1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tảm văn của nguyễn trương quý

92 20 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 758,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Trương Quý đến với việc viết văn có lẽ như một sự tình cờ, trong khi những nhà văn khác miệt mài theo đuổi các thể loại khác như truyện ngắn, tuỳ bút, tiểu thuyết… thì anh lại chọ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH

ĐẶC ĐIỂM TẢN VĂN CỦA NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN, 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH

ĐẶC ĐIỂM TẢN VĂN CỦA NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN HỌC

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

3 Đối tượng nghiên cứu 7

4 Mục đích nghiên cứu 7

5 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát 7

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẢN VĂN VIỆT NAM SAU 1986 9

1.1 Giới thuyết khái niệm 9

1.1.1 Khái niệm tản văn 9

1.1.2 Đặc trưng nội dung và hình thức của tản văn

1.1.3 Phân biệt tản văn, tạp văn, tạp bút 11

1.2 Sự phát triển của tản văn trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 14

1.2.1 Những tiền đề lịch sử - xã hội của sự phát triển tản văn trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 14

1.2.2 Khái lược về sự phát triển của tản văn trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 17 1.3 Nguyễn Trương Quý - một cây bút tản văn đáng chú ý trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 22

1.3.1 Tiểu sử 22

1.3.2 Hành trình sáng tạo 24

Trang 4

1.3.3 Các thể loại sáng tác, các tác phẩm nổi bật 25

Chương 2 CÁI NHÌN VỀ ĐỜI SỐNG, CON NGƯỜI VÀ NHỮNG HÌNH TƯỢNG NỔI BẬT TRONG TẢN VĂN CỦA NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ 32

2.1 Cái nhìn về đời sống và con người trong tản văn Nguyễn Trương Quý 32

2.1.1 Khái niệm cái nhìn nghệ thuật 32

2.1.2 Đặc điểm cái nhìn về con người và đời sống của Nguyễn Trương Quý 33

2.2 Những hình tượng nổi bật trong tản văn Nguyễn Trương Quý 40

2.2.1 Nhìn chung về hệ thống hình tượng trong tản văn Nguyễn Trương Quý 40

2.2.2 Hình tượng giới chức văn phòng trong Ăn phở rất khó thấy ngon 41

2.2.3 Bức tranh Hà Nội đương đại trong Tự nhiên như người Hà Nội, Hà Nội là Hà Nội 48

2.2.4 Phương tiện sống của thị dân hiện đại trong Xe máy tiếu ngạo 51

2.2.5 Người trần thuật - một hình tượng độc đáo trong tản văn Nguyễn Trương Quý 59

Chương 3 NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU VÀ KẾT CẤU TRONG TẢN VĂN CỦA NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ 63

3.1 Ngôn ngữ trong tản văn Nguyễn Trương Quý 63

3.1.1 Cách sử dụng ngôn ngữ đời thường 63

3.1.2 Cách sử dụng ngôn ngữ khoa học 65

3.1.3 Cách sử dụng chi tiết, hình ảnh mô tả 67

3.2 Giọng điệu tản văn Nguyễn Trương Quý 69

3.2.1 Giọng giễu cợt, hài hước 70

3.2.2 Giọng phân tích rành rẽ, tỉnh táo 72

Trang 5

3.3 Kết cấu tản văn Nguyễn Trương Quý 74

3.3.1 Cách đặt tên văn bản 75

3.3.2 Cách mở đầu và kết thúc văn bản 76

3.3.3 Cách xây dựng, tổ chức hình tượng 79

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nguyễn Trương Quý tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội Vốn là một kiến trúc sư nhưng anh lại quyết định rẽ ngang sang viết báo, viết văn, dịch sách Nguyễn Trương Quý đến với việc viết văn có lẽ như một

sự tình cờ, trong khi những nhà văn khác miệt mài theo đuổi các thể loại khác như truyện ngắn, tuỳ bút, tiểu thuyết… thì anh lại chọn tản văn Lặng lẽ viết, từ năm 2002 đến nay, Nguyễn Trương Quý đã cho ra mắt

công chúng 6 tập tản văn: Tự nhiên như người Hà Nội (2004), Ăn phở

rất khó thấy ngon (2008), Hà Nội là Hà Nội (2010), Xe máy tiếu ngạo

(2012), Còn ai hát về Hà Nội (2013), Mỗi góc phố một người đang sống

(2015) Những tác phẩm của Nguyễn Trương Quý được độc giả đón nhận nhiệt tình Có những tập đã được tái bản nhiều lần và được đánh giá cao

Tản văn của Nguyễn Trương Quý khá đặc sắc trên nhiều phương diện nội dung cũng như hình thức Về nội dung, tác giả tập trung sự chú

ý của mình vào bức tranh đời sống và con người thị dân hiện đại Anh cũng quan tâm đến các vấn đề của kiến trúc, văn hóa… đô thị Đặc biệt, nhiều tác phẩm của anh đã tái hiện trước mắt người đọc một Hà Nội rất thực tế, rất gần gũi, rất đời thường Về hình thức, tản văn Nguyễn Trương Quý hấp dẫn người đọc bởi một lối viết linh hoạt, dí dỏm, giàu hình ảnh Tóm lại, đây là một cây bút có phong cách riêng, khá độc đáo trong văn xuôi Việt Nam đương đại, đặc biệt ở mảng tản văn

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về tản văn của Nguyễn Trương Quý Từ

Trang 7

những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Đặc điểm tản văn

của Nguyễn Trương Quý

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Cho đến nay, chúng tôi đã thống kê được một số bài viết trên các

tờ báo điện tử VnExpress, Văn hóa - Giải trí, Văn nghệ quân đội, An

ninh thủ đô… Các bài viết ấy đã đề cập đến một số phương diện nội

dung và nghệ thuật của tản văn Nguyễn Trương Quý

Trên trang phongdiep.net, ngày 13/5/2012 có bài phỏng vấn tác giả Nguyễn Trương Quý với tựa đề Xác lập một góc nhìn riêng Bài viết đã cho ta cái nhìn về một con người kiên trì, quyết tâm xác lập một giọng

riêng của chính mình trong văn chương: “Tản văn là thể loại được nhiều

tác giả tìm đến, nhưng với ý nghĩa như là sự giãn cách, thư giãn giữa những sáng tác truyện ngắn hoặc thơ Còn anh - đến bây giờ, với bốn tập tản văn đã được xuất bản - chứng tỏ sự kiên trì, và quyết tâm xác lập một

“giọng riêng” của Nguyễn Trương Quý trong văn chương” [68] Bài viết cũng cho ta thấy sức hấp dẫn, lôi cuốn độc giả của tản văn Nguyễn Trương Quý qua những câu chuyện đời thường của đời sống đô thị được khắc họa sinh động, sắc nét bằng giọng văn linh hoạt, trần trụi và hóm hỉnh

Trên trang báo mạng soi.today, ngày 26/06/2015 trong bài Nguyễn

Trương Quý: một khi bắt kịp Hà Nội, Tacob Gold, nghiên cứu sinh

ngành nhân chủng học Đại học Illinois, (người dịch tập Xe máy tiếu ngạo

ra tiếng Anh), đã nhận xét về tản văn của Nguyễn Trương Quý như sau:

“Tản văn như một cuộc du ngoạn được dẫn dắt qua không gian của hoài niệm, của ghi chép về xã hội, của những tham chiếu văn hóa sâu sắc và những sáng tạo hài hước pha cay đắng Những cuốn sách của Nguyễn

Trang 8

Trương Quý đưa chúng ta đến với Hà Nội, cho chúng ta có được cơ hội trở nên thông thạo nơi này cùng một trong những nhà quan sát sắc sảo nhất của nó” [90]

Trên trang báo điện tử VN Epress, bài viết của Dương Tử Thành

Nguyễn Trương Quý không có giới hạn cho tản văn, đã cho chúng ta

thấy thế mạnh của tản văn và sức mạnh len lỏi của nó vào mỗi ngóc ngách đời sống xã hội “Tôi nghĩ là chúng ta chưa thật sự khai thác hết thế mạnh của tản văn, thể loại có sức mạnh len lỏi vào mọi ngóc ngách các vân đề xã hội Không có giới hạn nào cho tản văn, và qua thời gian tản văn cũng đã thay đổi rất nhiều Tôi có đọc một số tập sách của các tác giả nước ngoài, họ gọi chung và essay, gồm những bài cùng kiểu tản văn như ta vẫn quan niệm, có cả những bài tỉ mỉ như tiểu luận và lại có những đoạn văn rất giàu chất thơ và suy tưởng” [79] Những vấn đề, cảnh tượng, sự việc được Nguyễn Trương Quý mang vào tản văn, cho thấy rõ sự am hiểu của anh đối với đời sống và con người đô thị hiện đại, đặc biệt là Hà Nội

Mặc dù đã có rất nhiều tác giả viết về Hà Nội thế nhưng Nguyễn

Trương Quý vẫn tìm ra cái để nói, để viết Tác giả Đậu Dung trên báo An

ninh thế giới với tiêu đề Nguyễn Trương Quý “biên niên” Hà Nội đã viết:

“Anh nhìn Hà Nội thông qua những cảm tình của nó với một hiện thực chồng lớp từ thời này sang thời khác mà ở đó các di chỉ văn hóa, những con người đã kiến tạo ra một vùng đất đặc biệt” [17]

Như vậy, điểm qua những ý kiến, những nhận định trên có thể thấy tản văn của Nguyễn Trương Quý còn là vấn đề rất mới, chưa được nhiều người nghiên cứu sâu Tuy nhiên những bài viết, nhận định trên là những gợi ý quan trọng giúp chúng tôi thực hiện đề tài này

Trang 9

3 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm tản văn Nguyễn Trương Quý

4 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu những đặc điểm của tản văn Nguyễn Trương Quý, qua đó chỉ ra những đóng góp nghệ thuật đáng chú ý của Nguyễn Trương Quý trong tản văn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Chỉ ra vị trí của tản văn Nguyễn Trương Quý trong dòng chảy tản

văn Việt Nam sau 1986

- Mô tả đặc điểm tản văn Nguyễn Trương Quý trên các phương diện: chủ đề, hình tượng, ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu…

5.2 Phạm vi văn bản khảo sát

Chúng tôi khảo sát sáu tập văn bản sau đây của tác giả Nguyễn Trương Quý:

- Tự nhiên như người Hà Nội (2004),

- Ăn phở rất khó thấy ngon (2008),

- Hà Nội là Hà Nội (2010),

- Xe máy tiếu ngạo (2012),

- Còn ai hát về Hà Nội (2013),

- Mỗi góc phố một người đang sống (2015)

Cả sáu tập sách trên đều do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp hệ thống cấu trúc

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

Trang 10

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn

được triển khai trong ba chương:

Chương 1 Nhìn chung về sự phát triển của tản văn Việt Nam sau

1986

Chương 2 Cái nhìn về đời sống, con người và những hình tượng

nổi bật trong tản văn của Nguyễn Trương Quý

Chương 3 Ngôn ngữ, giọng điệu và kết cấu trong tản văn của

Nguyễn Trương Quý

Trang 11

Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẢN VĂN VIỆT NAM SAU 1986

1.1 Giới thuyết khái niệm

1.1.1 Khái niệm tản văn

Cho đến nay, tản văn với tư cách một thể loại đã trở nên khá quen thuộc trong đời sống văn học Nhiều tác giả, tác phẩm tản văn ra đời thu hút sự chú ý của bạn đọc Tuy nhiên, với tư cách là một thuật ngữ khoa học, đến nay, đây vẫn là khái niệm chưa được minh định rõ ràng

Từ điển tiếng Việt định nghĩa về tản văn: 1 Văn xuôi 2 Loại văn

gồm các thể ký và các thể văn khác, ngoại truyện, thơ và kịch [65,857]

Từ điển Hán Việt, Đào Duy Anh định nghĩa: “Tản văn, văn xuôi

không có vần” [1, 233]

Từ điển thuật ngữ văn học viết: “Nghĩa đen là văn xuôi, nhưng

hiện nay tản văn được dùng để chỉ một phạm vi xác định, không hoàn toàn khớp với thuật ngữ văn xuôi Nếu văn xuôi trong nghĩa rộng chỉ loại văn đối lập với văn vần, và trong nghĩa hẹp chỉ các tác phẩm văn phân biệt với kịch thơ, bao gồm một phạm vi rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, ký, tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, tiểu phẩm, chính luận thì tản văn chỉ phạm vi văn xuôi hẹp hơn, không bao gồm các loại truyện hư cấu như tiểu thuyết, truyện ngắn Nó là một loại hình văn học ngang với thơ, kịch, tiểu thuyết Nhưng mặt khác tản

Trang 12

văn có nội hàm rộng hơn khái niệm ký, vì nội dung chứa cả những truyện ngụ ngôn hư cấu lẫn các thể loại văn xuôi khác như thư, hịch, cáo…” [28, 246-247]

Như vậy, thuật ngữ “tản văn” được dùng theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, tản văn chỉ tất cả những thể loại ngoài thơ

ca, bao gồm tác phẩm văn học và luận văn khoa học, văn bản hành chính công vụ Theo nghĩa hẹp, tản văn được dùng với ý nghĩa văn học thuần túy, là một thể loại văn học bên cạnh thơ ca, tiểu thuyết, kịch, thường gọi là “tản văn văn học” hoặc “tản văn nghệ thuật” Tản văn là thể loại văn học chú trọng việc ghi lại những gì đã trải qua, đã nghe thấy, cảm thấy, thể nghiệm liên tưởng của cái tôi hoặc ghi lại những câu chuyện, những trạng thái cảnh vật hoặc trữ tình hoài niệm;

là loại tác phẩm văn học giàu tính trữ tình, rộng rãi về đề tài, tinh túy

về nội dung, khuôn khổ tương đối nhỏ, ngôn ngữ tự nhiên mới mẻ, thủ pháp biểu hiện linh hoạt, văn phong sáng sủa Trong văn học hiện đại, tản văn gồm các thể ký, tuỳ bút, văn tiểu phẩm, văn chính luận, tạp văn, ngụ ngôn, chân dung văn học

Tóm lại, trên cơ sở những tài liệu khảo sát, chúng tôi hiểu tản văn

là một thể loại tác phẩm văn học tự sự, có đề tài đa dạng, rộng rãi, phong phú, cách thể hiện linh hoạt, phóng khoáng, có thể bao gồm nhiều phương thức thể hiện như trữ tình, tự sự, nghị luận… Trong một tản văn, việc miêu tả phong cách, khắc hoạ nhân vật, lẫn thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh Điều cốt yếu là tác phẩm tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa thẩm mỹ, văn hóa

- xã hội

Trang 13

1.1.2 Đặc trưng nội dung và hình thức của tản văn

Đặc trưng cơ bản của tản văn trước hết được xác định trong mối liên hệ so sánh giữa nó với các thể loại tự sự gần gũi như: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký… Theo Nguyễn Vĩnh Nguyên, ta thấy tản văn có một số đặc trưng cơ bản như sau:

“Về hình thức, tản văn có dung lượng ngắn gọn, hàm súc Đây

là một trong những ưu thế của tản văn, khi mà văn hoá đọc đang giảm dần thay vào đó là nhu cầu đọc nhanh, đọc nhiều, nhiều thông tin thì tản văn chính là thể loại đáp ứng được nhu cầu cá nhân của mỗi người Hình thức tản văn tự do phóng khoáng, không câu nệ các quy tắc về câu chữ, kết cấu

Về nội dung: Tản văn có phạm vi thể hiện khá phong phú, đa dạng, từ những vấn đề chính trị, xã hội mang tính thời sự nóng hổi đến những cảm xúc đời thường rất giản dị, gần gũi: Những vấn đề phản ánh trong tản văn thường được thể hiện dưới dạng một suy nghĩ khoảnh khắc riêng tư, một thoáng liên tưởng bất ngờ, độc đáo mang đậm dấu ấn cá nhân tác giả” [63, 138]

Đặc trưng tiếp theo của tản văn là có sự kết hợp giữa tính vấn

đề và tính cảm xúc: “Nếu như tính vấn đề được thể hiện thành công qua chất giọng nghị luận, triết lý sắc sảo thì tính cảm xúc lại được thể hiện qua giọng điệu trữ tình đằm thắm, nhẹ nhàng, thấm sâu vào lòng người, lan toả những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến” [63, 86] Như vậy khi viết một tác phẩm tản văn, thì tình cảm chân thành là điều rất cần thiết cho sự ra đời của những tác phẩm

Bên cạnh đó cũng phải kể đến tính đa dạng về dạng thức và đề tài Đề tài của tản văn rất là phong phú Đặc trưng cuối cùng của tản

Trang 14

văn là kết cấu rất tự do “Kết cấu của tản văn không chú ý vào “khai, thưa, chuyển hợp” như thơ ca mà thay vào đó là sự biểu hiện thông qua tưởng tượng cá nhân Đặc điểm tự đề trong kết cấu này của tản văn khiến người đọc có cảm giác tản mạn, đôi khi là lộn xộn không có trật tự” [63, 52]

Tản văn ít đòi hỏi sự chuẩn mực của truyện ngắn lại không có cái mô tả chi tiết của truyện dài Tản văn gần với tùy bút, tác giả viết bất cứ điều gì mà họ thích thú Tản văn có cái chất báo chí mà các thể loại truyện khác không có Không khí thời sự làm cho câu chuyện sống động hơn nhưng cũng chính vì vậy nên thời gian tính của tản văn lại trở thành vấn đề cho người viết Khó khăn của tản văn là cái chông chênh giữa tính chất thông tấn và cái chất văn chương ở thể loại này

Tản văn đòi hỏi một cái cấu trúc, một cái khả năng gọi là cấu tứ trong đó vì tản văn là một thể loại văn học Mỗi tản văn là một câu chuyện riêng khi mà tác giả có một giọng quen rồi thì rất dễ bị lặp lại Tản văn đòi hỏi người viết phải trường vốn, vốn sống, vốn viết

Trên đây là một số đặc trưng cơ bản của tản văn Để hiểu rõ hơn về khái niệm và sự phát triển của tản văn, chúng ta cần đặt nó trong sự phát triển của văn học Việt Nam đương đại

1.1.3 Phân biệt tản văn, tạp văn, tạp bút

Các khái niệm tản văn, tạp văn, tạp bút là những khái niệm chưa được minh định rõ ràng, còn được sử dụng lẫn lộn với nhau

Xét theo Từ điển thuật ngữ văn học thì hai khái niệm tản văn,

tạp văn đã được định nghĩa trong bộ từ điển, còn riêng khái niệm tạp

Trang 15

bút lại chưa được đề cập “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc hoạ nhân vật Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất khám phá, không nhất thiết đòi hỏi cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu từ độc đáo, có giọng điệu cốt cách cá nhân Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩa, mang đậm bản sắc cá tính của tác giả Tản văn là loại văn tự do, dài ngắn tuỳ ý, cách thể hiện đa dạng, đặc biệt là thể hiện nổi bật chính kiến và cá tính tác giả, có truyền thống lâu đời và sức sống mạnh mẽ” [28, 386] Còn khái niệm tạp văn được xác định như sau: “Tạp văn là những áng văn tiểu phẩm có nội dung chính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh

mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén, vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp thời các hiện tượng

xã hội” [28, 264] Ngoài ra tản văn và tạp văn còn được định nghĩa

trong các từ điển khác Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, Nxb Đà Nẵng, 1997) định nghĩa: “Tản văn là: 1 Văn xuôi 2 Loại văn gồm các thể

ký và các thể văn khác, ngoại truyện, thơ và kịch” [65, 887] Khái niệm tạp văn được xác định như sau: “Tạp văn là loại văn có nội dung rộng, hình thức không gò bó, bao gồm những bài bình luận ngắn, tiểu phẩm, tuỳ bút…” [65; 982]

Còn đối với khái niệm tạp bút, trong bách khoa toàn thư mở Wikipedia viết: “Tạp bút là một thể loại văn học gần giống như tạp văn hay tuỳ bút” Như vậy có thể thấy hai khái niệm tản văn và tạp văn là hai khái niệm khác nhau không có sự thống nhất, còn khái niệm tạp văn và tạp bút có sự thống nhất và thường đi liền với nhau

Trang 16

1.2 Sự phát triển của tản văn trong văn xuôi Việt Nam sau

1986

1.2.1 Những tiền đề lịch sử - xã hội của sự phát triển tản văn trong văn xuôi Việt Nam sau 1986

Sau hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống Pháp và chống

Mỹ, đất nước ta hoàn toàn thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà Nếu trong chiến tranh trọng trách của mỗi người là ý thức giữ gìn và bảo vệ non sông đất nước, hoàn thành sứ mệnh của lịch sử giao phó thì sau năm 1975 cuộc sống hoà bình đã trở lại, bài ca khải hoàn ấy đã

mở ra một kỷ nguyên mới, vận hội mới, nhiều tiềm lực mới được phát hiện trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, trong thời hậu chiến, dưới cơ chế quan liêu bao cấp kéo dài, chiến tranh biên giới phía Bắc, chính sách cấm vận của các nước thù địch khiến nhân dân cả nước lại phải tiếp tục đương đầu với những cam go thử thách mới, không kém phần khốc liệt

Năm 1986 là mốc quan trọng trong đời sống xã hội Việt Nam nói chung và đời sống văn học nghệ thuật nói riêng Đây là thời điểm ghi nhận sự đổi mới tư duy trên các lĩnh vực, trong đó có văn học nghệ thuật Không khí cởi mở, dân chủ của đời sống văn học tác động mạnh mẽ đến chủ thể sáng tạo, quan niệm mới về nhà văn, đến sự đổi mới trong cái nhìn nghệ thuật về hiện thực và con người, đến sự thay đổi thi pháp thể loại của các thế hệ nhà văn Ở thời kỳ này, nhu cầu nhận diện đúng khuôn mặt của đời sống được quan tâm và trở nên bức thiết Giai đoạn văn học sau 1986 có những đổi mới đem đến sự đổi thay trong nhận thức và sáng tác của văn nghệ sĩ Nghị quyết 05 của

Bộ chính trị về công tác hóa văn nghệ, cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư

Trang 17

Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987 đã thổi một luồng gió lớn vào đời sống văn học nước nhà Lúc này nhiệt tình đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật đã là những động lực tinh thần cho văn học của thời kì đổi mới phát triển mạnh mẽ, sôi nổi Như vậy, chủ trương đổi mới đã thổi luồng sinh khí mới, khơi dậy những sáng tạo trong giới trí thức, văn nghệ sĩ, tạo điều kiện cho văn học nói chung phát triển mang những tố chất mới so với thời kỳ trước

Chính vì sự thay đổi về lịch sử, kinh tế như trên đã dẫn tới sự thay đổi về quan niệm trong văn học… Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp, Viện trưởng Viện Văn học, có viết: “Sự nghiệp đổi mới đã diễn

ra vài chục năm, nhưng với vài chục năm ấy, ai cũng nhận thấy thành quả, đổi mới là hết sức rõ nét Việt Nam đã vượt qua khủng hoảng để phát triển, thế và lực được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện một bước, tinh thần dân chủ được mở rộng… Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, sự nghiệp đổi mới, niềm say mê mới Nhìn một cách tổng thể, nhận thức của nhà văn về bản chất sáng tạo nghệ thuật được nâng cao hơn, ý thức cầm bút sâu sắc hơn, những tìm tòi đổi mới về phương thức thể hiện được khuyến khích Theo đó, văn học thời kỳ đổi mới là một thực thể đa dạng, phong phú, thấm đầy tinh thần nhân văn hiện đại…” [20, 37]

Văn học thời kỳ đổi mới quan niệm con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là “tổng hoà các mối quan hệ xã hội” Dưới ống kính soi chiếu này con người trong văn học Việt Nam sau 1986 hiện lên rất phức tạp, là sự xen cài nhiều tính cách khác nhau trong một con người

Đề tài chiến tranh được quan tâm khai thác trong một tư duy mới, nó

Trang 18

hiện lên không chỉ có màu hồng mà còn chứa đựng nhiều bi kịch đau thương và mất mát Quan niệm về con người trong văn học sau 1986

là một quan niệm đầy biện chứng Con người hiện lên như vốn có, không thần thánh hoá, không lý tưởng hoá Họ được đặt trong bầu không khí ngổn ngang của hiện thực, sự xô bồ của thời kinh tế thị trường Với sự đổi mới về tư duy, quan niệm dẫn đến những đổi thay trong phương diện cảm hứng Hầu hết các nhà văn đều quan tâm đến cảm hứng thế sự, cảm hứng chiêm nghiệm quá khứ, cảm hứng thân phận con người… Đây là những cảm hứng mới chiếm ưu thế trên văn đàn giai đoạn Đổi mới

Sự chuyển động mạnh mẽ của văn học trong bối cảnh sau 1986 được ghi nhận trước hết ở văn xuôi Những thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn quen thuộc trong văn học Việt Nam đều tìm đến sự tìm tòi sáng tạo trong tác phẩm Điều đó làm cho tác phẩm thu hút bạn đọc nhiều

hơn Một số tiểu thuyết tiêu biểu như Thời xa vắng của Lê Lựu, Thân

phận tình yêu của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng…

Một số tác phẩm truyện ngắn tiêu biểu như Tướng về hưu, Con gái

Thủy thần, Huyền thoại phố phường… của Nguyễn Huy Thiệp… Về

thơ, cũng xuất hiện nhiều gương mặt khá nổi bật của thời kỳ Đổi mới như Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn,… Bên cạnh đó, nhiều thể loại khác cũng rất phát triển như ký sự, phóng sự, tản văn… Thể loại ký sự, phóng sự cũng là thể loại có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam đương đại Một số tác

phẩm gây nhiều ấn tượng mạnh như Cái đêm hôm ấy… đêm gì của Phùng Gia Lộc, Câu chuyện về một ông “cốp” của Nhật Linh, Người

đàn bà quỳ của Xuân Ba, Lời khai của bị can của Trần Huy Quang, Làng giáo có gì vui? của Hoàng Minh Tường, Thủ tục để làm người

Trang 19

còn sống của Minh Chuyên… Những tác phẩm này thường được nhắc

đến như những trường hợp tiêu biểu, một thành quả của đổi mới ở thể loại ký sự, phóng sự

Dường như sự đổi mới về tư tưởng và quan niệm sáng tác văn học đã có sự chi phối không hề nhỏ đến sự phát triển của thể loại tản văn Đây là thể loại phát triển trong thời kỳ đổi mới và hội nhập Tuy chưa được đề cao như truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ nhưng tản văn là thể loại đã thu hút đông đảo đội ngũ sáng tác và công chúng yêu văn học Tản văn sau 1986 không chỉ đơn thuần viết về những sự kiện đời sống bình thường mà đã có những thay đổi mới, nhiều tác giả đã sử dụng tản văn đề cập những vấn đề xã hội nhức nhối, sử dụng hình thức tản văn để bình luận, phê phán, lật xới phơi bày những góc khuất, mặt tối của hiện tồn Sự thay đổi về tư tưởng, quan niệm đã làm thể loại tản văn phát triển khởi sắc

1.2.2 Khái lược về sự phát triển của tản văn trong văn xuôi Việt Nam sau 1986

Trong dòng chảy của văn xuôi Việt Nam hiện đại, nói đến tản văn, người ta thường nhắc đến những tên tuổi nổi tiếng như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Băng Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường… Sau 1986, tản văn xuất hiện phổ biến hơn và trở thành một trong những thể loại chủ đạo trong văn học Cùng với sự xuất hiện chuyên mục tản văn trên các tờ báo, việc có nhiều sách tản văn phát hành đánh dấu sự khởi sắc của thể loại này Tản văn trong thời kỳ này đã thu hút khá đông đảo cây bút sáng tác Có khá nhiều tác giả, tác phẩm tản văn ra đời trong giai đoạn này Mỗi tác giả đều có một cách nhìn hiện thực đa dạng, nhiều chiều, thể hiện mối quan hệ đa dạng, nhiều

Trang 20

chiều, của nhà văn với hiện thực Có thể kể đến một số tác giả tiêu

biểu về thể loại tản văn như: Nguyễn Ngọc Tư với các tác phẩm Ngày

mai của những ngày mai, Yêu người ngóng núi, Đong tấm lòng; Phan

Thị Vàng Anh với tác phẩm Nhân trường hợp chị Thỏ Bông; Dạ Ngân với tác phẩm Buổi chiều tản mác, Phố của làng, Gánh đàn bà; Nguyễn Việt Hà với các tập Đàn bà uống rượu, Nhà văn thì chơi với ai, Mặt

của đàn ông… Những nội dung chủ đề được phản ánh trong các tập

tản văn của những cây bút sau 1986 khá đa dạng, phong phú Nhiều tác phẩm tản văn tập trung phản ánh những vấn đề chính trị xã hội Các nhà văn như Dạ Ngân, Phan Thị Vàng Anh và Nguyễn Ngọc Tư,… đã mạnh dạn thể hiện cái tôi công dân bằng những suy ngẫm, chính kiến, những góc độ phản ánh, bình luận về hiện thực về một bộ phận chính quyền nhà nước ta đã thờ ơ, vô trách nhiệm trước quyền lợi cơm áo của người dân Bên cạnh đó tản văn còn phản ánh những vấn đề văn hoá giáo dục Hầu hết các lĩnh vực trong đời sống văn hoá, giáo dục như ngành giáo dục, y tế, nghệ thuật… đều được các tác giả phản ánh từ nhiều góc độ khác nhau

Một trong những tác giả tản văn đáng chú ý sau 1986 là Nguyễn Ngọc Tư Tác giả đã khẳng định mình ở tản văn với các tác phẩm:

Ngày mai của những ngày mai, Yêu người ngóng núi, Đong tấm lòng

Tản văn của Nguyễn Ngọc Tư là một khoảng lặng, dung dị và nhẹ nhàng Những mẩu viết của chị gợi những nỗi buồn có thể gọi tên, những tản mạn từ ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư vẫn tạo được cảm xúc thẩm mỹ Vẫn là giọng điệu thủ thỉ tâm tình của nhà văn vùng đất mũi

về những câu chuyện nhỏ xíu quanh mình Hình ảnh người nông dân thuần hậu hiện lên một cách đẹp đẽ, đầy yêu thương Bằng giọng điệu nhỏ nhẹ của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên một dư vị đậm sâu

Trang 21

trong lòng độc giả Nguyễn Ngọc Tư viết về người nông dân bằng thái

độ yêu thương, đồng cảm, trân trọng

Phan Thị Vàng Anh cũng là một tác giả tản văn nổi bật khi mang đến cho bạn đọc bức tranh về đời sống hiện tại Phan Thị Vàng Anh không ngại mổ xẻ chính cảm xúc của mình để mang những vấn đề nóng của xã hội vào tản văn, đem lại cho người đọc những nhận thức mới, tỉnh táo về con người và đời sống đương đại Với giọng văn đầy chất giễu nhại Vàng Anh đã đánh động được nhiều vấn đề đời sống cần trăn trở, ngẫm suy

Mỗi nhà văn có một cá tính sáng tạo riêng, một cái tôi riêng và một phong cách thể hiện riêng Khi nhắc tới Nguyễn Quang Lập ta

nghĩ ngay tới ba tập tản văn Chuyện đời vớ vẩn, Ký ức vụn, Bạn

văn Đây là ba tập tản văn tiêu biểu viết về chuyện đời, chuyện

người bằng cái nhìn nghệ thuật riêng biệt đã thực sự khẳng định v à

tô đậm cái nhìn sáng tạo của nhà văn Nguyễn Quang Lập đã xây dựng hình tượng những con người đời thường từng hiện hữu trong cuộc sống của nhà văn Những hình tượng ấy đã tạo nên những câu chuyện trong các tác phẩm tản văn như một thước phim ký ức về những cuộc đời, những con người quay chậm trong đầu nhà văn Đằng sau những trang viết của Nguyễn Quang Lập luôn sáng lên tình người, tình đời

Một số nhà văn đã gây dựng được tên tuổi trên văn đàn đương đại cũng gặt hái nhiều thành công khi chuyển sang viết tản văn

Nguyễn Việt Hà nổi tiếng với những tiểu thuyết như Khải huyền

muộn, Cơ hội của Chúa, đã gây được sự chú ý với những bài tản văn

riêng lẻ đăng trên tạp chí Sau các tập tản văn Mặt của đàn ông,

Trang 22

rồi Đàn bà uống rượu, tới 2013 anh lại tiếp tục cho ra mắt Con giai

phố cổ Tản văn Nguyễn Việt Hà chinh phục độc giả bởi sự đa dạng

trong đề tài, những phát hiện tinh tế, thông minh, dí dỏm và triết lý mang đặc trưng tinh thần đường phố hòa quyện với các tra cứu Đông Tây kim cổ

Không ít tác giả đã khẳng định tên tuổi bằng tản văn và thành công chỉ với tản văn như Nguyễn Trương Quý Những trang viết về

Hà Nội của Nguyễn Trương Quý trong Ăn phở rất khó thấy ngon,

Hà Nội là Hà Nội, Tự nhiên như người Hà Nội đã được tái bản

nhiều lần Tập tản văn Xe máy tiếu ngạo của anh cũng gây ấn tượng

bởi những kiến thức, suy tưởng về thời đại xe máy Năm 2013,

Nguyễn Trương Quý mới cho ra mắt tập truyện ngắn đầu tay Dưới

cột đèn rót một ấm trà, đồng thời tập tản văn Còn ai hát về Hà Nội cũng ra đời, thỏa lòng mong đợi của những người yêu tản văn

Nguyễn Trương Quý

Gần đây, một số tác giả trẻ tuổi cũng viết nhiều tản văn và xây dựng được “thương hiệu” riêng với thể loại này

Cấn Vân Khánh từng có nhiều tập truyện ngắn như Chàng hề của

em, Hạnh phúc mơ hồ, Khi nào anh thuộc về em, Hoa hồng và rượu vang, Vết son trên môi anh Tới 2013, tác giả xuất bản tập tản

văn Lỗi tại đàn ông Những trang viết thể hiện suy tư của tác giả xoay quanh đề tài quen thuộc: phụ nữ và cuộc sống Thương nhau để đó là

tập tản văn viết chung của Hamlet Trương và Iris Cao phát hành cuối năm 2012 được độc giả trẻ yêu thích Đó là động lực khiến hai tác giả tiếp tục viết và phát hành những cuốn tản văn riêng Hamlet Trương

tiếp tục cho ra mắt Tay tìm tay níu tay vào cuối tháng 6, tới tháng 9 đã

Trang 23

tái bản Iris Cao cũng cho ra mắt Người yêu cũ có người yêu mới vào

đầu năm 2014

Tác giả Nguyễn Ngọc Thạch, cây bút từng gây tiếng vang với

tiểu thuyết Đời Callboy, chấp bút cho tự truyện Chuyển giới, truyện dài kinh dị Lòng dạ đàn bà… cũng gây chú ý với tập tản văn Chênh

vênh 25 Các bài viết trong sách giống như những ghi chép nhỏ

trong một cuốn sổ, bình dị, gần gũi nhưng để lại nhiều suy ngẫm với người đọc

Phan Ý Yên cũng là một cây bút quen thuộc của độc giả tuổi teen

Tác giả giới thiệu Tình yêu là không ai muốn bỏ đi gồm 27 tản văn và

8 truyện ngắn Các trang viết mang đậm màu sắc hoài niệm về tình bạn, tình yêu với nhiều ngọt ngào, da diết giúp Phan Ý Yên chinh phục thêm nhiều độc giả

Tập sách Ngày trôi về phía cũ của Anh Khang sau một năm phát

hành, tới tháng 9/2013 đã tái bản lần thứ tư với 20.000 cuốn được bán

Trong Top 10 cuốn sách bán chạy năm 2013 của Tiki - đơn vị phát hành sách lớn trên mạng, cuốn tản văn Thương nhau để đó đứng ở vị trí thứ ba, còn Ngày trôi về phía cũ đứng thứ chín Ngày 18/1/2013, tác giả Iris Cao phát hành tập tản văn Người yêu cũ có người yêu mới

Ngay lập tức sách đã đứng số một trong danh sách Sách bán chạy nhất

tháng của Vinabook

Có lẽ thể loại tản văn đang được đông đảo người đọc lựa chọn bởi tính ngắn gọn của nó Không những thế, những đòi hỏi của thể loại như tính phát hiện, những hình ảnh, chiêm nghiệm cũng là một món

ăn tinh thần phù hợp, giúp độc giả có phút sống chậm lại trong nhịp xã hội hối hả ngày nay

Trang 24

Trong sự phát triển, nở rộ, thể loại tản văn ngày nay cũng đã hình thành những đặc trưng riêng Các tác giả thường nhẩn nha đi vào chiều sâu các vấn đề mang tính xã hội, lịch sử, văn hoá, mang tới những cảm xúc lãng mạn trong tình bạn, tình yêu, cảm thức của người trẻ Tuy vậy, dù sâu sắc hay lãng đãng, các câu chuyện vẫn quanh quẩn đời sống đô thị, rất ít những bài viết hay về các vùng quê, miền núi như các trang viết mà Nguyễn Tuân, Băng Sơn để lại

Tóm lại, tản văn sau 1986 đã có những bước phát triển vượt bậc Nhiều tác giả đến với thể loại tản văn cho ra đời nhiều tác phẩm xuất sắc, để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng bạn đọc

1.3 Nguyễn Trương Quý - một cây bút tản văn đáng chú ý trong văn xuôi Việt Nam sau 1986

1.3.1 Tiểu sử

Nguyễn Trương Quý sinh năm 1977, sinh ra và lớn lên ở Hà Nội Tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội, nhưng Nguyễn Trương Quý không đi theo con đường mà anh đã học, lại quyết định rẽ sang viết báo, viết văn và đọc sách Anh làm biên tập viên tại Nhà xuất bản Trẻ Trong quá trình làm việc ở đây Nguyễn Trương Quý đã cho ra đời sáu tập tản văn và một tập truyện ngắn Những tác phẩm này đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc, đặc biệt là thể loại tản văn Đây là thể loại tạo nên sự thành công cho anh Tản văn của Nguyễn Trương Quý tập trung vào đề tài cuộc sống, con người, đô thị của Hà Nội Mỗi tập tản văn là một sự ghi chép tỉ mỉ về Hà Nội của Nguyễn Trương Quý Bên cạnh đó, Nguyễn Trương Quý còn tham gia dịch sách Một số tác

phẩm anh tham gia dịch gồm: Hà Nội và Rumba Cửu Long - câu

Trang 25

chuyện âm nhạc Việt Nam của Jason Gibbs (2008), Chuyến tàu mang tên Dục vọng của Tennesse William (2011)

Tập sách đầu tiên của Nguyễn Trương Quý, Tự nhiên như

người Hà Nội, giới thiệu với bạn đọc những nét đặc trưng về Hà Nội

với những nội dung như: Phố cổ, Hồ Gươm trong không gian Hà Nội; Hà Nội: Văn hoá công viên; Hà Nội: Chợ trong chợ; Hà Nội nhìn

từ các đô thị vùng Bắc Bộ; Tự nhiên như người Hà Nội; Giới trẻ Hà Nội và vòng vây giải trí là những quan sát về hình thái đô thị như một loại "hồ sơ kiến trúc"

Cuốn thứ hai, Ăn phở rất khó thấy ngon, tác giả cho thấy:

không có nhiều biến động, chừng ấy mong muốn, chừng ấy nhu cầu

và chừng ấy hành động Bề ngoài là như vậy, song với bản tính đa

sự của mình, những dân văn phòng này lại phức tạp về chuyện nghĩ ngợi nhất trong xã hội Tác phẩm xoay quanh các vấn đề cuộc sống văn phòng được thể hiện bằng giọng văn vừa thâm sâu vừa dí dỏm lột tả gần như hết sự thật ở cái nơi mà người ta chỉ dùng một từ

con người sống trong đô thị ấy, tập trung vào giới viên chức văn phòng với các thói tật và hành vi

Cuốn thứ ba, Hà Nội là Hà Nội, như tên gọi của nó, là cuộc tìm

kiếm những giá trị thực sự, lâu đời ở một thành phố tưởng chừng như

đã định hình trong mình những nét văn hóa song vẫn phải liên tục gọt giũa Chất Hà Nội thì ai cũng nghĩ tốt đẹp toàn phần, nhưng sự đời không đơn giản thế Hành trình tìm kiếm của tác giả không chỉ loanh quanh 36 phố phường hay mấy quận nội thành, mà trải dài trên những

Trang 26

cột mốc Cách Hà Nội 10, 50, 100, 1000 cây số, người viết lại thấy rõ hơn nhiều điều về nơi anh ta sinh ra “Nhiều khi thấy lắm nơi cũng có những thứ giống Hà Nội đến lạ Ở những nơi xa xôi thế, vẫn có những người đã từng ở Hà Nội hay tình cờ ghé qua mà để lại dấu ấn văn hóa ” [68]

Cuốn mới nhất, Xe máy tiếu ngạo, “là rất nhiều chuyện xoay quanh cái xe máy: chuyện đi xe máy “như một cảm hứng” , như một thú chơi đã có từ lâu ở trời Âu Mỹ rồi đến ở ta; xe máy có “số má”, số

má là biển số đẹp, số tiến số lùi mang số mệnh…; xe máy có “đời”, và

có “thời”: từ lúc là thước đo giá trị giàu nghèo của anh trong xã hội đến lúc không còn là ngôi vô địch nữa; chuyện sửa xe máy từ chỗ sợ

bị “luộc” đến khi thợ và chủ xe thành bạn tâm giao; chuyện buôn bán,

và nhất là văn hóa đi xe máy - một chuyện nhức nhối, nói như tác giả, "phương tiện thay đổi hành vi, việc cải thiện tốc độ của xe máy đã

cuộc khảo sát văn chương về phương tiện như xe máy của dân thành phố, cũng ghi lại đậm nét thêm những hành vi và lối sống của người

đô thị, ghi lại những gì quan sát và trải nghiệm về "đối tượng Hà Nội" cũng là sự đánh dấu các giai đoạn phát triển khác nhau của ngòi bút tác giả

Hiện Nguyễn Trương Quý đang là biên tập viên của Nhà xuất bản Trẻ

1.3.2 Hành trình sáng tạo

Quyết định rẽ sang viết văn, dịch sách có lẽ là một quyết định đúng đắn của Nguyễn Trương Quý Những tập tản văn của Nguyễn Trương Quý lần lượt ra đời đều được độc giả đón nhận nhiệt tình

Trang 27

Những cuốn sách của anh được tái bản nhiều lần, điển hình như cuốn

Tự nhiên như người Hà Nội (tái bản đến bảy lần) Vì vậy mà cứ mỗi

lần nhắc đến Nguyễn Trương Quý, người ta lại nhớ đến một ngòi bút gắn liền với những điều thân quen về Hà Nội

Tập tản văn đầu tiên của Nguyễn Trương Quý là tập Tự nhiên

như người Hà Nội (2004) Đây là tập tản văn đánh dấu bước khởi

đầu cho Nguyễn Trương Quý Hà Nội là đề tài xuyên suốt các sáng

tác của Nguyễn Trương Quý Tập tản văn tiếp theo đó là Ăn phở rất

khó thấy ngon (2008) và lần lượt đều đặn các năm sau Nguyễn

Trương Quý cho ra đời liên tiếp các tập tản văn Hà Nội là Hà Nội (2010), Xe máy tiếu ngạo (2012), Còn ai hát về Hà Nội (2013), Một

góc phố một người Hà Nội đang sống (2015) Bên cạnh các tập tản

văn, vào năm 2013 Nguyễn Trương Quý cho ra đời tập truyện ngắn

Dưới cột đèn rót một ấm trà Đây cũng thể hiện khả năng phong phú

của Nguyễn Trương Quý Anh không ngại tìm tòi thử thách với thể loại mới

1.3.3 Các thể loại sáng tác, các tác phẩm nổi bật

Nguyễn Trương Quý là một cây bút trẻ đầy năng động và năng lượng Cho đến nay Nguyễn Trương Quý đã cho ra đời sáu tập tản văn và một tập truyện ngắn Trong các tác phẩm đó có một số tác

phẩm nổi bật như Tự nhiên như người Hà Nội, Hà Nội là Hà Nội, Ăn

phở rất khó thấy ngon Hà Nội được tái hiện trong từng trang viết của

anh Mỗi tác phẩm mang đến cho bạn đọc một dư vị riêng về Hà Nội

Cuốn Tự nhiên như người Hà Nội là tác phẩm đầu tiên của anh Đây

là cuốn tản văn thành công nhất của ngòi bút này Nó được tái bản bảy lần, đánh dấu sự thành công của tác giả với thể loại tản văn

Trang 28

Cuốn tản văn này cho thấy sự am hiểu chi tiết của Nguyễn Trương Quý về hình thái đô thị của Hà Nội, về phố cổ, Hồ Gươm, những kiểu kiến trúc đền chùa, công viên, vườn hoa… Những cuốn tản văn tiếp

đó, dù khai thác ở những góc độ khác nhau nhưng tất cả đều viết về

Hà Nội

Trong cuốn tản văn Hà Nội là Hà Nội, Nguyễn Trương Quý

đã cho người đọc cảm nhận Hà Nội qua những nét đẹp về văn hoá, đời sống, con người Hà Nội Cuốn tản văn đó làm tăng thêm vẻ đẹp bức tranh Hà Nội Bức tranh Hà Nội được Nguyễn Trương Quý xây dựng khá tỉ mỉ và đặc sắc Dường như những nét đẹp của Hà Nội đều được Nguyễn Trương Quý mang vào tác phẩm của mình Anh

đã cho người đọc thấy được những đặc trưng về Hà Nội về mặt kiến trúc đô thị “Hà Nội dù đã và đang phát triển theo hướng hiện đại, nhưng vẫn là một thành phố rất sống động Ngay cả đối với những

vị khách du lịch nước ngoài lạ lẫm, khi đặt chân đến Hà Nội, họ có thể “quăng” bản thân vào cái “mớ bòng bong” ồn ào này một cách rất dễ chịu và thôi thúc họ khám phá Cái mà họ thích nhất vẫn là những khu phố cổ, hệ thống buôn bán vỉa hè, nó cho thấy một sức sống ghê gớm của một Hà Nội “kẻ chợ” Và Hà Nội vẫn còn những nơi mà mình có thể ngồi thảnh thơi, ngắm ra một góc phố, mặt hồ hay những tòa biệt thự cũ có màu vàng rất đặc trưng, cái không khí rất Hà Nội” [69]

Trong cuốn Xe máy tiếu ngạo, phương tiện đi lại của người Hà

Nội chính là đối tượng mô tả, phản ánh Thông qua những phương tiện mà người dân sử dụng như những loại xe máy honda, vespa… nhà văn đã cho người đọc thấy được thói quen về đời sống sử dụng

Trang 29

phương tiện đi lại của người dân Hà Nội Xe máy tiếu ngạo đem đến

cho độc giả một cái nhìn tươi mới qua những vấn đề đời thường như chuyện xe máy, đời sống đô thị, hàng quà vặt, ngõ ngách đường phố Chứa đựng đằng sau là cuộc lý giải sự biến đổi hành vi của con người

đô thị thông qua tác động của phương tiện như xe máy và môi trường

sống Trong Trăm năm xe máy, tác giả cũng thử đưa ra một khảo sát

xem gần 100 năm qua từ khi xuất hiện ở Việt Nam: “Năm 1922 chính quyền thuộc địa Nam Kỳ ban hành “Điều lệ mới các chủ xe hơi, xe máy, các thứ xe nhứt là sốp-phơ cần phải biết”, trong đó xếp

“xe máy hơi hai bánh” và “xe đạp có tra máy” chung quy định với

xe hơi Các xe này được quy định cho chở 150kg” [69, 78] Nhưng:

“Đến năm 2015, tàu điện ngầm dự kiến đi vào hoạt động ở thành phố Hồ Chí Minh Năm 2016, tàu điện ngầm dự kiến hoạt động ở Hà Nội” [70, 96] Xe máy đã ảnh hưởng đến cuộc sống người Việt ra sao, và số phận của nó liệu có chấm dứt trong thời gian sắp tới không: “Năm 2022, xe máy không còn ở thành phố lớn của Việt

Nam” [70, 96] Đọc Xe máy tiếu ngạo để thấy chúng ta cũng là những

thủ phạm tức cười của một cuộc sống tốc độ bất đắc dĩ

Còn cuốn Ăn phở rất khó thấy ngon là cuốn tản văn miêu tả về

đời sống giới chức văn phòng nơi đô thị Mọi người vẫn nghĩ những người đi làm công sở là một khối người không có nhiều biến động, chừng ấy mong muốn, chừng ấy nhu cầu và chừng ấy hành động:

“Như vậy, đời một người đi làm từ khi 25 tuổi đến năm 55 tuổi, 30 năm ấy biết bao nhiêu tình nơi văn phòng Dù muốn hay không, văn phòng trở thành một “phần tất yếu của cuộc sống”, nhiều tẻ nhạt, chán chường nhưng đôi khi cũng có những niềm vui: niềm vui tăng lương, niềm vui thắng độ bóng đá MU-Arsenal đêm qua, niềm vui

Trang 30

trúng quả dự án, niềm vui thấy cái tay mình ghét bị sếp khiển trách…” [68, 11] Nhưng với bản tính đa sự của mình, những dân văn phòng này lại phức tạp về chuyện nghĩ ngợi nhất trong xã hội: “Dân văn phòng sống nhiều thì giờ tại công sở nhất thì tự nhiên nhiễm bệnh nghề nghiệp, mang lối sống, cách suy nghĩ nơi làm việc vào các chuyện khác Ấy là cũng có nỗi sợ ám ảnh, ở đây là chuyện không vừa Các thể loại sợ không vừa: không vừa quần áo, không vừa mắt người khác, không vừa ý sếp, không vừa yêu cầu công việc, không vừa với môi trường xung quanh” [68, 16]

Nguyễn Trương Quý đã lột tả hết những đặc trưng về “dân tám tiếng” “Hai mươi sáu bài viết của tập sách đề cập và xoay quanh các vấn đề cuộc sống văn phòng được thể hiện bằng giọng văn vừa thâm sâu vừa dí dỏm lột tả gần như hết sự thật ở cái nơi mà người ta chỉ dùng một từ dành cho nó “chán” Mọi người vẫn nghĩ những người đi làm công sở là một khối người không có nhiều biến động, chừng ấy nhu cầu và chừng ấy hành động Bề ngoài là như vậy, song với bản tính đa sự của mình, những dân-văn-phòng này lại phức tạp

về chuyện nghĩ ngợi nhất trong xã hội Nói đến đời sống văn phòng

là người ta hay nghĩ đến từ “chán” Và mỗi người làm công sở mở rộng ra là có một từ “chán” Một dàn đồng ca “chán” như vậy dễ khiến chúng ta hoảng hốt: không lẽ đời sống công sở lại u ám vậy sao?” [34] Cuộc sống của họ xoay quanh bởi những thứ vụn vặt trong cuộc sống

Cuốn tản văn này tràn ngập tiếng cười hóm hỉnh Tiếp đó là

hai cuốn tản văn ra đời muộn hơn như Một góc phố một người đang

sống, Còn ai hát về Hà Nội Chúng cũng tiếp tục cảm hứng viết về

Trang 31

Hà Nội, viết về con người với những đức tính, thói quen, lối sống của mình phố phường với mỗi người dân Hà Nội Những trang đầu của cuốn sách mang lại cho bạn cảm giác như tác giả sắp sửa đưa ra một khảo cứu dài hơn về lịch sử những người viết thơ ca về Hà Nội Tuy nhiên, bạn sẽ sớm nhận ra đó không phải là mục đích chính của Nguyễn Trương Quý Anh như tự phổ nhạc vào cuốn sách của mình qua việc giới thiệu các nhạc sĩ đã tạo ra “văn hóa” âm nhạc đất kinh kỳ: Văn Cao, Đoàn Chuẩn - Từ Linh, Đặng Thế Phong, Phạm Duy, Phú Quang… và nhiều cái tên khác Trước mỗi tác giả, Nguyễn Trương Quý lại đưa ra một cảm nhận rất cá nhân, mô tả lại sự đồng điệu giữa anh, một con người Hà Nội với những người viết về Hà Nội

Cuốn sách của Nguyễn Trương Quý tràn đầy xúc cảm với những bình luận giản dị mà hóm hỉnh Những bài viết ngắn vừa đủ cho chúng ta đọc nhanh khi ngồi chờ tới lúc lên máy bay, trong giờ nghỉ trưa hay trước khi đi ngủ, nhưng phần dư âm của chúng để lại trong ta lại đủ dài, đưa ta về lại với những giai đoạn đã qua của Hà Nội Những bài hát không chỉ là những bài hát, đó là dấu ấn về đời sống tinh thần của con người ở một vùng đất đã đi qua nhiều biến động và đổi thay

Dưới cột đèn rót một ấm trà là tập truyện ngắn đầu tay của

Nguyễn Trương Quý với 15 truyện “Tác giả tự cho rằng đây là

“những câu chuyện về dục vọng, ham muốn và niềm tin của những người trẻ trong một đô thị bề bộn” Có nét hài hước thường thấy của Nguyễn Trương Quý, nhưng đặc biệt, đó là sự xù xì, gai góc và các tình huống được xử lý một cách thông minh, táo bạo Mỗi câu chuyện

Trang 32

là những lát cắt trong quan hệ cuộc sống - một cuộc ly hôn chóng vánh như đùa của một đôi vợ chồng mới cưới bởi một lý do rất mơ hồ và chẳng ai thực sự chia sẻ với nhau họ đang nghĩ gì, muốn gì Quan hệ hôn nhân của giới trẻ bây giờ nhiều khi lỏng lẻo và thật dễ tổn thương

Đó là chuyện những cô gái cuốn vào xu hướng lấy Tây để hy vọng vào một cuộc sống mới ở một đất nước hiện đại hơn Đó là chuyện về một buổi họp lớp, một bữa đi ăn tiệc và mỗi người đi tìm kiếm sự đồng cảm, chia sẻ trong nỗi cô đơn” [89] Nguyễn Trương Quý cũng

đã phô ra cho ta thấy những mảng màu của cuộc sống đô thị đương đại Mặc dù chưa thật sự thành công như tản văn nhưng truyện ngắn này vẫn được độc giả đón nhận rất nhiệt tình Dấu ấn về Hà Nội vẫn đậm nét trong từng câu chữ của tập truyện Đời sống, con người Hà Nội hiện lên đầy màu sắc

Tản văn đóng một vai trò quan trọng trong sáng tác của Nguyễn Trương Quý Tản văn là thể loại tạo nên dấu ấn riêng cho tác giả và không lạ khi nhắc đến Nguyễn Trương Quý, người ta sẽ nhớ ngay đến những tác phẩm tản văn Nguyễn Trương Quý nói “không có giới hạn nào cho tản văn”, anh say mê với tản văn và tỉ mỉ từng chi tiết với nó Dường như tản văn là một phần không thể thiếu trong sáng tác của Nguyễn Trương Quý Nguyễn Trương Quý đã miệt mài với chính những đứa con tinh thần của mình

Tiểu kết chương 1

Cho đến nay, tản văn với tư cách một thể loại đã trở nên khá quen thuộc trong đời sống văn học Nhiều tác giả, tác phẩm tản văn ra đời thu hút sự chú ý của bạn đọc Tản văn là một thể loại văn học bằng văn xuôi có đề tài hình thức đa dạng, đề tài rộng rãi, phong phú,

Trang 33

không bị hạn chế của thời gian và không gian Cách thể hiện đa dạng,

không câu nệ và rất phóng khoáng

Nguyễn Trương Quý là một cây bút tạp văn đầy triển vọng Tản văn của Nguyễn Trương Quý tập trung vào đề tài cuộc sống, con người, đô thị của Hà Nội Mỗi tác phẩm mang đến cho bạn đọc một dư

vị riêng về Hà Nội Hà Nội hiện lên là những cái xưa cũ, tái hiện những hình ảnh về kiến trúc, phương tiện xưa Tản văn là thể loại chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Trương Quý Chính ở thể loại này đã khẳng định tài năng văn chương và xây dựng cho Nguyễn Trương Quý một “thương hiệu” riêng biệt trong nghề viết

Trang 34

Chương 2 CÁI NHÌN VỀ ĐỜI SỐNG, CON NGƯỜI VÀ NHỮNG HÌNH TƯỢNG NỔI BẬT TRONG TẢN VĂN CỦA NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ

2.1 Cái nhìn về đời sống và con người trong tản văn Nguyễn Trương Quý

2.1.1 Khái niệm cái nhìn nghệ thuật

Trong cuốn Dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử khẳng định:

“Cái nhìn là một năng lực tinh thần đặc biệt của con người, nó có thể thâm nhập vào sự vật, phát hiện đặc điểm của nó mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mỹ của sự vật, do đó cái nhìn được vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật” [67, 106]

Sáng tạo nghệ thuật bao giờ cũng gắn liền với một tư tưởng, quan điểm nhất định Vì vậy mà mỗi nghệ sĩ trong quỹ trình sáng tạo phải

có một cái nhìn nghệ thuật riêng Viện sĩ Nga M.B Khrapchenco viết:

“Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ, không tồn tại bên ngoài các đặc điểm về tư duy hình tượng, bút pháp sáng tạo người nghệ sĩ” [57, 106]

Vì vậy cái nhìn là một yếu tố quan trọng thể hiện tinh thần riêng của tác giả Cái nhìn thể hiện trong tri giác và các giác quan của cơ thể Nó khơi gợi cảm xúc của tác giả trong quá trình sáng tác

Mỗi nhà văn đều có một cái nhìn riêng độc đáo biểu hiện trong thế giới nghệ thuật của mình Đó là yếu tố quan trọng tạo nên phong cách của mỗi nhà văn Dưới con mắt của Nguyễn Tuân, con người

Trang 35

luôn được cảm nhận ở phẩm chất tài hoa, tài tử… Còn dưới con mắt của Nam Cao là những kiếp người với số phận đầy bi kịch…

2.1.2 Đặc điểm cái nhìn về con người và đời sống của Nguyễn Trương Quý

2.1.2.1 Cái nhìn mang tính phân tích, lý giải tỉnh táo

Nguyễn Trương Quý là người sinh ra và lớn lên ở mảnh đất thủ

đô Hà Nội Mỗi một vấn đề về Hà Nội đều được anh tái hiện lại một cách chi tiết và tỉ mỉ thông qua nhãn quan của mình Anh đã dựng lại bức tranh Hà Nội xưa và nay nhằm khơi gợi những cảm xúc từ bạn đọc về một Hà Nội cổ kính, về những thói quen hàng ngày của người dân thủ đô Anh đã nói trong một cuộc trò chuyện: “Tôi bắt đầu từ những điều gần gũi quen thuộc nhất với câu hỏi: Liệu mình đã hiểu

những điều đó như thế nào” [78] Trong tập tản văn Xe máy tiếu ngạo

anh đã có những phân tích khá tỉ mỉ, kỹ lưỡng về xe máy Chiếc xe máy đã được tái hiện như là một phương tiện sống điển hình của hàng triệu cư dân đô thị: “Xe máy là phương tiện vận chuyển quan trọng nhất của đa số dân văn phòng cũng như toàn xã hội đô thị, vì thế tin tức xe máy phát nổ, xe máy bị hạn chế, xe máy phải thay đổi đăng

ký, giá vé gửi xe tăng… là loạt tin tức cấp thiết để người đi xe máy

có cái phải nghĩ trên đường Sống với xe máy thời buổi này thật khó khăn Vợ chồng có thể bỏ nhau, xe máy mà bỏ thì đi bằng gì bây giờ” [70, 33] Anh không bao giờ viết lớt phớt và chính bản thân anh sợ cái lớt phớt, qua quýt Anh luôn chăm chút, tỉ mỉ từ những số liệu, con số

để khai thác hết thế mạnh của tản văn Nguyễn Trương Quý nói:

“Theo tôi, tản văn muốn hay còn phải chăm chút những chi tiết và những số liệu cũng là những chi tiết phải mất công sàng lọc mới có

Trang 36

được” [33] Những hình ảnh về những chiếc xe máy vecpa hay những chiếc xe honda được anh tái hiện một cách tỉ mỉ và chi tiết những thứ thuộc về nó Đến chiếc ống bô của xe máy cũng được anh quan sát và miêu tả một cách rất chi tiết: “Tiếng nổ của những loại xe đua động cơ hai thì được áp cho xe bốn thì (nhiều khi là tay ga máy êm), nghĩa là

đã thay đổi bản chất mỹ học của đối tượng, dù động cơ vẫn nguyên thế Duy mỹ là vì ống bô khủng bố kiểu này chỉ có tác dụng duy nhất

là làm sướng tai kẻ cưỡng chiếc xe và cưỡng bức sự chú ý của đám đông còn lại Song độ ống bô cũng là duy mỹ cấp một…” [70, 48] Chính sự chi tiết, tỉ mỉ ấy là bàn đạp giúp anh có những phân tích, lý giải hấp dẫn bạn đọc

Từ những sự vật, hình ảnh thân quen nhất như Hồ Gươm, phố cổ đến phóng viên chức văn phòng đều được nhà văn phân tích tỉ mỉ và

có những lý giải thấu đáo, thú vị Khi phân tích về Hồ Gươm, anh viết: “Nói chuyện dấu ấn của Hồ Gươm thì chắc các anh chị cũng đọc đầy mình rồi: Thời nhà Lý rồi nhà Trần mang tên hồ Lục Thuỷ với di tích tháp Bảo Thiên Hồ chỉ như bến thuyền phụ chạy 62 phường, Thủ

Lệ mang tên Hoàn Kiếm…” Hồ Gươm trở thành biểu tượng văn hoá cho người Hà Nội Hồ Gươm đã để lại nhiều dấu ấn văn hóa tinh hoa:

“Hồ Gươm đã là một sự lựa chọn Không còn là lúc bàn chuyện giả sử hay là chuyện nó sẽ chỉ còn mang vai trò không hơn gì hồ Thiền Quang trong tương lai như có người từng lo “Đây Hồ Gươm, Hồng

Hà, Hồ Tây Đây lắng hồn núi sông ngàn năm”, không phải vô cớ mà đến giờ và theo những bản quy hoạch cho tương lai, Hồ Gươm vẫn là một địa chỉ văn hoá lớn nhất Hà Nội” [69, 18] Nhưng hơn hết là dấu

ấn của những văn nhân tài tử, những giá trị tinh thần đọng lại những tinh hoa “lắng hồn núi sông” Còn nhớ Nguyễn Du thảng thốt “Bạc

Trang 37

đầu còn thấy được Thăng Long” khi trở lại thăm hồ Hoàn Kiếm sau những năm tháng phiêu dạt

Trong bài Tự nhiên như người Hà Nội, Nguyễn Trương Quý đã có

những phân tích hết sức sắc sảo, tinh nhạy về con người Hà Nội Trước hết là về những thói quen sống hàng ngày: “Có thể không ngã ngũ, nhưng có lẽ phần nào một vài nét đặc trưng tính cách Hà Nội sinh

ra từ những biến động thời cuộc Những nhân vật từ các nơi về đây và cách họ ứng xử với những dâu bể đã tạo nên đặc trưng lâu dài cho người Hà Nội Có điều khi Hà Nội trở thành ao làng, khép kín và quẩn quanh thì những tinh hoa hồi nào, những cá tính lề thói lại có vẻ như trì hãm và lạc hậu Quán nước vỉa hè không còn nhiều nhưng mỗi người lại tiếp tục cầm trong tay ấm trà bước vào hành lang “lốp - bi” Chủ trương được nghiên cứu và đưa xuống “cơ sở”, người thừa hành

có lẽ cũng phải lo đối phó cho triển khai thuận lợi, qua được báo chí

và các cơ quan ngôn luận lắm điều, lại phải chiều được cả nam phụ lão

ấu, dân chủ tuyệt vời” [67, 115]

Qua tập tản văn Ăn phở rất khó thấy ngon, Nguyễn Trương Quý

đã miêu tả và tái hiện một cách chi tiết những người làm văn phòng Anh đã miêu tả từ vấn đề ăn mặc, ăn uống đến thói quen sống hàng ngày của họ, để qua đó người đọc có cái nhìn rõ nét hơn về bộ phận giới chức văn phòng: “Ấy là khi mỗi buổi trưa, các cô váy chữ A, chân dài hoặc không được dài, đi guốc cao gót ỏn ẻn, dùng thìa dĩa xúc cơm trong đĩa, xong chiêu bằng bát nước rau xiu xíu, hay các thanh niên công chức áo sơ mi quần âu, đầu gôm, nhai cho xong bữa

để mơ đến tan tầm có đồ nhậu bia tươi Anchor” [68, 9] “Này nhé, dân văn phòng quen ăn thịt gà làm sẵn thì ông trẻ đã vác cái bu gà

Trang 38

đặt xịch vào cánh cửa” [68, 44] Có thể nói Nguyễn Trương Quý có cái nhìn quan sát, tái hiện, mô tả hết sức nhạy bén, sắc sảo, sinh động

và hài hước: : “Vốn bữa cơm một gia đình dân văn phòng ở thành phố thì bạn đã biết, chẳng ai nói với ai một câu nào, chỉ có mỗi cái ti vi thao thao bất tuyệt, thế mà ông cụ lại vui chuyện, được chén rượu lại vui chuyện quá Chuyện nhà quê ra chuyện thành phố, anh chồng thì căm vợ đang ngọt nhạt xỏ xiên nên cứ ừ à, gắp cho ông lia lịa để hãm phanh Lũ trẻ con thì cười ré lên vì thấy chuyện thật nực cười Quê hương đến phút này dúm dó chẳng khác cái bao tải hay túi xách đồ đạc của khách đang quay lại một đống góc nhà kia” [68, 44]

Cuốn tản văn Ăn phở rất khó thấy ngon chủ yếu viết về đề tài giới

chức văn phòng Đây là đại diện cho một phần của cư dân đô thị trẻ Những sự việc xoay quanh họ được Nguyễn Trương Quý tỉ mỉ viết vào cho thấy thực trạng của bộ phận này Nó bao gồm các ưu điểm và

nhược điểm của lớp người này Ngay ở bài viết đầu tiên của cuốn Tết

văn phòng, Nguyễn Trương Quý đã cho người đọc thấy được một số

thói quen hàng ngày của dân văn phòng, đó cũng là cách nhìn nhận của một cư dân đô thị trẻ đối với dân công sở, trong đó thực chất có cả anh ta: “Nghĩ mà xem, dân văn phòng thì cũng có những nhu cầu thiết thân Cơm văn phòng, thời trang công sở, cà phê Trung Nguyên, trà Dimah, Nokia giắt túi, phi xe Wave, một số còn tính thêm cả nhà nghỉ

để cùng đi “công tác” hoặc “gặp khách hàng”…” [68, 10] Rồi đến

thói quen ăn bát phở cũng được nhà văn mang vào trong bài viết Ăn

phở rất khó thấy ngon Tác giả đã miêu tả chi tiết cách làm sao để làm

một bát phở thấy ngon và lý giải vì sao bây giờ việc ăn phở bây giờ lại lại khó thấy ngon đến như vậy: “Bây giờ ăn phở rất khó thấy ngon đó

là điều nhiều người Hà Nội nhận xét Tại sao lại khó thấy ngon? Phở

Trang 39

bây giờ thịt nhiều, gia vị đủ thứ trên đời có sẵn mà lại kém ngày trước? Không… tại vì phở đã có thêm thời gian để được xem như một món công thức, vừa pas food, vừa như khẩu phần dinh dưỡng Tại vì cái miệng lẫn cái đầu của người ăn phở càng ngày càng biết nhiều thứ dinh dưỡng khác” [68, 147] Việc ăn một bát phở cũng được nhìn nhận

ở nhiều khía cạnh Thực chất, qua việc ăn phở, tác giả cho người đọc hiểu hơn về đời sống con người ở đô thị hôm nay Nguyễn Trương Quý đã đem đến cho bạn đọc những cái gần gũi nhất, vừa thân quen vừa hiện thực Cái nhìn ấy thể hiện sự mới mẻ trên từng hình ảnh, từng trang viết

Trong tản văn Xe máy tiếu ngạo là cuốn mang nhiều cái nhìn từ một cư dân đô thị trẻ Trong bài viết Đời của xe máy tác giả đã mang

sự am hiểu của mình để nhìn nhận hiện thực của đời sống ngày nay Anh nhận ra trải qua năm tháng xe máy cũng có “đời” của nó Anh thấy được sự thay đổi, thói quen dung đồ của người dân thủ đô Anh viết: “Cho đến giờ, tôi đã đi bốn đời xe máy Và tôi chắc không dừng lại ở đó Mà có muốn dừng cũng chẳng được Xe máy bây giờ bình dân hơn xưa rất nhiều Theo xu hướng sản xuất hàng tiêu dùng thế giới, người ta không làm những thứ quá bền, quá nhiều năm vẫn chạy tốt, vì có nhanh hỏng thì người tiêu dung mới mua cái mới, mới có điều kiện để nhà sản xuất quay vòng chứ” [70, 5]

Đến chiếc ống bô của xe máy cũng được anh qua sát và miêu tả một cách rất rành rõ, cụ thể: “Ống pô hay ống xả xe máy có chung phiên âm của từ gốc tiếng Pháp với cáo bô (lepot) Nó là một bộ phận tương ứng trong cơ thể người” [70, 46] Đến món thịt ống bô được miêu tả rất chi tiết: “Vậy mà trên mạng có hẳn truyện về sang kiến của

Trang 40

các bạn “phượt” làm món thịt ống bô Họ tẩm ướp thịt cẩn thận ba chỉ hay mông sấn là tốt nhất rồi bọc trong giấy bạc, và quấn quanh ống bô trước khi lên đường đi chơi Đến nơi chỉ việc gỡ lấy ra và ăn Bài viết trên trang báo mạng còn cho biết them quãng đường 50 cây số đủ để làm thịt chín Còn xa hơn thì sẽ có món thịt ba chỉ cháy cạnh ngon

Đó là cái nhìn của tác giả về những giá trị xung quanh chúng ta, thong qua câu chuyện về chiếc xe máy

Trong bài viết Ngoằn ngoèo như ngõ với bước chân năm tháng đi

về, Nguyễn Trương Quý đã sử dụng hình ảnh chiếc ngõ, con đường để chuyển tải những thông điệp tình cảm và nhận thức của riêng mình đến với công chúng bạn đọc Ngõ trở thành một cái gì thân quen và bản thân nó có một giá trị riêng: “Chắc khi sinh ra ngõ, người ta chẳng bận tâm gì đến đẹp xấu vì không ngắm Lối đi ngoằn ngoèo hoặc gấp khúc cũng chẳng mấy ý nghĩa vì cốt đi được là được Những hàng xóm thời trước đô thị hoá mà không được quy hoạch lại, những đường làng ngõ xóm thời trước vừa cho trâu đi hay gánh hàng rong đi lọt, những đường bờ ruộng san thành lối đi, tất cả tạo nên một mạng lưới thăm thẳm như hang rắn” [69, 24] Không chỉ có chiếc ngõ mà con đường cũng được anh ghi lại, mà cụ thể ở đây là con đường Nguyễn Trãi

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1996), Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
2. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - nhận xét và thẩm định, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - nhận xét và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
3. Vũ Tuấn Anh (2002), Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
4. Lại Nguyên Ân (1999), 150 Thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
5. M. Bakhtin (2006), “Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ” (Phạm Vĩnh Cư dịch), Văn học nước ngoài (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nội dung, chất liệu và hình thức trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ” (Phạm Vĩnh Cư dịch), "Văn học nước ngoài
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 2006
6. S. Barnet, M. Berman, W. Butrton (192), Nhập môn văn học (Hoàng Ngọc Hiến dịch và giới thiệu), Trường Viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn văn học
7. Lê Huy Bắc (2001), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại in trong Hợp tuyển công trình nghiên cứu - Khoa Ngữ văn, trường ĐHSPHN, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại "in trong "Hợp tuyển công trình nghiên cứu -
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
8. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam từ 1986 đến nay, luận án Tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam từ 1986 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
9. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
10. Trịnh Chu (2011), “Bâng khuâng Hà Nội băm sáu phố phường”, Văn hóa nghệ thuật (325), tr.18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bâng khuâng Hà Nội băm sáu phố phường”, "Văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Trịnh Chu
Năm: 2011
11. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu Văn học, Nxb Khoa học xã hội nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu Văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội nhân văn
Năm: 2004
12. Nguyễn Văn Dân (1997), “Dấu ấn phương Tây trong văn học Việt Nam hiện đại”, Tạp chí Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn phương Tây trong văn học Việt Nam hiện đại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Năm: 1997
13. Trương Đăng Dung (chủ biên, 1990), Các vấn đề của khoa học văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề của khoa học văn học
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
14. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
15. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như một quá trình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như một quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
16. Trương Đăng Dung (2005), “Trên đường đến với tư duy lý luận văn học hiện đại”, Văn học nước ngoài (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường đến với tư duy lý luận văn học hiện đại”, "Văn học nước ngoài
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2005
17. Đậu Dung (2016), “Nguyễn Trương Quý “biên niên” Hà Nội”, An ninh thế giới, 26/01/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trương Quý “biên niên” Hà Nội”, "An ninh thế giới
Tác giả: Đậu Dung
Năm: 2016
18. Lê Chí Dũng (2004), “Phải chăng bao lâu nữa lối viết hậu hiện đại phổ biến ở Việt Nam”, http://www.tienve.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải chăng bao lâu nữa lối viết hậu hiện đại phổ biến ở Việt Nam”
Tác giả: Lê Chí Dũng
Năm: 2004
19. Phan Cư Đệ (chủ biên, 2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lý luận, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lý luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Nguyễn Đăng Điệp (2004), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w