1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ và câu văn trong tạp văn nguyễn ngọc tư

95 19 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 734,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ ngữ và câu văn trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư được chắt lọc, tổ chức theo một cách riêng, thể hiện dụng ý nghệ thuật của mình.. - Trên cơ sở việc phân tích và lí giải những đặc điể

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THÀNH TÂN

TỪ NGỮ VÀ CÂU VĂN TRONG TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THÀNH TÂN

TỪ NGỮ VÀ CÂU VĂN TRONG TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 62.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN HOÀI NGUYÊN

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

Sau một thời gian học tập, tìm tòi và tập sự nghiên cứu, Luận văn này được hoàn thành, ngoài sự cố gắng của bản thân phải kể đến sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo - TS Nguyễn Hoài Nguyên cũng như sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ, khoa Sư phạm Ngữ văn trường Đại học Vinh Nhân dịp này, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quí thầy giáo,

cô giáo

Do thời gian hạn hẹp, trình độ nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn quan tâm vấn đề này để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thành Tân

Trang 4

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của đề tài 4

6 Bố cục của luận văn 4

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5

1.1 Thể loại ký trong văn học 5

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của thể ký 5

1.1.2 Ký và tạp văn 6

1.2 Tạp văn và ngôn ngữ tạp văn 7

1.2.1 Khái niệm tạp văn 7

1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn 9

1.3 Nguyễn Ngọc Tư và Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư 14

1.3.1 Tác giả Nguyễn Ngọc Tư 14

1.3.2 Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư 16

1.4 Tiểu kết chương 1 17

Chương 2 TỪ NGỮ TRONG TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ 18

2.1 Từ trong ngôn ngữ và từ trong tác phẩm nghệ thuật 18

2.1.1 Từ trong ngôn ngữ 18

2.1.2 Từ trong tác phẩm nghệ thuật 20

2.2 Các lớp từ nổi bật trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư 23

2.2.1 Các lớp từ tiêu biểu xét về mặt phong cách 23

2.2.2 Các lớp từ tiêu biểu xét về mặt cấu tạo 34

2.3 Tiểu kết chương 2 51

Trang 5

3.1 Câu trong văn bản nghệ thuật và các hướng tiếp cận 52

3.1.1 Các hướng tiếp cận câu 52

3.1.2 Câu trong văn bản nghệ thuật 53

3.2 Đặc điểm câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư 55

3.2.1 Câu văn tạp văn Nguyễn Ngọc Tư xét về mặt cấu tạo 55

3.2.2 Câu văn trong tạp văn Nguyên Ngọc Tư xét về mặt tu từ 65

3.3 Giọng điệu trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư 71

3.3.1 Giới thuyết về giọng điệu 71

3.3.2 Một số sắc thái giọng điệu trong tạp văn Nguyễn ngọc Tư 73

3.4 Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 6

Trang

Bảng 2.1 Hệ thống từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo 20

Bảng 2.2 Từ địa phương Nam Bộ trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư 29

Bảng 2.3 Từ láy trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư 35

Bảng 2.4 Từ láy trong tạp văn Gánh đàn bà của Dạ Ngân 36

Bảng 2.5 Từ láy trong tạp văn Phan Thị Vàng Anh 36

Bảng 2.6 Số lượng và tỉ lệ từ láy trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư 37

Bảng 3.1 Số lượng câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư 55

Trang 7

Tư cũng đã không ngừng sáng tạo nghệ thuật để khẳng định vị trí của mình trên văn đàn Nguyễn Ngọc Tư mang đến cho văn học đương đại một luồng gió mới và đã làm cho độc giả chú ý với nhiều giải thưởng: giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần II, năm 2000, do Nxb Trẻ, báo Tuổi trẻ và Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát động; giải B của Hội nhà văn Việt Nam, năm 2001; giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học

- nghệ thuật Việt Nam, năm 2001; giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam,

năm 2006 với tác phẩm Cánh đồng bất tận; giải thưởng văn học ASEAN tại

Thái Lan, tháng 10/2008, v.v

- Đọc văn của Nguyễn Ngọc Tư, trong đó có tạp văn, độc giả luôn luôn bắt gặp những bất ngờ thú vị bởi cách kể chuyện chân chất, mộc mạc nhưng giàu cảm xúc của phương ngữ miền sông nước Nam Bộ Ngôn ngữ trong tác phẩm rất nhẹ nhàng với những trăn trở từ những câu chuyện mà chị đã chứng kiến, nếm trải và chiêm nghiệm Từ ngữ và câu văn trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư được chắt lọc, tổ chức theo một cách riêng, thể hiện dụng ý nghệ thuật của mình Nhà văn Hồ Anh Thái đánh giá Nguyễn Ngọc Tư có

“Cách dẫn chuyện gọn gàng, sự cắt cảnh chuyển lớp chính xác”

- Tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư được viết đều đặn và xuất bản nhiều cuốn Tác phẩm đã nhanh chóng nhận được sự chú ý, quan tâm của độc giả và các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Tuy nhiên, hiện chưa có công trình

Trang 8

nghiên cứu nào có tính hệ thống từ góc độ ngôn ngữ học Với những lí do trên

đây, chúng tôi chọn đề tài: Từ ngữ và câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

với mong muốn góp phần giải mã những nét độc đáo trên phương diện ngôn

từ, đặc biệt ở khía cạnh từ ngữ và câu văn

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài luận văn nhằm làm nổi rõ những nét đặc sắc trong ngôn từ tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư, qua đó, góp phần nhận diện cá tính ngôn ngữ văn xuôi của Nguyễn Ngọc Tư

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu về văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ có khối lượng các tác phẩm xuất bản khá lớn trong một thời gian ngắn Đến nay, ngoài truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư còn thử sức bằng tiểu thuyết, tản văn, tạp văn và thơ Khi mỗi tác phẩm của chị trình làng là xuất hiện những lời khen chê, những đánh giá không hoàn toàn thống nhất trên các báo in, báo mạng Người giới thiệu Nguyễn Ngọc Tư sớm

nhất là GS Nguyễn Hữu Dũng (2006), qua bài báo Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam Tác giả Trần Phỏng Diều nhận xét về Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Văn nghệ quân đội, số 6/2006) Tác giả Huỳnh Công Tín đưa ra những nhận xét, đánh giá từ bài viết Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn trẻ Nam Bộ (www.vannghecuulong) Một số nhà nghiên cứu tìm hiểu các khía cạnh trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư như Không gian sông nước trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Thụy Khê (www.Viet-studias); Hình tượng con người cô đơn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Phạm Thái Lê (Văn nghệ quân đội); Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn viết về thân phận con người của tác giả Huỳnh Kim (www.thannien.com, 29/10/2014); Nguyễn Ngọc

Tư phiêu dạt với Đảo của Tiểu Quyên (www.nld.com.vn, 29/10/2014), v.v

Một số khoá luận, luận văn ở các trường đại học đã bắt đầu chọn truyện

ngắn Nguyễn Ngọc Tư làm đối tượng nghiên cứu Chẳng hạn: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thành Ngọc Bảo (Luận văn

Trang 9

Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh, 2008); Đặc điểm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Phương (Đại học Đà Nẵng, 2012); Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Trường đại học KHXH

&NV, Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2012); Đặc điểm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Phương (Trường đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2012); Thế giới biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Ngọc Lan (Đại học Đà Nẵng, 2013), v.v Hiện tại, cũng đã có một số bài viết về tiểu thuyết (tiểu thuyết Sông), về thơ (tập Chấm) của Nguyễn Ngọc Tư đăng trên các báo in và báo mạng

2.2 Những nghiên cứu về tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư viết khá nhiều về tạp văn và tản văn Về tạp văn và

tản văn, cũng đã có một số bài viết ngắn, chẳng hạn: Nhân đọc một tản văn của Nguyễn Ngọc Tư của Đỗ Xuân Tê (www.nguyentrongtao.info); Tạp bút Nguyễn Ngọc Tư: những mảnh nhớ cũ (www.bantruongxua.vn), v.v Có thể

nói, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu tạp văn Nguyễn Ngọc Tư một cách có hệ thống Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư vẫn là vùng đất trống cho những nghiên cứu có thể xuất phát từ những góc nhìn khác nhau

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các đặc điểm về từ ngữ và câu văn trong tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết những vấn đề dưới đây:

- Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về từ ngữ trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

- Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về câu văn trong tạp văn Nguyễn

Ngọc Tư

- Trên cơ sở việc phân tích và lí giải những đặc điểm về cách dùng từ ngữ và câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, luận văn chỉ ra những nét riêng trong phong cách ngôn ngữ của nhà văn

Trang 10

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Tư liệu khảo sát là các bài tạp văn trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, Nxb

Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2012

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai các nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng những phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:

- Dùng phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại từ ngữ và câu văn trong tác phẩm trên các phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa

- Dùng các thủ pháp phân tích tổng hợp: dựa trên những cứ liệu thu thập được, tiến hành phân tích, miêu tả và rút ra những nét mới trong việc sử

dụng từ ngữ và câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

- Dùng phương pháp đối chiếu: tiến hành đối chiếu ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư với một số tác giả cùng thời để nhận diện cá tính ngôn ngữ Nguyễn Ngọc Tư

5 Đóng góp của đề tài

Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu đặc điểm từ ngữ và câu trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư một cách hệ thống từ góc nhìn ngôn ngữ học Luận văn đã làm sáng tỏ những nét độc đáo, sáng tạo trong cách dùng từ và câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư Các kết quả của đề tài góp phần giúp người đọc hiểu thêm về đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nói riêng, phong cách ngôn ngữ văn xuôi nói chung của Nguyễn Ngọc Tư

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn

triển khai thành ba chương:

Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Từ ngữ trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

Chương 3: Đặc điểm câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Thể loại ký trong văn học

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của thể ký

Ký là một loại hình văn học trung gian nằm giữa báo chí và văn học Trong lịch sử văn học nhân loại, ký ra đời từ rất sớm, nhưng phải sang thế kỉ XIX, khi đời sống xã hội có những thay đổi mạnh mẽ với sự ra đời công nghệ

in ấn và báo chí xuất hiện, ký mới thực sự có mảnh đất màu mỡ để phát triển

Ở văn học Việt Nam, ký là một trong những loại hình văn xuôi nghệ thuật xuất hiện sớm nhất và có vai trò hết sức quan trọng Nhiều nhà văn Việt Nam trước khi trở thành những nhà tiểu thuyết, truyện ngắn đều đã thử nghiệm ở thể loại ký Thể loại văn xuôi Việt Nam đầu tiên được sáng tác bằng chữ quốc ngữ chính là du ký (các du ký của Nguyễn Văn Vĩnh, Tản Đà, Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Trác, Phạm Quỳnh,…) Nếu như 30 năm đầu thế kỷ XX, hình thức

du ký là chủ yếu thì giai đoạn 1930-1945, ký được thể hiện dưới hai dạng phóng sự và tùy bút (với hai tác giả tiêu biểu là Thạch Lam và Nguyễn Tuân) Sau cách mạng tháng Tám, ký vẫn tỏ rõ ưu thế của thể loại trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Trong quá trình vận động và phát triển của thể loại văn học,

do đặc điểm và yêu cầu riêng của mỗi thời kỳ, do đặc trưng riêng của mỗi thể loại và nhu cầu tự thân của chính nó, có lúc thể loại này nổi trội hơn thể loại kia

và có lúc các thể loại có sự xâm nhập lẫn nhau Trong diễn trình văn học, sự phát triển của thể loại ký gắn liền với những giai đoạn có những thay đổi to lớn, có những biến động của cuộc sống cần được nghiên cứu và phản ánh Thể loại ký cho phép tái tạo những hiện tượng mới, khắc hoạ những nét cơ bản nhất của những hiện tượng đó Nếu yêu cầu nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại và tác phẩm là bức tranh chân thực về đời sống thì ký là thể loại giúp nhà văn hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình một cách thuận lợi nhất Nhìn lại chặng đường văn học gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Trang 12

và đế quốc Mỹ, thể loại ký đã làm tròn sứ mệnh của mình Ký luôn có mặt ở hàng đầu và trở thành vũ khí xung kích tham gia nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh (các ký sự của Trần Đăng, Nam Cao, Hoàng Lộc, Chế Lan Viên, Anh Đức, Hồ Phương, Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Nam Hà, Nguyễn Trọng Oánh, ) Sau năm 1975, đặc biệt là những năm bước vào thời kỳ đổi mới, thể ký tiếp tục thể hiện vai trò của mình trong việc tiếp cận hiện thực cuộc sống đầy ngổn ngang và bức xúc của thời kỳ hậu chiến (các tác phẩm của Phùng Gia Lộc, Hồ Trung Tú, Hoàng Minh Tường, Võ Văn Trực, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khải,…) Bên cạnh những tác phẩm ký phản ánh những vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá xuất hiện những tác phẩm ký mang đậm yếu tố

tự truyện (các tác phẩm của Vũ Bằng, Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Tố Hữu,

Tô Hoài, Anh Thơ, Sơn Nam,…)

Ký là một thể loại văn học mang tính tự sự, giàu biểu cảm, nhạy bén và cập thời Nó là một hình thức nghệ thuật biểu hiện của cuộc sống trong trạng thái trôi chảy vận động và đã phát huy được sức mạnh của thể loại vào những bước ngoặt của lịch sử, khúc quanh của cuộc sống, của thời đại

Trong các thể loại văn học, ký là thể loại gây nhiều tranh cãi về những vấn đề liên quan đến nó như ký có phải là văn học không, đặc trưng của ký, vấn đề ký văn học và ký báo chí, các dạng biểu hiện của ký, v.v

Trang 13

dung văn học,… [24, 293-294] Ở mục tạp văn, các tác giả giải thích: Những áng văn tiểu phẩm có nội dung chính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp thời các hiện tượng xã hội [24, 294] Như vậy, theo cách giải

thích trên, có thể suy ra kí (cùng với các thể của nó như du ký, phóng sự, tuỳ bút,…) và tạp văn nằm trong thể loại tản văn Chúng tôi không quan tâm xác định ranh giới các thể loại ký, tản văn, tạp văn mà chỉ chọn một cách hiểu về tạp văn làm cơ sở để giải quyết đề tài luận văn Theo đó, tạp văn là dạng văn xuôi thuộc thể ký Về điều này, các tác giả Văn học Việt

Nam thế kỷ XX cho rằng: Ký là một loại hình văn học gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi, bút ký, hồi ký, du ký, nhật ký, phóng sự, ký sự, tự truyện, tạp văn, bút ký chính luận,…[20, 423]

1.2 Tạp văn và ngôn ngữ tạp văn

1.2.1 Khái niệm tạp văn

Tạp văn là một khái niệm cho đến nay vẫn chưa được minh định một cách rõ ràng, còn có những điểm tương đồng với nhiều tên gọi khác nhau như: tản văn, tạp bút, bút ký, tạp cảm, v.v Hiện nay đã có nhiều cách giải thích của các nhà văn, nhà lý luận văn học, nhà ngôn ngữ học về khái niệm tạp văn nhưng vẫn chưa đi đến một sự thống nhất Khi tiếp cận với tạp văn của nhiều cây bút đã có chỗ đứng trên văn đàn như Đỗ Trung Quân, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh (Thảo Hảo), Nguyễn Việt

Hà, Trần Nhã Thụy, Hồ Anh Thái, Dạ Ngân , chúng tôi nhận thấy mỗi tác giả khi viết thể loại này đều tạo dựng cho mình một dấu ấn, một phong cách riêng, một diện mạo riêng

Theo các soạn giả trong cuốn Từ điển văn học: “Tạp văn một thể loại tản văn trong văn học Trung Quốc, thiên về nghị luận nhưng cũng giàu ý nghĩa văn học” [33, 1601], hay “Tạp văn là những bài luận văn ngắn, giàu tính luận chiến, thường xoay quanh một số vấn đề về xã hội, lịch sử, văn hóa,

Trang 14

chính trị, Đặc điểm chung của tạp văn là ngắn gọn, linh hoạt, đa dạng, phản ánh một cách nhanh nhạy, kịp thời trước những vấn đề bức xúc của xã hội với những ý kiến đánh giá rõ ràng và sắc sảo” [33, 1601]

Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý giải thích: “Tạp văn gồm nhiều thể tài linh hoạt như đoản thiên, tiểu phẩm, tùy bút” [76, 1495]

Từ điển thuật ngữ văn học lại giải thích: “Tạp văn là những áng văn tiểu phẩm có nội dung chính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp thời các hiện tượng xã hội” [24, 294]

Trong bài Kí trên hành trinh đổi mới, nhà nghiên cứu Đỗ Hải Ninh lại đưa ra cách hiểu riêng, xem tạp văn như một dạng nhỏ của tản văn: “Tản văn

là một loại ngắn gọn, hàm súc, với khả năng khám phá đời sống bất ngờ, thể hiện trực tiếp tư duy, tình cảm tác giả bao gồm cả tạp văn, tùy bút, văn tiểu phẩm” [55, 19]

Lỗ Tấn - nhà văn Trung Quốc xuất sắc, viết nhiều tạp văn lại đưa ra

cách giải thích: “Thật ra tạp văn không phải là hàng mới bây giờ, trước kia

đã có rồi Phàm là văn chương, nếu xếp loại, thì có loại để mà xếp, bất kể thế

gì, nội thể đều xếp vào một chổ cả, thế là thành “tạp” [66, 768]

Từ những cách hiểu, cách lý giải khác nhau về tạp văn, chứng tỏ khái niệm tạp văn vẫn chưa có một sự thống nhất, khó có thể phân biệt được một cách rạch ròi với một số thể loại văn học khác Tuy nhiên, có thể rút ra một số đặc điểm của thể loại tạp văn như sau:

Thứ nhất, tạp văn là thể loại văn xuôi ngắn gọn, súc tích, khả năng

khám phá những khoảnh khắc đời sống bất ngờ, độc đáo, mang đậm dấu ấn cá nhân Tạp văn có sự kết hợp nhiều thể loại như tạp cảm, tùy cảm, bút ký, tùy bút, nhật ký, hồi ức , thành ra mới có chữ “tạp” Phải chăng chữ “tạp” chứng minh điều ấy? Nhưng ở đây, chúng ta không thể quy về một cách hiểu đơn thuần là xem tạp văn là một sự gán ghép hay xáo xào nhiều thể loại, mà tạp văn có những nét riêng với các thể loại khác và giàu chất văn

Trang 15

Thứ hai, tạp văn thiên về nghị luận sắc bén nhưng giàu tính nghệ thuật

Tạp văn thường có ít nhân vật, kết cấu các tình tiết, sự kiện không phức tạp như các thể văn học khác như truyện, tiểu thuyết, v.v Tạp văn có nội dung khá phong phú, đa dạng, nhiều khi chỉ là những việc thoáng qua, những việc nhỏ nhặt, có khi chỉ là những hồi ức vu vơ, những tâm tình lan man , cho đến nhiều vấn đề xảy ra trong đời sống thường nhật, kể cả những vấn đề về chính trị như cán bộ ở địa phương nhũng nhiễu, hách dịch người dân

Thứ ba, tạp văn rất linh hoạt, phản ánh kịp thời, nhanh nhạy những vấn

đề có tính thời sự, đáp ứng với nhu cầu thưởng thức của độc giả hiện đại

1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn

1.2.2.1 Ngôn ngữ nghệ thuật

Mỗi một loại hình nghệ thuật sử dụng một loại chất liệu riêng Nếu hội họa là nghệ thuật của đường nét, màu sắc , âm nhạc được diễn tả bằng âm thanh, tiết tấu , thì ngôn ngữ là chất liệu cơ bản của văn học Văn học là một

loại hình nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ: “Không có ngôn ngữ thì không có văn học” M Gorky đã từng nói rằng: “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ”

M Bakhtin lưu ý: “Bàn đến lời văn, tức là ngôn ngữ trong tính toàn vẹn cụ thể và sinh động của nó” Ngôn từ nghệ thuật cũng được bắt nguồn từ ngôn

ngữ chung (ngôn ngữ toàn dân) nhưng trải qua quá trình chắt lọc, gọt dũa, tái

tạo dưới bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ nên không còn là ngôn ngữ “chết cứng trong từ điển” mà trở thành một thứ ngôn từ nghệ thuật Điều này thể

hiện rất rõ ở cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn Ngôn ngữ nghệ thuật vừa là công cụ của tư duy, vừa là ngôn từ mang tính hình tượng từ trong bản chất Từ ngữ không chỉ là những khái niệm trừu tượng mà còn là

hình ảnh của thế giới khách quan, là “hiện thực trực tiếp của tư duy” như Mác

đã nói

Ngôn ngữ nghệ thuật được hiểu là ngôn ngữ được nhà văn dùng trong sáng tạo nghệ thuật I.M Lotman - nhà nghiên cứu nổi tiếng người Nga cho

Trang 16

rằng: “Văn học có tính nghệ thuật nói bằng ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây dựng chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai” [53, 49] Theo tác giả, ngôn ngữ tự nhiên được đề cập ở đây chính “là các kí hiệu - những đơn vị ổn định và bất biến của văn bản - và các quy tắc cú đoạn học được lẩy ra tương đối dễ dàng” [53, 49] Ông cho rằng, ngôn ngữ

nghệ thuật được hình thành từ ngôn ngữ tự nhiên, nhưng có được phải trải qua quá trình chọn lọc, gọt dũa tạo nên ngôn ngữ nghệ thuật mang dấu ấn cá nhân

I.M Lotman chỉ rõ thêm: “Trong văn bản có tính nghệ thuật ngôn từ thì không chỉ có ranh giới giữa các ký hiệu là khác nhau, mà bản chất khái niệm

ký hiệu cũng khác nhau” [53, 49]

Để hiểu rõ hơn về bản chất ngôn ngữ nghệ thuật, chúng tôi đối chiếu,

so sánh để tìm ra sự tương đồng và khác biệt với ngôn ngữ tự nhiên Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “ngôn ngữ phi nghệ thuật” được hiểu trùng với ngôn ngữ

tự nhiên Ngôn ngữ phi nghệ thuật: “có thể xác định như một mã số chung, phổ biến nhất, tức một hệ thống tín hiệu đầu tiên và quy tắc sử dụng tín hiệu

đó, mà con người dùng để vật chất hoá những suy nghĩ, tình cảm của mình, tức là để diễn đạt những ý nghĩ tình cảm này trong một hình thức được tri giác một cách cảm tính: từ ngữ, phát ngôn ” [38, 123] Như vậy, xét trong

mối tương quan với ngôn ngữ phi nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật có ngoại diên hẹp hơn Ngôn ngữ nghệ thuật được sản sinh ra từ ngôn ngữ tự nhiên (phi nghệ thuật) đảm nhận chức năng tạo nên hệ thống mã ngôn ngữ thứ hai Ngôn ngữ nghệ thuật sau khi được sinh ra có thể trở lại tham gia vào ngôn ngữ toàn dân và góp phần tích cực là làm cho ngôn ngữ giàu có, phong phú, đẹp hơn

Trong cuốn Lý luận văn học, Phương Lựu chỉ ra: “Văn học là nghệ thuật ngôn từ, song không phải là ngôn từ lôgíc chỉ tác động chủ yếu vào lý tính như trong chính trị, triết học, Mà là ngôn từ giàu hình ảnh và tình cảm, tác động chủ yếu vào tâm hồn người đọc Đặc trưng của văn học với tư cách

Trang 17

là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ phải là cơ sở đặc trưng cho văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật là như vậy” [52, 185]

Còn theo Trần Đình Sử: “Ngôn từ nghệ thuật là một hiện tượng nghệ thuật (thể hiện ở tính hình tượng của ngôn từ nghệ thuật) Đồng thời ngôn từ nghệ thuật còn được thể hiện ở nhãn quan và loại hình ngôn từ văn học (sử thi, tiểu thuyết) thi pháp ngôn từ trên các cấp độ ngôn ngữ (từ và cụm từ, cú pháp) thi pháp ngôn từ trên cấp độ hình thức nghệ thuật (lời trực tiếp của nhân vật, lời gián tiếp)” [63, 123]

Như vậy, ngôn ngữ nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật cụ thể Ngôn ngữ là chất liệu để sáng tạo văn học Trong sáng tác, mỗi nhà văn có nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ nhằm tạo ra phong cách riêng Khi đi vào nghiên cứu về tác phẩm văn học, chúng ta phải tìm ra những nét riêng của ngôn ngữ nhà văn đó

1.2.2.2 Ngôn ngữ thể loại tạp văn

Nhà văn là người sử dụng chất liệu ngôn ngữ để tạo nên tác phẩm nghệ thuật Thể loại tạp văn cũng mang những đặc điểm của ngôn ngữ văn xuôi nói chung, điều đó cũng có nghĩa là thể loại tạp văn cũng mang những đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ tạp văn thuộc hệ thống tín hiệu thứ hai, là

hệ thống được mã hóa phức tạp Thể loại tạp văn luôn coi trọng chức năng thẩm mỹ, có tính hệ thống, tính truyền cảm và tính cá thể hóa Nếu như ngôn ngữ phi nghệ thuật coi chức năng chủ yếu, quan trọng nhất là giao tiếp, nó đẩy chức năng thẩm mĩ về hàng thứ yếu, thì ngược lại, ngôn ngữ tạp văn nâng chức năng thẩm mĩ ở bình diện thứ nhất, đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai

Tính truyền cảm trong ngôn ngữ tạp văn giúp cho quá trình tiếp cận với tác phẩm văn học được diễn ra từ một cơ chế nhất định, thông qua hệ thống tín hiệu thứ hai trong đại não, sẽ giúp cho người tiếp nhận cảm nhận được tâm trạng vui, buồn, yêu, ghét, , như chính tâm trạng của nhà văn gửi gắm vào

Trang 18

trong câu chữ, trang văn và văn bản Chẳng hạn, đọc những câu văn trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư:

Tôi tới chơi một lần, tự dưng nghe buồn, nghe thất vọng quá trời đất, nghe trong lòng có một chút ghen hờn Con Bèo học hành lỡ dở, nghề nghiệp cũng chẳng cao sang, sao nó lại ngộ chữ “tri túc”, còn mình thì không [Một

mái nhà, tr 61]

Tôi thương chị muốn rơi nước mắt, chị bao nhiêu tuổi, bốn mươi, năm mươi hay sáu, bảy mươi, sao tấm lòng chị chất phác, hồn hậu đến trong ngần [Lời nhắn, tr 73]

Tôi luôn nhớ về bạn nhiều nhất trong đám bạn cũ Với tôi, những người

xa xứ, lìa quê luôn tội nghiệp Bây giờ, tôi lại càng thương bạn hơn bởi những gì bạn nhắc, bạn nhớ đã không còn nữa [Đôi bờ thương nhớ, tr 123]

Những câu văn đầy tâm trạng của Nguyễn Ngọc Tư và cả độc giả Đây chính là điều làm nên điểm mạnh của ngôn ngữ tạp văn, bởi nó tạo sự hòa đồng, sự đồng cảm, giao cảm, gợi cảm xúc nơi người tiếp nhận

Mang đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ tạp văn cũng mang tính “cá thể hóa” Đây chính là dấu ấn sáng tạo của mỗi tác giả Trong tạp văn, ngôn ngữ ở đây là một thứ ngôn ngữ gián tiếp mà nhà văn sáng tạo, hình thành nên một giọng điệu riêng, một phong cách riêng và dấu ấn của mỗi người để lại trong lòng độc giả cũng đậm nhạt khác nhau, tùy thuộc vào vấn

đề tác giả quan tâm và cách thể hiện vấn đề ấy ra sao So sánh một số cây bút viết tạp văn có chỗ đứng trên văn đàn, chúng tôi nhận thấy cùng là thể loại tạp văn, nếu Phan Thị Vàng Anh có cái nhìn đầy tính tranh biện, mạnh mẽ, thẳng thắng thì tạp văn Nguyễn Ngọc Tư có giọng điệu mộc mạc, tự nhiên mà chất chứa nhiều day dứt

Những đoạn văn sau trong tạp văn Phan Thị Vàng Anh phần nào thể

hiện điều đó: “Nếu như trong phim Thung lũng hoang vắng, các cô giáo chỉ

gọi “anh Tành ơi” mà không gọi là “thầy hiệu trưởng ơi” thì người ta sẽ nghĩ

Trang 19

ông Tành chỉ là một người làm tạp vụ tốt bụng trong trường: sáng ra đánh kẻng vào lớp, vận động học sinh đến lớp; đi mua rau, thắp đèn dầu, sửa mái lá Chắc rằng thầy giáo miền núi thì phái kiêm nhiều hơn thầy giáo miền xuôi, nhưng cái ông Tành này, ngoài những việc nêu trên, hoàn toàn không thấy một phẩm chất gì thuộc về chuyên môn nhà giáo, chưa nói gì chuyên môn hiệu trưởng Chưa bao giờ thấy ông đọc sách, kiểm tra giáo án Buổi tối thì ông uống rượu (trong khi cô giáo vào bản dạy lớp tối), hoặc ông sang phòng giáo viên nữ ngồi thừ ra làm người ta khó xử Cái tốt của ông đi kèm cái dốt và tình cảm lộ liễu, nếu tôi là giáo viên như Giao, như Minh, ở một nơi hoang vắng như thế, chắc tôi phải gai người” [Có đức mà không có tài, tr.55]

Hay như một đoạn văn khác:

“Trong lớp, có khi giảng viên lấy vài trang kịch bản của học sinh ra phân tích Toàn là những lỗi mà chúng ta thấy trên màn hình hôm nay: lời thoại giả, tình tiết giả, tâm lý vô lý, thiếu nhất quán, và giảng viên chê không tiết lời, nhiều khi động đến phần tự ái nhạy cảm người Việt ta, có người đâm bực mình, Ngoài ra, có lẽ các giảng viên cũng đã phạm phải một sai lầm: đó

là bắt người ta đối mặt với sự yếu kém của chính mình nhiều quá Giảng viên nói, các bạn phải đọc sách, các bạn phải xem phim đi thôi, phải nghe nhạc đi thôi, phải SỐNG đi thôi Các bạn thiếu quan sát, các bạn thiếu tập trung, các bạn thiếu nghiêm túc, thế là các bạn bỏ nghề đi Các bạn hãy nhìn xem, có phải mãng đời sống nào, khu vực kiến thức nào mà các bạn hiểu kỹ nhất, thân thuộc nhất, chịu khó đổ công cho nó nhất, thì bạn mới làm ra được những thước phim hấp dẫn người xem không? Còn lại, chỉ là giả ” [Sự hấp dẫn của

Trang 20

nghiên cứu ngôn ngữ học Lưu Văn Lăng cho rằng: “Mỗi ngôn ngữ có một kết cấu nhất định, trong đó tất cả các yếu tố tạo thành kết hợp với nhau tạo thành một hệ thống chặt chẽ” [42, tr 40] Trong ngôn ngữ tạp văn, tính hệ thống

nghệ thuật gắn được xác định bởi vị trí, vai trò của nó trong hệ thống các hình tượng của tác phẩm và phong cách cá nhân của tác giả Còn đối với ngôn ngữ phi nghệ thuật, tính hệ thống gắn với sự khu biệt xã hội đối với ngôn ngữ

Tạp văn có những đặc điểm chung của ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ tạp văn cũng có những nét đặc thù Song, tính đặc thù của tạp văn

có sự kế thừa, tiếp nối nghệ thuật ngôn từ nói chung Điều này thể hiện rõ nét

nhất trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

1.3 Nguyễn Ngọc Tư và Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

1.3.1 Tác giả Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn nữ, tuổi đời còn rất trẻ (sinh năm 1976) Chị sinh ra ở Bạc Liêu rồi về sống ở xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau từ khi bốn tuổi Trên trang web http://www.viet-studíes.ifo/NNTu/ nhận

xét về con người Nguyễn Ngọc Tư: “Nguyễn Ngọc Tư là một người phụ nữ rất trẻ, dung dị, bình thường, nhưng kiên cường và bản lĩnh Tư sống gần ba

má, anh chị Từ thế hệ nội, ngoại, cả gia đình của Tư đều là bộ đội trong chiến tranh chống Mỹ”

Chị vốn là một học sinh giỏi văn của trường Phan Ngọc Hiển, nhưng

từ nhỏ chưa bao giờ Nguyễn Ngọc Tư nghĩ mình sẽ trở thành một nhà văn Ngay thời điểm này, cô vẫn “im hơi lặng tiếng” Phải chăng, Nguyễn Ngọc

Tư vốn sinh ra trong gia đình nghèo khó, nhưng cái nghèo, sự từng trải về thiếu thốn trong những năm tháng sống cùng với ông ngoại có lẽ là một trong những cái duyên dẫn chị bước vào vào lĩnh vực viết văn

Hiện nay, chị là nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam Nguyễn Ngọc

Tư là một hiện tượng văn học độc đáo khiến cho đông đảo bạn đọc quan tâm, bởi chị cho ra đời những tác phẩm đặc sắc ở nhiều thể loại khác nhau Sự xuất

Trang 21

hiện của Nguyễn Ngọc Tư mang đến cho văn xuôi đương đại Việt Nam luồng gió mát, tạo nên một sức sống cho văn học nước nhà Chị trở thành gương mặt quen thuộc trên các tạp chí qua nhiều tạp văn, tản văn

Thể loại sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư rất đa dạng, phong phú như tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí, tản văn, tạp bút, v.v Năm 1996, truyện ngắn đầu

tay Đổi thay của chị được đăng trên tạp chí Văn nghệ Cà Mau Nhưng Nguyễn Ngọc Tư thực sự được độc giả biết đến với tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt được giải I sáng tác Văn học tuổi 20 lần 2 của Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh Cho đến nay, ngoài những truyện đăng với các tác giả khác trong

những tuyển tập chung, Nguyễn Ngọc Tư đã có những tác phẩm để đời như:

Biển trời mênh mông (Nxb Kim Đồng, 2003), Giao thừa (Nxb Trẻ, 2003), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005) Tập truyện Cánh đồng bất tận (Nxb Trẻ, 2005) của chị được phát hành gây nên một tiếng

vang mới và thực sự đã khẳng định được tên tuổi và tài năng chín muồi của mình trên văn đàn

Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Tư cũng xuất sắc về tạp văn và cho ra đời

cuốn tạp văn nặng kí đầu tiên có tên là Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (Nxb Trẻ,

2005) tập họp những bài viết của chị đã đăng trên các tạp chí Năm 2007, chị

cho ra đời một tập tạp văn mới Ngày mai của những ngày mai Không dừng lại ở đó, chị liên tiếp cho ra đời một số tập Biển của mỗi người (2008), Yêu người ngóng núi (2010), v.v

Trong những sáng tác văn xuôi nói chung, tạp văn nói riêng, văn phong của Nguyễn Ngọc Tư nhẹ nhàng như trải ra từ một tấm lòng trong

trẻo, một sự mộc mạc rất đỗi tài hoa Trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam, GS Trần Hữu Dũng đặc biệt đề cao tài năng sử dụng ngôn

ngữ Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư Ông đánh giá là một cái riêng đặc sắc

không thể lẫn lộn với bất kì nhà văn khác, như là đặc sản miền Nam Huỳnh Công Tín với bài viết Nguyễn Ngọc Tư - nhà văn trẻ Nam bộ trên trang Web

Trang 22

Văn nghệ Sông Cửu Long cũng dành cho Nguyễn Ngọc Tư những lời khen

tặng xứng đáng với tài năng của chị Ông đánh giá cao khả năng xây dựng

không gian:“Đặc biệt, vùng đất và con người Nam Bộ trong các sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam bộ của chị”

Trên đà viết văn như thế này, tài năng Nguyễn Ngọc Tư sẽ chín, càng ngày lớn thêm Có thể nói, Nguyễn Ngọc Tư đã bắt kịp những đàn anh, đàn chị trong giới văn học Tài năng của chị vừa là kết quả của một tu dưỡng rèn luyện vừa như có yếu tố thiên phú

1.3.2 Nguyễn Ngọc Tư và tạp văn

Bước đầu những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư chủ yếu là ở thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, nhưng về giai đoạn sau, Nguyễn Ngọc Tư chuyển sang sáng tác theo thể loại mới như: bút ký, tạp bút, tạp văn, tản văn, v.v Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư ra mắt đều đặn và được đăng trên các tờ báo uy tín, chứng tỏ chị là cây bút giàu nội lực Chị đã cho ra đời những tác phẩm

như: Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (Nxb Trẻ, 2006), Ngày mai của những ngày mai (Nxb Phụ nữ, 2007), Yêu người ngóng núi (Nxb Trẻ, 2009), v v Tạp

văn của chị ra đời đã gây được tiếng vang trong giới văn học và được độc giả đón nhận một cách tích cực

Trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, mỗi tác phẩm là một tâm trạng, một

câu chuyện kể về một kỷ niệm nào xưa lắc xưa lơ, một cái quán ven sông, hay

những trăn trở về nghề làm báo, viết văn, v.v Đọc Tạp văn Nguyễn ngọc Tư,

phần lớn tác phẩm ta đều cảm nhận được nỗi đau của thân phận con người, nhất là những người nông dân ở vùng quê nghèo khó, suốt đời không sao thoát được cái nghèo đeo bám Đó là những câu chuyện mà chị chứng kiến và gắn bó với vùng đất Nam Bộ bình dị mà thân thương, nơi nuôi dưỡng tâm hồn chị Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư nói chung và tạp văn nói riêng vẫn mãi mãi xanh tươi

Trang 23

1.4 Tiểu kết chương 1

Tuy có nhiều khái niệm về tạp văn, nhưng qua nghiên cứu, chúng tôi có thể rút ra được một số đặc điểm về thể loại tạp văn như: ngắn gọn, hàm súc, khám phá được những khoảnh khắc đời sống và mang đậm dấu ấn của cá nhân Ngôn ngữ tạp văn cũng là ngôn ngữ văn chương

Ngôn ngữ tạp văn là một loại hình trong ngôn ngữ nghệ thuật nhưng có những nét riêng Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút văn xuôi vững vàng của miền sông nước Nam Bộ Tuy còn trẻ tuổi nhưng chị đã để lại lượng tác phẩm khá lớn, chị đã khẳng định được vị trí vững vàng trong nền văn xuôi đương

đại Việt Nam Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư là một trong số những cuốn tạp văn

góp phần làm nên sự đa dạng trong sáng tác, cũng như khẳng định được tên tuổi của nhà văn trên con đường nghệ thuật

Trang 24

Chương 2

TỪ NGỮ TRONG TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ

2.1 Từ trong ngôn ngữ và từ trong tác phẩm nghệ thuật

J.Lions, trong cuốn Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết định nghĩa: “Từ

là một sự kết hợp của một nghĩa nhất định với một phức thể âm thanh nhất định, có thể giữ một vai trò ngữ pháp nhất định” [42, 321]

E.Sapir đưa ra khái niêm: “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa, hoàn toàn có khả năng độc lập và bản thân có khả năng làm thành phần câu tối giản”[Ngôn ngữ, bản dịch tiếng Nga, M, 1934]

Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời” [22, 72]

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức cấu tạo (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong các từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu”[14, tr 336]

Trang 25

Tác giả Diệp Quang Ban lại cho rằng: “Từ là đơn vị nhỏ nhất mà có nghĩa và hoạt động tự do trong câu”, từ chi phối toàn bộ cú pháp tiếng Việt, đảm nhận và san sẻ các chức năng ngữ pháp của câu” [4, 35]

Theo Đỗ Thị Kim Liên: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết có nghĩa nhỏ nhất, cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng

tự do để cấu tạo nên câu” [47, 207]

Tuy có khác nhau trong cách giải thích, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu khi định nghĩa về từ đều thống nhất ở chỗ: Từ là một đơn vị ngôn ngữ

có âm thanh, có ý nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh, và có khả năng hoạt động tự do để cấu tạo nên cụm từ và câu Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, từ có tính toàn vẹn bên trong, không thể tách khỏi nhau bằng việc xen thêm các từ thực (hoặc hư từ) khác vào các bộ phận từ Còn giữa các từ có thể xen thêm một chuỗi từ mà về lý thuyết là không hạn chế những đơn vị thực Tóm lại, từ các định nghĩa trên, chúng tôi rút ra một số đặc điểm về từ:

1 Từ là đơn vị lớn nhất trong ngôn ngữ, nhỏ nhất trong lời nói, có sẵn

Theo tiêu chí phong cách, từ tiếng Việt gồm các lớp: từ hội thoại, từ thông tục, từ Hán - Việt, từ thi ca, từ cổ, v.v

Theo tiêu chí cấu tạo, từ tiếng Việt gồm từ đơn, từ phức; từ phức gồm

từ láy và từ ghép Về cấu tạo, những từ có cấu trúc hay đặc điểm cấu tạo giống nhau tập hợp thành một tiểu hệ thống Theo một quan niệm phổ biến,

Trang 26

tiếng Việt có một hệ thống từ đơn, từ láy, từ ghép Mỗi hệ thống đó lại còn phân biệt thành một số hệ thống nhỏ hơn nữa Theo đó, có thể hệ thống hoá từ tiếng Việt thành bảng sau

Bảng 2.1 Hệ thống từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo Kiểu từ Các tiểu loại Ví dụ

Từ đơn Từ đơn một tiếng nhà, xe, ăn, chạy, đi, vì,…

Từ đơn nhiều tiếng bồ hóng, mà cả, xi măng,…

Từ láy Từ láy hoàn toàn đỏ đỏ, xanh xanh,…

Từ láy bộ phận lập loè, lạch cạch,…

Từ ghép Từ ghép hợp nghĩa đất nước, nhà cửa, xinh đẹp,

Từ ghép phân nghĩa xe đạp, nhà máy, cá chép,…

2.1.2 Từ trong tác phẩm nghệ thuật

Văn học là nghệ thuật ngôn từ Chính vì vậy, không hiểu đặc trưng của của văn bản nghệ thuật nếu bỏ qua đặc điểm nghệ thuật của ngôn từ Để tìm hiểu một cách sâu sắc, cặn kẽ tất cả bản chất thẩm mĩ và khả năng nghệ thuật của nó, nhất thiết phải gắn nó với thể loại, bởi mỗi thể loại đòi hỏi một thứ ngôn ngữ riêng Tác phẩm văn học nói chung và thể loại tạp văn nói riêng đều phản ánh muôn mặt cuộc sống và con người Trong hoạt động ngôn ngữ, từ là đơn vị thực sự phản ánh các thuộc tính, đặc điểm vốn có của thực tại khách quan

Từ là một đơn vị ngôn ngữ mang tính cố định, có sẵn, tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ, nhưng khi tham gia hành chức, từ rất linh hoạt, nhất là trong chức năng nghệ thuật, từ gắn với ngữ cảnh, không chỉ các nét nghĩa riêng mà còn thể hiện sự tinh tế về tri nhận sự vật và cả việc tạo nên những nét nghĩa mới, sắc thái mới Từ trong sáng tạo nghệ thuật được sử dụng ra sao và mang lại hiệu quả như thế nào còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: chủ đề, đề tài, trình độ văn hóa, khả năng tích lũy ngôn ngữ vốn sống, kinh nghiệm, phong

Trang 27

cách viết của nhà văn Ở mỗi người, từ được tích lũy dần và tồn tại với tư cách là một biểu hiện tiềm năng ngôn ngữ Trong sáng tạo nghệ thuật, nhà văn thực hiện cá tính sáng tạo trên các đơn vị ngôn ngữ Sự đa dạng và phong phú về vốn từ sẽ giúp cho nhà văn vận dụng linh hoạt khi miêu tả bức tranh đời sống cũng như thể hiện thế giới nội tâm Nhà văn luôn luôn sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ cốt làm sao cho ngôn ngữ mang tính thẩm mỹ, có sức biểu đạt cao, thể hiện cá tính độc đáo

Từ ngữ trong văn học cổ điển mang tính quy phạm cao, do đó, rất hạn chế sử dụng những từ mang tính khẩu ngữ Ngược lại, trong văn học đương đại, do không bị gò ép một cách nghiêm ngặt nên các nhà văn được tự do lựa chọn vốn từ của tiếng nói dân tộc, thậm chí sử dụng từ biến thể, từ phương ngữ vùng miền

Do những quy định của thể loại, từ trong văn bản tự sự nói chung và tạp văn nói riêng có những đặc trưng riêng, và để làm rõ khi ta đối sánh từ ngữ trong tạp văn với từ ngữ trong thơ kiểu cấu trúc tạo nên những mã, cất giấu những “mật ngữ”, thách thức cái nhìn của “người trần mắt thịt” Xuất

phát từ điều này mà nhiều người nhất trí rằng:“Từ ngữ trong thơ - xét từ góc

độ ngôn ngữ học thuần túy - không phải là một thứ sản phẩm gì xa lạ Đó vẫn

là những từ ngữ của đời sống, được lấy ra từ cái vốn từ ngữ toàn dân Những

từ ngữ ấy đã có nghĩa xác định, và đó là tấm “giấy thông hành” để chúng luân chuyển, tồn tại trong các ngữ cảnh khác nhau Nhà thơ không sản sinh

ra từ mà trước đó chưa hề có, mà chỉ sử dụng chúng bằng năng lực sáng tạo của mình Có những trường hợp, nhà thơ không hề dùng một từ lạ nào, mà câu thơ, bài thơ vẫn được xem là “hũ nút”, khó hiểu Cái khó không phải là nằm ở nghĩa tự vị độc lập của mỗi từ, mà ở cấu trúc ngôn từ của văn bản - một a từ trong thơ là một thứ nghĩa được tạo sinh bởi quan hệ chứ không còn

là nghĩa tròn trặn như trong từ điển” [53, 62-63]

Như vậy, từ ngữ trong thơ thường được gọt giũa, đãi lọc từ vốn ngôn ngữ toàn dân do chịu nhiều áp lực về đề tài, cảm hứng, thể thơ, âm luật, v.v

Trang 28

Đặc biệt, thơ mang tính quy phạm thì đòi hỏi nhà thơ sử dụng từ càng “nặng

nề, gây go” hơn

Khác với thơ, văn xuôi tự sự nói chung và tạp văn nói riêng cho phép

sử dụng mọi lớp từ, kể cả những từ khẩu ngữ ở địa phương Chính điều này

mà từ ngữ trong tạp văn đa dạng, phong phú diễn tả được mạch chảy của cảm xúc, tái hiện tất cả bộ mặt xã hội hay len lõi vào những ngõ ngách tâm hồn của con người

Khi nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi, Đào Thản viết:

“Ngôn ngữ nghệ thuật có thể đạt tới độ chính xác lí tưởng về mặt miêu tả Điều này trước hết và chủ yếu được quyết định bởi tài nghệ của nhà văn, song cũng phải kể đến sức mạnh và tìm năng của phương tiện biểu đạt Không bị ràng buộc, hạn chế bởi đặc trưng phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả mọi yếu tố phương tiện, huy động mọi khả năng, vốn liếng tiếng nói dân tộc đến mức cao nhất cho mục đích thẩm mĩ của mình Văn xuôi hiện đại không “phân biệt đối xử” với các phương tiện thể hiện Ở đây không có biện pháp nào được đánh giá là tốt hay xấu, trội hơn hay kém hiệu lực hơn, mà chỉ có thể được ưa dùng, quen dùng hơn trong những thời

kỳ, xu hướng hoặc tác giả nhất định” [68, 202] Ý kiến Đào Thản đã chỉ rõ

điều quyết định làm nên sự hấp dẫn của ngôn ngữ chính ở tay nghề nhà văn, sau đó mới đến sức mạnh và tiềm năng của phương tiện biểu đạt Do cách tổ chức tự do, phóng túng, ngôn ngữ văn xuôi vận dụng vốn liếng của ngôn ngữ dân tộc một cách tối đa, không phân biệt sang hèn, cao thấp, tốt xấu, miễn sao chúng thể hiện tốt nhất cho mục đích thẩm mĩ cho tác phẩm của mình

Do tính đặc thù của nó, từ ngữ trong văn xuôi có rất nhiều cách tiếp cận

ở nhiều góc độ khác nhau Các nhà ngữ pháp học thì quan tâm đến vấn đề từ loại, đặc điểm cấu tạo của từ ngữ và đối chiếu với đặc điểm từ loại và cấu tạo

từ trong ngôn ngữ chung Nhà ngữ dụng học xem xét từ ngữ trong tác phẩm ở

sự hành chức của nó Người nghiên cứu phong cách học thì xem xét từ ngữ trong tác phẩm dưới góc độ phong cách chức năng và nguyên tắc lựa chọn, sử

Trang 29

dụng phương tiện ngôn ngữ Với nhà thi pháp học tiếp cận từ ngữ trong tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp học,

Như vậy, chúng tôi khẳng định có nhiều cách tiếp cận từ ngữ trong tác

phẩm nghệ thuật Đây chính là sự định hướng nghiên cứu từ ngữ trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

2.2 Các lớp từ nổi bật trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

2.2.1 Các lớp từ tiêu biểu xét về mặt phong cách

2.2.1 1 Từ hội thoại

a Khái niệm từ hội thoại

Từ hội thoại là những từ được dùng đặc biệt trong lời nói miệng trong sinh hoạt hàng ngày, nhất là trong đối thoại Việc sử dụng từ hội thoại trong những cuộc trò chuyện, tâm sự, hay những lời chào hỏi, trao đổi là hết sức tự nhiên, không có sự trau chuốt Với thể loại tạp văn, việc sử dụng ngôn ngữ thuộc phong cách sinh hoạt là rất phù hợp

Trong văn học, những từ hội thoại được nhà văn sử dụng nhằm thực hiện ý đồ nghệ thuật Nhờ ngôn ngữ hội thoại mà nhà văn tái hiện một cách sinh động bức tranh đời sống xã hội Nhiều khi, chỉ cần điểm một vài từ hội thoại là tính cách nhân vật cũng hiện ra rõ nét

Trong tạp văn, Nguyễn Ngọc Tư sử dụng ngôn ngữ hội thoại phù hợp cuộc sống của người dân Nam Bộ Ngôn ngữ hội thoại thường mang tính khẩu ngữ nên giản dị, dễ hiểu và dễ biểu lộ thái độ, tình cảm

b Từ hội thoại trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

Trong các bài tạp văn, những từ hội thoại được Nguyễn Ngọc Tư sử dụng như một công cụ lợi hại để miêu tả, tái tạo cuộc sống của cư dân người Việt phương Nam Có trường hợp, Nguyễn Ngọc Tư chỉ cần dùng một vài từ hội thoại là tính cách nhân vật đã hiện hiện ra rất rõ nét Chẳng hạn:

(1) Tôi chắc dù đất xóm Chẹt có thay đổi cỡ nào, tôi có già cóc thùng

thiếc đi, mình vẫn nhận ra ngôi nhà ấy, ngôi nhà của một bà già hiền như bà

nội, bà ngoại mình [Hiên trước nhà một bà già tốt bụng, tr 57]

Trang 30

(2) Một bữa trên đường gánh trái cây đi bán dạo, con Bèo gặp tôi, mừng quá, lâu lắc quá chừng rồi, Bèo rối rít mời tôi tới nhà chơi, mà giọng của con

Bèo, trời ơi, nó tươi rói, giòn tan, sung sướng, tự hào [Một mái nhà, tr 60]

(3) Nghĩ tới bài phỏng vấn mình thấy sướng rơn lên, thậm chí nhắc đến tên ông, tim mình có chút đỉnh xao xuyến [Hư ảo rồi tan , tr 130]

Ở ví dụ (1), các từ ngữ hội thoại cỡ nào, già cóc thùng thiếc là sự xác tín của nhân vật tôi về một kỉ niệm khó phai mờ, sự nguyên vẹn trong kí ức về ngôi nhà của một bà già hiền lành như bà nội, bà ngoại mình Các từ hội thoại con Bèo, lâu lắc, tươi rói, giòn tan ở ví dụ (2) xác nhận nỗi vui mừng

gặp lại bạn cũ, qua đó, khẳng định một tình bạn đằm thắm, thuỷ chung Các từ

hội thoại sướng rơn, chút đỉnh ở ví dụ (3) miêu tả những cung bậc cảm xúc,

các sắc thái tình cảm của nhân vật

Nguyễn Ngọc Tư rất có ý thức dùng từ hội thoại để câu văn của mình giàu hơi thở đời sống Qua cách dùng từ hội thoại, người đọc có cảm giác nhà văn bê nguyên xi cuộc sống vào các trang sách Chẳng hạn:

(1) Khi gió bắt đầu hiu hiu se lạnh, đám con nít nhảy cà tưng, háo hức

vỗ tay cười, vậy là gần được sắm quần áo, giày dép mới [Trở gió, tr 8]

(2) Cá thòi lòi dạn dĩ theo con nước chạy rột rẹt dưới sàn nhà, có lúc

ngóc đầu lên nhìn thom lom, ý hỏi ai đây ta, ai mà lặn lội tới xứ bùn sình rừng

rú, ai mà ngó tui thiếu điều lòi mắt ra, lạ lắm sao? [Đất Mũi mù xa, tr 13]

(3) Quần quật tới đỏ đèn, đôi chân mới ráo nước, ngồi đón coi mấy

ông khuyến ngư phổ biến kĩ thuật nuôi tôm trên tivi, đặng học hỏi nhưng dạy

kĩ thuật nào vô cái đất này cũng trớt quớt, tôm cũng chết thẳng cẳng [Tháng

chạp ở rạch Bộ Tời, tr 29]

Các từ con nít, nhảy cà tưng ở ví dụ (1), các tổ hợp ngóc đầu, nhìn thom lom, ai đây ta, lòi mắt và từ rừng rú ở ví dụ (2), các từ đỏ đèn, đón coi, trớt quớt, chết thẳng cẳng ở ví dụ (3) là những điểm nhấn trong các câu văn,

làm cho câu văn sống động, giàu hình ảnh Có những từ hội thoại chỉ là lời

Trang 31

nói miệng nhưng đó là cách nói tu từ ẩn dụ Trong các từ hội thoại xuất hiện

trong ba ví dụ trên, các từ lòi mắt, đỏ đèn, chết thẳng cẳng có sự tinh tế về ý nghĩa Lòi mắt là ở tình trạng nguy hiểm tính mạng; đỏ đèn là khoảng giao nhau giữa ngày và đêm, chỉ thời gian quá muộn, hàm ý vất vả; chết thẳng cẳng là chết quá nhanh, chết liền

Những từ hội thoại được sử dụng trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư thường miêu tả hành động nhân vật, trần thuật các sự vật, hiện tượng, diễn đạt các tính chất, màu sắc hoặc bày tỏ tình cảm Chẳng hạn:

(1) Ba tôi đọc báo cho mấy ông bạn chòi nghe…, ai cũng vỗ đùi khen, sao mấy ổng chịu thiệt vậy không biết, chớ mấy chuyện thất bại rồi, nghe im

re [Tháng chạp ở rạch Bộ Tời, tr 30]

(2) Tôi lóp ngóp xách rổ chận bắt mấy con cá rô ốm nhách dài nhằng,

mình đầy nhớt xăng xái lóc lên sân [Sân nhà, tr 76]

(3) Biển đã đục là đục ngầu phù sa; nước đã mặn là mặn quéo đầu lưỡi Người đất Mũi rặt đã thương là thương trọn, đã nhớ thì nhớ sâu, đã sầu

thì sầu dai dẳng [Đất Mũi mù xa, tr 15]

(4) Chòi có tivi, cassett, điện dẫn từ ngoài sông ra hai trăm hai còn

chừng trăm rưởi, bóng đèn đỏ lòm [Tháng chạp ở rạch Bộ Tời, tr 28]

Ở ví dụ (1), từ vỗ đùi chỉ hành động thích thú, thoả mãn, tâm đắc điều

gì đó; từ im re là lặng lẽ, không dám nói gì, tỏ ý sợ sệt; ổng là ông ấy, cách nói chập âm của người Nam Bộ trong giao tiếp hàng ngày Ở ví dụ (2), ốm nhách là quá gầy, không có sức sống; dài nhằng là dài quá mức bình thường Hai từ hội thoại này được cấu tạo theo kiểu một yếu tố toàn dân (ốm, dài) kết hợp với một yếu tố mất nghĩa (nhách, nhằng) mang tính miêu tả cụ thể, có sắc thái nhấn mạnh độ gầy của mấy con cá rô Ở ví dụ (3), các từ đục ngầu, mặn quéo, rặt cũng thể hiện sắc thái nhấn mạnh tình người đất Mũi Còn ở ví dụ (4), từ đỏ lòm là có màu đục, miêu tả màu sắc của ánh sáng điện quá yếu Về

cách dùng từ hội thoại trong tạp văn, có nhiều trường hợp, Nguyễn Ngọc Tư kết hợp từ hội thoại với từ địa phương Nam Bộ Chẳng hạn:

Trang 32

Bữa gặp Nguyệt cũng bất ngờ, tôi uốn tóc ở cạnh nhà Nguyệt, nó nhận

ra tôi trước, chạy ào qua, nắm tay tôi lắc lia lắc lịa, mừng thôi là mừng, trong lúc con bạn nó đang ngượng nghịu với cái đầu chôm bôm, tóc tai cuốn từng

cuốn như chả giò (Đáng lẽ mình nên xuất hiện trước mặt nó bằng dáng vẻ thanh lịch, tươm tất hơn mới phải - người viết văn mà) Nó bảo, trời ơi, đúng

là con tư thiệt rồi, lâu quá không gặp [Nguyệt - người bạn không biết viết

đòi hai cái ly, một dĩa đậu phộng rang, run rẩy rót rượu tràn ra bàn rồi đau

đáu nhìn về chiếc ghế trống trước mặt Cha hắn đi rồi, đi xa lắm, cô phục vụ

xinh đẹp rụt rè ngồi xuống chỗ cha thường ngồi, cô bảo:

- Hôm rồi xe tang đi qua, em thấy giống bác, em đã ngờ ngợ Hổng ngờ Hắn không nói gì hết, sợ mở miệng ra sẽ bật khóc Đàn ông ai khóc trước mặt con gái kỳ lắm [Cha và con, tr 82]

Trong đoạn văn trên, các từ hội thoại và từ địa phương hắn, bù xè, phấn rác, hổng, kỳ là những điểm nhấn ngữ nghĩa cho câu văn Các từ hổng là không ngờ, kỳ có nghĩa là xấu hổ, làm cho câu văn mang màu sắc Nam Bộ rõ nét Việc sử dụng từ ngữ hội thoại trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư là hết sức

phổ biến Sử dụng nhiều từ hội thoại làm cho giọng điệu thoải mái hơn, tự do phóng khoáng hơn, câu văn sinh động cụ thể hơn, tạo sự gần gũi, thân mật, người đọc như được trực tiếp tiếp xúc với nhân vật, nghe nhân vật nói như nghe người bạn mình nói Những từ hội thoại đó được xuất hiện nhiều trong

tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, đặc biệt là khi viết về những truyện tình cảm, về

Trang 33

con người và cuộc sống thường ngày Vì vậy, nó tạo cho người đọc cái cảm giác gần gũi, thân thương

2.2.1.2 Từ địa phương

a Khái niệm từ địa phương

Khi nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học phải minh định các khái niệm, giới thuyết các thuật ngữ ngôn ngữ học Khái niệm từ địa phương cũng đã được các nhà ngữ học xem xét nhưng cho đến nay, vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau:

Đinh Trọng Lạc cho rằng: “Từ địa phương là những từ chỉ được dùng trong các phương ngữ, các thổ ngữ” [39, tr.30]

Còn Nguyễn Thiện Giáp lại định nghĩa:“Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Nói chung từ địa phương

là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hằng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật” [22, 292-293]

Phạm Văn Hảo cho rằng: “Khác với một số biến thể vốn là đơn vị trong cùng một hệ thống, từ ngữ địa phương là loại biến thể gắn với một hệ thống nằm ngoài hệ thống từ vựng tiếng Việt văn hóa Điều đó đảm bảo cho một phương pháp định nghĩa phù hợp với chúng Định nghĩa qua từ có nghĩa tương đương (trong tiếng Việt văn hóa)” [31, 59]

Theo Hoàng Thị Châu: “Biến dạng của mọi ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là phương tiện giao tiếp của những người gắn bó chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất, về lãnh thổ, về hoàn cảnh xã hội, hay

về nghề nghiệp còn gọi là từ địa phương” [16, 24]

Từ các định nghĩa nêu trên, chúng tôi nhận thấy các nhà ngôn ngữ học khi định nghĩa về từ địa phương đều có điểm chung Thứ nhất, từ địa phương

là từ bị hạn chế trong phạm vi vùng miền hoặc vài địa phương cụ thể Thứ

Trang 34

hai, từ địa phương là loại biến thể ít nhiều về ngữ âm, từ vựng hay ngữ pháp

so với ngôn ngữ toàn dân

b Từ địa phương Nam Bộ trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

Sự thành công của Nguyễn Ngọc Tư một phần cũng chính bởi việc vận dụng ngôn ngữ chân chất mộc mạc của vùng quê Nam Bộ mà cả cuộc đời chị

gắn bó Trong bài viết Nhà văn nữ Nguyễn Ngọc Tư, Trần Hữu Dũng đánh giá:“Cái đầu tiên làm người đọc choáng váng (một cách thích thú), là nồng

độ phương ngữ miền Nam trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư” [19] Hay như Nguyên Ngọc trong bài viết Còn nhiều người cầm bút rất có tư cách cũng khẳng định:“Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy,… tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế, đặc biệt

“Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam Bộ đi trước”

Quả thật, sự hấp dẫn và lôi cuốn độc giả qua từng trang viết của

Nguyễn Ngọc Tư chính ở chỗ sử dụng phương ngữ tối đa và đặt đúng chỗ những từ ngữ rất “miền Nam” Nguyễn Ngọc Tư đã rất khéo léo sử dụng

những từ địa phương Nam Bộ với dụng ý tu từ rõ rệt, tạo nên dấu ấn riêng Nguyễn Ngọc Tư từng tâm sự “Nhà văn chỉ thực sự viết bằng chính thứ ngôn ngữ đã nuôi dưỡng anh ta lớn lên Tôi sinh ra ở vùng quê, nhà tôi nằm ngay bên bờ sông, ngày nào tiếng tắc ráng, tiếng tàu máy đuôi tôm rồi chợ họp trên sông cũng nhộn nhịp Tôi đã từng phải hái rau cho bà, cho mẹ đem ra chợ bán Sống trong môi trường như thế thì cố tạo cho mình giọng văn rặt những ngôn ngữ “sang trọng” mà làm gì? Tôi không cố ý sử dụng nhiều những phương ngữ, từ địa phương Tôi viết như vậy vì chỉ có ngôn ngữ ấy mới giúp tôi lột tả được hết cái tình của dân quê”

Từ địa phương Nam Bộ được Nguyễn Ngọc Tư sử dụng trong tạp văn

khá nhiều và rất đa dạng: dùng để để xưng hô, để gọi tên các đồ vật, để bộc lộ tình cảm, Tuy nhiên, trong các bài khác nhau thì tỉ lệ từ địa phương cũng được sử dụng khác nhau Điều này được thể hiện qua bảng thống kê 2.2

Trang 35

Bảng 2.2 Từ địa phương Nam Bộ trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

8 Nguyệt - người bạn không biết viết văn 33/35

9 Hiên trước nhà một bà già tốt bụng 15/17

20 Kính thưa anh nhà báo 8/9

21 Đi qua những cơn bão khô 23/27

22 Chờ đợi những mùa tôm 31/33

23 Đôi bờ thương nhớ 21/26

Trang 36

TT Tên tác phẩm Số lượng/ tần số

25 Chút tình sông nước 7/10

26 Bùa yêu và con nhỏ thất tình 9/11

27 Gió mùa thao thức 22/22

28 Ngơ ngác mùa dưa 19/20

Khảo sát 35 bài tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi thống kê được 691

từ địa phương và 819 lần xuất hiện So với từ láy, đây là lớp từ được tác giả

sử dụng nhiều hơn cả Nguyễn Ngọc Tư sử dụng rất đa dạng và linh hoạt trong tác phẩm của mình Nhiều tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư sử dụng “đậm đặc” đến mức khi độc giả dù đang ở vùng miền nào khác cũng nghe được hơi thở Nam Bộ

Điều làm nên sức hấp dẫn về ngôn ngữ trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư nói chung, tạp văn Nguyễn Ngọc Tư nói riêng không chỉ ở kho từ vựng miền Nam dồi dào, tự nhiên mà hơn thế nữa, đó còn là lối sử dụng phương ngữ tối đa vào những câu chuyện thật “miền Nam” Ngôn ngữ được dùng trong các tác phẩm của chị gắn liền thiên nhiên, cũng như con người khai hoang lập nghiệp trên mảnh đất mà đâu đâu cũng chằng chịt kênh rạch, con nước lên xuống Chính vì vậy, ngôn ngữ của chị thấm đẫm văn hóa Nam

Trang 37

Bộ Nhà văn Dạ Ngân cũng là một cây bút viết nhiều ở thể loại tạp văn cũng

từng nhận xét: “Văn của Nguyễn Ngọc Tư mang đậm chất Nam Bộ: hồn hậu, hào sảng Văn hóa tiểu vùng khác nhau, sản sinh ra những tác giả khác nhau

Ở Bắc Hà không sinh ra văn của Nguyễn Ngọc Tư được, mà ở Nam Bộ không thể sinh ra được văn của Y Ban, Tạ Duy Anh được” Đúng như nhà văn Dạ

Ngân nói, chỉ có nhà văn Nam Bộ mới có được những tác phẩm đậm chất văn hóa Nam Bộ như thế

Trong các bài tạp văn, Nguyễn Ngọc Tư sử dụng từ địa phương rất biến hóa phù hợp diễn biến câu chuyện hay là những ngữ cảnh cụ thể Qua việc khảo sát, chúng tôi có thể phân chia phương ngữ trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư thành 3 nhóm chính:

- Nhóm từ xưng hô: ba, ba con, má, con nhỏ, thằng bạn, đứa bạn, chị Hai, anh Năm, tui, bọn tui, tụi nó, ông già, thằng nhỏ, v.v Việc sử dụng

nhiều từ địa phương tương đương với từ toàn dân để xưng hô tạo được sự gần gũi giữa các nhân vật Chẳng hạn:

Ba con nói chuyện vui Ba con nói nuôi tôm trước sau gì cũng giàu,

hổng giàu cái này thì giàu cái khác Chẳng hạn như không có tôm thì mình

múc nước ở đầm lên nấu lại thành muối, muối bây giờ bán cũng có tiền lắm

chớ, giỡn sao [Chờ đợi những mùa tôm, tr 119]

Nguyễn Ngọc Tư sử dụng từ xưng hô của địa phương Nam Bộ và nó

được lặp lại đó là từ ba Nhà văn dùng từ xưng hô ba này để gọi tên cho nhân

vật trong tác phẩm thật gần gũi, ruột rà, đồng thời thể hiện tình cảm đặc biệt

mà con dành cho ba

Ở trường hợp khác, Nguyễn Ngọc Tư dùng từ xưng hô gần gũi, chân

chất của người nông dân Nam Bộ: Tôi rất khoái vì nó vắng vẻ, nên thơ, mà có

qua Ủy ban, Tỉnh ủy đưa thư, tặng báo tôi không phải ớn xương sống vì vẻ

mặt lạnh tanh của anh bảo vệ, bằng cái vẻ cảnh giác chắc vì tướng tôi cù lần,

da lại đen, mặt lúc nào cũng đăm đăm suy nghĩ như mang oan khuất trong

lòng, anh hỏi những câu chả sử dụng chủ ngữ, đi đâu đây, vô trỏng làm gì,

Trang 38

gặp ai, có hẹn trước không? Rủi cái là bà con cũng biết con đường này, nhiều

lần xộc vô tới văn phòng, hỏi, chủ tịch đâu cho tui gặp chút [Tản mạn

quanh cái cổng, tr 91]

Tư xưng hô tui là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít Từ tui có nghĩa như từ tôi trong ngôn ngữ chung của dân tộc Cách dùng từ tui rất bình dân,

rất tự nhiên

Trong cách xưng hô của người Nam Bộ, ta còn bắt gặp lối xưng hô

theo thứ tự sinh ra trong gia đình kèm theo tên gọi: Chị Hai, anh Năm, cậu

Tư, cậu Bảy, dì Ba, dì Sáu, v.v Chẳng hạn: Tôi viết những dòng nầy tặng bà

con trong xóm rạch Bộ Tời, cái tên nghe thật lạ phải hôn? Chỗ này không

phải là danh thắng, căn cứ cách mạng cũng không, chưa được gọi là “rạch văn hóa” nói gì tới ấp văn hóa Đất nhỏ nhoi, thân phận con người cũng nhỏ

nhoi Thầm lặng, những cậu Tư, cậu Bảy, dì Ba, dì Sáu Không có ai ra

ngoài cổng Ủy ban tỉnh mà gào lên công lý, cũng chưa thấy vụ ẩu đả giành giật đất nào [Tháng chạp ở rạch Bộ Tời, tr 27]

Nguyễn Ngọc Tư dùng phương ngữ Nam Bộ phần nào thể hiện được

đặc điểm con người nơi đây Cách gọi dì, cậu thông thường phải là anh, chị,

em của má và đi kèm với thứ tự sinh ra Với người Nam Bộ, người con sinh

ra đầu tiên được gọi là thứ Hai, kế tiếp là thứ Ba, và người con cuối gọi là

Út Cách gọi theo thứ tự như thế tạo nên sự gần gũi, thân mật trong giao tiếp

của người Nam Bộ

- Nhóm động từ, danh từ, tính từ chỉ sự vật, hiện tượng, tính chất: bùn sình, đục ngầu, con nước, kinh, mé kinh, xóm kinh, vuông, cầu khỉ, ghe, nè, tở phở, mắc cười, đây ta, rừng rú, lạch nhỏ, mẻ un, chó cò, giồng rau, má rầy,

v.v Chẳng hạn: Cá thòi lòi dạn dĩ theo con nước chạy rột rẹt dưới sàn nhà,

có lúc ngóc đầu lên nhìn thom lom, ý hỏi ai đây ta, ai mà lặn lội tới xứ bùn

sình rừng rú này, ai mà ngó tui thiếu điều lòi con mắt ra, lạ lắm sao? [Đất

Mũi mù xa, tr 13]

Trang 39

Trong một câu văn, Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng rất nhiều từ địa

phương Nam Bộ: con nước, rột rẹt, thom lom, ai đây ta, bùn sình, rừng rú

Điều này chỉ có ở nhà văn đương đại mới sử dụng đậm đặc như thế Việc

sử dụng từ địa phương dày đặc còn được thể hiện ở nhiều đoạn văn khác

Chẳng hạn: Một đêm vài ba lần, ba má con thức dậy, đi rảo một vòng

vuông, canh con nước Mức nước ngoài sông không cao, kinh cạn, đón con nước nửa đêm, hai ông bà ì ạch khiêng máy ra tát vô đầm nuôi Chập

chờn má choàng thức, rủ ba hì hụi đem máy vô chòi [Chờ đợi những mùa

tôm, tr 117]

Hay một đoạn khác: Mà, anh dứt khoát phải gặp em tôi một lần, cô

có tất cả các đặc trưng của người Đất Mũi, da ngăm ngăm, rắn rỏi, mắt hay cười, em hay hồn nhiên xắn quần cao đến khỏi đầu gối lội qua kinh những lúc nước ròng, mộc mạc không giả đò mắc cỡ làm duyên [Đất Mũi

mù xa, tr 15]

Từ những đoạn văn trên, ta thấy lớp từ địa phương không tương đương với từ toàn dân được tác giả sử dụng chỉ đặc điểm địa hình, tên gọi sự vật, hiện tượng, hay từ ngữ phản ánh tập quán, lao động của con người phù hợp

với đặc thù sông nước như: vuông, kinh, con nước, đầm, ròng, xắn, v.v

- Nhóm từ tình thái: nghen, chớ, nầy, hả v.v

Nhóm từ tình thái này được nhà văn sử dụng để mang lại cảm giác nhẹ nhàng của người nói dành cho người nghe; những từ địa phương chỉ tình thái này còn mang lại hiệu quả bộc lộ cảm xúc sâu đậm của các nhân

vật trong tác phẩm Chẳng hạn: Đâu được, quyết định đó là chủ tịch ký

mà, chủ tịch mới biết chuyện để nói với tụi tui chớ [Tản mạn quanh cái

cổng, tr 92]

Cho nên anh về, đừng có từ chối mà không cạn ly rượu để cay xè,

cũng đừng trả giá nửa ly thôi, làm lòng bà con mình buồn nghen [Đất Mũi

mù xa, tr 15]

Trang 40

Các từ tình thái là chớ, nghen được tác giả sử dụng để tạo cảm giác nhẹ

nhàng, gần gũi cho câu nói, ngoài ra cũng nhằm mục đích nhấn mạnh hay thể hiện tình cảm khi câu kết thúc

Qua việc khảo sát, phân tích ở trên, chúng ta nhận thấy Nguyễn Ngọc

Tư không những có vốn từ địa phương phong phú, đa dạng mà điều đáng khâm phục ở nhà văn là đã rất am hiểu vốn từ điạ phương Nam Bộ, nơi chị sinh ra, lớn lên và bây giờ là nơi chị sống và sáng tác Ngoài việc sử dụng từ ngữ không tương đương với ngôn ngữ toàn dân, Nguyễn Ngọc Tư sử dụng rất nhiều từ biến thể tạo nên sắc thái rất Nam Bộ trong tạp văn của mình Đây chính là nét rất riêngvà độc đáo khi đi vào nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư

2.2.2 Các lớp từ tiêu biểu xét về mặt cấu tạo

2.2.2.1 Từ láy

a Khái niệm từ láy

Theo Đỗ Hữu Châu:“Từ láy là những từ được tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [15, 41]

Còn Hoàng Văn Hành định nghĩa:“Từ láy, nói chung, là những từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp vừa đối, hài hoà với nhau về âm và

về nghĩa, có giá trị biểu trưng hoá” [25, 27]

Chúng tôi dựa vào định nghĩa của Hoàng Văn Hành để khảo sát từ láy trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

b Từ láy trong Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

Trong tiếng Việt, từ láy có khả năng gợi hình, gợi cảm rất cao và tạo nên sự nhịp nhàng, uyển chuyển cho câu văn Nguyễn Ngọc Tư là một trong

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w