Ghi nhớ mẹo luật chính tả: Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu
Trang 1CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: - Hội đồng sáng kiến cấp cơ sở huyện Phước Sơn.
Số
TT Họ và tên Ngày thángNăm sinh Nơi công tác
Chức danh
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) Đóng góp Vào việc tạo ra sáng kiến
1 Phan Thị Thúy 22/10/1973
Trường TH&THCS Phước Năng
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt phân môn chính tả’’.
1 Chủ Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Toan lớp 3
2 Ngày sáng kiến được áp dụng: tháng 9/2018 đến tháng 3/2019.
3 Mô tả bản chất của sáng kiến:
4 Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới:
Như chúng ta đã biết “Nét chữ là nết người”.Vậy trong cuộc sống “Nhân cách của con người chỉ có thể được hình thành thông qua hoạt động giao tiếp” Để xã hội tồn tại và phát triển, để giao tiếp được thuận tiện, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có một ngôn ngữ riêng Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta không chỉ lúc nào cũng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói mà chúng ta còn phải giao tiếp thông qua ngôn ngữ viết Ngôn ngữ viết đóng vai trò quan trọng của Tiếng Việt nói riêng và trong tiếng nói của các quốc gia nói chung Yêu cầu đầu tiên và quan trọng của ngôn ngữ viết là phải viết đúng chính tả Bản thân tôi là một giáo viên dạy lớp 3 tôi nhận thấy:
Phân môn chính tả có vị trí quan trọng trong nội dung chương trình môn Tiếng Việt ở phổ thông, nhất là ở Tiểu học Vì các em học sinh là người địa phương là ngôn ngữ thứ hai, vậy việc dạy chính tả đúng phải được coi trọng đối với học sinh các lớp của bậc Tiểu học Nhưng trên thực tế hiện tượng học sinh viết sai chính tả khá phổ biến
Cụ thể ở lớp tôi dạy (Lớp 3 năm học 2018 – 2019), hiện tượng học sinh viết sai chính tả nhiều
Vì học sinh chưa nắm được các quy luật, quy tắc chính tả nên thường viết sai, lẫn lộn một số chữ như:
+ g/gh : gi nhớ, gê sợ, gé thăm,
+ c/k : Céo co, cể chuyện, cái céo
Trang 2+ng/ ngh : ngỉ ngơi, nge nhạc,
+ ch/tr : mặt chời, ánh chăng, cây che, mái tre …
- Một số học sinh chưa hiểu nghĩa, phát âm sai các tiếng, từ, nên thường viết
- sai các lỗi sau:
+ s/x : Cây xấu, củ xắn, san xẻ, sinh đẹp, sin lỗi
+ d/ gi : bây dờ , dan nhà, giỗ dành, dải phóng, …
+ ai/ ay : hát hai, mái bai, chay rượu,
+ an/ ang : cây bàn , bàng bạc,
+ ăt/ ăc : giặc giũ, mặt quần áo, mặc trời
+ ân/ âng : cái câng, dâng làng, nân niu, nhà tần,
+ un/ uôn /uông : buồng bã, buồn chuối , bùn ngủ,
+ êt/ êch : đũa lệt, trắng bệt, rỗng tết,
+ ~/ ? : sữa xe đạp, hướng dẩn, dổ dành, mải mê
…………
Tôi nhận thấy các em viết sai chính tả là do các nguyên nhân sau:
- Lỗi chính tả do các em phát âm sai
- Lỗi do không nắm vững cấu trúc âm tiết của Tiếng Việt và luật chính tả
- Lỗi chính tả do viết theo lối phát âm địa phương Đây là lỗi cơ bản nhất mà tôi nhận thấy học sinh thường nhầm lẫn và viết sai chính tả trong các bài viết của mình
- Các em không có phương pháp học tập; tự ti, rụt rè, thiếu ý thức tự học tập (luyện đọc, luyện viết), có thói quen chờ thầy cô hướng dẫn rồi viết bài
- Một số gia đình chưa quan tâm đến việc học tập của con em Do công việc làm ăn bận rộn nên phụ huynh không có thời gian để nhắc nhở, xem xét việc học của các em
4.1 Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm.
Giúp học sinh hiểu nắm vững các kiến thức viết đúng để học tốt phân môn
“chính tả’’ giáo viên luôn.
+ Hướng dẫn các em đọc đúng.
+ Rèn tính cẩn thận, viết đúng từ khó
+ Hướng dẫn các em nắm vững âm tiết và luật chính tả
+ Hướng dẫn nắm được nghĩa của từ
+ Dùng mẹo chính tả để chữa lỗi chính tả
+ Tổ chức trò chơi thi tìm từ theo chủ đề
a Luyện đọc đúng:
Tập đọc là phân môn có tính tổng hợp , qua đó giúp các em học được những điều hay lẽ phải trong cuộc sống, làm cho các em thêm yêu cuộc sống Rèn kĩ năng đọc đúng là một trong bốn nhiệm vụ (nghe, nói, đọc,viết) mà học sinh Tiểu học phải đạt được Vì vậy giáo viên phải phát âm chuẩn và uốn nắn dần dần cách phát âm của học sinh Trong giờ Tập đọc giáo viên dành nhiều thời gian cho việc sữa lỗi phát âm cho học sinh đặc biệt là âm s - x, c/k/q, và vần khó như ui/iêu, ưu/ ươu, ua/oa Học
Trang 3sinh đọc sai từ nào giáo viên sửa sai ngay và hướng dẫn đọc lại cho đúng, có như thế các em mới hiểu nội dung bài học và khi viết bài vào vở không mắc lỗi chính tả
b) Luyện viết từ khó:
Khi viết chính tả việc luyện viết từ khó là một bước rất quan trọng nên giáo viên
không đươc bỏ qua Những từ khó trong bài học sinh đọc nhiều lần và viết trên bảng, giấy nháp giáo viên sửa sai kịp thời để giúp các em không sai những lỗi này nữa
4.1.2 Tăng cường thao tác phân tích âm tiết ở học sinh.
Phân tích ngôn ngữ là một phương pháp đặc thù trong dạy học tiếng Việt Ở phân môn chính tả, phương pháp này thể hiện cụ thể ở phân tích âm tiết (chữ viết) Lỗi chính tả có thể xảy ra ở một hoặc nhiều bộ phận cấu tạo nên âm tiết (chữ viết) tiếng Việt Vì vậy phân tích âm tiết có tác dụng tăng cường hiệu quả tri giác chữ viết, khắc sâu cách viết đi liền với nghĩa từ mà nó biểu đạt Nhưng điều quyết định chất lượng là cần để việc phân tích đó cho học sinh làm Khi tiến hành phân tích âm tiết, học sinh buộc phải quan sát chữ viết một cách tường tận (không còn nghe lơ mơ từ lời người khác đọc), buộc phải tự tay viết ra chữ, thao tác nhiều, chữ và nghĩa sẽ gắn chặt vào trí nhớ, chắc chắn sẽ giảm lỗi
Khi chuẩn bị cho tiết chính tả, tôi yêu cầu các em đọc thầm bài và tự viết ra các tiếng,
từ mà các em thường hay viết sai vào bảng cá nhân (có mẫu sẵn) và tự phân tích để các em khắc sâu được cách viết các chữ đó Sau đó tôi sẽ gọi một vài em lên bảng để kiểm tra bằng cách tôi sẽ đọc lại một số từ mà em đó vừa chọn và phân tích Khi các
em đã viết đúng rồi thì tôi sẽ giúp các em hiểu thêm nghĩa của từ đó để các em nhớ và vận dụng khi viết các từ này
4.1.3 Tăng cường yêu cầu học sinh tự chữa lỗi chính tả.
Khi chữa bài, tôi chỉ cho học sinh thấy loại lỗi mà các em hay vấp phải Có thể yêu cầu các em hay mắc lỗi trả lời các câu hỏi sau:
- Trong bài chính tả vừa qua em đã mắc những lỗi nào?
- Những lỗi đó thường ở bộ phận nào của tiếng ? ( v.v )
Khi nắm được những lỗi mà các em thường mắc thì trong những bài chính tả sau nếu có những từ mà em nào hay mắc lỗi tôi sẽ gọi em đó lên bảng viết Khi đã ý thức được loại lỗi mình thường mắc nên gặp những chữ có vấn đề chính tả của mình, học sinh sẽ thận trọng hơn khi viết chữ Hoặc trong bước chữa bài, tôi thường đưa ra lỗi của các em hay mắc rồi đưa ra mẫu đúng để các em đối chiếu, sau đó yêu cầu các em
về nhà phân tích lại các chữ mà các em đã sửa để nhớ lâu hơn và sẽ không tái lại lần sau Tôi sẽ kiểm tra việc chữa lỗi của các em ở tiết chính tả sau Dần dần năng lực tự kiểm tra và tự chữa lỗi của học sinh sẽ được hình thành
4.1.4 Ghi nhớ mẹo luật chính tả:
Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu
Trang 4Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: Chữ cái đầu
k, gh, ngh chỉ đứng trước vần có nguyên âm: e,ê,i, (ia,iê)
- Viết chữ “c, g, ng” trước các nguyên a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư
- Chữ cái “q” luôn luôn kết hợp với âm “u” thành “qu”, “qu” luôn đứng trước các chữ cái nguyên âm: e, ê, i, a, ơ
Ngoài ra, tôi cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:
- Để phân biệt âm đầu tr/ch:
+ Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch
ví dụ: chăn; chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông,
chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi …
+ Chỉ tên những người thân thuộc: cha, chú, chị, chồng, cháu, …
+ Chỉ tên các con vật sống trên cạn, dưới nước bắt đầu bằng âm tr: trâu, trút,
trăn, trĩ, trắm, tràu, trê, trích, trai,
- Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu
bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sậy, sấu, sến,
săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô…
Tên các thức ăn và đồ dùng liên quan đến việc nấu nướng, ăn uống thường viết
với x
Ví dụ: Xôi, xa lát, lạp xưởng, xúc xích, cải xanh, cái xoong, xiên thịt …
………
4.2.4 Một số dạng bài tập chính tả (Sử dụng trong các tiết dạy tăng cường Tiếng
Việt)
Để giúp các em củng cố kiến thức và huy động mọi đối tượng học sinh trong lớp tham gia học tập một cách tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh Tôi
đã tổ chức một số trò chơi học tập để giúp các em nắm được nghĩa của từ một cách dễ dàng và phân biệt âm vần khi viết chính tả
- Trò chơi “Ghép thẻ nghĩa với thẻ từ ”
- Trò chơi “Nhìn tranh điền âm, vần vào từ
- Trò chơi “Phân tích âm tiết”
- Trò chơi “Luyện đặt câu (có vần cần tìm)”
Khi giáo viên đưa ra được các trò chơi một cách khoa học thì chắc chắn chất lượng dạy học sẽ ngày càng nâng cao Song trong giảng dạy phân môn Chính tả không nhất thiết giờ nào cũng bắt buộc nhất nhất tổ chức trò chơi Tùy từng bài, từng phần, và điều kiện dạy học của lớp, nhà trường, khả năng của học sinh và năng lực sở trường của giáo viên mà lựa chọn phương pháp Chính vì điều đó, khi áp dụng giáo viên phải biết lựa chọn thời điểm nội dung bài cần áp dụng để thích hợp nhất Nội dung trò chơi phải có tính khả thi, trò chơi đưa ra phải phù hợp với thực tế và phải
Trang 5huy động tất cả các đối tượng học sinh cùng tham gia Từ khi áp dụng các trò chơi học tập lồng ghép vào trong tiết dạy, không khí tiết học sẽ sôi nổi, học sinh hưng phấn học tập và nắm bài một cách chắc chắn Trò chơi không chỉ giúp các em rèn kĩ năng viết đúng chính tả mà trò chơi còn giúp các em tăng thêm sự hiểu biết, tạo tính mạnh dạn, tự tin trước tập thể
4.3 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
+ Sự chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường
+ Sự phối kết hợp của giáo viên
4.4 Nêu các bước thực hiện giải pháp, cách thức thực hiện giải pháp (nhằm để giải quyết các vấn đề nêu trên)
Ngoài việc thực hiện tốt phương pháp rèn viết đúng chính tả người giáo viên cần kết hợp tốt giữa các biện pháp sau:
- Ngay từ đầu năm học bản thân tôi phân hóa đối tượng học sinh viết sai chính
tả để có kế hoạch giảng dạy giúp đỡ, vào các buổi dạy phụ đạo, tôi luôn tạo cho các
em có cơ hội kiểm tra và chữa lỗi bài của mình kĩ hơn và tổ chức các trò chơi để các
em phát hiện lỗi và tự sửa lỗi của mình
- Khi chữa lỗi tôi luôn kết hợp với các mẹo chính tả và các luật chính tả giúp cho các em ôn lại thường xuyên quy tắc chính tả rèn cho các em kĩ năng viết đúng
- Cần phát huy tính tích cực của học sinh trong việc phát hiện lỗi và tự sửa lỗi của các em
- Khi phát hiện học sinh viết sai nhiều lỗi chính tả, giáo viên nên giúp các em sử dụng “Sổ tay chính tả” yêu cầu các em ghi lại các từ đã viết sai để sửa chữa và dễ dàng thấy được sự tiến bộ của các em Điều quan trọng là cần hướng dẫn các em thật
tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ
- Nếu các em viết sai lỗi chính tả nhiều lần nên giúp các em hiểu nghĩa của từ
và đưa từ vào ngữ cảnh cụ thể hoặc mẹo viết chính tả Đặt biệt nên để các em tự tri giác chữ viết và tự phân tích âm tiết trong quá trình chuẩn bị viết chính tả
Sử dụng tối đa các phương tiện đồ dùng dạy học đã có và chuẩn bị những loại
đồ dùng mà các em cần có
4.5 Chứng minh khả năng áp dụng của sáng kiến
- Với những nghiên cứu trên, tôi đã vận dụng bước đầu thành công trong lớp học của mình
5 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
Trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt phân môn chính tả’’ Một số biện pháp nêu trên đã góp phần giúp học sinh củng
cố, khắc sâu được mẹo, quy luật, quy tắc chính tả
Tôi thấy kết quả của phân môn Chính tả rất khả quan, học sinh viết chữ tương đối đều, đẹp, cẩn thận và ít sai lỗi chính tả Các em tự tin và hào hứng rất nhiều trong tiết học, góp phần hạn chế rất nhiều tỉ lệ học sinh chưa đạt chuẩn Từ đó chất lượng học tập được nâng lên một cách rõ rệt
Trang 6Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Phước Năng, ngày 27 tháng 3 năm 2019
Người nộp đơn
Xác nhận và đề nghị của
cơ quan, đơn vị tác giả công tác
(Ký và ghi rõ họ tên)
Phan Thị Thúy
Trang 7-
Hiện trạng trước khi áp dụng sáng kiến:
+ Các em chưa có động
cơ, thái độ đúng đắn trong việc học và rèn luyện viết chính tả.Khi viết các em còn
lơ là, không tập trung vào bài viết, lâu ngày thành thói quen “cẩu thả viết quen tay”
Vì khi hỏi về quy tắc viết chính tả có nhiều em vẫn còn lúng túng hoặc trả lời chưa đầy đủ
+ Các em không nắm được nguyên tắc kết hợp các chữ cái, quy tắc viết hoa trong Tiếng Việt, không nắm được vị trí phân bổ giữacác kí hiệu
+ Do các em chưa hiểu nghĩa của từ, chưa nhớ đầy đủ các quy tắc chính tả vì quá trình học chính tả có liên quan mật thiết với quá trình trí nhớ Những lỗi chính tả do không nhớ đầyđủ các quy tắc chính tả như lẫn lộn các phụ âm đầu, các nguyên âm ,
- Mục đích của giải pháp: Giúp các em khắc phục lỗi chính tả, viết đúng, đẹp Ngoài
ra còn giúp các em có điều kiện sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các môn học khác Từ đó góp phần giáo dục ý chí và đức tính tốt như: tính kỉ luật, tính cẩn thận, cần cù, nhẫn nại, óc thẩm mĩ Đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt, cách biểu thị, tình cảm tốt đẹp khi giao tiếp
- Các bước thực hiện của giải pháp cải tiến:
1 Tích cực luyện phát âm đúng
2 Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh
3 Phân biệt bằng nghĩa từ
4 Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả
5 Thiết kế các dạng bài tập, vận dụng củng cố sau mỗi giờ học chính tả
- Khả năng áp dụng của giải pháp: Sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi trong toàn trường
- Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp:
Đề tài được áp dụng trong 3 năm học vừa qua, tôi thấy kết quả của phân môn Chính tả rất khả quan, học sinh viết chữ tương đối đều, đẹp, cẩn thận và ít sai lỗi chính tả Các
em tự tin và hào hứng rất nhiều trong tiết học, góp phần hạn chế rất nhiều tỉ lệ học sinh chưa đạt chuẩn Từ đó chất lượng học tập được nâng lên một cách rõ rệt
Tôi cam đoan những điều viết trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Đồng Nơ,ngày 20 tháng 1 năm 2016
Người viết Nguyễn Kim Linh
Trang 8nhóm tôi đã và đang được vận dụng một cách hiệu quả.
- Dạng bài tập đặt câu để phân biệt các từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng
âm, từ nhiều nghĩa
Đối với dạng bài tập nhận biết nghĩa của từ giáo viên tổ chức cho học sinh
tự suy nghĩ đặt câu vào vở sau đó có thể bắt một bài hát cho cả lớp hát, bài hát dừng đến học sinh nào thì học sinh đó đứng dạy đọc câu văn mình vừa đặt có từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, hoặc từ đồng âm hoặc từ nhiều nghĩa Học sinh đó nêu xong tự giới thiệu một bạn khác cứ như vậy học sinh nào không đặt câu được là thua
Ngoài ra giáo viên còn sử dụng Sơ đồ mảnh ghép khi dạy một số dạng bài
tập khác nhau Sơ đồ mảnh ghép là kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực cũng như nâng cao vai trò của mỗi học sinh trong quá trình hợp tác
- Một số dạng bài tập trắc nghiệm giúp các em nắm vững thêm về từ đồng
nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa
Học sinh dùng thẻ để chọn đáp án (A, B, C, D) đúng với câu trả lời mà các
em lựa chọn Nếu trường hợp chọn đáp án sai thì giáo viên kịp thời giải thích cho học sinh đó rõ hơn Như vậy giáo viên kiểm soát tỉ lệ học sinh hiểu bài tại lớp dễ dàng hơn
Dạng bài tập trắc nghiệm trên giáo viên có thể tổ chức trò chơi Rung
chuông vàng rất hiệu quả
3.2.4 Rèn luyện kĩ năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa qua một số
trò chơi học tập
Để giúp các em củng cố kiến thức và huy động mọi đối tượng học sinh trong
lớp tham gia học tập một cách tích cực, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh Tôi đã tổ chức một số trò chơi học tập để giúp các em xác định và phân biệt
từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa một cách chính xác Việc
tổ chức trò chơi học tập không chỉ giúp cho các em tích lũy một số vốn từ phong phú mà tiết học diễn ra rất nhẹ nhàng, thoải mái và sôi nổi Các đối tượng học sinh nắm được những kiến thức cơ bản về lí thuyết vận dụng vào thực hành một cách sáng tạo không rập khuôn, máy móc như trước Sau đây tôi xin giới thiệu một số trò chơi sau:
* Một số trò chơi giáo viên thường tổ chức trong giờ luyện từ và câu là:
- Trò chơi “Chiếc hộp thành công”
- Trò chơi “Có chúng em”
Trang 9- Trò chơi “Tìm nhà cho thỏ”
- Trò chơi “Nhìn hình đoán thành ngữ”
Khi giáo viên đưa ra được các trò chơi một cách khoa học thì chắc chắn chất
lượng dạy học sẽ ngày càng nâng cao Song trong giảng dạy Luyện từ và câu
không nhất thiết giờ nào cũng bắt buộc nhất nhất tổ chức trò chơi Tùy từng bài, từng phần, từng điều kiện dạy học của nhà trường, khả năng của học sinh và năng lực sở trường của giáo viên mà lựa chọn phương pháp Chính vì điều đó, khi áp dụng giáo viên phải biết lựa chọn thời điểm nội dung bài cần áp dụng để thích hợp nhất Nội dung trò chơi phải có tính khả thi, trò chơi đưa ra phải phù hợp với thực
tế và phải huy động tất cả các đối tượng học sinh cùng tham gia
Từ khi áp dụng các trò chơi học tập lồng ghép vào trong tiết dạy, không khí
tiết học sẽ sôi nổi, học sinh hưng phấn học tập và nắm bài một cách chắc chắn Trò chơi không chỉ giúp các em rèn kĩ năng phân biệt đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng
âm, từ nhiều nghĩa mà trò chơi còn giúp các em tăng thêm vốn từ, tạo tính mạnh dạn, tự tin trước tập thể
4 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
+ Sự chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường
+ Sự phối kết hợp của giáo viên
5 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng
kiến theo ý kiến của tác giả:
Trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5
phân biệt từ đồng nghĩa - từ trái nghĩa; từ đồng âm - từ nhiều Một số biện pháp nêu trên đã góp phần giúp học sinh củng cố, khắc sâu được kiến thức
Học sinh tham gia hoạt động một cách độc lập, tìm tòi kiến thức phát huy
tính chủ động trong học tập, mọi đối tượng học sinh tham gia học tập tích cực Các
em biết vận dụng lí thuyết để làm bài tập một cách chủ động, sáng tạo, không rập khuôn máy móc như trước nữa Với phương pháp dạy học này giúp học sinh nắm được kiến thức một cách sâu sắc, các em tự phát hiện được những từ sai thông qua nhận xét của bạn và cô giáo Học sinh người địa phương các em được trang bị vốn
từ tương đối đảm bảo phục vụ trong giao tiếp Các em nắm vững kiến thức về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa Và xác định các loại từ đó thông qua một số dạng bài tập
Từ kết quả trên, tôi nhận thấy học sinh đã hình thành được kĩ năng phân biệt
và xác định đúng từ loại Đa số các em đã phân biệt được từ đồng nghĩa - từ trái nghĩa; từ đồng âm - từ nhiều nghĩa Đặc biệt thông qua các hình thức tổ chức dạy học và trò chơi học tập giúp các em hứng thú trong học tập, tiết học diễn ra một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, giúp các em đã tích lũy được một vốn từ phong phú Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Phước Năng, ngày 20 tháng 4 năm 2017
NGƯỜI LÀM ĐƠN
Trang 10Nguyễn Thị Thu Hoa
Xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị (Ghi rõ họ và tên và đóng dấu)