… (truyện, chuyện)
Trời nhiều …… , gió heo ………lại về (mây, may)
- Bài tập phát hiện:
* Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng:
Xuân diệu là một nhà thơ trử tình nổi tiếng
Cả phòng khéc lẹc mùi thuốc lá
Lá vàng bay liệng trong gió chiều
Bức tườn bị nức ngang nức dọc
- Bài tập điền khuyết:
* Điền vào chỗ trống:
l/n: lành… ặn, nao…úng,…anh lảnh
s/x: chim…ẻ, san…ẻ, …ẻ gỗ …uất khẩu, năng….uất.
ươn / ương: bay l… , b… chải, bốn ph… , chán ch……
iêt/ iêc: đi biền b… , thấy tiêng t…/ , xanh biêng b…
- Bài tập tìm từ:
Trang 10Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý
từ đồng âm, từ trái nghĩa…
* Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ươt hoặc ươc có nghĩa như sau:
Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ:
Thi không đỗ:
Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh:
* Tìm các từ chỉ hoạt động:
Chứa tiếng bắt đầu bằng r:
Chứa tiếng bắt đầu bằng d:
Chứa tiếng bắt đầu bằng gi:
Chứa tiếng có vần ươt:
Chứa tiếng có vần ươc:
* Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:
Trái nghĩa với từ thật thà:
Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố:
Cây trồng để làm đẹp:
Khung gỗ để dệt vải:
- Bài tập phân biệt:
* Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:
nồi - lồi
no - lo
bàn - bàng
ngả - ngã
- Bài tập giải câu đố
* Em chọn tr hay ch để điền vào chỗ trống rồi giải câu đố sau:
Mặt… òn, mặt lại đỏ gay
Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì sao
Suốt ngày lơ lửng… ên cao
Đêm về đi ngủ, ….ui vào nơi đâu? (là gì?)
* Em chọn dấu hỏi hay dấu ngã để đặt trên những chữ in đậm rồi giải câu
đố sau:
Cánh gì cánh chăng biết bay
Chim hay sà xuống nơi đây kiếm mồi
Đôi ngàn vạn giọt mồ hôi
Bát cơm trắng deo, đia xôi thơm bùi (là gì?)
VI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU