1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư

121 68 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên khi nghiên cứu về văn bản, các nhà ngôn ngữ học thường quan tâm đến các tiêu chí xác định một văn bản, kết cấu văn bản, các đặc trưng của văn bản, các kiểu văn bản… mà chưa chú

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

ĐẶC ĐIỂM ĐOẠN VĂN MỞ ĐẦU

VÀ ĐOẠN VĂN KẾT THÚC TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG

ĐẶC ĐIỂM ĐOẠN VĂN MỞ ĐẦU

VÀ ĐOẠN VĂN KẾT THÚC TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ THỊ SAO CHI

NGHỆ AN - 2017

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của đề tài 3

6 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước có liên quan đến đề tài 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về đoạn văn 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 9

1.2 Khái niệm, phân loại đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc 11

1.2.1 Khái niệm, phân loại đoạn văn mở đầu 11

1.2.2 Đoạn văn kết thúc 20

1.3 Bố cục, kết cấu, cốt truyện 26

1.3.1 Bố cục và kết cấu truyện 27

1.3.2 Cốt truyện 30

1.4 Đặc điểm thi pháp của truyện ngắn Việt Nam đương đại 31

1.5 Tiểu kết chương 1 36

Chương 2 ĐOẠN VĂN MỞ ĐẦU TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 37

2.1 Kết quả khảo sát, thống kê về đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 37

Trang 4

2.1.2 Kết quả thống kê về số lượng đoạn văn mở đầu 38

2.2 Đặc điểm của đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 43

2.2.1 Đặc điểm hình thức của đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 43

2.2.2 Đặc điểm về ngôn ngữ 46

2.2.3 Đặc điểm về nội dung, ngữ nghĩa 50

2.3 Chức năng của đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 57

2.3.1 Chức năng chỉ dẫn về không gian và thời gian nghệ thuật 57

2.3.2 Chức năng chỉ dẫn về hình tượng nhân vật 60

2.4 Ngôn ngữ và giọng điệu trong đoạn văn mở đầu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 62

2.4.1 Đoạn văn mở đầu thể hiện nổi bật đặc điểm ngôn ngữ Nam Bộ 62

2.4.2 Đoạn văn mở đầu thể hiện một ngôn ngữ kể chuyện chân thực, tự nhiên 65

2.4.3 Đoạn văn mở đầu quy định giọng điệu chung cho tác phẩm 67

2.5 Tiểu kết chương 2 69

Chương 3 ĐOẠN VĂN KẾT THÚC TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 70

3.1 Kết quả khảo sát, thống kê về đoạn văn kết thúc thúc trong tuyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 70

3.1.1 Tiêu chí xác định đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 70

3.1.2 Kết quả thống kê về số lượng đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 71

3.2 Đặc điểm của đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 72

Trang 5

3.2.3 Các kiểu lời trong đoạn kết 86

3.2.4 Đặc điểm nội dung của đoạn văn kết thúc 93

3.3 Quan hệ giữa đoạn văn kết thúc với các yếu tố khác thuộc văn bản 100

3.3.1 Quan hệ giữa đoạn văn kết thúc với tiêu đề 100

3.3.2 Quan hệ giữa đoạn văn kết thúc với đoạn văn mở đầu 102

3.3.3 Quan hệ giữa đoạn văn kết thúc với đoạn văn trước đó 105

3.4 Tiểu kết chương 3 107

KẾT LUẬN 108

A TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

B TƢ LIỆU TRÍCH DẪN LÀM VÍ DỤ 115

Trang 6

Bảng 2.1 Số lượng đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 38 Bảng 2.2 Kết quả phân loại đoạn văn mở đầu về hình thức cấu tạo 43 Bảng 2.3 Kết quả phân loại đoạn văn mở đầu về ngôn ngữ 46 Bảng 2.4 Ngữ nghĩa đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 50 Bảng 3.1 Số lượng đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 71 Bảng 3.2 Số lượng câu đơn, câu ghép trong đoạn văn kết thúc 79 Bảng 3.3 Các kiểu câu theo mục đích nói trong đoạn văn kết thúc 84 Bảng 3.4 Các kiểu lời trong đoạn văn kết thúc 87 Bảng 3.5 Số lượng đoạn văn kết đóng và đoạn văn kết mở trong truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư 94 Bảng 3.6 Quan hệ ngữ nghĩa giữa đoạn văn kết thúc với đoạn văn mở đầu

trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 103

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, mang

tính hoàn chỉnh, trọn vẹn, đồng thời là một đơn vị ngôn ngữ phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống và các ngành khoa học Vì vậy, văn bản cũng là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước Tuy nhiên khi nghiên cứu về văn bản, các nhà ngôn ngữ học thường quan tâm đến các tiêu chí xác định một văn bản, kết cấu văn bản, các đặc trưng của văn bản, các kiểu văn bản… mà chưa chú ý thích đáng đến các đặc điểm, chức năng của từng phần cụ thể trong văn bản, đặc biệt là phần mở đầu

và phần kết thúc trong văn bản nghệ thuật

1.2 Phần mở đầu và phần kết thúc có vai trò quan trọng trong quá trình triển khai chủ đề, khái quát nội dung tư tưởng, tăng khả năng nhấn mạnh và biểu cảm cho tác phẩm văn chương, đồng thời góp phần mở ra những tầng ý nghĩa mới Bên cạnh đó, tùy theo loại hình văn bản, mỗi đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc có những đặc điểm riêng về hình thức cấu tạo, nội dung, chức năng và quan hệ… Vì vậy nghiên cứu đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về bản chất của đơn vị này trong văn bản nói chung và từng thể loại văn bản nói riêng, góp phần tìm hiểu quy tắc xây dựng văn bản, lý giải quan hệ ngữ nghĩa của các bộ phận trong chỉnh thể văn bản

Truyện ngắn là thể loại văn xuôi nghệ thuật rất gần với đời sống hàng ngày Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và ở nước ta đã đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của mình Đối với đội ngũ sáng tác, truyện ngắn thể hiện rõ các phẩm chất, đặc điểm cá nhân của người viết Với vị trí xuất hiện khá đặc biệt trong chỉnh thể

Trang 8

tác phẩm, đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc là những đơn vị cho phép tác giả có thể bộc lộ khả năng sáng tạo, ý tưởng nghệ thuật một cách nổi bật

1.3 So với nhiều thể loại văn xuôi nghệ thuật, truyện ngắn là thể loại phát triển nhanh và thu được nhiều thành tựu nhất, trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của công chúng Việt Nam Đặc biệt, trong giai đoạn văn học đương đại, truyện ngắn của các nhà văn nữ như Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ… là một bộ phận rất đáng chú ý Trong đó, truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư được độc giả đón nhận rất nhiệt tình, gây được nhiều dư âm bởi giọng văn nhẹ nhàng, dung dị, bình dân với ngôn ngữ không cầu kì, kiểu cách Các giải thưởng mà chị đã đạt được như giải thưởng hội nhà văn Việt Nam 2006; giải thưởng văn học ASEAN 2008… đã khẳng định vị trí của một nhà văn nữ trẻ tuổi

Việc nghiên cứu đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư giúp chúng ta nhận diện và hiểu sâu hơn về giá trị tác phẩm cũng như bản chất của các đơn vị nghệ thuật này Đây cũng là cơ sở để cắt nghĩa, lí giải mối quan hệ đa chiều giữa đoạn văn mở đầu, kết thúc với các yếu tố ngoài nó Nghiên cứu đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc cũng góp phần tích cực vào việc phân tích và tạo lập văn bản trong nhà trường

Xuất phát từ những lý do nói trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Đặc điểm

đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn của mình

2 Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu chính là: đoạn văn mở đầu và

đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng tiêu chí xác định đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc của văn bản nói chung, truyện ngắn nói riêng

Trang 9

- Tìm hiểu đặc điểm hình thức, ngữ nghĩa của đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư để thấy được những đặc trưng, giá trị thẩm mỹ của hai loại đoạn văn này đối với chỉnh thể tác phẩm cũng như đối với phong cách nghệ thuật của tác giả

3 Phạm vi nghiên cứu

Xác định đối tượng nghiên cứu như trên, luận văn tập trung khảo sát 38

truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được in trong Cánh đồng bất tận (12 truyện, NXB Trẻ, 2015); Gió lẻ (10 truyện, NXB Trẻ, 2014); Giao thừa (14 truyện, NXB Trẻ, 2015), Ngọn đèn không tắt (2 truyện, NXB trẻ, 2015)

Luận văn tập trung nghiên cứu những đặc điểm về hình thức, ngữ nghĩa của đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư Trên cơ sở đó, luận văn hướng tới việc xác định những chức năng cơ bản của đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc đối với việc triển khai thế giới nghệ thuật, tư tưởng của tác phẩm cũng như việc thể hiện giọng điệu, phong cách nghệ thuật của nhà văn

4 Phương pháp nghiên cứu

Với một lượng khá lớn các tác phẩm và mục đích nghiên cứu như trên, luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại;

Trang 10

- Nêu lên được những đóng góp của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trong việc cách tân thể loại trên phương diện hình thức cũng như nội dung, đồng thời góp phần làm rõ phong cách ngôn ngữ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

6 Cấu trúc của luận văn

- Chương 1: Những tiền đề lý thuyết liên quan đến đề tài

- Chương 2: Đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

- Chương 3: Đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước có liên quan đến đề tài

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về đoạn văn

Là đơn vị trực tiếp tham gia tạo lập văn bản, đoạn văn đã được nhiều nhà nghiên cứu văn bản quan tâm Một số nhà nghiên cứu nước ngoài như: N Spospelop, Moskalskaja, Loseva… đã đưa ra những kiến giải về hình thức, về cấu trúc đoạn Bên cạnh đó, họ còn bày tỏ quan điểm về sự trùng hợp hay không trùng hợp giữa đoạn văn và chỉnh thể thống nhất trên câu Nhìn chung, các ý kiến còn gây nhiều tranh cãi và chưa đi đến thống nhất Trong các công trình nghiên cứu về văn bản, các nhà nghiên cứu đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để gọi tên đơn vị trung gian giữa câu và văn bản: A.M Pexcopxki (1994) gọi là “đoạn văn”, L.A Bulakhopxki (1952) gọi là “thể thống nhất trên câu”, N.S Paspelop (1946) gọi là “chỉnh thể cú pháp thích hợp”… L.G

Fritman cho rằng: “Đơn vị cú pháp trên câu có toàn bộ các dấu hiệu tương

thích khu biệt nó về mặt phẩm chất với những đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn - các câu - đó là đoạn văn” [33, tr47]

Ở nước ta từ những năm tám mươi của thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề đoạn văn được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đi sâu tìm hiểu

Tác giả Trần Ngọc Thêm trong bài Bàn về đoạn văn như một đơn vị

ngôn ngữ đã đưa ra luận chứng khẳng định đoạn văn là một đơn vị ngôn ngữ

Ông cho rằng: “Thứ nhất, một đơn vị phải có khả năng khu biệt, tức là phải

có một hình thức nhất định với những ranh giới rõ ràng cho phép có thể nhận diện và sử dụng Thứ hai, theo F de Saussure khi xác định một đơn vị thì

Trang 12

những sự phân chia trên dòng âm thanh phải tương ứng với những sự phân chia trên dòng khái niệm, tức là phải có sự thống nhất giữa hình thức và nội dung.Thứ ba, một đơn vị ngôn ngữ phải có khả năng sản sinh và có tính biến thể trên những mô hình cấu trúc nhất định” [ 57, tr.61]

Ông khẳng định: “Chỉ có chấp nhận đoạn văn là đơn vị mới thoả mãn

được tiêu chuẩn một Và chỉ có chấp nhận nó là đơn vị duy nhất mới có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn hai và ba".[ 57, tr.62.]

Công trình Ngữ pháp văn bản và việc dạy tập làm văn (Nxb Giáo dục,

1985) của các tác giả Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc

Thêm cũng bàn nhiều về đoạn văn và chỉnh thể trên câu và cho rằng: đoạn

văn và chỉnh thể trên câu là những khái niệm khác nhau

Các nhà Việt ngữ học như Trần Ngọc Thêm (1984) gọi là “đoạn văn”, Nguyễn Quang Ninh, Hoàng Dân (1994) gọi là “chỉnh thể trên câu”… Ở đây, chúng tôi chỉ điểm lại các quan niệm coi đơn vị trung gian giữa câu và văn bản là “đoạn văn” Theo Trần Ngọc Thêm, đoạn văn “là một bộ phận của văn bản, gồm một chuỗi phát ngôn được xây dựng theo một cấu trúc và một nội dung nhất định (đầy đủ hoặc không đầy đủ), được tách ra theo một cách hoàn chỉnh về hình thức: ở dạng nói, nó có những kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc quãng ngắt hơi dài; ở dạng viết, nó bắt đầu bằng dấu mở đoạn (gồm thụt đầu dòng + viết hoa) và kết thúc bằng dấu ngắt đoạn (gồm dấu ngắt phát ngôn + xuống dòng)” [57, tr.41]

Như vậy, theo quan niệm của Trần Ngọc Thêm, đoạn văn là đơn vị luôn có hình thức hoàn chỉnh, rõ ràng và thể hiện những nội dung nhất định -

có thể hoàn chỉnh hay không hoàn chỉnh Diệp Quang Ban trong Giao tiếp -

Diễn ngôn và cấu tạo của văn bản cũng đề xuất cách hiểu về đoạn văn:

“Đoạn văn thuộc ngôn ngữ viết và được hiểu là một phần của văn bản tính từ chỗ viết hoa, thường lùi vào ở đầu dòng, cho đến chỗ dấu chấm xuống dòng”

Trang 13

[8, tr.403] Ở đây, đoạn văn được hiểu thuộc về phương diện cấu trúc - phong

cách Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn Tiếng Việt thực hành cho rằng: “Đoạn

văn là đơn vị cơ sở để tổ chức văn bản, thường gồm một số câu gắn bó với nhau trên cơ sở một chủ đề bộ phận, cùng nhau phát triển chủ đề đó theo định hướng giao tiếp chung của văn bản” [54, tr.68] Ở đây đoạn văn được

hiểu là thành phần cấu thành chỉnh thể của văn bản Về kích thước, đoạn văn

có thể dài hoặc ngắn, có thể bao gồm nhiều câu, hoặc chỉ một câu và câu này

có thể là câu một từ, hoặc cũng gặp đoạn văn được làm thành từ một “câu” không trọn vẹn Loại đoạn văn chỉ bao gồm một câu thường xuất hiện trong văn bản nghệ thuật bởi chúng mang đậm màu sắc tu từ

Về đại thể, đoạn văn thường được định vị trong một khổ viết - tức nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng và có ba bộ phận câu thành chính:

- Câu chủ đề có nhiệm vụ giới thiệu đối tượng, chủ đề sẽ được đề cập, thảo luận trong đoạn văn Trong nhiều trường hợp, câu chủ đề chính là câu thể hiện luận điểm của đoạn văn

- Các câu triển khai có nhiệm vụ thuyết minh, luận giải cho chủ đề

- Câu kết báo hiệu đoạn văn kết thúc, lưu ý người đọc những điểm chi tiết cốt yếu của đoạn văn đồng thời có thể chuẩn bị cho đoạn văn tiếp theo

Ví dụ:

“Khi viết những dòng này, tôi đã thức tỉnh trong vài người quen những

cảm xúc mà thời gian đã xóa nhòa, và tôi đã xâm phạm đến đến cõi yên tĩnh nấm mồ của chính cha tôi Tôi buộc lòng làm vậy, và xin người đọc nể nang những tình cảm đã thúc đẩy tôi viết mà lượng thứ cho ngòi bút kém cỏi của tôi Tình cảm này tôi xin nói trước, là sự bênh vực của tôi đối với cha mình”

(Nguyễn Huy Thiệp - Tướng về hưu)

Tuy nhiên trong thực tế, không phải đoạn văn nào cũng có đầy đủ ba bộ phận cấu thành như vậy Bởi, như trên đã nói, có những đoạn văn chỉ bao

Trang 14

gồm một câu, có đoạn văn không có câu kết, đôi khi các bộ phận cấu thành của một đoạn văn lại được phân bố ở hơn một khổ viết

(Nguyễn Công Hoan - Anh Xẩm)

Ở ví dụ trên, một chuỗi câu đơn thoại cùng nêu một chủ đề được ngắt dòng nhiều lần, mỗi lần chỉ có một câu và nhiều câu đó mới tạo thành một

đoạn văn hoàn chỉnh Theo O.I Moskalskaja, “việc phân chia văn bản hoàn

chỉnh thành các đoạn văn phản ánh vận động logic từ một tiểu chủ đề này sang một tiểu chủ đề khác Nó có tính chất tuyến tính, nếu như các tiểu chủ đề ngang nhau về mặt ý nghĩa” [33, tr.121] Như vậy, việc nhận diện đoạn văn

và xác định ranh giới giữa các đoạn văn chủ yếu nên dựa vào khả năng biểu đạt chủ đề của đoạn Bởi việc đánh dấu ranh giới bằng cách lùi vào một chữ khi bắt đầu một đoạn văn viết ở đây phải tương ứng với việc đánh dấu chuyển chủ đề của đoạn văn

Sau khi xét đoạn văn trên cả phương diện cấu trúc lẫn chức năng, tác giả Lê Thị Thu Bình đã đề xuất cách hiểu về đoạn văn như sau: “Đoạn văn là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng biểu đạt một chủ đề” [11, tr.29] Đây

là một cách hiểu có thể được chấp nhận và có tính sư phạm cao Trong luận văn này, chúng tôi sẽ sử dụng quan niệm trên của Lê Thị Thu Bình để phân chia văn bản tác phẩm, mà cụ thể là phần mở đầu, phần kết thúc thành những đoạn văn trong trường hợp cần thiết

Như vậy các nhà ngữ pháp văn bản đã quan tâm nghiên cứu khá đầy đủ những biểu hiện về nội dung và hình thức của đơn vị đoạn văn, ở những mặt nào đó các ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất nhưng có thể ghi nhận rằng:

Trang 15

những tiền đề lí thuyết họ đưa ra có ý nghĩa rất lớn đối với ngôn ngữ học và giáo pháp học Đây cũng chính là cơ sở lý thuyết để chúng tôi xem xét, khảo sát và phân loại đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

1.1.2.1 Hướng nghiên cứu văn học

Nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư mới xuất hiện trên văn đàn hơn mười năm nhưng số lượng chị viết ra quả là một con số ấn tượng với các thể loại truyện ngắn, tạp văn, tản văn, bút kí… Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành một hiện tượng đặc biệt, trở thành đề tài trong một số cuộc tranh luận văn chương

và được bạn đọc rất chú ý Qua khảo sát, chúng tôi thấy có rất nhiều những ghi chép, phỏng vấn, những bài phân tích đánh giá, các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về nhiều phương diện xung quanh sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư như: thế giới nghệ thuật, thi pháp, nghệ thuật tự sự, biểu tượng…

Các công trình nghiên cứu về văn học của Nguyễn Ngọc Tư khá nhiều,

có thể kể đến một số công trình cụ thể như sau: luận văn thạc sỹ của Ngô Thị

Quỳnh Oanh (trường Đại học Quốc gia Hà Nội - năm 2013) với đề tài“Đặc

điểm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư”; Trần Hữu Dũng có bài:“Nguyễn Ngọc Tư

“đặc sản”miền Nam” Ở đây ông đề cao tài năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ

của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, đó là một đặc sắc riêng không thể trộn lẫn với

bất kì nhà văn nào khác Huỳnh Công Tín trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư -

nhà văn trẻ Nam Bộ đã chú ý không gian Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn

Ngọc Tư: “Đặc biệt vùng đất và con người Nam Bộ trong các sáng tác của

chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” Với bài viết “Nguyễn Ngọc Tư và hành trình đã đi”,

Nguyễn Công Thuấn đã mang đến một cách nhìn tổng quan về hành trình

sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ những tác phẩm trước Cánh đồng bất tận, đến những tập truyện sau đó như Gió lẻ, Khói trời lộng lẫy…

Trang 16

Tác giả bài báo nhận ra, cầm bút với Nguyễn Ngọc Tư là để nói ra cái tình người sâu thẳm trong những biểu hiện thật phong phú mà như chị nói

“Có bao nhiêu tình tôi yêu hết” Trong số những nhà phê bình, Nguyễn Trọng Bình là một trong những người có nhiều bài viết nghiên cứu về Nguyễn Ngọc

Tư Đó là: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện

nghệ thuật về con người; giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư; Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Phong cách truyện ngắn Nguyễn ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung tự sự; Những dạng tình huống thường gặp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa; Nguyễn Ngọc Tư và hành trình

“trở về” Qua những bài viết này, tác giả kết luận: “Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là “bức tranh sống động về cuộc sống của một bộ phận người dân lao động (nhất là ở thôn quê) vùng đồng bằng sông Cửu Long mà cái nghèo, cái khổ cứ bám riết lấy họ” Phạm Thái Lê với việc phân tích Hình tượng con người cô đơn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhận thấy: “Cô đơn luôn là nỗi đau, là bi kịch lớn nhất của con người Nhưng đọc Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta cảm nhận rất rõ nỗi cô đơn mà không thấy sự bi quan tuyệt vọng Nhân vật của chị tự ý thức về sự cô đơn Họ chấp nhận bởi họ tìm thấy trong nỗi đau ấy một lẽ sống Và từ trong nỗi đau ấy, họ vươn lên làm người Cô đơn trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư là động lực của cái Đẹp, cái Thiện (Tạp chí Văn nghệ quân đội) Ngoài ra, còn có nhiều bài viết trên các

website cũng bàn về nội dung và hình thức trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư

như: “Dấu ấn hậu hiện đại trong Cánh đồng bất tận” (Hoàng Đăng Khoa);

“Nguyễn Ngọc Tư - điềm đạm mà thấu đáo” (Dạ Ngân, Văn nghệ trẻ, số

15);“Nguyễn Ngọc Tư và những bộ mặt tâm trạng” (Minh Thi, Lao động (ngày 11/4/2004); “Nỗi đau trong cánh đồng bất tận” (Thảo Vy, Tạp chí Văn

hóa Phật giáo, số 11)…

Trang 17

1.1.2.2 Hướng nghiên cứu ngôn ngữ học

Các công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ học chưa nhiều nhưng cũng đã đi sâu vào một số

phương diện quan trọng như: “Chất Nam Bộ trong ngôn ngữ truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư” (Phạm Thị Hồng Nhung, trường Đại học sư phạm Thái

Nguyên, năm 2012); “Khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

trong hai tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt và Cánh đồng bất tận” (Lê Thị

Cúc, trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2008); “Một số giọng điệu trong

truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư” (Phạm Thị Hồng Nhung, Tạp chí Khoa

học và Công nghệ, số 112); “Đặc điểm lời thoại nhân vật trong truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư” (Nguyễn Thị Hồng Chuyên, trường Đại học sư phạm Thái

Nguyên, 2010)… Ngoài ra, một số bài viết trên báo mạng cũng có những phát

hiện quan trọng về ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư như: Lời “đề từ”

www.viet-studies.net); Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nguyễn Trọng Bình, www.viet-studies.net); Giọng điệu trần thuật của Nguyễn Ngọc

Tư (Nguyễn Thị Hoa, www.viet-studies.net).

Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về đoạn văn

mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề này để thực hiện luận văn của mình, mong muốn góp phần vào việc phân tích, bình giá văn bản tự sự, đồng thời, góp phần nhìn nhận đầy đủ, sâu sắc hơn những giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

1.2 Khái niệm, phân loại đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc

1.2.1 Khái niệm, phân loại đoạn văn mở đầu

1.2.1.1 Khái niệm phần mở đầu và đoạn văn mở đầu

a) Khái niệm phần mở đầu

Ta có thể thấy, theo quan niệm thông thường nhất, mỗi văn bản bao giờ cũng có phần mở đầu Phần mở đầu và phần kết thúc là những “vị trí mạnh”

Trang 18

trong văn bản Aristote khi xem xét mối tương quan giữa phần mở đầu và

phần kết thúc của văn bản cho rằng: “Một phần mở đầu là cái mà không cần

thiết phải tiếp theo sau một cái khác, và sau nó thấy có hoặc đi đến tạo ra một cái khác một cách tự nhiên Một phần kết thúc, trái lại, là cái tự nhiên đi sau một cái khác do sự cần thiết hoặc trong phần lớn trường hợp là như vậy, và sau nó không có gì nữa” [dẫn theo 7, tr.59] Nhận định này của Aristote đã

cung cấp cho ta dấu hiệu hình thức để ta nhận biết vị trí xuất hiện của phần

mở đầu trong văn bản

Về mặt cấu tạo, phần mở đầu có thể chỉ bao gồm một câu Chẳng hạn, một văn bản nhỏ như lời nhắn ghi trên giấy giắt lại cửa nhà một người bạn chỉ gồm vài ba câu nối tiếp nhau vẫn có thể là một văn bản gồm ba phần, phần

mở có thể chỉ là một câu đứng đầu, phần kết có thể là một câu đứng cuối Ví dụ: “Mình đến gặp bạn có chút việc Tuần tới bọn mình tổ chức về quê X chơi Chúng mình muốn rủ bạn cùng đi, không biết ý bạn thế nào Hy vọng bạn sẽ cho bọn mình biết sớm” [7, tr.60] Với một văn bản đủ lớn (chẳng hạn, bài viết của học sinh), phần mở đầu và phần kết của văn bản thường là một đoạn văn Với những văn bản lớn hơn như một bài nghiên cứu, một cuốn sách, phần mở đầu có thể là một chương với sự phân chia thành các mục có

tiêu đề cụ thể

Diệp Quang Ban, khi xem xét mặt chức năng của phần mở đầu của văn bản, đã cho rằng: “Phần mở đầu của văn bản có chức năng làm rõ đầu đề của văn bản và định hướng cho sự phát triển nội dung nêu ở phần thân” [7, tr.62]

Nguyễn Minh Thuyết cũng nhất trí cho rằng: “Phần mở đầu thường gồm một

số nhận định khái quát về những vấn đề sẽ được trình bày, nêu lên chủ đề chung và các chủ đề bộ phận Đồng thời (…) có thể nêu vắn tắt phương hướng hay những nguyên tắc được chọn làm cơ sở để giải quyết vấn đề” [54, tr.7]

Ví dụ:

“ Ở cái xóm nhỏ ven thành phố này người ta nhắc tới anh Hết còn

nhiều hơn chủ tịch tỉnh đi họp Đứa nào hỗn hào, lười biếng, má nói biểu lại

Trang 19

coi thằng Hết kìa, ba mươi mấy tuổi đầu rồi, ngày đi làm thuê, làm mướn, không có chuyện gì nó chê, chiều về lụi hụi chui vô bếp nấu cơm, giặt giũ cho cha già, hiếu thảo thấy mà thương Ai mê vợ bé, mê chơi đề, đá gà họ,lườm lườm, “mê gì thằng Hết mê cờ” Nên nghe râm ran chị Hảo để lòng thương anh, má chị kêu trời, “Bộ hết người rồi sao, con Cái thằng mê cờ tới mất vợ, không sợ” Không, chị Hảo nghiêm nghị, cờ tướng là loại cờ tao nhã chỉ dành cho quân tử, có gì mà sợ Mê rượu, mê gái mới ghê Chỉ sợ người ta không thương mình Má chị định càm ràm nữa thì chị quay lưng ra quán mất rồi.” [Nguyễn Ngọc Tư - Hiu hiu gió bấc]

Ở truyện ngắn trên, tác giả đã mở đầu theo lối khái quát chủ đề, tư tưởng của truyện ngắn ngay trong đoạn đầu tiên của văn bản Từ sự khái quát

về chủ đề gắn với đầu đề truyện, người kể chuyện đã khéo léo dẫn dắt người đọc vào câu chuyện chính Cách mở đầu này có tác dụng định hướng cách đọc

và tư duy cho độc giả

Như vậy, thông qua những ý kiến có tính khái quát của các nhà nghiên

cứu, có thể ghi nhận ba yếu tố thuộc về nội dung của phần mở đầu như sau:

- Nêu đề tài - chủ đề được đề cập

- Nêu khung cảnh chung của đề tài - chủ đề

- Nêu hướng triển khai đề tài - chủ đề của văn bản

Tuy nhiên, về chi tiết, nội dung phần mở đầu văn bản lệ thuộc vào kiểu thể loại văn bản và cho dù có sự khác nhau thế nào thì phần mở đầu vẫn phải viết sao cho ngắn gọn, hấp dẫn, thu hút được sự chú ý và hứng thú ở người đọc

Cho đến nay, dùng để chỉ đơn vị mở đầu của văn bản, các nhà nghiên cứu vẫn sử dụng song song hai thuật ngữ: “phần mở đầu” hoặc “đoạn mở đầu” Tuy nhiên, theo chúng tôi, thuật ngữ “đoạn mở đầu” thiên về mặt cấu trúc hình thức hơn là mặt chức năng, ngữ nghĩa của đơn vị mở đầu khi xem xét chung trong mối tương quan với cấu trúc chung của một văn bản Trong

Trang 20

thực tế, không phải bao giờ “đoạn mở đầu” cũng tương ứng (1-1) với phần

mở đầu của văn bản Thuật ngữ “phần mở đầu” đã phản ánh chính xác bản chất của đơn vị mở đầu về cả hình thức lẫn chức năng, ngữ nghĩa cũng như tạo ra một sự thống nhất cao khi xem xét mối tương quan giữa đơn vị mở đầu với các đơn vị khác trong vai trò cấu thành sự hoàn chỉnh của văn bản

Căn cứ vào ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng ta có thể đưa

ra cách hiểu chung nhất về phần mở đầu của văn bản như sau:

Về mặt hình thức: phần mở đầu của văn bản là phần xuất hiện đầu tiên trong văn bản, nó có thể gồm một câu văn, một đoạn văn hay nhiều đoạn, nhiều phần, hoặc là một chương của cuốn sách, điều đó phụ thuộc vào đặc trưng của từng loại phong cách văn bản

Về mặt nội dung - chức năng: phần mở đầu thường nêu lên đề tài - chủ đề, khung cảnh chung của đề tài - chủ đề hay phương hướng triển khai cho đề tài - chủ đề của văn bản Thực hiện nhiệm vụ cụ thể nào, có những biến đổi thích ứng

ra sao là tùy thuộc vào yêu cầu cụ thể của từng loại phong cách văn bản

Đối với văn bản truyện ngắn nói riêng, phần mở đầu có những vai trò, đặc điểm nội dung cụ thể Phần mở đầu thường sử dụng một sự kiện đặc sắc, một hình tượng, một thông báo thú vị, khêu gợi trí tò mò, một cách đặt vấn đề ngược đời mà tác giả dự định sẽ giải đáp trong quá trình trình bày Tuy nhiên, chúng ta cần phải thấy rằng: cái quan trọng không phải cố làm ra một cái mở đầu thật đặc sắc là đã có sự thành công Sự thành công chính là ở chỗ có sự hài hòa, nhất quán giữa nó với các thành phần còn lại của toàn bộ tác phẩm, trong việc cho phép triển khai các luận điểm, làm rõ các tư tưởng chủ đề của tác phẩm Chu Lai cho rằng, việc “vào đầu nhanh, dẫn giải mạnh, kết thúc khéo - ba yếu tố đó kết hợp với ý tứ dồi dào, ý tưởng sâu xa sẽ tạo nên cái hay

của truyện” [30, tr.108] Tchekhov cũng cho rằng: “Viết truyện ngắn, cốt nhất

phải tô đậm cái mở đầu và cái kết luận” [dẫn theo 35, tr.75] X.Voronin cũng

Trang 21

có ý kiến tương tự: “Câu đầu là một thứ âm chuẩn, giúp vào việc tạo nên âm

hưởng chung của toàn bộ tác phẩm” [dẫn theo 35, tr.156]

Tác giả Đinh Trọng Lạc khi tiến hành nghiên cứu đặc trưng mô hình của văn bản đã có sự phân chia cấu tạo văn bản thành những blốc giao tiếp: những blốc giao tiếp cấu tạo văn bản và những lốc giao tiếp định hình văn bản Các blốc giao tiếp định hình văn bản lại bao gồm: blốc giao tiếp mở đầu, blốc giao tiếp kết thúc và blốc giao tiếp liên kết Blốc giao tiếp mở đầu tương ứng với phần mở đầu của văn bản nói chung, tác phẩm truyện ngắn nói riêng

“Trong tác phẩm nghệ thuật, các blốc giao tiếp mở đầu được hiện thực hóa

trong cái phần của văn bản vốn tương ứng với phần trình bày (…) mang hình thức nhập đề” [29, tr.10]

Trong tác phẩm truyện ngắn, tùy thuộc vào đề tài, chủ đề, phong cách hoặc dụng ý nghệ thuật của tác giả mà có khi phần mở đầu được trình bày với hình thức khá hoàn chỉnh theo các nội dung: cung cấp thông tin về thời gian, nơi chốn, nhân vật; nêu lên đối tượng thông báo, chỉ ra kiểu trình bày (chủ quan hoặc khách quan); thái độ của người tường thuật đối với những biến cố được miêu tả, tính chất của những biến cố được miêu tả (những biến cố có tính chất hiện thực hoặc hư cấu, hoặc hoang đường…)

Diệp Quang Ban cũng nhấn mạnh: phần mở đầu của văn bản miêu tả và

kể chuyện thường gồm các yếu tố:

- Nêu đối tượng và đặc trưng được quan tâm của đối tượng miêu tả hay đối tượng của truyện kể, các đặc trưng này là định hướng cho sự triển khai ở phần thân

- Giới thiệu hoàn cảnh không gian, thời gian, hay xuất xứ của đối tượng đó [7, tr.62]

Nguyễn Thái Hòa cho rằng: phần mở đầu của văn bản không chỉ cho

chúng ta biết “thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện mà còn báo hiệu cho

Trang 22

chúng ta hiểu khoảng cách giữa người kể và chuyện kể (nhân vật, sự kiện, thời gian, không gian…) giữa người kể và người nghe tức là ngay từ đầu đã định vị phát ngôn và cũng là điểm nhìn của người kể” [24, tr.451] Người kể

dành phần mở đầu để đối thoại với người nghe chuyện và chỉ cho họ những

tiêu điểm để đọc truyện đó tức “vừa dẫn người đọc vào một truyện kể nhất

định vừa chỉ cho người ấy thấy những gì phải tự mình tìm hiểu trong một truyện kể, từ đó tạo ra những hứng thú thưởng thức nghệ thuật cho mình”

[24, tr.443]

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong các tác phẩm tự sự hiện nay, đặc biệt

là truyện ngắn, phần mở đầu thường không được viết tập trung mà rải dài ra

trong suốt cả một trường đoạn khá lớn “Nó chỉ thường chứa đựng một vài

thông số của hoàn cảnh được miêu tả trong văn bản” [25, tr.13] Nhưng bao

giờ cũng vậy “những lốc giao tiếp mở đầu có công dụng làm một cái nền chuẩn bị cho độc giả tri giác nội dung thông tin cơ bản của văn bản [39, tr.10] Chẳng hạn, một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thường mở đầu theo lối truyền thống (lời kể bắt đầu trùng với điểm khởi đầu của mọi sự kiện)

và kết thúc theo lối hiện đại (kết thúc mở, tạo sự phán đoán cho người đọc) Cách mở đầu như vậy giúp ta hình dung, chuẩn bị cho sự tiếp nhận các sự kiện tiếp theo như là sự phát triển của sự kiện mở đầu

Tiếp thu và sử dụng những quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước

về phần mở đầu của văn bản nói chung, văn bản văn học nói riêng, chúng tôi đưa ra cách hiểu về phần mở đầu trong tác phẩm truyện ngắn như sau:

Về mặt hình thức, phần mở đầu của truyện ngắn là phần xuất hiện đầu tiên trong tác phẩm ngay sau tiêu đề, chúng có thể trùng khít với đoạn văn mở đầu, hoặc lớn hơn một đoạn văn mở đầu Chúng có thể được đánh dấu hoặc không được đánh dấu trên bề mặt văn bản Điều này phụ thuộc vào ý đồ nghệ thuật của nhà văn cũng như yêu cầu của văn bản truyện ngắn

Trang 23

Về mặt ngữ nghĩa - chức năng: Phần mở đầu chứa block sự kiện mở đầu với các thông tin chỉ dẫn về nhân vật, thời gian, nơi chốn, chỉ ra kiểu trình bày, thái độ của người tường thuật, tính chất của những biến cố… và quan trọng hơn phần mở đầucó công dụng làm một “yếu tố nền” - chứa đựng các thông tin có tính chất chỉ dẫn để chuẩn bị cho độc giả “đọc” tác phẩm một cách hiệu quả

b) Khái niệm đoạn văn mở đầu

Với công trình “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt”, tác giả Diệp

Quang Ban đã thâu tóm một cách hệ thống những vấn đề về ngữ pháp văn bản Đáng chú ý, đối với vấn đề đoạn văn, ông rút ra được những kết luận xác đáng ở các góc độ: cấu trúc đoạn, sự chia tách đoạn, liên kết trong đoạn văn

và giữa các đoạn văn Khi bàn đến việc phân đoạn văn bản, ông cũng đã có đề cập đến đoạn văn, trong đó có đoạn văn mở và đoạn văn kết Theo tác giả,

trong loại văn bản cỡ vừa, đoạn văn mở làm nhiệm vụ của phần mở [6, tr.213]

và lưu ý: “Cần phân biệt đoạn văn mở của một bài viết chặt chẽ với việc trình

bày mở đầu, thường là của bài nói miệng, về một sự vật, sự việc, vấn đề” [6,

tr 215]

Tác giả Phan Mậu Cảnh, khi bàn về tính đặc thù và tính thống nhất của

đoạn văn mở đầu trong các loại văn bản khác nhau cũng cho rằng: “Đoạn văn,

trong đó có đoạn văn mở đầu, là một phần của văn bản; văn bản thuộc phong cách khác nhau thì cách mở đầu cũng không giống nhau Tuy vậy, chúng vẫn

có những điểm chung, nhất là vai trò, chức năng của chúng trong cấu trúc chung của văn bản” [12, tr 244]

Một số nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về các đơn vị cấu thành văn bản đã đưa ra quan niệm về đoạn văn mở đầu Chẳng hạn, dựa vào tiêu chí chức năng, Nguyễn Quang Ninh phân chia đoạn văn thành các loại như sau: đoạn văn mở đầu, đoạn văn kết, đoạn văn nối, và đoạn văn phát triển Đồng thời,

Trang 24

ông cũng đã chỉ ra chức năng, nhiệm vụ của đoạn văn tương ứng với các kiểu

mở đầu: mở trực tiếp và mở gián tiếp Thống nhất ý kiến của các nhà nghiên cứu về đoạn văn mở đầu có thể thấy:

Về mặt hình thức, đoạn văn mở đầu là bộ phận đầu tiên xuất hiện trong văn bản thể hiện một chủ đề tương đối trọn vẹn được tách biệt với các đoạn văn còn lại của văn bản.Về mặt nội dung, đoạn văn mở đầu thường dùng để nêu chủ đề, giới thiệu khung cảnh chung của văn bản

Ví dụ: Đoạn văn mở đầu sau có chức năng khái quát chủ đề: “Trong số

người quen của tôi, tôi rất nể phục nhà nghiên cứu văn học K anh am hiểu các vấn đề lý luận văn học ở ta (lĩnh vực mà thú thực tôi không hiểu gì mấy ) Những bài viết của K có thời được nhiều người ví như “ ngọn roi”quất vào

“con ngựa sáng tác văn học” giúp nó phi nhanh hơn và không trật đường”

(Nguyễn Huy Thiệp, Cún)

Theo cách nhìn nhận trên thì mỗi văn bản nói chung, văn bản truyện ngắn nói riêng đều có đoạn văn mở đầu Tùy thuộc vào dụng ý nghệ thuật của nhà văn mà đoạn văn mở đầu có thể có hình thức bình thường hay đặc biệt Tuy nhiên, theo chúng tôi, không phải bao giờ đoạn văn mở đầu cũng hoàn toàn trùng khít với phần mở đầu của văn bản truyện ngắn Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm: phần mở đầu có thể chỉ gồm một đoạn văn và đoạn văn đó chính là đoạn văn mở đầu truyện ngắn Nếu phần mở đầu có nhiều đoạn văn và tất cả những đoạn văn đó có ngữ nghĩa - chức năng của phần mở đầu thì chúng tôi cũng xem xét chúng với tư cách là đối tượng nghiên cứu của

đề tài - đoạn văn mở đầu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

1.2.1.2 Phân loại đoạn văn mở đầu

a) Căn cứ vào đặc điểm hình thức và đặc điểm ngữ nghĩa, đoạn văn mở đầu có hai loại: đoạn văn mở đầu có hình thức bình thường và đoạn văn mở đầu có hình thức đặc biệt

Trang 25

Đoạn văn mở đầu có hình thức bình thường là những đoạn văn được cấu tạo từ hai câu trở lên Chúng có thể gồm những đoạn văn đơn thoại hoặc

có xen kẽ các lời thoại của nhân vật nhưng đều được đặt dưới điểm nhìn trần thuật của người kể chuyện, đồng thời cùng hướng đến việc thể hiện một chủ

đề chung, nhất quán

Đoạn văn mở đầu có hình thức đặc biệt là những đoạn văn có sự phá vỡ cấu tạo hình thức bình thường Đó là những đoạn văn chỉ gồm có một từ, một cụm từ hoặc một câu

(Phù thủy - Nguyễn Thị Thu Huệ)

Đoạn văn thứ nhất và thứ hai ở ví dụ vừa nêu chỉ gồm một từ

- Đoạn văn đặc biệt gồm một cụm từ:

- Đoạn văn đặc biệt một câu:

Ví dụ: Khoảng hai năm sau chị Phương về

Chị mang về theo giấy xuất viện của trại phong Quy Hòa

Khuôn mặt chị buồn rười rượi nhưng vẫn đẹp như xưa

(Phiên chợ người cùi - Võ Thị Hảo)

Trang 26

Mỗi đoạn văn trong ví dụ trên được làm bằng một câu Ba đoạn văn thuộc một chỉnh thể trên câu Một đoạn đứng tách ra theo dụng ý nghệ thuật của tác giả và mang những ẩn ý không lời: nỗi cô đơn đã và sẽ mãi mãi gắn với cuộc đời một người đàn bà đẹp nhưng bất hạnh

b) Căn cứ vào đặc điểm ngữ nghĩa, đoạn văn mở đầu có hai loại: đoạn văn mở đầu trực tiếp và đoạn văn mở đầu gián tiếp

Đoạn văn mở đầu trực tiếp là kiểu mở đầu mà tác giả hay người kể chuyện trực tiếp đi thẳng vào vấn đề cần bàn đến trong truyện, hướng thẳng vào nội dung của truyện Kiểu mở đầu này thường đã có sự khái quát giúp bộc

lộ chủ đề của toàn truyện

Ví dụ:

“Người ta nói chú Sa y chang như cầu thủ bóng đá Vũ Công Tuyền của

đội tuyển quốc gia Vũ Công Tuyền sáng chói ở tuổi ba mươi, ba mấy còn chú

Sa bốn mươi bốn tuổi tự nhiên nổi tiếng toàn quốc.”

(Chuyện vui điện ảnh - Nguyễn Ngọc Tư)

Đoạn văn mở đầu gián tiếp là kiểu mở đầu mà tác giả không đi thẳng vào vấn đề cần bàn đến trong truyện Vấn đề mà tác giả muốn hướng tới trong truyện chỉ được khơi gợi, dẫn dắt gián tiếp qua phần mở đầu bằng những sự kiện, khung cảnh chung hoặc thái độ đánh giá của người kể chuyện…

Ví dụ:

“Lúc ra xe thấy trời kéo mây, hơi nước rười rượi Mưa tới ngay thì

may, bốn bề nước xóa dấu Rèm mưa che đi cái cảnh nhà mình nhỏ dần nhỏ dần rồi mất hút, như đoạn kết thường nghe từ những bài hát bolero.”

(Vị của lời câm - Nguyễn Ngọc Tư )

1.2.2 Đoạn văn kết thúc

1.2.2.1 Khái niệm đoạn văn kết thúc

Khi nghiên cứu về cấu tạo văn bản, đoạn văn kết thúc là thành tố được nhiều người quan tâm Việc xem xét đoạn văn kết thúc luôn được đặt trong mối quan hệ ngữ nghĩa với đoạn văn mở đầu và với toàn bộ văn bản

Trang 27

Diệp Quang Ban (1992) quan niệm: “Phần kết có tác dụng tạo cho văn

bản tính chất kết thúc, tính chất “đóng” cả về phương diện nội dung lẫn phương diện hình thức Phần kết không nhất thiết phải mang tính chất kết luận theo kiểu của một suy lí logic” [7; tr108]

Tác giả Lê A (2000) cũng đề cập đến chức năng, nhiệm vụ của phần kết

thúc là “Đặt dấu chấm cuối cùng cho nội dung văn bản, thông báo về sự hoàn

chỉnh, trọn vẹn của văn bản” [3, tr.54]

Phan Mậu Cảnh (2002) cho rằng: “Phần kết thúc là phần tóm lược,

tổng kết những nội dung chính đã trình bày thành các luận điểm, kết luận cơ bản hoặc nêu tình tiết kết thúc, các nhận xét cảm tưởng đối với những điều đã nêu trên Phần kết thúc là phần khép lại văn bản, làm cho văn bản có tính hoàn chỉnh” [35, tr.164]

Như vậy có thể thấy rằng, phần lớn các nhà ngôn ngữ học đã xác định tương đối thống nhất về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của đoạn văn kết thúc trong văn bản

Đối với văn bản truyện ngắn, người viết thường tạo sức lắng đọng, tạo

dư ba cho tác phẩm bằng chính đoạn văn kết thúc A.Sêkhốp từng nói: “Theo

tôi, viết truyện ngắn, cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và cái kết luận” [56,

tr.75] Nhà văn Đỗ Chu lại nói: “Còn như việc kết thúc truyện ngắn: đó là

một hành động dễ gây ra những xúc động đột ngột Ta sẽ rất sung sướng nếu cảm thấy vừa khép kín một cái gì hình thành Và ta sẽ buồn bã biết bao nếu chợt nhận ra mình đã lầm lẫn ở phút dừng lại, có thể biết những gì mình đã viết ra thành công đến đâu Cái thú của người viết truyện ngắn có khi nằm ngay ở chỗ đó nữa” [56, tr.70]

Cũng như các kiểu loại văn bản khác, đoạn văn kết thúc truyện ngắn có chức năng đóng khép văn bản, là dấu hiệu hình thức rõ nhất thể hiện điểm dừng văn bản Đoạn kết thúc truyện ngắn không được lập theo một cách thức

Trang 28

nhất định, nó phụ thuộc vào các yếu tố như: cốt truyện, phong cách ngôn ngữ tác giả, những biện pháp nâng cao hiệu quả nghệ thuật

1.2.2.2 Phân loại đoạn văn kết thúc

Đoạn văn kết thúc truyện ngắn có thể được phân chia dựa trên hai tiêu chí: tiêu chí cấu tạo và tiêu chí ngôn ngữ

a) Xét về mặt cấu tạo, đoạn văn kết thúc có hai loại: đoạn kết bình thường và đoạn kết đặc biệt

- Đoạn kết bình thường:

Đoạn kết bình thường là một chuỗi câu liên kết với nhau hợp thành một cấu trúc nhất định, thể hiện một nội dung tương đối hoàn chỉnh và đứng ở vị trí cuối tác phẩm

Ví dụ:

Cuối tháng Sáu, phim được chiếu trên truyền hình, phim thiệt là hay, thiệt là xúc động, chân thực, đúng với phong cách Trần Hưng Tất nhiên, phim không có cảnh ông Mười lau nước mắt cho vợ, nhưng những người có mặt chứng kiến buổi quay phim hôm ấy, cả thằng Thảo, là nhớ, cứ mỗi lần màn hình lướt qua vẻ mặt đau đớn, đẫm nước mắt của dì Thắm, họ lại nhớ tới một chiếc khăn, một bàn tay thô, một tấm lưng rộng Họ suy nghĩ…

(Nguyễn Ngọc Tư - Mối tình năm cũ)

- Đoạn kết đặc biệt:

Đoạn kết đặc biệt trong truyện ngắn chỉ gồm một câu, một cụm từ hoặc một từ đứng ở vị trí cuối tác phẩm Với hình thức như vậy, đoạn kết đặc biệt thường có nội dung không trọn vẹn và khó có thể tồn tại khi tách rời tác phẩm Song những đoạn kết theo cách này lại có khả năng đưa thêm vào văn

bản những “ý không lời” mà tác giả không thể diễn đạt bằng loại ý nghĩa

tường minh của ngôn ngữ Có thể thấy lượng câu chữ và ý nghĩa ở những đoạn kết đặc biệt luôn tỉ lệ nghịch với nhau Lượng câu chữ phải tự sinh ra

một sức nén lớn

Trang 29

Ví dụ:

Nhưng mà chờ tới chừng nào lận?

Ai mà biết

Mùa nay gió bấc hiu hiu lại về

(Nguyễn Ngọc Tư - Hiu hiu gió bấc)

b) Xét về mặt ngôn ngữ, đoạn văn kết thúc được thể hiện dưới hai dạng

cơ bản: đoạn kết đơn thoại và đoạn kết đối thoại

- Đoạn kết đơn thoại:

Đoạn kết đơn thoại là đoạn kết chỉ gồm lời của một đối tượng phát ngôn duy nhất, không trực tiếp hướng tới đối tượng tiếp nhận cụ thể, xác định (lời người kể chuyện, lời tác giả hoặc lời nhân vật)

Phổ biến nhất là những truyện ngắn được kết thúc bằng lời người kể chuyện Người kể có thể ở ngôi thứ nhất (người trong cuộc), cũng có thể ở ngôi thứ ba (người chứng kiến) Ta thấy rõ điều này trong các ví dụ sau:

“Có lẽ nàng nghĩ đúng Tôi không trách gì nàng Nhưng tôi yêu nàng vô hạn Ở cuộc đời, có những người cha không có quyền nhận con đẻ của mình”

(Câm lặng - Nguyễn Thị Ấm)

“Sáng hôm sau, Điền ngồi viết, giữa tiếng khác, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ đầu xóm Và tiếng chửi bới của một người láng giềng ban đêm mất gà”

(Giăng sáng - Nam Cao)

Những đoạn kết bằng lời người kể bị chi phối bởi nguyên tắc tôn trọng hiện thực nên diễn ra một cách tự nhiên, gắn với hành động hoặc số phận nhân vật

Trong nhiều trường hợp, đoạn kết truyện ngắn chính là nơi tác giả trực tiếp bày tỏ thái độ đối với vấn đề đặt ra trong tác phẩm Thông thường, đó là giọng điệu bình luận, đánh giá của tác giả

Trang 30

Ví dụ:

“Chao ôi! Một anh thợ vô danh ở làng mà giám có cao vọng đoạt quyền tạo hóa bằng cái tràng cái đục của mình sao? Biết thế nào được! Cõi

mơ mộng của con người ta là vô cùng mà”

(Nghệ nhân ở làng - Nguyễn Khải)

Đoạn kết được viết bằng ngôn ngữ tác giả luôn mang những yếu tố chủ quan Thái độ đồng tình, phản đối, tôn trọng, khinh ghét, căm thù, xót thương… được biểu hiện hết sức rõ ràng, nổi bật

- Đoạn kết đối thoại:

Đoạn kết đối thoại là loại đoạn văn biểu thị một tình huống đối thoại Trong văn bản truyện ngắn, chúng xuất hiện khá thường xuyên, bao gồm các tiểu loại:

+ Đoạn văn kết có lời thoại của một nhân vật:

Ví dụ:

“Nhưng ông Lũng ăn có ba miếng Ông đứng phắt dậy lấy cái đĩa, xếp vào đó độ hai chục múi to nhất và nói:

- Để đến tối, họp xong tao đánh lừa anh cán bộ về nhà, để mời anh ấy

ăn với tao, thì tao mới thấy ngon, thấy sướng”

(Cây mít - Nguyễn Công Hoan)

Ví dụ trên biểu đạt một tình huống đối thoại Ở đây, người trao lời (ông Lũng) hướng tới đối tượng cụ thể (vợ và con) nhưng không có lời hồi đáp

+ Đoạn văn kết có lời trao - lời đáp của các nhân vật:

Ví dụ:

“Con bé lau nước mắt xong rồi mới chạy vào Nó rón rén đứng bên

giường:

- Thầy bảo gì con cơ ?

- Con lên đây nằm thầy quạt cho

Trang 31

Vợ hắn biết là chồng đã hết giận, bảo chồng:

- Mình lại đây này… cả cái Hường cũng lại đây, nằm ghé bên em Em

nó ngủ rồi Mình quạt cho cả thằng Chuyên với cái Hường Tôi đi lấy gạo thổi cơm Lúc nãy còn một ít cơm nguội, chúng nó ăn, tôi chưa ăn gì”

(Nước mắt - Nam Cao)

Ở đây, đoạn văn kết là một cuộc hội thoại, có lời trao, lời đáp của các nhân vật và nằm ở cuối truyện ngắn

c) Xét về mặt ngữ nghĩa, đoạn văn kết được chia thành hai loại: đoạn văn kết đóng và đoạn văn kết mở

- Đoạn kết đóng: Là đoạn văn nằm ở cuối tác phẩm, có chi tiết kết thúc

số phận nhân vật, kết thúc hệ thống sự kiện của truyện hoặc tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá, kết luận cuối cùng về câu chuyện đã diễn ra Đoạn kết đóng thường đưa ra một kết cục rõ ràng, người đọc dễ dàng nắm bắt được nội dung, tư tưởng của tác phẩm

Ví dụ:

“Nhu đã nghe những lời như đinh đóng cột của anh Nhu lại thừ mặt ra một lúc lâu Nhu khóc như mưa… Rồi Nhu đã làm gì? Hỡi ôi! Nhu đã vâng theo: Nhu trở về với chồng, với hai vợ và sống như một con vú trong nhà chúng, trong cái cơ nghiệp mà chính tay Nhu đã dùng tiền của mẹ mình tạo ra”

(Ở hiền - Nam Cao)

Với đoạn kết này, có thể thấy số phận Nhu đã an bài Trong hoàn cảnh

ấy, với bản tính lành hiền đến nhu nhược nhường ấy, cuộc đời Nhu rồi sẽ chẳng bao giờ sang một tương lai khác Nhu sẽ mãi mãi chịu mọi khổ nhục và

an phận Đó là tất cả những gì chúng ta có thể nhận thấy từ cái kết truyện này

- Đoạn kết mở: Là đoạn văn nằm ở cuối tác phẩm nhưng không đưa ra một kết cục cuối cùng về số phận nhân vật và hệ thống sự kiện trong tác phẩm Tác giả cũng không nhận xét, đánh giá, kết luận về câu chuyện mà để

Trang 32

cho độc giả tự suy nghĩ, liên tưởng và lựa chọn cách kết thúc Vì thế, đoạn kết

mở cho phép người đọc có thể có những định hướng nhận thức khác nhau về nội dung, tư tưởng của truyện

Ví dụ:

“Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa con nhỏ bác

Lê ngồi ở vỉa hè, con Tý đang dỗ cho thằng Hy nín khóc, nói dối rằng mẹ nó

đi một lát sẽ về Nhưng họ biết rằng bác Lê không trở về nữa Và họ thấy một cái cảm giác lo sợ đè nén lấy tâm can, những người ở lại, những người còn sống mà cái nghèo khổ cứ đeo đuổi mãi không bao giờ dứt”

(Nhà mẹ Lê - Thạch Lam)

Tiếng khóc của những đứa bé, cảnh bơ vơ mồ côi của chúng để lại trong lòng người đọc âm hưởng của nỗi buồn khó dứt Truyện khép lại cái chết của người mẹ, song số phận của những đứa con sẽ ra sao? Đoạn kết của truyện mở ra những mối liên tưởng từ lòng trắc ẩn của người đọc

Rất nhiều truyện ngắn hiện đại để lại một khoảng trống tự do ở cuối truyện Cốt truyện vì thế không bao giờ khép Người đọc thực sự có khoảng trống nhập thân, có cơ hội đồng sáng tạo với tác giả

1.3 Bố cục, kết cấu, cốt truyện

Khi sáng tác tác phẩm tự sự nói chung và truyện ngắn nói riêng, nhà văn phải sắp xếp các nhân vật, cảnh ngộ, tính cách và sự kiện theo trình tự, một hệ thống nhất định, theo những tỉ lệ nhất định để trình bày với người đọc nội dung tác phẩm Nghĩa là để xây dựng nên một truyện ngắn, nhà văn phải chú ý đến bố cục, kết cấu và cốt truyện Sự liên kết giữa ba yếu tố này sẽ tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật, chi phối trực tiếp đến sự hiện diện cũng như đặc điểm của đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc Do vậy, khi nghiên cứu

về đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc, người ta không thể không chú ý đến bố cục, kết cấu và cốt truyện của tác phẩm

Trang 33

Việc sắp xếp, tạo dựng đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc liên quan chặt chẽ đến bố cục và đặc điểm kết cấu của một truyện ngắn Nếu thiếu khuyết đoạn văn mở đầu, đoạn văn kết thúc hoặc ngược lại, có đến nhiều hơn một đoạn văn kết thúc thì truyện ngắn sẽ có một bố cục và kết cấu đặc biệt

Chẳng hạn, truyện ngắn Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp có đến 3 đoạn văn

kết thúc:

Đoạn kết 1:

“Đoàn tìm vàng còn sót lại ba người Phăng bảo toàn nguyên vẹn số vàng đào được mang về Vua Gia Long vui mừng vì đã tìm được mỏ vàng Nhà vua cho khoanh vùng thung lũng Qụa và cho tiến hành khai thức mỏ Phăng được cử trông coi việc này Hai người châu âu sót lại trong đoàn tìm vàng cũng được mời tham gia nhưng họ từ chối Phăng trông coi việc khai thác mỏ trong hai năm Vua Gia Long rất tin cẩn y và thường ban cho y những bổng lộc hậu hĩnh Một hôm, người ta đưa đến cho y món ăn quý do

Trang 34

nhà vua ban: món chim hầm bát bảo nấu rất công phu Phăng ăn xong thì thấy bụng đau cồn cào dữ dội, mắt trợn ngược, máu ộc ra đầu mồm miệng Y chết ngay trên bàn ăn Trong một cuốn sổ ghi chép còn sót lại của y, người ta đọc thấy những dòng chữ như sau: Tất cả những cố gắng của con người hướng về điều thiện đều là những cố gắng đau đớn, nhọc lòng Điều thiện hiếm như vàng và sau đó phải được vàng bảo đảm mới có giá trị thực Chúng

ta sống vô nghĩa, nghèo khó và đau khổ trong những lí thuyết chắp vá đầy ngụy biện; những mối bất hòa kì thị dân tộc và đẳng cấp; những kinh nghiệm sống của chúng ta mông manh và vụn vặt xiết bao Đến bao giờ, hỏi đến bao giờ, trên mặt đất này xuất hiện tiến bộ?” [ IX, tr.207,208]

Đoạn kết 2:

“Thoát khỏi biển lửa, đoàn tìm vàng sót lại một mình Phăng Y mang

số vàng tìm đến được dinh quan sở tại.Phăng đưa tấm thẻ tín bài có dấu triện của vua Gia Long xin được che chở Quan huyện là một vị túc nho già, biết nghề thuốc Phăng đã dượng bệnh ngay tại huyện lị hẻo lảnh này Con gái quan huyện là Vũ Thị còn trẻ nhưng góa chồng mang lòng yêu mến y Sau khi Phăng về kinh đô, y được vua Gia Long ban thưởng hậu hĩnh Nhà vua đã cho tiến hành khai thác mỏ vàng Lúc này ở châu âu, nền đế chế của Napoleong Bonapac đã sụp đổ Châu sâu chín chắn hơn Họ đã bắt đầu hiểu vẻ đẹp và vinh quang một dân tộc không phải do cách mạng hoặc chiến tranh mang lại, cũng không phải do các nhà tư tưởng hoặc các Hoàng đế mang lại, bởi vậy

họ sống đỡ căng thẳng hơn, giản dị hơn, hợp tự nhiên hơn Phăng xin vua Gia Long mang theo Vũ Thị và một số vàng lớn hồi hương Về Pháp, ông lập một ngân hàng và sống sung xướng đến già Ông thường kể lại cho con cháu nghe về những kỉ niệm quá khứ, về những biến cố về xứ An Nam xa xôi Theo ông, thời kì ông ở An Nam mới là sự bắt đầu lịch sử của quốc gia người Việt, khi này biên giới phân định, chữ viết có gốc từ chữ La tinh phổ biến, người

Trang 35

Việt dần thoát ra sự cầm tù đáng sợ của nền văn minh Trung Hoa, có những mối giao lưu chung với cộng động nhân loại” [IX, tr.208,209]

Đoạn kết 3:

“Tất cả đoàn tìm vàng bị giết chết Lính triều đình bao vây và tấn công

họ chứ chẳng có thổ dân nào cả như trong hồi kí của người Bồ Đào Nha vô danh lầm tưởng Người ta tìm được vàng dấu trong đồ đạc của những người châu âu, nó lẫn trong quần áo và lẫn cả trong những sổ sách ghi chép Vua Gia Long cho xung công và sau đó cử một người trong hoàng tộc đứng ra lo việc khai thác mỏ vàng Cuối đời, vua Gia Long sống trong cung cấm, tìm cách tránh với mọi tiếp xúc với bên ngoài Nhà vua rất ghét những ai nhắc lại mối quan hệ với người này, người nọ khi nhà vua còn hàn vi, dù đấy là người Việt, người Trung Hoa hay người châu âu nào khác Triều Nguyễn của vua Gia Long lập ra một triều đại tệ hại Chỉ xin lưu ý bạn đọc đây là triều đại để lại nhiều lăng” [IX, tr.209,210]

Phần kết thúc với ba đoạn kết giả định của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất chính là sự “mở nút” cho toàn bộ câu chuyện Người đọc có quyền lựa chọn đoạn kết phù hợp với nhận thức và suy luận của bản thân

Nhà văn cũng có thể thay đổi vị trí của đoạn văn mở đầu để tạo nên những hiệu quả nghệ thuật nhất định, góp phần thể hiện tư tưởng tác phẩm

Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao là một dẫn chứng tiêu biểu Đoạn văn đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm miêu tả về một sự kiện: “Hắn vừa đi vừa

chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi Bắt đầu hắn chửi trời Có

hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chởi đời Thế cũng chẳng sao: Đời

là tất cả nhưng cũng chẳng là ai Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “chắc nó trừ mình ra!” Không ai lên tiếng cả Tức thật! Ồ thế này thì tức thật! tức chết đi được mất! Đã thế, hắn chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn Nhưng cũng không ai ra điều Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không?”

Trang 36

Tuy nhiên, đây không phải là đoạn văn mở đầu Sau khi miêu tả xong

sự kiện này, Nam Cao viết tiếp: “Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh

sương đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong một váy đục để bên một cái

lò gạch bỏ không, anh ta rước lấy và đen cho người đàn bà góa mù Người đàn bà góa mù này bán hắn cho một bác phó cối không con và khi bác phó cối này chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ”… Đoạn

văn này mới chính là đoạn văn thực hiện chức năng mở đầu truyện ngắn (giới thiệu về hoàn cảnh xuất thân, lai lịch nhân vật) Có thể thấy, với việc hoán đổi

vị trí của đoạn văn mở đầu với đoạn văn triển khai, truyện ngắn Chí Phèo dễ

dàng tạo được một ấn tượng đặc biệt cho người đọc, khiến cho người đọc cảm thấy được tiếp xúc một cách trực tiếp với đời sống hiện thực trong tác phẩm

Từ đó, tính khách quan, chân thực của đời sống được thể hiện nổi bật, hiệu

quả hơn

Kết cấu truyện ngắn không chia thành nhiều tuyến phức tạp nên nhà văn càng có điều kiện tập trung, tạo sức dồn nén có tính liên tục của các sự kiện và nhiều mối quan hệ trực tiếp giữa chúng để làm nên cốt truyện

1.3.2 Cốt truyện

Cốt truyện trong truyện ngắn là kiểu cốt truyện đơn tuyến Xét về quy

mô, nó đối lập với cốt truyện đa tuyến thường tồn tại trong tiểu thuyết và tác phẩm tự sự dài hơi Cốt truyện (dù đơn tuyến hay đa tuyến) thường có năm thành phần: trình bày, khai đoạn (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc (mở nút) Tuy nhiên, không phải cốt truyện nào cũng đầy đủ năm thành phần và đặc biệt trong tác phẩm cụ thể không phải bao giờ chúng cũng được sắp xếp theo trình tự như vậy Mối quan hệ nội tại (do kết cấu cụ thể) sẽ quy định sự tiến triển và thành phần cốt truyện

Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng cho rằng: “Trong thực tiễn sáng tác

truyện ngắn thì thường các nhà văn chú ý đến hai khâu quan trọng nhất khi

Trang 37

xây dựng cốt truyện: chi tiết và đoạn kết” [55, tr.84] Đoạn kết Chí Phèo của

Nam Cao, nhân vật Chí Phèo chết nhưng cuộc đời Chí Phèo chưa kết thúc vì

“Thị Nở nhìn nhanh xuống cái bụng…đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra cái lò

gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại…” Hình ảnh cái lò gạch

cũ được Nam Cao đề cập ở đầu truyện lại được tái hiện ở phần cuối truyện hàm chứa ý nghĩa về sự luân hồi, quẩn quanh, bế tắc của những con người khốn khổ trong xã hội cũ Cách kết thúc như vậy gợi mở nhiều cái kết khác nhau cho nhân vật và cho câu chuyện được kể

Điều đó cho thấy, đoạn văn kết thúc có vai trò to lớn trong việc kiến tạo tác phẩm Như vậy, giữa bố cục, kết cấu và cốt truyện của truyện ngắn với đoạn văn mở văn bản có sự đan xen giữa đoạn văn bình thường và đoạn văn đặc biệt Sự xuất hiện ít hoặc nhiều một kiểu loại đoạn văn xét về mặt cấu tạo

là do sự chi phối của đặc trưng phong cách chức năng và phong cách tác giả

1.4 Đặc điểm thi pháp của truyện ngắn Việt Nam đương đại

Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, có những điểm ổn định và biến đổi trong nội dung và hình thức thể loại

Trước hết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975 là sự kế thừa truyền thống

để bảo lưu “mã di truyền” của hình thức thể loại Theo M.Bakhtin: “Xét về

thực chất , thể loại văn học phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững trong sự phát triển văn học Ở thể loại bao giờ cũng bảo lưu những yếu tố cơ sở bất tử Thật ra cái cơ sở này được bảo lưu chỉ nhờ vào sự đổi mới thường xuyên, có thể nói là nhờ được hiện đai hóa Thể loại bao giờ cũng vừa là nó vừa không phải là nó, nó bao giờ cũng đồng thời vừa cũ kĩ vừa mới mẻ… Thể loại là kẻ đại diện của kí ức sáng tạo trong quá trình phát triển của văn học” [8, tr.101]

Trong quá trình phát triển của thể loại, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

có những biến đổi đáng kể về cách phản ánh hiện thực, về tư duy nghệ thuật,

Trang 38

song về cơ bản đa số tác phẩm vẫn chưa thực sự vượt thoát ra khỏi khung thể loại truyền thống Tư tưởng về hiện thực có thể ngày càng hiện đại hơn, dân chủ hơn nhưng quan niệm thể loại rất ít thay đổi Theo nhiều nhà nghiên cứu, truyện ngắn Việt Nam hiện đại có thể chia làm ba loại chính dựa trên sự khác biệt cơ bản trong cách phản ánh hiện thực và kiểu kết cấu tự sự

- Loại truyện ngắn - kịch hóa là các tác phẩm dùng thủ pháp của kịch

để tạo ra một kiểu cấu trúc tự sự mới, trong đó vẫn có câu chuyện được được

kể lại nhưng chủ yếu gợi ra ấn tượng có một hành động đang tự diễn ra trong một môi trường xung đột đầy kịch tính Đây là những truyện mang tính đặc trưng của truyện ngắn, truyện thể hiện góc nhìn thế giới qua hành động Những truyện ngắn được xây dựng theo hướng kịch hóa thường lấy một hành động nhân vật làm nòng cốt Mọi vấn đề của tác phẩm thường xoay quanh việc phân tích hành động giàu xung đột, giàu kịch tính này Truyện thường có cốt truyện gay cấn; sự kiện, hành động tập trung trong một tình huống điển hình nhất

- Loại truyện ngắn trữ tình hóa thường sử dụng thủ pháp của trữ tình để tạo ra một cấu trúc tự sự mới, trong đó câu chuyện được kể lại chủ yếu để gợi

ra ấn tượng về một thế giới đang tồn tại trong tâm tưởng của con người Cốt truyện thường ít sự kiện hành động, sự phát triển của tác phẩm thường dựa vào một tình huống trữ tình giàu sức gợi để bày tỏ, bộc lộ thế giới tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của nhân vật

Truyện ngắn trữ tình thường không có cốt truyện, cho nên tiếp cận, đọc hiểu truyện ngắn trữ tình không nhất thiết phải qua cách tiếp cận cốt truyện truyền thống mà nên đi vào khám phá thế giới tâm trạng, cảm xúc và cảm giác của nhân vật Khi viết về con người trong các mối quan hệ, các nhà văn ít chạy theo sự kiện mà chủ yếu khám phá vấn đề thông qua thế giới tâm hồn, đặc biệt qua sự trải nghiệm về tinh thần của nhân vật Các nhà văn Nguyễn

Trang 39

Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần… đã vượt ra ngoài phương thức miêu tả vừa thực vừa hư, vừa trần thế vừa ảo mộng, chuyện hiện tại chuyện dĩ vãng nhằm tạo dựng cuộc sống qua thế giới tâm hồn của nhân vật “tôi” Phương thức thể hiện này không chỉ làm cho hiện thực được phản ánh có chiều sâu mà còn giàu sức khái quát, sức ám ảnh lớn

- Loại truyện ngắn tiểu thuyết hóa là một loại truyện tổng hợp loại thể,

ở đó các thủ pháp kịch và trữ tình vẫn được sử dụng nhưng không nhằm diễn

tả hành động hay trạng thái cảm xúc mà trước hết là để phân tích, lí giải đời sống qua mối quan hệ của con người với môi trường, hoàn cảnh, tính cách.Với kiểu truyện ngắn này, tình huống truyện phổ biến là tình huống đời thường và tình huống luận đề đánh dấu sự quay trở lại với cuộc sống đời thường của văn học và từ tình huống ấy, nhân vật cũng như người đọc sẽ chiêm nghiệm ra những điều sâu sắc trong cuộc sống

Bên cạnh việc kế thừa những giá trị truyền thống, truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 đã có những nỗ lực cách tân lớn về nội dung và hình thức thể loại để đổi mới vàphát triển, bắt kịp xu hướng phát triển tất yếu của văn học đương đại

Thứ nhất, truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã phá vỡ sự quen thuộc bằng việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, bằng sự có mặt của phương thức huyền thoại hóa và sự gia tăng thủ pháp phân mảnh trong kỹ thuật tự sự

Từ mô hình con người lí tưởng, con người thánh nhân, con người đơn trị đến con người đa trị, phức tạp, bí ẩn, không thể đoán trước, không thể biết hết Từ 1930 đến 1945, truyện ngắn Việt Nam có sự phát triển vượt bậc cả về

số lượng và chất lượng, gắn liền với sự mở rộng và đi sâu khai thác, lí giải mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh là sự phân hóa phức tạp theo nhiều khuynh hướng: khuynh hướng đạo lí, khuynh hướng hiện thực và khuynh

Trang 40

hướng lãng mạn Về thể loại truyện ngắn, trước 1945 truyện ngắn Việt Nam hầu như chỉ tập trung vào chủ đề sinh hoạt- phong tục, miêu tả những mặt trái của các quan hệ xã hội đương thời, thể hiện cảm quan về sự suy sụp của những giá trị nhân bản truyền thống Trong quỹ đạo của nền văn học mới, với

sự tìm tòi của nhà văn, truyện ngắn sau 1945 đã trở nên đa dạng hơn về chủ

đề, về kết cấu về giọng điệu, ngôn ngữ Nếu trong ý thức văn học 1945- 1975, quan niệm gắn bó với cuộc sống để nêu gương về con người là một nội dung nổi bật và chính từ quan niệm này, con người trong văn học đã được nhìn chủ yếu dưới góc độ sử thi, được nhìn nhận, cảm thụ, đánh giá trong quan hệ cộng đồng, theo tình cảm và lợi ích cộng đồng, thì từ 1975 đến nay, quan niệm con người đời thường phàm tục, không hoàn hảo, phức tạp bí ẩn lượng diện, không thể đoán trước, không thể biết hết, con người như nó vốn có lại là đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Việt Nam đương đại

Thứ hai, sự gia tăng thủ pháp phân mảnh trong kỹ thuật tự sự - một cách phá vỡ cấu trúc truyền thống trong truyện ngắn Việt Nam Sự xâm nhập các thể loại khác vào truyện ngắn như thơ, tiểu thuyết, báo chí… cũng là một nhân tố làm co giãn cốt truyện Truyện ngắn có thể chứa trong chính nó: nhật

kí, chuyện kể, thơ, thư từ, tin tức… Những hình thức văn bản trong văn bản góp phần tạo thành những tiếng nói khác nhau trong truyện ngắn hiện đại, nới rộng cấu trúc thể loại, mở rộng trường nhìn Như vậy, cốt truyện truyện ngắn Việt Nam hiện đại không biến mất mà ở từng phần cụ thể, mỗi người viết có thể sáng tạo ra nó bằng nhiều cách thức, kiểu dạng mà mục đích cuối cùng là

sự thể hiện ý đồ nghệ thuật một cách có hiệu quả hơn Sự kết hợp hài hòa giữa chất tự sự và chất thơ vừa đưa văn xuôi về phía cuộc sống, vừa làm giàu thêm xúc cảm thẩm mĩ của người đọc hôm nay Truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975

đa dạng hơn trong nội dung phản ánh, phong phú hơn trong hình thức diễn đạt, tự do trong cách thức dựng truyện Bên cạnh những truyện ngắn tuân thủ

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2000
2. Lại Nguyên Ân(2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
3. Lại Nguyên Ân (2000), Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2000
4. M.Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
5. Diệp Quang Ban (2003), Giao tiếp - văn bản - mạch lạc - liên kết - đoạn văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp - văn bản - mạch lạc - liên kết - đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
6. Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
7. Diệp Quang Ban (2007), Văn bản, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2007
8. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
9. Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
10. Lê Huy Bắc, Cốt truyện trong tự sự, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 7/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cốt truyện trong tự sự", Tạp chí "Nghiên cứu Văn học
11. Lê Thị Thu Bình (2007), Đặc điểm đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn (qua khảo sát một số truyện ngắn Việt Nam tiêu biểu), Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn
Tác giả: Lê Thị Thu Bình
Năm: 2007
12. Phan Mậu Cảnh (2005), Vai trò của đoạn văn mở đầu trong văn bản, Tạp chí khoa học, số 13, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đoạn văn mở đầu trong văn bản
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Năm: 2005
13. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2007), Đại cương ngôn ngữ học tập 1, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2007
14. Đỗ Hữu Châu (1994), Ngữ pháp văn bản, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp văn bản
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1994
15. Nguyễn Đức Dân (1997), Logic - cú pháp - ngữ pháp, Nxb Đại học và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic - cú pháp - ngữ pháp
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Đại học và THCN
Năm: 1997
16. Nguyễn Đức Dân (1998), Lý luận lập luận, Tạp chí Ngôn ngữ, Số 5/1998, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận lập luận", Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1998
17. Galperin, I.R (1997), Văn bản với tư cách là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản với tư cách là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học
Tác giả: Galperin, I.R
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
18. Văn Giá (1999), Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường
Tác giả: Văn Giá
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
19. Nguyễn Thị Thu Hà (2009), Mạch lạc theo ngữ pháp truyện trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạch lạc theo ngữ pháp truyện trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2009
20. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Theo số liệu thống kê trong bảng 2.1, số lượng đoạn văn mở đầu trong truyện  ngắn  Nguyễn  Ngọc  Tư  nhiều  hơn  số  lượng  tác  phẩm - Đặc điểm đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư
heo số liệu thống kê trong bảng 2.1, số lượng đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhiều hơn số lượng tác phẩm (Trang 45)
Bảng 2.3. Kết quả phân loại đoạn văn mở đầu về ngôn ngữ - Đặc điểm đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư
Bảng 2.3. Kết quả phân loại đoạn văn mở đầu về ngôn ngữ (Trang 52)
Bảng thống kê 3.1 cho thấy, số lượng đoạn văn kết thúc nhiều hơn số lượng  truyện  ngắn,  trong  đó,  số  lượng  truyện  ngắn  chỉ  có  01  đoạn  văn  kết  thúc chiếm đa số (34/38) - Đặc điểm đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư
Bảng th ống kê 3.1 cho thấy, số lượng đoạn văn kết thúc nhiều hơn số lượng truyện ngắn, trong đó, số lượng truyện ngắn chỉ có 01 đoạn văn kết thúc chiếm đa số (34/38) (Trang 78)
Bảng 3.2. Số lượng câu đơn, câu ghép trong đoạn văn kết thúc - Đặc điểm đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư
Bảng 3.2. Số lượng câu đơn, câu ghép trong đoạn văn kết thúc (Trang 85)
Bảng 3.4. Các kiểu lời trong đoạn văn kết thúc - Đặc điểm đoạn văn mở đầu và đoạn văn kết thúc trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư
Bảng 3.4. Các kiểu lời trong đoạn văn kết thúc (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w