Sinh thời, Phan Bội Châu không coi văn chương là mục đích của cuộc đời mìnhnhưng trong quá trình hoạt động cách mạng, ông đã chủ động nắm lấy thứ vũ khí tinhthần sắc bén ấy để tuyên truy
Trang 1LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG HƯỚNG DẪN LÀM BÀI PHÂN TÍCH
1 PHÂN TÍCH YÊU CẦU ĐỀ BÀI
- Yêu cầu về nội dung: Phân tích nội dung, nghệ thuật của bài thơ Lưu biệt khi xuấtdương
- Phạm vi tư liệu dẫn chứng: các chi tiết, từ ngữ, hình ảnh, có trong tác phẩm Lưubiệt khi xuất dương
- Phương pháp lập luận chính: phân tích
2.LUẬN ĐIỂM BÀI LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG
- Luận điểm 1: Quan niệm mới về chí làm trai
- Luận điểm 2: Khẳng định ý thức trách nhiệm của cá nhân trước thời cuộc
- Luận điểm 3: Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước
- Luận điểm 4: Khát vọng hành động, tư thế buổi lên đường
II LẬP DÀN Ý
1 Mở bài phân tích Lưu biệt khi xuất dương
- Giới thiệu tác giả Phan Bội Châu
- Giới thiệu chung về tác phẩm Lưu biệt khi xuất dương
2 Thân bài phân tích Lưu biệt khi xuất dương
a Hai câu đề: Quan niệm mới về chí làm trai
“Sinh vi nam tử yếu hi kì”
- Làm trai phải mong có sự lạ “hi kì”: phải có lí tưởng sống, lẽ sống lớn lao, cao đẹp,dám mưu đồ những việc phi thường hiển hách Không chấp nhận sự nhợt nhạt, tầmthường
“Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”
- Không để trời đất tự xoay vần cuộc đời mình, con người phải tự tạo ra cuộc đời, thờithế của mình, giành lấy thế chủ động để tự quyết định số phận của mình Giọng điệu
tự tin, táo bạo của một con người khẩu khí
Trang 2=> Tư thế, một tâm thế đẹp về chí nam nhi phải tin tưởng ở mức độ và tài năng củamình => Tuyên ngôn về chí làm trai.
b Hai câu thực: Khẳng định ý thức trách nhiệm của cá nhân trước thời cuộc
“Ư bách niên trung tu hữu ngã”
- “Bách niên”: trăm năm là khoảng thời gian ước lệ nói về cuộc đời của mỗi conngười, cũng có ý chỉ thế kỉ nhiều biến động
- “Tu hữu ngã”: phải có ta Tác giả tự xưng bản thân mình là “ta” một cách ngạo nghễ
=> Ý thức trách nhiệm của cái tôi cá nhân trước thời cuộc, ý thức rõ vai trò, tầm quantrọng của cá nhân đối với vận mệnh trăm năm Điều này đối lập với sự tự cao cá nhân
“Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”
- “Cánh vô thùy” (há không ai): câu hỏi hướng đến thế hệ tiếp nối sau này, đặc biệt làthế hệ thanh niên đang mang tâm lí hoang mang, bế tắc Phan Bội Châu là người sớmgiác ngộ cách mạng, người yêu nước điển hình, ông có đủ dung khí để đi theo conđường mình đã chọn Ông lo lắng không biết thế hệ sau có nhận thức được như mìnhhay không?
=> Câu thơ mang mục đích tuyên truyền, cổ vũ cách mạng
c Hai câu luận: Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước
“Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế”
- Tác giả nhận thức về thực trạng của đất nước “giang sơn tử hĩ” (non sông đã chết),đất nước đã chết, rơi vào tay kẻ khác, chỉ còn là “cái xác không hồn”
=> Tác giả trực tiếp bộc lộ cảm xúc của mình “sinh đồ nhuế” (sống thêm nhục) Đâychính là biểu hiện của lòng yêu nước
Liên hệ: Quan niệm về lẽ nhục vinh trong văn học trung đại
Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã viết: “Thà thác mà đặng câuđịch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; còn hơn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rấtkhổ”
=> Phan Bội Châu thể hiện thái độ không cam chịu khi nhận thức được nỗi nhục mấtnước:
“Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”
- Phan Bội Châu phủ nhận nền học vấn nho học, nhận ra con đường khoa cử là vô ích.Người cách mạng cảm nhận sự tồn vong của mình trong mối quan hệ trực tiếp với sựtồn vong của dân tộc => hành động cởi mở, luôn tiếp thu những tư tưởng mới mẻ, đặt
Trang 3nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đối lập với quan điểm cứu nước trì trệ, lạchậu của các nhà Nho đương thời.
Liên hệ: Nguyễn Khuyến cũng từng đặt câu hỏi “Sách vở ích gì thời buổi ấy”
d Hai câu kết: Khát vọng hành động, tư thế buổi lên đường
“Nguyện trục trường phong Đông hải khứThiên trùng bạch lãng nhất tề phi”
- Tác giả dựng bối cảnh kì vĩ, hiện lên qua hình ảnh thơ “trường phong” (ngọn giódài), “thiên trùng bạch lãng” (ngàn đợt sóng bạc)
=> Từ hình ảnh đó làm nổi bật lên tư thế của con người đầy lẫm liệt, oai phong “nhất
tề phi” (cùng bay lên), một tư thế của con người đang vượt lên hiện thực đầy tăm tốicủa thời cuộc, tư thế sánh ngang vũ trụ của con người
=> Thể hiện khát vọng hành động: ra đi tìm đường cứu nước
3 Kết bài phân tích Lưu biệt khi xuất dương
- Khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm
BÀI VĂN PHÂN TÍCH LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG
Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên thật là Phan Văn San, hiệu là Sào Nam, người làngĐan Nhiệm, nay là xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Ông sinh ra và lớnlên trong cảnh nước mất nhà tan, tận mắt chứng kiến sự thất bại của phong trào CầnVương chống Pháp Chế độ phong kiến suy tàn kéo theo sự sụp đổ của cả một hệthống tư tưởng phong kiến già cỗi, lỗi thời Tình hình đó đặt ra cho các chí sĩ yêunước một câu hỏi lớn: Phải cứu nước bằng con đường nào? Trong không khí u ám baotrùm khắp đất nước thời đó, những tia sáng hi vọng hé rạng qua nguồn sách Tân thưtruyền bá tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản của phương Tây với nội dung khác hẳnvới các sách thánh hiền thuở trước Người ta có thể tìm thấy ở đó những gợi ý hấp dẫn
về một con đường cứu nước mới, những viễn cảnh đầy hứa hẹn cho tương lai Vì thế,các nhà Nho tiên tiến của thời đại như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã tiên phongdấn bước, bất chấp nguy hiểm, gian lao
Phan Bội Châu là một trong những chí sĩ yêu nước đầu tiên mở ra con đường cho sựnghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản Mặc dù sựnghiệp không thành, nhưng ông mãi mãi là tấm gương sáng chói về lòng yêu nướcthiết tha và ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất
Sinh thời, Phan Bội Châu không coi văn chương là mục đích của cuộc đời mìnhnhưng trong quá trình hoạt động cách mạng, ông đã chủ động nắm lấy thứ vũ khí tinhthần sắc bén ấy để tuyên truyền, cổ động, khích lệ tinh thần yêu nước của đồng bào ta.Năng khiếu văn chương, bầu nhiệt huyết sôi sục cùng sự từng trải trong bước đườngcách mạng là cơ sở để Phan Bội Châu trở thành một nhà văn, nhà thơ lớn với nhữngtác phẩm xuất sắc như: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906),
Trang 4Ngục trung thư (1914), Trùng Quang tâm sử (1913 -1917), Phan Bội Châu niên biểu(1929)…
Năm 1904, ông cùng các đồng chí của mình lập ra Duy Tân hội Năm 1905, hội chủtrương phong trào Đông Du, đưa thanh niên ưu tú sang Nhật Bản học tập để chuẩn bịlực lượng nòng cốt cho cách mạng và tranh thủ sự giúp đỡ của các thế lực bên ngoài.Trước lúc lên đường, Phan Bội Châu làm bài thơ Xuất dương lưu biệt để từ giã bạn
Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời
Trong khoảng trăm năm cần có tớ,Sau này muôn thuở, há không ai?
Non sông đã chết, sống thêm nhục,Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi
Bằng giọng thơ tâm huyết có sức lay động mạnh mẽ, Lưu biệt khi xuất dương đã khắchọa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu, với tư tưởngmới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìmđường cứu nước
Trang 5Băi thơ mở đầu bằng việc khẳng định chí lăm trai:
Lăm trai phải lạ ở trín đời,
Hâ để căn khôn tự chuyển dời
Cđu thơ chữ Hân: Sinh vi nam tử yếu hi kì Hai từ hi kì có nghĩa lă hiếm, lạ, khâcthường cần được hiểu như những từ nói về tính chất lớn lao, trọng đại, kì vĩ của côngviệc mă kẻ lăm trai phải gânh vâc Đđy cũng lă lí tưởng nhđn sinh của câc nhă Nhothời phong kiến Trước Phan Bội Chđu, nhiều người đê đề cập đến chí lăm trai trongthơ ca Phạm Ngũ Lêo đời Trần từng băn khoăn: Công danh nam tử còn vương nợ,/Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu (Tỏ lòng) Trong băi Đi thi tự vịnh, NguyễnCông Trứ khẳng định: Đê mang tiếng ở trong trời đất,/ Phải có danh gì với núi sông…
vă nhấn mạnh: Chí lăm trai nam, bắc, tđy, đông/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn
bể (Chí khí anh hùng)
Chí lăm trai của Phan Bội Chđu thuyết phục thế hệ trẻ thời bấy giờ ở sự tâo bạo, quyếtliệt vă cảm hứng lêng mạn nhiệt thănh bay bổng Với ông, lăm trai lă phải lăm đượcnhững điều lạ, tức những việc hiển hâch phi thường Cđu thơ thứ nhất khẳng định điều
đó Cđu thơ thứ hai mang ngữ điệu cảm thân bổ sung cho ý của cđu thứ nhất: Kẻ lămtrai phải can dự văo việc xoay chuyển căn khôn, biến đổi thời thế chứ không phải chỉgiương mắt ngồi nhìn thời cuộc đổi thay, an phận thủ thường, chấp nhận mình lă kẻđứng ngoăi Thực ra, đđy lă sự tiếp nối khât vọng của nhđn vật trữ tình trong băi Chơixuđn: Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi,/ Sinh thời thế phải xoay nín thời thế Chđndung nhđn vật trữ tình trong băi Lưu biệt khi xuất dương hiện lín khâ rõ qua hai cđu
đề Đó lă một con người mang tầm vóc vũ trụ, tự ý thức rằng mình phải có trâchnhiệm gânh vâc những trọng trâch lớn lao Con người ấy dâm đối mặt với cả cănkhôn, vũ trụ để tự khẳng định mình Chí lăm trai của Phan Bội Chđu đê vượt hẳn líntrín câi mộng công danh xưa nay thường gắn liền với tam cương, ngũ thường củaNho giâo để vươn tới lí tưởng xê hội rộng lớn vă cao cả hơn nhiều
Cảm hứng vă ý tưởng đó phần năo xuất phât từ lí tưởng trí quđn, trạch dđn của câcnhă Nho thuở trước nhưng tiến bộ hơn vì mang tính chất câch mạng Theo quy luật,con tạo xoay vần vốn lă lẽ thường tình, nhưng Phan Bội Chđu ôm ấp khât vọng chủđộng xoay chuyển căn khôn, chứ không để cho nó tự chuyển vần Cũng có nghĩa lẵng không chịu khuất phục trước số phận, trước hoăn cảnh Lí tưởng tiến bộ ấy đê tạocho nhđn vật trữ tình trong băi thơ một tầm vóc lớn lao, một tư thế hiín ngang, ngạonghễ thâch thức với căn khôn
Hai cđu thực thể hiện ý thức về trâch nhiệm câ nhđn của nhă thơ, cũng lă nhă câchmạng tiín phong trước cuộc đời:
Trong khoảng trăm năm cần có tớ,Sau năy muôn thuở, hâ không ai ?
Cđu thứ ba không chỉ đơn giản xâc nhận sự có mặt của nhđn vật trữ tình ở trín đời măcòn hăm chứa một tđm niệm: Sự hiện diện của ta không phải lă một sự kiện ngẫunhiín, vô ích; vì vậy, ta phải lăm một việc gì đó lớn lao, hữu ích cho đời Cđu thứ tư
có nghĩa lă ngăn năm sau, lẽ năo, chẳng có người nối tiếp công việc của người đi
Trang 6trước “Cái tôi công dân” của tác giả đã được đặt ra giữa giới hạn trăm năm của đờingười và ngàn năm của lịch sử Sự khẳng định cần có tớ không phải với mục đíchhưởng lạc mà là để cống hiến cho đáng mặt nam nhi và lưu danh hậu thế Câu hỏi tu
từ cũng là một cách khẳng định mãnh liệt hơn khát khao cống hiến và nhận thức đúngđắn của tác giả: Lịch sử là một dòng chảy liên tục, cần có sự góp mặt và gánh vác củanhiều thế hệ nối tiếp nhau Trong bốn câu thơ đầu, những hình ảnh kì vĩ của thiênnhiên như càn khôn, trăm năm, muôn thuở đã thể hiện cảm hứng lãng mạn bay bổng,chính là cội nguồn sức mạnh niềm tin của nhân vật trữ tình
Ở những năm đầu thế kỉ XX, sau thất bại liên tiếp của các cuộc khởi nghĩa chống thựcdân Pháp, một nỗi bi quan, thất vọng đè nặng lên tâm hồn những người Việt Nam yêunước Tâm lí an phận thủ thường lan rộng Trước tình hình đó, bài thơ Lưu biệt khixuất dương có ý nghĩa như một hồi chuông thức tỉnh lòng yêu nước, động viên mọingười đứng lên chống giặc ngoại xâm
Trong hai câu luận, Phan Bội Châu đặt chí làm trai vào hoàn cảnh thực tế của lịch sửđương thời:
Non sông đã chết, sống thêm nhục,Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
Lẽ nhục – vinh mà tác giả đặt ra gắn liền với sự tồn vong của đất nước và dân tộc:Non sông đã chết, sống thêm nhục Ý nghĩa của nó đồng nhất với quan điểm: Chếtvinh còn hơn sống nhục trong thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cuối thế kỉ XIX
Câu thơ thứ 5 bày tỏ một thái độ dứt khoát, được thể hiện bằng ngôn ngữ đậm khẩukhí anh hùng, bằng sự đối lập giữa sống và chết Đó là khí tiết cương cường, bất khuấtcủa những con người không cam chịu cuộc đời nô lệ tủi nhục Ý thơ mới mẻ mangtính chất cách mạng Ở câu thứ 6, Phan Bội Châu đã thẳng thắn bày tỏ ý kiến trướcmột thực tế chua xót là ảnh hưởng của nền giáo dục Nho giáo đối với tình cảnh nướcnhà lúc bấy giờ Sách vở thánh hiền chẳng giúp ích được gì trong buổi nước mất nhàtan Cho nên nếu cứ khư khư theo đuổi thì chỉ hoài công vô ích mà thôi Tất nhiên,Phan Bội Châu chưa hoàn toàn phủ nhận cả nền học vấn Nho giáo, nhưng đưa ra mộtnhận định như thế thì quả là táo bạo đối với một người từng là đệ tử của chốn cửaKhổng sân Trình Dũng khí và nhận thức sáng suốt đó trước hết bắt nguồn từ lòng yêunước thiết tha và khát vọng cháy bỏng muốn tìm ra con đường đi mới để đưa nướcnhà thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than Phan Bội Châu cho rằng nhiệm vụ thiết thực trướcmắt là cứu nước cứu dân, là Duy tân, tức là học hỏi những tư tưởng cách mạng mới
mẻ và tiến bộ Bài thơ không đơn thuần là chỉ để bày tỏ ý chí mà thực sự là một cuộclên đường của nhân vật trữ tình:
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi
Các hình ảnh kì vĩ trong hai câu kết mang tầm vũ trụ: bể Đông, cánh gió, muôn trùngsóng bạc Tất cả như hòa nhập làm một với con người trong tư thế bay lên
Trang 7Trong nguyên tác, hai câu 7 và 8 liên kết với nhau để hoàn chỉnh một tứ thơ đẹp: Conngười đuổi theo ngọn gió lớn qua biển Đông, cả vũ trụ bao la Muôn lớp sóng bạccùng bay lên (Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi) Tất cả tạo thành một bức tranhhoành tráng mà con người là trung tâm được chắp cánh bởi khát vọng lớn lao, baybổng lên trên thực tại tối tăm khắc nghiệt, lồng lộng giữa trời biển mênh mông Bêndưới đôi cánh đại bàng đó là muôn trùng sóng bạc dâng cao, bọt tung trắng xóa,dường như muốn tiếp sức cho con người bay thẳng tới chân trời mơ ước Hình ảnhđậm chất sử thi này đã thắp sáng niềm tin và hi vọng cho một thế hệ mới trong thờiđại mới.
Thực tế thì cuộc ra đi của Phan Bội Châu là một cuộc ra đi bí mật, tiễn đưa chỉ có vài
ba đồng chí thân thiết nhất Dù phía trước chì mới le lói vài tia sáng của ước mơ,nhưng người ra đi tìm đường cứu nước vẫn hăm hở và đầy tin tưởng
Sức thuyết phục, lôi cuốn của bài thơ chính là ở ngọn lửa nhiệt tình đang bừng cháytrong lòng nhân vật trữ tình Bài thơ đã thể hiện hình tượng người anh hùng trongbuổi lên đường xuất dương lưu biệt với tư thế kì vĩ, sống ngang tầm vũ trụ Người anhhùng ấy ý thức rất rõ ràng về “cái tôi công dân” và luôn khắc khoải, day dứt trước sựtồn vong của quốc gia, dân tộc
Bài thơ Lưu biệt khi xuất dương được viết theo bút pháp ước lệ và cường điệu, rất phùhợp với mục đích cổ vũ, động viên Giọng thơ vừa sâu lắng, da diết, vừa sôi sục, hàohùng, mang âm hưởng tráng ca Nỗi đau đớn, niềm lạc quan, nhiệt tình hành độngcùng tư tưởng cách mạng đã thổi hồn vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh trong bàithơ Âm hưởng hào hùng của bài thơ có sức lay động, thức tỉnh rất lớn đối với mọingười Đây là bài thơ từ biệt mà cũng là lời kêu gọi, thúc giục lên đường Tầm vóc bàithơ hoàn toàn tương xứng với tầm vóc của một con người được cả dân tộc ngưỡng mộ
và tin tưởng Trong tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925) tácgiả Nguyễn Ái Quốc đã suy tôn Phan Bội Châu là: bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xảthân vì độc lập được hai mươi triệu đồng bào trong vòng nô lệ tôn sùng
I HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH 13 CÂU ĐẦU BÀI VỘI VÀNG
Đề bài: Phân tích 13 câu thơ đầu bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
1 PHÂN TÍCH YÊU CẦU ĐỀ BÀI
- Yêu cầu về nội dung: phân tích nội dung và nghệ thuật của 13 câu đầu bài thơ Vộivàng
- Phạm vi tư liệu, dẫn chứng: các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh có trong 13 câu thơ đầu
(khổ 1) bài Vội vàng của Xuân Diệu.
- Phương pháp lập luận chính: phân tích
2 LUẬN ĐIỂM 13 CÂU ĐẦU BÀI VỘI VÀNG
- Luận điểm 1: Ước muốn, khát vọng mãnh liệt của tác giả
- Luận điểm 2: Bức tranh thiên nhiên, tuổi trẻ và tình yêu
Trang 81 MỞ BÀI PHÂN TÍCH 13 CÂU ĐẦU VỘI VÀNG
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm
+ Xuân Diệu (1916 - 1985) là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới với phongcách trữ tình lãng mạn, luôn khát khao giao cảm với đời đến cuống quýt, cuồng nhiệt.+ Vội vàng là thi phẩm kết tinh được nhiều bình diện phẩm chất thơ Xuân Diệu
- Giới thiệu 13 câu thơ đầu: Đoạn thơ gồm 13 câu thơ đầu (khổ 1) của bài thơ Vộivàng thể hiện tình yêu tha thiết với cuộc sống nơi trần thế
Ví dụ
Vội vàng là một tác phẩm thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn và độc đáo về mạch cảmxúc và triết lí sâu sắc của nhà thơ Xuân Diệu Nội dung chính của bài thơ là thể hiệnniềm say mê cái đẹp của thiên nhiên, niềm yêu thiên nhiên sâu sắc của tác giả trongcuộc sống Niềm say mê thiên nhiên, tình yêu cuộc sống tha thiết của tác giả được thểhiện rất rõ qua 13 câu thơ đầu (khổ 1 bài thơ Vội vàng) của bài thơ
2 THÂN BÀI PHÂN TÍCH 13 CÂU ĐẦU VỘI VÀNG
Phân tích bài thơ Vội vàng đoạn 1 từ "Tôi muốn tắt nắng đi " đến " Tôi không chờnắng hạ mới hoài xuân."
a) Luận điểm 1: Ước muốn, khát vọng mãnh liệt của tác giả (4 câu đầu)
- Điệp ngữ "tôi muốn"
- "Nắng, gió": những hiện tượng của tự nhiên mà vốn dĩ con người không thể nàokiểm soát
- "tắt đi", "buộc lại" -> hành động cản lại sự vận hành theo quy luật của vũ trụ, là sựđoạt quyền của tạo hóa
- "Đừng nhạt mất", "đừng bay đi": ước muốn làm ngưng đọng vẻ đẹp của tự nhiên,lưu giữ hương sắc của cuộc đời
=> Ước muốn lưu giữ cho cuộc đời những gì đẹp nhất, ý thức được sự quý giá, vẻ đẹpcủa nắng xuân của hương hoa cỏ
=> Bốn câu thơ đầu thể hiện ước muốn táo bạo, khát vọng mãnh liệt của tác giả:muốn ngự trị thiên nhiên, đoạt quyền tạo hóa, ngăn lại dòng chảy của thời gian
=> Trái tim yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết và say mê của tác giả
b) Luận điểm 2: Bức tranh thiên nhiên, tuổi trẻ và tình yêu (9 câu sau)
+) Bức tranh thiên nhiên
Trang 9- Điệp ngữ “này đây”: giới thiệu, mời gọi mọi người đến với cảnh sắc của khu vườnnơi trần thế, tất cả như bày sẵn ngay trong tầm với.
- “ong bướm”, “hoa”, “đồng nội”, “cành tơ”, “yến anh” : bức tranh sống động, rực rỡmàu sắc, rộn rã âm thanh, tràn đầy sức sống
- Điệp từ “của” kết hợp với các hình ảnh gợi tả “tuần tháng mật", “khúc tình si”,…khiến khu vườn xuân trở thành khu vườn tình ái
-> Bức tranh thiên nhiên hữu tình sâu sắc, có đôi lứa thật lãng mạn, thiên nhiên mùaxuân đang trải dài trong khoảng không gian bao la, rộng lớn của đất trời vũ trụ
+) Bức tranh tuổi trẻ và tình yêu
- Hình ảnh “ánh sáng chớp hàng mi” -> Hình ảnh nhân hóa chỉ một thứ ánh sáng tuyệtdiệu, dịu dàng bao trùm khắp không gian
=> Hình ảnh thiếu nữ khép hờ mắt dưới ánh nắng ban mai, mang dáng vẻ hình hài trẻtrung, son sắc là niềm say mê của nhà thơ
- Hình ảnh so sánh đặc biệt “tháng giêng ngon như một cặp môi gần” -> Ẩn dụchuyển đổi cảm giác mang đến vị của tháng năm, vị của thời gian, mùa xuân Conngười trở thành chuẩn mực của thiên nhiên
=> Nỗi khát khao cháy bỏng với mùa xuân, với tuổi trẻ Tác giả muốn sống trọn trongkhoảng khắc hối hả của thời gian, tận hưởng cuộc sống một cách sung sướng và hốihả
=> Xuân Diệu nhìn sự sống dưới lăng kính của tình yêu và tuổi trẻ, nhà thơ đắm say,giao hòa cùng vạn vật, cảm giác tiếc nuối thời gian
+) Quan niệm mới mẻ của Xuân Diệu:
- Quan niệm nhân sinh trong bài Vội vàng: Cuộc sống trên trần thế là một thiên đườngnơi mặt đất
- Quan niệm thẩm mỹ: Chuẩn mực của mọi cái đẹp trên thế gian là con người
3 KẾT BÀI PHÂN TÍCH 13 CÂU ĐẦU VỘI VÀNG
- Khái quát lại giá trị nội dung của 13 câu đầu Vội vàng
+ Nội dung: Đoạn thơ thể hiện một một khát vọng sống thiết tha mãnh liệt rấttrần đời, quan niệm nhân sinh và thẩm mỹ mới mẻ của Xuân Diệu
+ Đặc sắc nghệ thuật: Sử dụng những từ ngữ giàu sức biểu cảm; biện pháp tu từđiệp từ, điệp ngữ, nhân hóa ; giọng điệu thơ tha thiết, mạnh mẽ
- Cảm nhận của em về đoạn thơ:
Trang 10VD: Qua 13 câu đầu bài Vội vàng, Xuân Diệu đã đem đến một thông điệp mang ýnghĩa nhân văn tích cực: Trong thế gian này đẹp nhất, quyến rũ nhất chính là conngười giữa tuổi trẻ và tình yêu; thiên đường chính là cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế.
Vì vậy hãy sống thiết tha yêu, hãy đắm say tận hưởng và tận hiến để mỗi ngày qua đi
ta được sống trọn vẹn trong tình yêu và hạnh phúc
.BÀI VĂN PHÂN TÍCH 13 CÂU ĐẦU VỘI VÀNG
Xuân Diệu là nhà thơ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ Đây cũng là ba chủ đề chínhtrong sự nghiệp thơ ca của ông trước cách mạng tháng Tám Với mười ba câu thơ đầutiên trong bài thơ "Vội vàng", thể hiện một cái tôi yêu đời, yêu cuộc sống đến mãnhliệt
Có thể nói trong thơ ca trung đại ít có nhà thơ nào dám khẳng định cái tôi cá nhân củamình một cách táo bạo, và đến với phong trào Thơ mới, cái tôi Xuân Diệu đã bộc lộmột cách vô cùng độc đáo:
"Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi"
Mùa xuân là mùa tươi đẹp nhất trong năm cũng như tuổi trẻ là khoảng thời gian đẹpnhất trong cuộc đời mỗi con người Bốn dòng thơ ngũ ngôn như lời đề từ của bài thơ,khẳng định ước muốn đoạt quyền tạo hóa của thi nhân Xuân Diệu muốn ngăn cảnbước đi của thời gian để lưu giữ những khoảnh khắc đẹp nhất, đáng nhớ nhất Thi sĩkhao khát giữ lại ánh nắng để "màu đừng nhạt mất", giữ lại gió để cuộc sống luôn trànngập sắc hương Khao khát "tắt nắng", "buộc gió" thể hiện ý thức làm chủ thiên nhiêncủa con người
Điều này vừa hợp lí bởi nhà thơ "yêu tha thiết cái chốn nước non lặng lẽ này" (HoàiThanh) nhưng cũng vừa vô lí và không thể thực hiện được bởi con người làm sao cóthể cưỡng lại được quy luật của tạo hóa, làm sao nắm bắt, điều khiển được những thứvốn là mỏng manh, ngắn ngủi, không tồn tại được mãi mãi Chúng ta chỉ có thể thựchiện được những ước muốn đó khi có phép nhiệm màu
Đồng thời khao khát này cũng thể hiện sự ham sống bồng bột đến mãnh liệt và quanniệm về thời gian của ông Thời gian tuyến tính một chiều, khi đã trôi qua rồi thìkhông trở lại nên nhà thơ có khao khát giữ nắng, giữ gió để tận hưởng hết vẻ đẹp củađất trời
Ý thơ như trào dâng theo cảm xúc ở thể ngũ ngôn đã lột tả được ước muốn chân thành
mà táo tạo của "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" (Hoài Thanh) Đặc biệt, sựxuất hiện của chủ thể trữ tình, của cái tôi cá nhân đã thoát ra khỏi những hệ thống cácquy ước, ràng buộc của văn học trung đại Nhân vật trữ tình xưng "tôi" một cách đầy
tự tin và quyết đoán
Trang 11Cái tôi cá nhân ấy không ẩn sau cái "ta" chung của cộng đồng, dân tộc mà nó đứngriêng lẻ đầy khí chất bởi với Xuân Diệu, cái tôi là lẽ sống:
"Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhấtKhông có chi bạn bè nối cùng ta"
(Hy Mã Lạp Sơn)
Sự lặp lại về cấu trúc và hình thức ở các câu thơ 1 - 3, câu thơ 2 - 4 cùng tiết tấu câuthơ nhanh, dồn dập đã thêm một lần nữa tô đậm ước muốn đoạt quyền tạo hóa củaXuân Diệu
Nếu các nhà thơ trung đại gửi lòng mình vào chốn bồng lai tiên cảnh thì Xuân Diệulại phát hiện ra một thiên đường trên mặt đất có ngay trong tầm tay với của conngười:
"Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"
Những dòng thơ tiếp theo là sự lí giải nguyên nhân vì sao nhà thơ lại muốn "tắt nắng",
"buộc gió" Con mắt "xanh non", "biếc rờn" của thi sĩ về mùa xuân đã nhận ra vẻ đẹpcủa cuộc đời, thiên nhiên với những thực đơn phong phú Mùa xuân của ong bướm,
cỏ cây, hoa lá, mùa xuân của tạo vật tràn trề nhựa sống Mùa xuân được phát hiệnbằng vẻ đẹp của tháng giêng với những gì tinh túy nhất
Có thể nói đó là bức tranh tuyệt đẹp, là khu vườn tình ái đầy hương sắc của mùa xuântrên mặt đất Chỉ có Xuân Diệu mới có thể nhìn thấy được "tuần tháng mật" của ongbướm, thấy được sắc màu xanh non của cành tơ với những chiếc lá đang "phơ phất".Tất cả vẻ đẹp căng tràn, tươi nguyên ấy như được trưng bày ra trước mắt nhà thơ vàbạn đọc qua điệp từ "này đây" Chỉ có người thi sĩ ấy mới thấy được những bông hoacủa đồng nội và nghe được khúc tình si của chim yến, chim anh Và cũng chỉ có ôngmới cảm nhận được: "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"
Mùa xuân đẹp và quyến rũ như đôi môi người thiếu nữ và tháng giêng là tháng đẹpnhất của mùa xuân Tác giả sử dụng từ "ngon" để thể hiện một khát khao, một cảmnhận riêng đến lạ lùng mà ta chỉ có thể bắt gặp ở Xuân Diệu Ông như người họa sĩ tàinăng đang đứng trước bức tranh thiên nhiên tươi đẹp để chỉ cho chúng ta thấy vẻ tươinon, nõn nà của mùa xuân Mùa xuân đẹp và tình tứ, vạn vật đều có đôi, gắn bó, quấnquýt với nhau một cách thân thiết Lứa đôi gắn bó với nhau trong sự ngọt ngào, sayđắm, hương gắn kết với hoa để khoe sắc trên đồng nội "xanh rì" Những cánh yến anhtrên bầu trời đang chao liệng để gửi gắm lời yêu thương cho nhau mỗi độ xuân về
Tác giả đã lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp để nét vẽ của mình in sâu trongtâm trí người thưởng thức Thiên đường, bữa tiệc của thiên nhiên có ngay trong cuộcsống này, có ngay trong tầm tay với của con người Đoạn thơ như một bản đàn dudương mà Xuân Diệu sử dụng để "đốt cảnh bồng lai và đưa ai ấy về hạ giới" (Hoài
Trang 12Thanh), về với nơi ngự trị của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ Biện pháp liệt kê khiếnnhững vẻ đẹp của mùa xuân được phơi bày một cách sinh động và chân thực.
Có thể nói, chỉ với Xuân Diệu, vẻ đẹp của mùa xuân mới hiện lên nguyên vẹn và tươinon đến thế Sự sống như bày ra một bữa yến tiệc mà mỗi chúng ta là một vị kháchđược mời đến tham dự Nhà thơ đã "say đắm với tình yêu, hăng hái với mùa xuân, thảmình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim" (Thế Lữ) Ông đã thức tỉnh tất
cả các giác quan để nếm vị ngọt, mùi thơm nồng nàn của mùa xuân và sự sống "mơnmởn"
Đôi mắt tinh tế của Xuân Diệu đã nhìn thấy sức sống tươi mới, một sức trẻ khỏekhoắn, một mùa xuân phơi phới làm mê đắm lòng người Nhà thơ có ước muốn níugiữ tất cả vị "ngon" của tình yêu và mùa xuân khi nó đang trong thời kì hương sắcnhất Xuân Diệu đang chìm đắm trong thế giới diệu kì của nhân gian, vũ trụ thì chợtbừng tỉnh:
"Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửaTôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân"
Tác giả đặt mình trong hai trạng thái nửa "sung sướng" mãn nguyện nửa "vội vàng",xót xa Dấu chấm ngăn cách giữa dòng thơ tạo nên hai câu đặc biệt Thi sĩ nhận ra vẻđẹp vô giá của cuộc đời nhưng ngay lập tức cũng biết rằng thời gian là không chờ đợi.Dấu chấm làm mạch cảm xúc bị đứt đoạn, Xuân Diệu đang ngây ngất trong thiênđường mùa xuân thì chợt nhận ra cuộc đời con người rất ngắn ngủi và mỏng manh
Đang ở trong khu vườn trần thế đầy tình tứ mà Xuân Diệu đã lo sợ cuống cuồngnhững vẻ đẹp sẽ tan biến, mất đi trong hư vô mà không đọng lại chút dư âm Nhà thơmuốn chạy đua với thời gian, muốn hòa tan mình vào thiên nhiên để trường tồn cùngthời gian
Mùa xuân đã trở thành người bạn tri âm của Xuân Diệu, luôn được Xuân Diệu chàođón bằng tình yêu nồng nhiệt trong bất cứ hoàn cảnh nào:
"Xuân ở giữa mùa đông khi nắng héGiữa mùa hè khi trời biếc sau mưaGiữa mùa thu khi gió sáng bay vừaLùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng"
(Xuân không mùa)Đây là mùa để ấp ủ, gieo mầm gặp gỡ, giao hòa của vạn vật và là nơi nảy nở tình yêucủa mỗi cá thể Ông quan niệm rằng: "Tình không tuổi và xuân không ngày tháng"(Xuân không mùa) nhưng cuộc vui nào cũng đến hồi kết thúc, hoa nở rồi cũng tàntheo quy luật của tạo hóa Dường như biết trước được quy luật khắc nghiệt ấy nênXuân Diệu "không chờ nắng hạ mới hoài xuân" Nhà thơ đã nhận ra được bước đi vôtình mà tàn nhẫn của thời gian nên ông không chờ một điều gì đó qua đi mới cảm thấy
Trang 13hối tiếc, ông không đợi mùa xuân đi hết chặng đường của mình rồi mới nhớ thương,tiếc nuối.
Ca ngợi vẻ đẹp của mùa xuân qua mười ba câu đầu bài thơ "Vội vàng", Xuân Diệu đãkhẳng định rằng không nơi nào đẹp hơn khu vườn trần thế ở mặt đất Những vần thơcủa ông là "nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này" (HoàiThanh) Được sống là niềm hạnh phúc, khát khao lớn nhất của mỗi chúng ta, vì vậy,chúng ta cần biết trân trọng sự sống và có thái độ sống tích cực
HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH 16 CÂU GIỮA BÀI VỘI VÀNG
1 PHÂN TÍCH ĐỀ
- Kiểu bài: dạng bài phân tích một đoạn thơ
- Vấn đề nghị luận: nội dung, nghệ thuật 16 câu thơ giữa bài Vội vàng
- Phạm vi dẫn chứng, tư liệu: các căn cứ, hình ảnh, chi tiết, thuộc phạm vi 16 câuthơ giữa bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
2 HỆ THỐNG LUẬN ĐIỂM
Để phân tích đoạn 3 (phần 2) từ “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua” cho đến
“Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…” của bài thơ Vội vàng ta có thể đưa ra 3luận điểm như sau:
Luận điểm 1: (8 câu đầu) Nhận ra thời gian là một dòng chảy tuyến tính một đi khôngtrở lại
Luận điểm 2: (8 câu tiếp) Nỗi lo sợ của nhân vật trữ tình khi những điều tươi đẹpđang dần lụi tàn mà không thể làm trái ngược lại quy luật của thời gian được
Luận điểm 3: (có thể có) (đúc kết cả đoạn 2) Làm cơ sở để Xuân Diệu nghĩ ra giảipháp ở phần sau: Lời giục giã về thái độ sống “Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiềuhôm”
3 DÀN Ý CHI TIẾT
a) Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tác giả Xuân Diệu và bài thơ Vội vàng
- Dẫn dắt, giới thiệu 16 câu thơ giữa : Nếu phần đầu tiên của bài thơ là ước muốn táobạo cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang 16 câu thơ giữa, nhà thơ giải thích lí
do phải sống vội vàng
b) Thân bài
Trang 14- Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói Xuân Diệu cũng có một cách nói rất riêngcủa nhà thơ: tương phản đối lập để chỉ ra một đời người chỉ có một tuổi xuân; tuổi trẻmột đi không trở lại.
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
=> Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra Một hệ thống tương phản đốilập: tới - qua, non - già, hết - mất, rộng - chật, tuần hoàn - bất phục hoàn, vô hạn - hữuhạn - để khẳng định một chân lý - triết lý: tuổi xuân một đi không trở lại Phải quýtuổi xuân
- Cách nhìn nhận về thời gian cũng rất tinh tế, độc đáo, nhạy cảm Và mối tương giaomầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang theo nỗi buồn chia phôi hoặctiễn biệt, hờn vì xa cách, sợ vì phai tàn sắp sửa
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
- Cũng là gió, là chim nhưng gió thì thào vì hờn, chim bỗng ngừng hót, ngừng rao vìsợ! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng làm nổi bật nghịch lý giữa mùa xuân - tuổi trẻ và thờigian:
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
- Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng bănkhoăn, vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa
=> Còn đang trong mùa xuân mà nhà thơ đã hình dung ra sự chia li của vũ trụ, sự rời
xa của mùa xuân Nỗi niềm nuối tiếc đã bật lên thành lời than và qua đó nhà thơ cũnggửi gắm lời nhắn nhủ tới muôn người muôn thế hệ rằng hãy sống hết mình vì tuổi trẻ,thời gian đời người là hữu hạn, một đi không trở lại
c) Kết bài
- Những vần thơ của Xuân Diệu giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong Vội vàng vềmàu thời gian, về sắc thời gian và tuổi trẻ
Trang 15THAM KHẢO PHÂN TÍCH 16 CÂU GIỮA VỘI VÀNG
PHÂN TÍCH 16 CÂU GIỮA VỘI VÀNG
THÂN BÀI
Thời gian trong thơ ca trung đại là thời gian "tuần hoàn" nghĩa là thời gian được hìnhdung như một vòng tròn liên tục tái diễn, hết một vòng lại quay về vị trí xuất phát, cứtrở đi rồi trở lại mãi mãi Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn "tĩnh", lấy cả sinh mệnh
vũ trụ để làm thước đo cho thời gian Còn đối với Xuân Diệu, ông có quan niệm rấtmới về thời gian:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua,Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Nếu người xưa luôn yên tâm bình thản trước sự trôi chảy của thời gian bởi họ quanniệm thời gian là tuần hoàn thì Xuân Diệu lại quan niệm thời gian, mùa xuân, tuôi trẻmột đi không trở lại Thế nên ông luôn hốt hoảng lo âu khi thời gian trôi mau Điềuthi sĩ sợ là tuổi trẻ qua đi, tuổi già mau tới bới thời gian như một dòng chảy mà mỗimột khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn Cách sử dụng cặp từ đối lập “tới - qua”,
“non - già” đã cho thấy sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước bước đi của thời gian.Cùng với hàng loạt câu thơ văn xuôi theo lối định nghĩa cùng sự lặp lại liên tiếp điệpngữ “nghĩa là”, Xuân Diệu đã khẳng định chắc nịch một sự thật hiển nhiên không gìphủ nhận: Dù xuân đương tới, xuân còn non nhưng xuân sẽ qua, sẽ già, sẽ hết và tuổitrẻ cũng mất Đối diện với sự thật hiển nhiên mà phũ phàng ấy, Xuân Diệu không khỏithảng thốt Liên tiếp các dấu phẩy được huy động tạo nên điệu thơ ngậm ngùi, nghẹnngào:
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Trang 16Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại.
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
“Lòng tôi” và “lượng trời” vốn đã là hai thế cực tương phản của sự hạn hữu và vôhạn Tuy nhiên trong góc nhìn của Xuân Diệu thì cái vốn hữu hạn như đời người lạiđược mở rộng đến vô cùng “lòng tôi rộng” còn thứ vốn tưởng chừng vô hạn trong thờigian của đất trời lại trở nên nhỏ bé “lượng trời cứ chật” Một loạt hình ảnh được đặttrong thế tương phản đối lập cao độ “rộng” - “chật”, “xuân tuần hoàn” - “tuổi trẻchẳng hai lần”, “còn” - “chẳng còn” Điều đó đã góp phần làm nổi bật tâm trạng tiếcnuối trước thời gian, cuộc đời
Sự hạn hữu của đời người với thời gian được thể hiện rõ nét nhất ở dòng thơ “Còn trờiđất nhưng chẳng còn tôi mãi” Đúng vậy, giữa cái mênh mông của vũ trụ, vô cùng, vôtận của thời gian, tuổi trẻ, sự sống của con người bỗng trở nên quá ngắn ngủi Nhưng
ở đây, Xuân Diệu không tiếc cho mình, tiếc cho tuổi trẻ mà điều ông tiếc nhất chính
“cả đất trời”
Suy ngẫm về điều đó, Xuân Diệu càng cảm nhận thấm thía sự phôi pha, phai tàn đang
âm thầm diễn ra trong lòng vũ trụ trên cả hai trục không gian và thời gian
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôiKhắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệtCon gió xinh thì thào trong lá biếcPhải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thiPhải chăng sợ độ phai tàm sắp sửa
Thời gian vốn vô hình, vô ảnh, không mùi, không vị, đi vào thơ Xuân Diệu bỗng cómùi, có vị chia phôi, dường như khắp không gian đâu đâu cũng vọng lên khúc chia li,lời than thầm tiễn biệt Tựa như ta nghe thấy có chút gì xao xuyến rưng rưng vừa uất
ức nghẹn ngào vừa tiếc nuối hụt hẫng trong từ “rớm” ấy
Gió đùa trong lá không phải là những âm thanh vui tươi, sống động của thiên nhiên
mà vì hờn tủi trước sự trôi chảy của thời gian Chim hót những bản nhạc chào xuânrộn ràng bỗng ngừng bặt, chẳng có mối nguy hiểm nào cả, mà vì chúng sợ độ tànphai, héo úa Vậy là vạn vật cứ thế chảy trôi theo quy luật vận hành tự nhiên của nó
mà không sao cưỡng lại được
Khép lại phần thơ là dòng thơ tràn ngập cảm xúc:
Trang 17Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…
Đến đây thi sĩ đã vỡ lẽ chẳng bao giờ có thể tắt nắng buộc gió, níu giữ mãi tuổi trẻmùa xuân ở lại Phép điệp “chẳng bao giờ” được lặp lại hai lần càng nhấn mạnh thêmtâm trạng bàng hoàng tiếc nuối ấy Khát vọng cháy bỏng, ước muốn táo bạo đã tanthành mây khói Chỉ còn lại nỗi bàng hoàng, thảng thốt mà càng trở nên da diết hơnvới dấu chấm lửng cuối dòng thơ Và trong sự bất lực, Xuân Diệu dường như tìm ramột cách giải quyết:
“Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm”
Lời thơ như một lời giục giã, thúc giục con người hãy đứng lên đừng buồn vì sự chia
li sẽ đến mà lãng quên đi thực tại “Mau đi thôi”, mau cố gắng trân trọng lấy từngphút giây hiện tại để tận hưởng bữa tiệc tươi vui mà thiên nhiên mùa xuân đã bày sẵntrước mắt ta
Chỉ với 16 câu thơ nhưng dường như Xuân Diệu đã cho ta thấy một quan niệm nhânsinh rất tiến bộ về thời gian, về mùa xuân và tuổi trẻ của tác giả Ta cũng nhận ra mặc
dù Xuân Diệu thể hiện tâm trạng nuối tiếc thời gian và cuộc đời nhưng qua đó ta cònbắt gặp một khát khao mạnh mẽ, một tình yêu say đắm mà ông dành cho đời
HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH 10 CÂU THƠ CUỐI BÀI VỘI VÀNG
1 PHÂN TÍCH ĐỀ
- Kiểu bài: dạng bài phân tích một đoạn thơ
- Vấn đề nghị luận: nội dung, nghệ thuật 10 câu thơ cuối bài Vội vàng
- Phạm vi dẫn chứng, tư liệu: các căn cứ, hình ảnh, chi tiết, thuộc phạm vi 10 câuthơ cuối bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
2 HỆ THỐNG LUẬN ĐIỂM
- Luận điểm 1: Bức tranh thiên nhiên được hiện lên một lần nữa
- Luận điểm 2: Sự cảm nhận của tác giả qua các giác quan của cơ thể
- Luận điểm 3: Tuyên ngôn về lẽ sống, quan niệm sống của Xuân Diệu
3 DÀN Ý NGẮN GỌN
a) Mở bài: Giới thiệu đoạn 3 bài thơ Vội vàng
Ví dụ: Xuân Diệu có những tác phẩm rất nổi tiếng, một tác phẩm thơ có sự kết hợpnhuần nhuyễn và độc đáo về mạch cảm xúc và triết lí sâu sắc là bài thơ Vội vàng Bàithơ thể hiện niềm say mê cái đẹp của thiên nhiên, niềm yêu thiên nhiên sâu sắc của tácgiả trong cuộc sống Bên cạnh niềm say mê thiên nhiên và cuộc sống thì tác giả còn
Trang 18thể hiện khát vọng sống, khát vọng tình yêu cuồng nhiệt và hối hả của cuộc sống.Chúng ta cùng đi tìm hiểu đoạn 3 của bài thơ để hiểu rõ về khát vọng sống, khát vọngtình yêu cuồng nhiệt và hối hả của cuộc sống.
b) Thân bài
: phân tích đoạn 3 bài thơ Vội vàng
* Bức tranh thiên nhiên được hiện lên một lần nữa
- Câu cảm thán “mau đi thôi” thể hiện sự tận hưởng thiên nhiên, cuộc sống, tận hưởngthời gian và cuộc sống
- Khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng được yêu thương
* Sự cảm nhận của tác giả qua các giác quan của cơ thể
- Các hình ảnh mây, gió, nước, bướm,…
- Tác giả cảm nhận cuộc sống và thiên nhiên qua thị giác, khứu giác, thính giác,…
- Thị giác cảm giác mơn trớn của thiên nhiên
- Khứu giác cảm nhận được mùi hương đẹp đẽ của thiên nhiên
- Thính giác cảm nhận được âm thanh của thiên nhiên
- Tình yêu cuồng nhiệt, mãnh liệt của tác giả
* Tuyên ngôn về lẽ sống, quan niệm sống của Xuân Diệu
- Cuộc đời đẹp nhất là vào mùa xuân, đời người đẹp nhất là lúc tuổi trẻ, tuổi trẻ đẹpnhất là tình yêu, con người cần trân trọng những giây phút của tuổi trẻ
- Phải biết tận hưởng vẻ đẹp cuộc đời và sống hết mình với cuộc sống hôm nay, sôinổi chân thành và thiết tha với cuộc đời
c) Kết bài:
- Khái quát giá trị nội dung 10 câu thơ cuối Vội vàng
- Nêu cảm nhận của em về đoạn thơ
Ví dụ: Đoạn 3 bài thơ Vội vàng thể hiện khát vọng sống, khát vọng tình yêu cuồngnhiệt và hối hả của cuộc sống, tình yêu ấy được tác giả cảm nhận qua các giác quan
cơ thể hết sức tinh tế và sâu sắc
BÀI THAM KHẢO
Trang 19Thời gian chẳng bao giờ chiều lòng người, con người thì nhỏ bé nhưng khát khao lạilớn lao, càng yêu đời, yêu người bao nhiêu thì lại càng thảng thốt khi nhận ra quy luậtkhắc nghiệt của tạo hóa Là một nhà thơ mới có cái nhìn tinh tế và trái tim dễ say đắmnhưng cũng bộn bề lo sợ – Xuân Diệu hơn ai hết luôn dằn dặt trước sự trôi chảy củathời gian và tuổi xuân Có lẽ thế mà nhà thơ luôn sống vội vàng, sống gấp gáp vàcũng yêu đắm say Bài thơ Vội Vàng được xem là châm ngôn sống của Xuân Diệucũng là tác phẩm thể hiện cái tôi mãnh liệt trong cảm xúc và nhiều khám phá mới mẻ
ở hình ảnh thơ Trong đó khổ thơ cuối bài với tiết tấu nhanh và mạnh như một lời kếtluận cho châm ngôn sống vội của ông
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
(Cảm nhận khổ cuối bài thơ Vội vàng)
Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu luôn khao khát sống và sống gấp, sống vội Nếu ở khổthơ đầu và khổ thứ hai là tình yêu mãnh liệt cùng với sự nuối tiếc chia lìa thì đoạn thơcuối bài là lời giải đáp cho câu hỏi: sống vội vàng là như thế nào Cụm từ “mau đithôi” như một lời thúc giục khi tác giả nhận ra rằng vẫn còn kịp để yêu thương vàsống trọn vẹn với tuổi xuân cho đến phút cuối cùng Phải rồi! “mùa chưa ngả chiềuhôm”, xuân vẫn còn đó, người đang yêu tha thiết thì tại sao phải nghĩ nhiều đến chialìa để hao hụt niềm vui hiện tại Vì thế mà Xuân Diệu bừng tỉnh và giọng điệu thơ trởlại sự nồng nhiệt thiết tha
Điệp từ “ta muốn” tạo thành một cấu trúc câu đều đặn, hối hả như thúc giục mọingười hãy yêu quý tuổi trẻ của mình, hãy làm những điều mà chỉ có tuổi trẻ mới làmđược và trước hết là say đắm với thiên nhiên, tình yêu của mùa xuân Thêm vào đó làcác động từ chỉ tâm thế: ôm, riết, say, thâu, cắn diễn tả được tình cảm vồ vập và niềmkhao khát tận hưởng đến tham lam Các động từ này có sự tăng tiến rõ rệt trong ướcmuốn Ban đầu chỉ là một cái ôm nhẹ nhàng nhưng ôm nào đủ cho sự khát khao, phảisiết mạnh thì mới cảm nhận được tình yêu Khi gần bên, nhà thơ say sưa thâu tóm tất
cả vào mình và cuối cùng là hành động mạnh nhất là cắn, như muốn chiếm hữu làmcủa riêng
Trang 20Những câu thơ tiếp theo, Xuân Diệu sử dụng điệp từ cho kết hợp với tính từ “no nê,chếnh choáng, đã đầy” để khẳng định tâm thế của một con người lúc nào cũng hòamình vào thiên nhiên, cuộc sống Không phải chỉ vừa đủ mà để cuộc đời hóa thânthành tâm hồn, tâm hồn thì chan chứa tình yêu Sự cộng hưởng của điệp từ “và” tạonên sự rộng lớn, bao quát như chính vòng tay tham lam muốn ôm trọn tất cả của nhàthơ Bài thơ khép lại trong sự hóa thân từ cái tôi cá nhân nhỏ bé thành cái ta chung.Nhà thơ đi từ những khát vọng riêng tư vươn lên thành khát vọng muốn được sôngđẹp và cống hiến trọn vẹn với vũ trụ, đất trời “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vàongười“, câu thơ mới lạ và táo bạo Cảm xúc được cụ thể hóa bằng hành động cũng làđiều hợp lí trong trái tim của nhà thơ đang yêu điên cuồng.
Khổ thơ cuối của bài khép lại bằng những sáng tạo độc đáo trong cách dùng từ, đặtcâu Xuân Diệu với quan điểm sống vội vàng của mình cũng là quan điểm chung củatuổi trẻ: sống là phải biết tận hưởng, yêu đời nhưng cũng phải dâng hiến và trân trọngnhững điều tốt đẹp mà cuộc đời ban tặng
PHÂN TÍCH 10 CÂU CUỐI BÀI VỘI VÀNG PHÂN TÍCH 10 CÂU THƠ CUỐI BÀI VỘI VÀNG
+ Xuân Diệu (1916 - 1985) là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới với phongcách trữ tình lãng mạn, luôn khát khao giao cảm với đời đến cuống quýt, cuồng nhiệt.+ Vội vàng là thi phẩm kết tinh được nhiều bình diện phẩm chất thơ Xuân Diệu
Đến với Xuân Diệu, nhà thơ có cội nguồn hòa hợp giữa vùng gió Lào cát trắng cùngvới sự cần cù của xứ Nghệ
“Cha đằng ngoài, mẹ đằng trongÔng đồ nghề lấy cô hàng nước mắm”
Cả đời Xuân Diệu là cả đời lao động nghệ thuật không lúc nào ngừng bút Đối vớiông sự sống không bao giờ chán nản Là con người xứ Nghệ cần cù, kiên nhẫn, laođộng và sáng tạo nghệ thuật Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất cả về nội dung lẫn nghệthuật trong nền văn học hiện tại “Vội vàng” là một trong những tác phẩm thơ xuấtxắc của ông Bài thơ cũng là lời giục giã sống mãnh liệt, sống hết mình Hãy quýtrọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, thể hiện khát vọng sống của tác giả.Tiêu biểu là 10 câu cuối của đoạn thơ Chính là lời giục giã mọi người và cũng chính
là lời giục giã cho chính mình Vì vậy mà tác giả đã nói:
“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Trang 21Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
Vội vàng” được in trong tập “Thơ thơ”, là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất củaXuân Diệu trước cách mạng tháng tám Ở phần trên của bài thơ, thi sĩ luận giải chongười đọc thấy được tạo hóa có sinh ra con người để mãi mãi hưởng lạc thú ở chốntrần gian này đâu Đời người ngắn ngủi, tuổi xuân có hạn và thời gian trôi đi vĩnh viễnkhông trở lại Vì vậy thi nhân “giục giã” chúng ta phải “nhanh lên”, “vội vàng lên” đểtận hưởng bữa tiệc của trần gian khi mà “mùa chưa ngả chiều hôm”, khi mà xuânđang non, xuân chưa già:
“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”
Đoạn thơ mở đầu bằng ba chữ “Ta muốn ôm” như phơi bày ra hết sự ham hố vàcuồng nhiệt của Xuân Diệu với cuộc sống trần thế: Trước đó nhà thơ xưng “tôi” vớiước muốn táo bạo “tắt nắng, buộc gió” nhưng ở đoạn thơ cuối này cái tôi ấy đã hòathành cái ta chung để tận hưởng hết những hương sắc của cuộc đời Ngay liền đó làcâu thơ thể hiện cái tươi non của “Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn” “Mơn mởn” là
từ láy rất gợi cảm và giàu ý nghĩa diễn tả Nó gợi cảm sự vật, cây cối đang ở độ nonmướt, tươi tốt đầy sức sống “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, Và đằng saukhao khát “ôm cả sự sống mơn mởn” ấy là những câu thơ mạnh bạo, gấp gáp, giục giãtràn đầy nỗi yêu:
“Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;”
Một đoạn thơ ngắn mà có tới bốn, năm từ “ta muốn” được lặp đi, lặp lại như nhịp điệuhối hả, như hơi thở gấp gáp của thi nhân Chứng tỏ Xuân Diệu nồng nhiệt đối rối rít,cuống quýt, như muốn cùng lúc giang tay ôm hết cả vũ trụ, cả cuộc đời, mùa xuân vàolòng mình Sống như thế với Xuân Diệu mới thực là sống, mới đi đến tận cùng củaniềm hạnh phúc được sống Điệp ngữ “Ta muốn” như ý nghĩa của nó đã nói lên đượccái ham muốn khát thèm đến hăm hở, cuồng nhiệt của nhà thơ Thi nhân như muốn
ôm hết vào lòng mình “mây đưa và gió lượn”, muốn đắm say với “cánh bướm tìnhyêu”, muốn gom hết vào lồng ngực trẻ trung ấy “một cái hôn nhiều” Muốn thu hếtvào hồn nhựa sống dạt dào “Và non nước, và cây, và cỏ rạng”Để rồi, chàng như con
Trang 22ong bay đi hút nhụy đời cho đến say “chếnh choáng” hút cho đã cho đầy ánh sáng,
“Cho no nê thanh sắc của thời tươi” mới lảo đảo bay đi
“Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;”
Điệp từ “cho” với nhịp độ tăng tiến nhấn mạnh các cấp độ khát vọng hưởng thụ đạtđến độ thỏa thuê, sung mãn, trọn vẹn Xuân Diệu muốn tận hưởng cuộc sống cho đến
“no nê”, “chếnh choáng”, “đã đầy” Trong niềm cảm hứng ở độ cao nhất, Xuân Diệunhận ra cuộc đời, mùa xuân như một cái gì quý nhất, trọn vẹn như một trái đời đỏhồng, chín mọng, thơm ngát, ngọt ngào, xuân hồng, để cho nhà thơ tận hưởng trongniềm khao khát cao độ
Thơ Xuân Diệu có đặc trưng là sự vồ vập, cuồng nhiệt, mạnh bạo Mỗi một lần khaokhát “Ta muốn” thì lại đi liền với một động từ chỉ trạng thái yêu đương mỗi lúc mộtmạnh mẽ, nồng nàn hơn “ôm - sự sống” - “riết - mây đưa, gió lượn” - “say - cánhbướm, tình yêu” - “thâu - cái hôn nhiều”, để cuối cùng là một tiếng kêu của sự cuồngnhiệt, đắm say thể hiện niềm yêu đời, khát sống chưa từng có trong thơ ca Việt Nam:
“Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!” Đây chính là đỉnh điểm của sự khao khátcháy bỏng của nhà thơ
Dưới ngòi bút của Xuân Diệu và trong ánh mắt “xanh non”, “biếc rờn” của thi sĩ, mùaxuân hiện lên rõ rệt và sống động như có hình có dáng, có hồn có sắc “Xuân hồng”.Mùa xuân như môi, như má của một người thiếu nữ trẻ trung, tràn trề nhựa sống vàđẹp xinh, trinh nguyên đang rạo rực yêu đương, hay như một quả chín ngọt thơmtrong vườn “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” Đứng trước cái hấp dẫn củamùa xuân, cuộc sống, thi sĩ hình như không nén nỗi lòng yêu đã đi đến một cử chỉcũng thật đáng yêu:
“Ta muốn cắn vào ngươi!”
Có lẽ trong các bài thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng thì đây là những vần thơXuân Diệu nhất Vì mỗi câu, mỗi chữ đều mang hơi thở nồng nàn, đắm say, ham sốngcủa “một nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”
Bài thơ là một quan niệm sống mới mẻ và táo bạo mà trước đây chưa từng có Đếnvới “Vội Vàng” Xuân Diệu kêu gọi mọi người hãy biết yêu và tận hưởng những thứcuộc sống ban tặng Xuân Diệu đã bộc lộ một cái tôi tràn đầy sự thèm khát được sống,được tận hưởng một cách cuồng nhiệt những thanh sắc của cuộc đời Thi sĩ như muốngiang rộng cả đôi tay, cả lồng ngực của mình để đón nhận mùa xuân của tình yêu, củatuổi trẻ Nỗi khát thèm ấy là xuất phát từ một quan niệm nhân sinh tiến bộ, tích cựccủa Xuân Diệu trước cuộc đời: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ – Em, em ơi, tìnhnon đã già rồi” Đoạn thơ đã giúp ta hình dung được tâm hồn Xuân Diệu, một cái tôiyêu đời, giàu xúc cảm, một nhân sinh quan tiến bộ về cuộc đời Với những gì thể hiện
ở trên, Xuân Diệu rất xứng đáng với danh hiệu: “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơmới”
Trang 23HƯỚNG DẪN LÀM BÀI PHÂN TÍCH KHỔ THƠ ĐẦU TRONG BÀI TRÀNG
GIANG CỦA HUY CẬN
Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu bài Tràng giang - Huy Cận
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpCon thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả,Củi một cành khô lạc mấy dòng"
1 PHÂN TÍCH ĐỀ
- Yêu cầu: phân tích nội dung, nghệ thuật khổ thơ mở đầu của bài Tràng giang
- Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : các từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong khổ 1 bài thơ Tràng
giang của Huy Cận.
- Phương pháp lập luận chính: phân tích
2 HỆ THỐNG LUẬN ĐIỂM
- Luận điểm 1: Cảnh sông nước mênh mang, heo hút của dòng sông Hồng
- Luận điểm 2: Nỗi buồn của người thi sĩ trước không gian vô tận
3 LẬP DÀN Ý CHI TIẾT
a) Mở bài
- Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm:
+ Huy Cận là một trong những nhà thơ nổi bật trong phong trào thơ mới vớinhững tác phẩm chất chứa nỗi sầu nhân thế và lòng ngợi ca cảnh đẹp của thiênnhiên
+ Bài thơ Tràng giang là một trong những tác phẩm hay điển hình cho hồn thơHuy Cận một thời
- Dẫn dắt vào vấn đề: Khổ thơ đầu bài thơ đã miêu tả xuất sắc cảnh sông nước mênhmang, heo hút của sông Hồng, đồng thời thể hiện nỗi buồn của người thi sĩ trướckhông gian vô tận
b) Thân bài
* Khái quát về tác phẩm
Trang 24- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được gợi cảm xúc từ một buổi chiều thu năm 1939 khitác giả đứng ở bờ Nam Bến Chèm, ngắm cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước.
- Ý nghĩa nhan đề:
Nhan đề đã khéo gợi lên một vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại:
• “Tràng giang” gợi hình ảnh một con sông dài, rộng lớn -> Tác giả đã sử dụng
từ Hán Việt để gợi không khí cổ kính trang nghiêm
• Tác giả sử dụng từ biến âm “tràng giang” thay cho “trường giang”, hai âm
"ang" đi liền nhau -> gợi cảm giác con sông không chỉ dài vô cùng mà cònrộng mênh mông, bát ngát
- Ý nghĩa câu thơ đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
+ Gợi nỗi buồn sâu lắng trong lòng người đọc
+ Thể hiện cảm xúc chủ đạo của tác giả xuyên suốt tác phẩm : tâm trạng “bângkhuâng”, nỗi buồn mênh mang, không rõ nguyên cớ nhưng da diết, khôn nguôi
+ Không gian rộng lớn “trời rộng sông dài” khiến hình ảnh con người càng trởnên nhỏ bé, lẻ loi, tội nghiệp
=> Bài thơ diễn tả tâm trạng, cảm xúc của thi nhân khi đứng trước cảnh sông nướcbao la trong một buổi chiều đầy tâm sự
* Phân tích nội dung khổ 1 bài Tràng giang
- Bài thơ mở đầu bằng một khổ thơ mang vẻ đẹp thiên nhiên, đậm chất cổ thi Cảnhvật thiên nhiên ấy lại được cảm nhận qua tâm hồn “sầu vạn kỉ” của nhà thơ:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpCon thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả,Củi một cành khô lạc mấy dòng"
+ “thuyền, nước, sóng,…” là các thi liệu trong thơ Đường được nhà thơ sử dụng gợilên một bức tranh thủy mặc đẹp nhưng buồn đến tê tái
+ “Sóng gợn” chỉ nhẹ thôi nhưng cứ “điệp điệp” kéo dài không dứt -> Đó chính lànhững cơn sóng lòng cứ dâng lên khiến cho tác giả buồn bã không nguôi
+ “tràng giang”, “điệp điệp” : hai từ láy liên tiếp được sử dụng trong một câu thơ ->Cách dùng từ thật mới lạ, độc đáo, không phải là buồn bã, da diết mà là buồn “điệpđiệp”, nghĩa là một nỗi buồn tuy không mãnh liệt nhưng nó cứ liên tục, không ngừng
Trang 25+ Ở câu thứ 2, hình ảnh “thuyền”, “nước” còn sóng đôi, “song song” nhưng đến câuthứ 3 thì đã chia li tan tác: “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”.
-> Nghệ thuật đối giữa “thuyền về” và “nước lại” nhằm nhấn mạnh sự chia li, xacách, sự nuối tiếc trong lòng tác giả
+ Nếu nỗi buồn ở câu 1 còn mơ hồ chưa định hình rõ ràng thì đến đây nó đã trở thànhnỗi sầu lan tỏa khắp không gian
+ Từ trước đến giờ ta thấy, “thuyền” và “nước” là hai hình ảnh không thể tách rờinhau vậy mà Huy Cận lại chia rẽ chúng ra -> Chứng tỏ ông đã quá đau buồn, lúc nàocũng mang trong mình một nỗi u hoài, một nỗi chia li, xa cách
+ Ấn tượng nhất là hình ảnh ẩn dụ “củi một cành khô” từ thượng nguồn trôi dạt trêndòng sông, đang phải chọn lựa sẽ xuôi theo dòng nước nào
+ Nghệ thuật đảo ngữ đã đẩy từ “củi” lên đầu câu nhằm nhấn mạnh thân phận nhỏ bé,bọt bèo của kiếp người trong cuộc sống
-> Tác giả liên tưởng đến cuộc đời mình cũng như bao người dân mất nước, mangthân phận bọt bèo giữa cuộc đời rộng lớn Hình ảnh cành củi kia còn tượng trưng chokiếp người nhỏ bé, những văn nghệ sĩ đang băn khoăn, ngơ ngác, lạc lõng trước nhiềutrường phái văn học, ngã rẽ của cuộc đời
=> Nỗi buồn của Huy Cận là nỗi buồn của một kiếp người bởi cuộc đời vốn có nhiềuthay đổi, bất ngờ, không báo trước mà con người thì rất nhỏ nhoi và cô độc, lẻ loi.Khổ thơ đầu gợi một cảm giác bâng khuâng, lo lắng, lạc lõng, chơi vơi của tác giảgiữa dòng đời vô định, không biết sẽ đi đâu về đâu
=> Đây không phải là nỗi buồn của cá nhân ông mà là cảm xúc chung của cả một thế
hệ, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ đầu thế kỉ XX
- Đánh giá khái quát nội dung khổ thơ: Khổ thơ cho ta thấy được tâm trạng buồn bã,băn khoăn, ngơ ngác trước những ngã rẽ của cuộc đời Thi nhân cảm nhận rõ sự nhỏ
bé, lẻ loi, cô độc của một kiếp người giữa dòng đời rộng lớn
* Đặc sắc nghệ thuật
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ điển và hiện đại:
+ Cổ điển ở thể thơ, cách đặt nhan đề, bút pháp “tả cảnh ngụ tình”
+ Hiện đại trong việc xây dựng thi liệu, đặc biệt là hình ảnh “cành củi khô” gây ấntượng
- Hệ thống từ láy giàu giá trị biểu cảm
c) Kết bài
- Khái quát nội dung khổ thơ đầu bài Tràng giang
Trang 26- Mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhân.
dựa trên những bài phân tích tổng quan cả tác phẩm như:
• Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang
• Phân tích bài thơ Tràng giang - Huy Cận
4 SƠ ĐỒ TƯ DUY PHÂN TÍCH KHỔ ĐẦU BÀI TRÀNG GIANG
Trang 28PHÂN TÍCH KHỔ THƠ ĐẦU TRÀNG GIANG PHÂN TÍCH KHỔ 1 TRÀNG GIANG
“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắmNỗi nhớ nhung không biết đã vơi chưaHay lòng chàng vẫn tủi nắng sầu mưaCùng đất nước nặng buồn sông núi”
Huy Cận là một trong những nhà thơ nổi bật trong phong trào thơ mới Đúng nhưnhững nhận xét của Xuân Diệu, trước cách mạng thơ Huy Cận thường mang đậm nỗibuồn sâu thẳm, nỗi buồn nhân thế Huy Cận đã có rất nhiều sáng tác thể hiện nỗibuồn Tràng giang là một trong những tác phẩm hay điển hình cho hồn thơ Huy Cậnmột thời Khổ thơ đầu bài thơ đã miêu tả xuất sắc cảnh sông nước mênh mang, heohút của sông Hồng, đồng thời thể hiện nỗi buồn của người thi sĩ trước không gian vôtận
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpCon thuyền xuôi mái nước song songThuyền về nước lại sầu trăm ngảCủi một cành khô lạc mấy dòng”
Bài thơ Tràng giang được Huy Cận sáng tác vào một chiều thu, ông đứng ở bến nhìn
ra cảnh sông Hồng rộng lớn Mở đầu đoạn thơ, nhà thơ đã mang hình ảnh sóng nướcsông Hồng buồn man mác vào tác phẩm:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”
Đọc câu thơ người đọc hình dung ra một con sông mênh mang sóng nước Cụm từ
“tràng giang” cho thấy một dòng sông dài vô tận Nhà thơ không dùng “trường giang”
mà dùng từ “tràng giang” khiến cho dòng sông không chỉ có chiều dài mà còn cóchiều sâu Cụm từ “điệp điệp” cho thấy những đợt sóng cứ dập dồn, liên tiếp xô nhauvào bờ Qua cái nhìn đa sầu đa cảm của thi nhân, từng đợt sóng được nhân hóa lênnhư con người, cũng biết “buồn điệp điệp” Từng đợt sóng gợn trên sông của hình ảnhthật ấy cũng như những nỗi buồn đang trải dài vô tận Từ láy “điệp điệp” càng nhấnmạnh nỗi buồn hết lớp này đến lớp khác, nỗi niềm mang nhiều tâm sự của nhà thơ.Trên con sông dài, không gian rộng lớn ấy, xuất hiện một con thuyền nhỏ bé:
“Con thuyền xuôi mái nước song song”
Hình ảnh đối lập giữa cái bao la, mênh mông của sông nước với con thuyền nhỏ lênhđênh giữa dòng càng gợi lên sự nhỏ bé của con thuyền “Con thuyền” là hình ảnh tảthực nhưng dưới cái nhìn của cái tôi lãng mạn thì con thuyền cũng chỉ những thân
Trang 29phận nhỏ bé, nổi trôi của kiếp người Hình ảnh con thuyền và dòng sông vốn đã xuấthiện nhiều trong thơ ca từ cổ chí kim Cách sử dụng hình ảnh cổ điển trong thơ cùngđiệp từ “song song” càng gợi lên nỗi buồn xa vắng Sử dụng nghệ thuật tiểu đối trongngôn từ “buồn điệp điệp” đối với cụm từ “nước song song” tạo cho hai câu thơ nhịpthơ nhịp nhàng, chậm rãi như những tiếng thở dài não nuột đang trào dâng trong lòngnhà thơ.
Đoạn thơ không chỉ gợi lên nỗi buồn mà còn gợi lên sự chia lìa vô định:
“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”
Thuyền và nước thường đi liền với nhau, nhưng ý thơ ở đây lại mang đến một sự xacách giữa thuyền và nước Hình ảnh "nước" trong câu thơ được nhân hóa như conngười, cũng có cảm xúc, cũng biết “sầu” buồn Cụm từ “sầu trăm ngả” gợi cho ta cảmgiác một nỗi buồn vô tận, trải dài khắp không gian trăm ngả Đọc câu thơ, người đọchình dung được một con thuyền lênh đênh cứ trôi nổi xa tít, để mặc dòng nước mênhmang lặng lẽ và heo hút
Bên cạnh những hình ảnh thân thuộc trong thơ xưa như sóng nước, con sông, conthuyền thì cuối đoạn thơ, nhà thơ lại mang đến một hình ảnh và ý thơ độc đáo đặc sắc:
“Củi một cành khô lạc mấy dòng”
“Củi khô” là môt hình ảnh hiện đại trong thơ Huy Cận, hiếm khi ta bắt gặp một hìnhảnh như thế trong thơ ca Câu thơ giàu giá trị gợi hình, mang đến một hình ảnh chiếccủi khô nhỏ nhoi đang lạc lõng Cành củi vốn đã tạo một cảm giác bé nhỏ, tầm thườnglại còn “khô” càng mang đến một ý nghĩa thiếu sức sống Cụm từ “lạc mấy dòng”mang ý nghĩa có chiều sâu, một cành củi khô đã vốn quá bé nhỏ lại bị quăng quậtkhắp mấy dòng sông nước Nhà thơ đã dùng nghệ thuật đảo ngữ, ông không viết “mộtcành củi khô” mà lại viết “củi một cành khô” cùng nhịp thơ 1/3/3 khác hẳn với ba câuthơ trên như muốn nhấn mạnh cái hình ảnh của củi cũng như thân phận nhỏ nhoi bịvùi dập lênh đênh trên dòng đời vô định
Phân tích khổ thơ đầu bài Tràng giang, chúng ta có thể thấy xuyên suốt cả đoạn thơ lànỗi buồn sâu thẳm Tất cả hình ảnh thơ “sóng”, “thuyền”, “nước”, “củi” hiện lên trongthơ Huy Cận đều buồn sầu không một sức sống Bởi chính tâm hồn buồn man máccủa nhà thơ đã dàn trải lên cảnh vật nên nhìn đâu cũng là nỗi sầu nhân thế Như thinhân xưa có viết “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Bằng việc sử dụng những hình ảnh thơ chuẩn mĩ trong thơ xưa cùng hình ảnh thơ hiênđại qua cái nhìn của nhà thơ, kết hợp với các biện pháp tu từ nhân hóa, ẩn dụ, nghệthuật đảo ngữ, ngôn từ giàu hình ảnh… Nhà thơ Huy Cận đã vẽ nên một bức tranhmênh mang, rộng lớn nhưng buồn man mác trên sông Hồng, đồng thời thể hiện nỗibuồn về sự nhỏ nhoi, vô định của kiếp người Đoạn thơ nói riêng cùng bài thơ nóichung là những vần thơ tiêu biểu cho hồn thơ sầu nhân thế của Huy Cận một thời
HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH KHỔ 2 BÀI TRÀNG GIANG
Trang 30Đề bài: Phân tích khổ thơ thứ hai bài Tràng giang - Huy Cận.
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,Đây tiếng làng xa vãn chợ chiều,Nắng xuống, trời lên sâu chót vót:
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”
1 PHÂN TÍCH ĐỀ
- Yêu cầu: phân tích nội dung khổ thơ thứ hai bài Tràng giang
- Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong khổ thơ thứ hai
của bài Tràng giang (Huy Cận).
- Phương pháp lập luận chính: phân tích
2 HỆ THỐNG LUẬN ĐIỂM
- Luận điểm 1: Khung cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều
- Luận điểm 2: Tâm trạng của thi nhân
3 LẬP DÀN Ý CHI TIẾT
a) Mở bài
- Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm:
+ Huy Cận (1919 - 2005) là nhà thơ tiêu biểu với tiếng thơ yêu đời, lạc quan vàtràn đầy sức sống, một thi sĩ hàng đầu trong phong trào Thơ mới
+ Tràng giang là sáng tác tiêu biểu nhất của Huy Cận giai đoạn trước năm 1945,được in trong tập Lửa thiêng, là tiếng lòng của một chàng thi sĩ đa sầu đa cảm
- Dẫn dắt vào vấn đề: Khổ hai bài thơ đã tái hiện lên một khung cảnh cồn bến hoangvắng trong nắng chiều, tô đậm thêm nỗi cô đơn của con người
b) Thân bài
* Khái quát chung
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác vào một buổi chiều thu vào năm 1939,Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm bên sông Hồng ngắm cảnh không gian mênhmang và nghĩ về kiếp người nhỏ bé, trôi nổi, vô định
- Giá trị nội dung: Bài thơ diễn tả tâm trạng, cảm xúc của thi nhân khi đứng trướccảnh sông nước bao la trong một buổi chiều đầy tâm sự
Trang 31- Ý nghĩa nhan đề:
+ “Tràng giang” gợi hình ảnh một con sông dài, rộng lớn
+ Tác giả đã sử dụng từ Hán Việt để gợi không khí cổ kính trang nghiêm Tác giả còn
sử dụng từ biến âm “tràng giang” thay cho “trường giang”, hai âm "ang" đi liền nhau
đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộngmênh mông, bát ngát
- Câu thơ đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” gợi nỗi buồn sâu lắng tronglòng người đọc Đồng thời cho người đọc thấy rõ hơn cảm xúc chủ đạo của tác giảxuyên suốt tác phẩm Đó là tâm trạng “bâng khuâng”; nỗi buồn mênh mang, không rõnguyên cớ nhưng da diết, khôn nguôi Đó còn là không gian rộng lớn “trời rộng sôngdài” khiến hình ảnh con người càng trở nên nhỏ bé, lẻ loi, tội nghiệp
* Phân tích khổ 2 bài thơ Tràng giang
Luận điểm 1: Khung cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều
- Nỗi lòng nhà thơ được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gianlạnh lẽo:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiuĐâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
+ Góc nhìn của nhân vật trữ tình lúc này bao quát hơn, rộng hơn khi từ cảnh sôngHồng chuyển sang không gian bao la của trời đất, bến bờ Đó là một không gian vắnglặng, yên tĩnh: có cảnh vật (cồn, gió, làng, chợ…) nhưng cảnh vật lại quá ít ỏi, nhỏnhoi (nhỏ, xa, vãn )
+ Từ láy “lơ thơ” diễn tả sự thưa thớt, rời rạc của những cồn đất nhỏ nhoi mọc lêngiữa dòng tràng giang Trên những cồn đất nhỏ đó, mọc lên những cây lau, sậy, khigió thổi qua thì âm thanh phát ra nghe man mác, nghe “đìu hiu” não ruột
+ Có âm thanh nhưng âm thanh ấy lại phát ra từ ngôi “chợ chiều” đã “vãn” mà lànglại xa nên không đủ sức làm cho cảnh vật sinh động, có hồn
+ Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái gợi lên âm thanh xa xôi, không rõ rệt:
"Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều"
• “Đâu tiếng làng xa” có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mongmỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người
• Cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, vì chung quanh đâychẳng hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên Tất cảvẫn chỉ là sự im lặng bao trùm lên dòng chảy tràng giang
Luận điểm 2: Tâm trạng của thi nhân