Thực trạng của vấn đề: Trường Tiểu học Phan Đình Phùng nằm trên địa bàn xã Đăk Wer nơi tôi đang giảng dạy là nơi tập trung dân cư của các vùng miền Bắc - Trung - Nam và đặc biệt có trên
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHAN ĐÌNH PHÙNG
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH LỚP 1
Tác giả: LÊ THỊ THÚY
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Giáo dục Tiểu học Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phan Đình Phùng
Số điện thoại liên lạc: 0971234121
Đắk R’lấp, ngày 05 tháng 06 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3I- THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp 1
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục
3.Tác giả:
Họ và tên: Lê Thị Thúy
Ngày/tháng/năm sinh: 10/08/1991
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên, trường TH Phan Đình Phùng
Điện thoại: 0971234121
4 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Lớp 1B trường TH Phan Đình
Phùng năm học 2020 - 2021
5 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Dành nhiều thời gian cho các em rèn viết, nắm bắt được quy tắc chính tả, phân biệt được các âm, vần để viết đúng chính tả
- Đòi hỏi người giáo viên phải bền bỉ, kiên trì, không được nôn nóng, thường xuyên trau dồi kiến thức, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học thích hợp
- Giáo viên phải tâm huyết với nghề, yêu thương học sinh như con em của mình, phải đặt lợi ích của học sinh lên trên lợi ích cá nhân thì công việc giảng dạy mới đạt hiệu quả cao
- Thường xuyên phối hợp với phụ huynh học sinh mua sắm đầy đủ đồ dùng học tập cho học
6.Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu:
Bắt đầu 09/2020 đến 04/2021
II- MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRUYỀN THỐNG ĐÃ, ĐANG ÁP DỤNG
2 Thực trạng của vấn đề:
Trường Tiểu học Phan Đình Phùng nằm trên địa bàn xã Đăk Wer nơi tôi đang giảng dạy là nơi tập trung dân cư của các vùng miền Bắc - Trung - Nam
và đặc biệt có trên mười dân tộc thiểu số khác nhau sinh sống nên hiện tượng học sinh viết sai chính tả rất nhiều nhất là những âm, vần dễ lẫn lộn đối với học sinh miền Bắc: l – n; s – x; tr – ch; học sinh miền Trung: các dấu thanh
Trang 4như: dấu hỏi, ngã, các vần có âm cuối t – c; n – ng,…; học sinh miền Nam: v – d – r – gi, …., học sinh dân tộc thiểu số đọc, viết thường thiếu dấu hoặc tự
thêm các dấu thanh… Vấn đề này là do học sinh ở nhiều vùng miền (Bắc –
Trung – Nam) và nhiều dân tộc tập trung lại nên không tránh khỏi sự ảnh
hưởng của phương ngữ vậy nên học sinh thường phát âm sai dẫn đến hiểu sai
và viết sai chính tả
Năm học 2020–2021 nhà trường phân công cho tôi dạy lớp 1B Tổng số học sinh 40 em trong đó có 13 là học sinh dân tộc và nhiều học sinh ở các vùng miền chuyển đến, do ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương nên dẫn đến phát âm sai và viết sai đó là điều mà tôi luôn băn khoăn trăn trở Với tình hình
đó, tôi thấy lớp tôi có những thuận lợi và khó khăn sau:
2.1 Thuận lợi:
Bản thân tôi là một giáo viên được phân công dạy lớp 1 nhiều năm liền nên cũng đúc rút không ít kinh nghiệm về rèn chữ viết cho học sinh
Ngoài ra tôi còn được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu, chuyên môn nhà trường về việc rèn luyện chữ viết cho học sinh
Đa số phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học của con em mình nên cũng ủng hộ và tạo điều kiện cho việc rèn chữ của giáo viên
Các bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1 cũng khá đa dạng, cấu trúc nội dung đi từ dễ đến khó phù hợp với từng đối tượng học sinh
2.2 Khó khăn:
Do các em còn nhỏ, mới làm quen với Tiếng Việt, không kiên trì chịu khó đọc - viết, chưa ý thức được thế nào là viết đúng, viết đẹp, giữ vở sạch, dẫn đến việc giữ gìn sách vở và rèn viết đúng chính tả ở nhà hầu như chưa có
em nào chú ý đến Ngoài ra còn có một số em đọc bài còn yếu, không nắm được nghĩa của từ, chưa nắm được nguyên tắc ghi âm, quy tắc chính tả nên dẫn đến viết sai
Một số giáo viên còn hạn chế về kinh nghiệm và cách rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh Mặt khác do một số giáo viên còn coi nhẹ chữ viết không quan tâm đến sách vở học sinh và một số phụ huynh ít quan tâm
Trang 5đến chữ viết của con em mình nên không chuẩn bị những điều kiện tốt nhất giúp học sinh luyện viết
Vì vậy, để nắm bắt tình hình học sinh của lớp, ngay từ đầu năm học tôi
đã bắt đầu chú ý tìm hiểu về kĩ năng viết đúng chính tả của các em thì tôi thấy:
2.3 Kết quả khảo sát:
Số học sinh mắc lỗi dấu thanh: 12 em (Thị Ly Oan, Thị Ly Sun, Thị Mi
Ca, Hoa Tranh, Phong, Gia Phúc, Mỹ An, Thảo Nguyên, Thanh Phú, Thúy Hằng, Bảo Anh, Thị HDa)
Số học sinh mắc lỗi s/x; gh/g; l/n; : 10 em (Gia Huy, Minh Khang, Hoa Tranh, Thảo Nguyên, Thúy Hằng, Việt Hoàng, Thị Ly Sun, Thị Mi Ca, Gia Phúc, Bảo Anh)
Số học sinh mắc lỗi cấu trúc âm tiết: 12 em (Thị Ly Oan, Thị Ly Sun, Thị Mi Ca, Hoa Tranh, Phong, Gia Phúc, Mỹ An, Thảo Nguyên, Thanh Phú, Thúy Hằng, Bảo Anh, Thị HDa)
Tổng hợp chung:
TSHS Phân môn Viết đúng,
Viết chưa đúng, chưa đẹp
Ghi chú
40 Chính Tả TS6 12,1% TS10 30,3% TS19 57,6%
Đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu tôi thấy học sinh lớp tôi nhiều em chữ viết xấu, cẩu thả, sai quy trình và sai lỗi chính tả quá nhiều Ngoài ra có những học sinh không biết cách nối nét từ chữ hoa sang chữ thường, viết không đúng khoảng cách giữa các con chữ, giữa các tiếng Bên cạnh đó có những học sinh chữ viết ngoạch ngoạc, tẩy xoá, bỏ giấy nhiều
2.4 Nguyên nhân:
a Thực tế trình độ chính tả của học sinh trong trường
Bằng những kinh nghiệm thực tiễn, bản thân nhận thấy những lỗi các em thường mắc do không nắm vững cấu trúc âm tiết của Tiếng Việt, không nắm vững quy tắc chính tả nên dẫn đến viết sai: loanh quanh; gập ghềnh; chênh vênh… và những chữ có phụ âm đầu: d/gi/r; ch/tr; ng/ngh, l/n…Bên cạnh đó,
Trang 6các em còn có thói quen viết theo cách phát âm địa phương hoặc do không nắm vững âm chính Đây là lỗi thường gặp nhất mà qua nhiều lần khảo sát tôi nhận thấy ở lớp 4B nói riêng và ở trường Tiểu học Phan Đình Phùng nói
chung Cụ thể là âm: l – n, tr – ch, s – x, d/gi – r, dấu ngã và dấu hỏi, âm cuối
c/t, n/ ng… Học sinh thường nhầm lẫn và viết sai chính tả trong các bài viết
của mình Với những hiện tượng sai trên tôi thấy lỗi chủ yếu là do các em phát âm theo phương ngữ địa phương
b Về chương trình sách giáo khoa
Nội dung bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt 1 còn mang tính chung chung cho học sinh cả nước cho nên có thể nói nội dung dạy chính tả vừa thừa lại vừa thiếu do chưa xử lý được việc dạy chính tả theo khu vực, vùng miền Nội dung chính tả được trình bày trong sách giáo khoa còn mang tính ngẫu nhiên, áp đặt, không được xây dựng dựa trên sự điều tra khảo sát tình hình chính tả ở từng vùng, từng khu vực Chính tả trong sách giáo khoa chưa thống nhất, điều này cũng gây không ít khó khăn cho giáo viên nhất là ở những vùng phương ngữ và vùng có nhiều học sinh dân tộc
c Những bất hợp lý của tiếng Việt và chữ quốc ngữ
Tiếng Việt rất phức tạp vì có cách phát âm của những vùng miền phương ngữ khác nhau Điều đó khiến người viết khó phân biệt được âm chuẩn để
trình bày vào văn bản (trập trùng – chập chùng; trời đất-giời đất) Hoặc có
khi cùng một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết (d: dành dụm, dã tràng; gi: giành giật, giã gạo, ) Bên cạnh đó, Tiếng Việt còn một số vị âm có thể ghi bằng nhiều con chữ (c: cái cầu, cần cẩu,…; k: kinh khủng, kính trọng,…; q: quy định, quan lại,…)
2 Các giải pháp đã áp dụng:
2.1 Thu thập thông tin
Ngay từ đầu năm học tôi đã kết hợp với giáo viên chủ nhiệm năm trước của lớp, cập nhật thông tin về chữ viết của học sinh, đồng thời kiểm tra vở học sinh thường xuyên thống kê lỗi và ghi vào sổ nhật kí em nào mắc lỗi gì
để kịp thời nghiên cứu và tìm cách giải quyết
Trang 72.2 Rèn kĩ năng đọc và luyện viết chính tả
Chữ viết chính tả có liên hệ hình thức ngữ âm với nội dung ngữ nghĩa của văn bản, nghĩa là mỗi âm vị được thể hiện bằng một tổ hợp chữ cái, mỗi
âm tiết, mỗi từ có một cách viết nhất định Do đó để viết đúng cần phải đọc đúng, đọc đúng là cơ sở để viết đúng Để phát huy một cách có ý thức, đặc biệt là những vùng miền khác nhau, việc dạy chính tả phải theo sát nguyên tắc này để viết đúng chính tả Bên cạnh đó, tôi còn xây dựng những hệ thống nguyên tắc chỉ đạo sự lựa chọn và áp dụng các phương pháp dạy chính tả thích hợp:
- Nguyên tắc dạy chính tả gắn với sự phát triển tư duy
- Nguyên tắc dạy chính tả hướng về dạng viết của hoạt động lời nói
- Nguyên tắc dạy chính tả chú ý đến trình độ phát triển ngôn ngữ của học sinh
- Nguyên tắc dạy chính tả phát triển song song giữa nói và viết
Để khắc phục những lỗi phát âm theo địa phương dẫn đến viết sai chính tả này tôi đã hướng dẫn cho học sinh nắm vững âm chính trong Tiếng Việt Muốn viết đúng chính tả thì trước tiên phải hướng dẫn các em phát âm đúng
vì chính âm đi trước chính tả Do đó trong các giờ tập đọc tôi luôn chú trọng việc phát âm chuẩn cho học sinh Bên cạnh đó tôi thường xuyên thay đổi phương pháp dạy học và áp dụng qui trình soạn giáo án theo hướng đổi mới, tích hợp, áp dụng các phương pháp, kĩ thuật và chuẩn kiến thức kĩ năng để có thể thay thế một số bài tập trong sách giáo khoa bằng những bài tập chính tả phương ngữ do giáo viên chọn, tự soạn giúp học sinh luyện tập nhiều hơn để tránh những lỗi mà các em thường mắc phải
Ngoài ra trong các tiết dạy, giáo viên cần đọc đúng, đọc hay; viết đẹp, viết đúng theo quy cách chữ hiện hành của Bộ Giáo dục Khi dạy các phân môn trong môn tiếng Việt giáo viên cần phân tích kĩ nghĩa của các từ để các
em hiểu và viết đúng chính tả Bên cạnh đó tôi còn thu thập những từ ngữ có
âm, vần, âm cuối dấu thanh… mà các em thường viết sai
Trang 8Ví dụ: l/n: lo lắng, (no nắng); tr/ch: tranh ảnh (chanh ảnh); s/x: dòng sông (dòng xông); âm cuối n/ng và t/c: vững vàng (vữn vàn); vật chất (vậc chấc); sinh nhật (sinh nhậc); dấu thanh (~/?/): lủng lẳng (lũng lẵng) …
Trước thực tế của lớp như vậy, tôi phải cố gắng nghiên cứu, tìm tòi về nhiều mặt như: tâm lý học, lý luận dạy học, các kiến thức về ngữ âm, về văn học, quy tắc, nguyên tắc, viết chính tả Từ đó tôi đưa ra một hệ thống bài tập
về so sánh cặp từ mà học sinh thường mắc lỗi để học sinh tự so sánh, từ đó hình thành cho các em ý thức và thói quen viết đúng chính tả Ngoài ra giáo viên hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả trên cơ sở hiểu đúng nghĩa của từ Muốn viết đúng một từ, học sinh phải biết đặt từ đó trong mối quan hệ với cụm từ và các văn bản Nếu ta tách từ đó ra khỏi văn bản có thể học sinh không hiểu được nghĩa và đọc sai dẫn đến viết sai chính tả Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ nghĩa nên sự khác biệt về chữ có khi không thể hiện sự khác biệt về âm và sự khác biệt về nghĩa
VD: cuốc – quốc
Khi nghe phát âm chúng ta rất khó xác định được nghĩa để viết đúng Vậy để học sinh dễ dàng hiểu nghĩa và viết đúng chính tả chúng ta cần đặt nó vào trong từ hoặc câu có nghĩa như “cuốc đất ” hoặc “Em yêu Tổ quốc.”
2.3 Nắm vững quy tắc chính tả và một số mẹo luật chính tả
Trong quá trình dạy chính tả, giáo viên thường xuyên nhắc nhở học sinh ghi nhớ các qui tắc chính tả và áp dụng vào việc viết văn bản bằng hệ thống
tư duy hợp lí Đồng thời giáo viên cần phải cho học sinh nắm vững các quy tắc chính tả
Ví dụ: Khi đọc là “cờ” nhưng được ghi bằng các chữ cái c, k, q (Lớp 1 công
nghệ).
- Viết q chữ cái liền kề phải là u.
- Viết k chữ cái liền kề phải là e, ê, i (iê, ia)
- Viết c trước các nguyên âm khác còn lại.
Viết phụ âm đầu “gờ”, “ngờ” :
- Khi đọc là “gờ”,“ngờ”, nhưng được ghi bằng hai cách g, gh; ng, ngh.
Trang 9- Viết gh, ngh chữ cái liền kề phải là e, ê, i, iê (ia).
- Viết g, ng trước các nguyên âm khác còn lại
- Trong chính tả, âm đệm có 2 cách viết khác nhau Viết là khi đứng sau tất cả các phụ âm (trừ q) hoặc khi đứng đầu âm tiết trước a, ă, e (oa, oă, oe) viết là u khi đứng sau q hoặc khi đứng trước y, â, ê (uy, uâ, uê)
- Các con chữ phụ âm kết hợp với nhau để tạo nên phụ âm đơn: ph, th, ch,
kh, nh, ng, gh, ngh, tr tạo thành một chuỗi như vậy và không bao giờ được phép kết chuỗi đảo ngược như hn, hg
- Các con chữ nguyên âm kết hợp với nhau để tạo nên một nguyên âm đôi VD: iê, ia, ươ, uô, ua, uâ
Điều quan trọng nhất là khi dạy chính tả theo phương ngữ của khu vực nghĩa là phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính tả của học sinh từng khu vực, từng vùng miền người giáo viên cho học sinh nắm vững một số mẹo luật chính giúp học sinh phân biệt, ghi nhớ được cách viết đúng những chữ cái hay nhầm lẫn trong khi viết chính tả
Cách 1: Phân biệt l/n: Giáo viên cho học sinh xác định những từ láy âm
mà không phải là điệp âm thì âm đầu của nó là l Ví dụ: long lanh, lảo đảo, loay hoay, liên miên,…
Cách 2: Khả năng kết hợp âm: Âm /l/ đứng trước âm đệm nhưng /n/
không đứng trước âm đệm Do đó /n/ không bao giờ đứng trước một vần bắt đầu: oa, uâ, uy trái lại /l/ lại đứng trước các vần đó như: loa, luân
Cách 3: mẹo luật láy âm, điệp âm.
"L" kết hợp rộng rãi với nhiều âm tạo thành láy âm, điệp âm Ví dụ: líu
lo, long lanh, lơ lửng,… Ngược lại, n không láy âm với một âm nào mà chỉ
điệp âm với chính nó, Ví dụ: nòng nọc, não nề, nằng nặc,… Từ đó suy ra quy tắc: Nếu gặp một từ láy mà hai âm đầu đọc giống nhau thì nhất định là một điệp âm và cả hai chữ phải cùng có âm đầu là /l/ hoặc /n/ Ví dụ: long lanh, leo lẻo, lủng lẳng,…; não nề, nòng nọc, nõn nà,… Vì vậy ta chỉ cần biết một chữ
là đủ
Trang 10Cách 4: Những chữ không phân biệt được “l” hay “n” nhưng đồng nghĩa
với một từ khác viết với “nh” thì chữ ấy là “l” VD: lăm le (nhăm nhe), lỡ làng (nhỡ nhàng),
Ngoài ra tôi còn cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác:
+ Để phân biệt s/x tôi đã giúp cho học sinh hiểu được đa số các từ chỉ thiên nhiên hoặc chỉ tên cây cối, các con vật, các loại quả đều bắt đầu bằng
“s” VD: sấm sét, sa mạc, hoa sen, cây sung, sắn, củ sả, chim sếu, sáo sậu, sục
sôi,… Còn nếu gặp các tiếng dạng này thì ta chọn x để viết chứ không chọn s.
Ví dụ: xuề xoà, xoay xở, xoành xoạch, xuềnh xoàng, xoăn, xuân,
+ Để phân biệt ch/tr giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh biết ch đứng trước những chữ bắt đầu bằng âm đệm nhưng tr thì không có VD: ôm choàng, choáng váng, hoặc ch đa số là các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên
con vật, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chén, chum,…chồn, chuột, chó, chiền chiện, chích choè, chào mào, …“ch” không bao giờ láy với “tr” và ngược lại
“tr” cũng không bao giờ láy với "ch" mà chỉ có những từ láy cùng láy âm “tr” hoặc “ch” như: chông chênh, chăm chỉ, trăn trở, tráo trở, trằn trọc,
Hoặc phân biệt dấu thanh (~/?): Để học sinh viết đúng thanh hỏi, thanh ngã tôi thường hướng dẫn các em phân biệt bằng cách phát âm hai dấu thanh này Bên cạnh đó, tôi còn cho học sinh học thuộc luật chính tả với thanh hỏi,
thanh ngã là: thanh ngang – thanh sắc – thanh hỏi (có nghĩa là tiếng có thanh
ngang hoặc có thanh sắc thì thường đi với tiếng có thanh hỏi hay lỏng tiếng
có thanh hỏi đi với tiếng có thanh hỏi) Ví dụ: vất vả, chăm chỉ, sư tử, lẻo, thỏ
thẻ, ; thanh huyền-thanh ngã – thanh nặng (có nghĩa là tiếng có thanh huyền
hoặc thanh nặng thường đi chung với tiếng có thanh ngã hay tiếng có thanh ngã đi với tiếng có thanh ngã) như: buồn bã, giã gạo, gìn giữ, giữa đường, dễ
dãi, nhõng nhẽo Nhưng luật trên chỉ tương đối thôi chứ không tuyệt đối Ngoài ra tôi còn cho học sinh học thuộc 13 chữ có thanh ngã thường gặp
đó là: cũng, chỗ, đã, giữ (gìn), (ở) giữa, lẽ (phải), mãi mãi, mỗi, nỗi (niềm), (học) nữa, những, sẽ (làm), vẫn (còn) và 13 chữ có thanh hỏi sau: hất hủi, đáo