1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập

126 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu về tạp văn Nguyễn Quang Lập Khi Kí ức vụn của Nguyễn Quang Lập phát hành, có hàng loạt các nhà nghiên cứu đã viết bài giới thiệu, đánh giá, phê bình tác phẩm.. Tác

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngũ khoa Ngữ văn trường Đại học Vinh

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ và đặc biệt, cho tôi tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo

TS Nguyễn Hoài Nguyên đã tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ và hướng dẫn

để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn

Đây là những bước đi đầu tiên của tôi trên con đường nghiên cứu khoa học, vì vậy, không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để luận văn của tôi hoàn thiện hơn

Vinh, tháng 01 năm 2012

Tác giả

Đoàn Thị Thúy

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Lịch sử vấn đề 3

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của đề tài 7

6 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.1 Kí ức vụn trong văn nghiệp của Nguyễn Quang Lập 8

1.1.1 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Lập 8

1.1.2 Nguyễn Quang Lập - hotboy blog 12

1.1.3 Từ blog Quê choa đến Kí ức vụn 14

1.2 Khẩu văn trong Kí ức vụn 15

1.2.1 Xác lập một hình thức văn mới 15

1.2.2 Một hình thức phô diễn mới 20

1.2.3 Khẩu văn và sex 21

1.3 Tiểu kết chương 1 27

Chương 2 TỪ NGỮ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG KÍ ỨC VỤN 28

2.1 Các lớp từ ngữ trong Kí ức vụn 28

2.1.1 Từ và vai trò của từ trong tác phẩm nghệ thuật 28

2.1.1.1 Định nghĩa về từ 28

2.1.1.2 Vai trò của từ trong văn bản nghệ thuật 30

2.1.2 Cách sử dụng từ ngữ trong Kí ức vụn 31

2.1.2.1 Lớp từ địa phương 32

2.1.2.2 Lớp từ khẩu ngữ 40

Trang 4

2.1.2.3 Lớp từ nhân danh, địa danh 48

2.1.2.4 Lớp từ xưng hô 60

2.2 Một số biện pháp tu từ trong Kí ức vụn 66

2.2.1 So sánh tu từ 66

2.2.1.1 Khái niệm so sánh tu từ 66

2.2.1.2 So sánh tu từ trong tạp văn Nguyễn Quang Lập 69

2.2.2 Liệt kê 73

2.2.2.1 Khái niệm về liệt kê 73

2.2.2.2 Liệt kê trong tạp văn Nguyễn Quang Lập 73

2.2.3 Phép điệp 77

2.2.3.1 Khái niệm về điệp tu từ 77

2.2.3.2 Điệp tu từ trong tạp văn Nguyễn Quang Lập 78

2.3 Tiểu kết chương 2 81

Chương 3 CÂU VĂN TRONG KÍ ỨC VỤN 82

3.1 Một số vấn đề chung 82

3.1.1 Khái niệm câu 82

3.1.2 Đặc điểm của câu 83

3.1.3 Phân loại câu 84

3.1.3.1 Phân loại câu theo cấu trúc cú pháp 84

3.1.3.2 Phân loại câu theo mục đích phát ngôn 86

3.2 Đặc điểm câu văn trong Kí ức vụn 88

3.2.1 Câu đơn 88

3.2.2 Câu đặc biệt 97

3.2.3 Câu có cấu trúc phức hợp 103

3.2.4 Câu tách biệt 108

3.3 Tiểu kết chương 3 112

KẾT LUẬN 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Không đặt mình ra khỏi vòng quay phát triển và đổi mới của xã hội, văn học cũng đã có những bước đổi mới đáp ứng nhu cầu của cuộc sống mới và thị hiếu của bạn đọc Do khối lượng công việc ngày càng bận rộn, thời gian ngày càng hẹn hẹp nên độc giả hôm nay dường như có xu hướng đọc nhanh và muốn đọc nhiều thứ Vì vậy, người đọc thường tìm đến những thể loại có khả năng đáp ứng những nhu cầu đó như truyện ngắn, truyện cực ngắn (truyện mi ni), tạp văn, bút ký, Những thể loại này không những có dung lượng ngắn mà chúng còn được viết bởi ngôn ngữ gần gũi, quen thuộc

1.2 Gần đây, tạp văn là thể loại được sử dụng khá phổ biến So với các thể ký khác, tạp văn đang trở thành mối quan tâm đối với độc giả Với sự phát triển mạnh mẽ của thời đại thông tin và nhịp sống hiện đại, tạp văn trở thành thể loại có ưu thế bởi tính chất ngắn gọn, có thể chớp được một suy nghĩ, một khoảnh khắc suy tư, một thoáng liên tưởng mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả Nhờ vậy, nó đạt được những khía cạnh sâu xa một cách bất ngờ và có tác động trực tiếp tới tư duy, tình cảm của người đọc Chính vì vậy, tạp văn như món ăn tinh thần ngày càng cần thiết và có xu hướng lựa chọn nhiều hơn cho các cây bút Hầu như báo Văn nghệ số nào ít nhất cũng đăng một bài tạp văn Nhiều bài báo không chuyên về văn chương cũng in tạp văn Đặc biệt, mấy năm gần đây, văn chương mạng nở rộ, có không ít nhà văn lập blog cá nhân đăng tải nhiều thể loại, trong đó có tạp văn Song dường như, những ý kiến, nhận xét, đánh giá, nghiên cứu về thể loại này còn rất ít

1.3 Nguyễn Quang Lập - nhà văn, nhà đạo diễn, nhà biên kịch đã khẳng định tên tuổi của mình qua truyện ngắn, tiểu thuyết, viết kịch, làm

phim Nhưng phải đến Kí ức vụn, mà trước đó là blog Quê choa, ông mới trở

Trang 6

nên nổi tiếng, được công chúng và giới phê bình đặc biệt chú ý Từ blog Quê

choa đến Kí ức vụn, Nguyễn Quang Lập đã tái cấu trúc kí ức của chính bản

thân mình và những người mình đã từng gặp gỡ, quen biết bằng một hình

thức văn xuôi mới lạ, hấp dẫn: khẩu văn Trên blog Quê choa, Nguyễn Quang

Lập viết tạp văn bằng một thứ khẩu văn rất có duyên Khẩu văn Nguyễn Quang Lập có sự pha trộn của lối nói dân gian tự nhiên, sinh động với thể văn hồi kí phóng túng, đầy cảm hứng Khẩu văn Nguyễn Quang Lập là viết theo

lối nói như tác giả đang nói, trò chuyện trực tiếp với người đọc Do đó, đọc Kí

ức vụn ta khoái cảm như đang nghe những âm thanh đang chạy rần rật, như

thấy con chữ đang cựa quậy trên trang giấy Một số tạp văn kiểu văn học

mạng từ blog Quê choa đã được tập hợp thành cuốn Kí ức vụn (2009), Nxb

Hội Nhà văn - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Ngôn ngữ tạp

văn Nguyễn Quang Lập có nhiều nét độc đáo, thực sự có cá tính và có sức hấp dẫn

Đây chính là những lý do khiến chúng tôi xác định đề tài Đặc điểm

ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Quang Lập làm luận văn tốt nghiệp Đề tài này góp

phần khẳng định tài năng nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Quang Lập nói chung và phong cách tạp văn của ông nói riêng, bổ sung thêm

tư liệu về tác giả Nguyễn Quang Lập

2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Quang

Lập chủ yếu trong tác phẩm Kí ức vụn (2009), Nxb Hội Nhà văn - Trung tâm

văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Tác phẩm gồm có 59 bài tạp văn

Ngoài ra, chúng tôi còn bổ sung tìm hiểu thêm 20 bài tạp văn trên blog Quê

choa của Nguyễn Quang Lập Đó là: Chuyện bắt phi công (60); Chuyện củ khoai to (61); Xóm gái hoang (62); Ba lần yêu cô giáo (63); Chuyện buồn

Trang 7

đau muôn thuở (64); Tin đồn (65); Nổ và nổ, he he (66); Cái móng chân (67); Chú Lình (68); Hố xí hai ngăn (69); Đa phu (70); Tiên trách kỷ (71); Ma ám (72); Bánh trung thu (73); Cưới xin thời bao cấp (74); Hot boy - hot beo (75); Thương nhớ nghìn năm (76); Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp-ri (77); Đời yếm (78); Chuyện đời vớ vẩn (79) Tương ứng với các chuyện chúng tôi sắp

xếp theo thứ tự từ 1 đến 79 Ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Quang Lập được chúng tôi tìm hiểu trên các bình diện từ ngữ , một số biện pháp tu từ và một

số đặc điểm về câu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này, luận văn sẽ hướng tới những nhiệm vụ sau:

- Khảo sát các lớp từ và một số biện pháp tu từ trong tạp văn Nguyễn Quang Lập, để làm nổi bật đặc điểm của khẩu văn

- Khảo sát câu văn trong tạp văn Nguyễn Quang Lập, làm nổi bật giọng văn nửa quê nửa tỉnh của ông

- So sánh tạp văn Nguyễn Quang Lập với một số tác giả, nhằm khẳng định ngôn ngữ Nguyễn Quang Lập thực sự có cá tính

3 Lịch sử vấn đề

3.1 Những nghiên cứu về tạp văn

Từ góc độ phê bình văn học, một số nhà nghiên cứu như Phan Cự Đệ (2005), Lê Thị Đức Hạnh (1983), Trương Chính (1993), đã có những đánh giá về tạp văn Ngô Tất Tố Nguyễn Thị Thương (2010), đã tìm hiểu về kết cấu tạp văn Mạc Ngôn Những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ hay khóa luận tốt nghiệp đã khảo sát tạp văn từ góc độ ngôn ngữ học Chẳng hạn, Trần Ngọc Lan (2008), khảo sát "Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn Băng Sơn qua Thú ăn chơi người Hà Nội"; Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2009), tìm hiểu về "ngôn ngữ tạp văn Hồ Chí Minh"; Phạm thị Hà (2010), tìm hiểu về "Ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư qua khảo sát Ngày mai của những ngày mai "

Trang 8

3.2 Tình hình nghiên cứu về tạp văn Nguyễn Quang Lập

Khi Kí ức vụn của Nguyễn Quang Lập phát hành, có hàng loạt các nhà

nghiên cứu đã viết bài giới thiệu, đánh giá, phê bình tác phẩm Các bài viết này chủ yếu bàn về nội dung tác phẩm, nhưng hầu hết các tác giả đều thống

nhất, đánh giá Kí ức vụn được viết bằng một thứ khẩu văn rất có duyên, độc

đáo, hấp dẫn

Tác giả Nguyễn Anh Thế đã nhận xét về cách viết tạp văn của nhà văn Nguyễn Quang Lập "giống như truyện của AzitNexin ở khả năng buộc người

ta phải bật cười bởi những từ ngữ và tình huống truyện, còn tạp văn Kí ức

vụn của nhà văn Nguyễn Quang Lập khiến người ta bật cười bởi cái cười ấy

nhiều khi tự nhiên như thể chất gây cười không cần nằm trong ý nghĩa câu chuyện mà nằm ngay trong lớp vỏ chữ Điều này khiến ta bất ngờ và khó lý giải Tại sao Nguyễn Quang Lập lại sử dụng tiếng địa phương nhuần nhuyễn đến vậy” Tác giả còn nhận xét: “Mỗi một bài viết người đọc lại nhận được dăm ba chi tiết độc đáo đến kỳ dị, mà chưa ai viết hoặc chưa ai dám viết Nguyễn Quang Lập đã đi sâu vào đời sống, viết với một góc nhìn lệch đi 30

độ để thấy được đằng sau cái vốn sống, đang hiện hữu ấy là gì?” Tác giả đã

nghiên cứu cuốn tạp văn Kí ức vụn của nhà văn Nguyễn Quang Lập trên bình diện về nghệ thuật ngôn từ và nội dung của Kí ức vụn gây cười về ý nghĩa xã

hội sâu sắc Tác giả còn thống kê trong cuốn sách dưới 300 trang, nhà văn đã dựng được không dưới 50 thân phận trong ấy mỗi thân phận một cuộc đời, mỗi thân phận một niềm vui, bất hạnh riêng Tác giả khẳng định mỗi khi đọc cũng thấy vui vui vì thấy một phần, một mảnh cuộc đời mình trong đó

Viết về khẩu văn của Nguyễn Quang Lập, nhà văn Bảo Ninh cho rằng:

"Anh viết dường như rất dễ, nhưng sự dễ ấy trái ngược hoàn toàn với dễ dãi

Đố anh dễ dãi nào viết được như thế Viết được như thế thật sướng, nhưng muốn sướng được như vậy phải đổi cả một đời trần ai, nào ai dám đổi"

Trang 9

Trần Đăng Khoa khi đọc Kí ức vụn đã khen tác phẩm Kí ức vụn "Kí ức

vụn mà không hề vụn" "Những câu chuyện khơi khơi, tưởng như nói tào lao cho vui, mà thâm trầm, sâu sắc ra trò Chuyện thế mà không phải thế Đây là chỗ hơn người của bọ Lập Tài Lập có khả năng điểm huyệt, nhất là khi viết

về các bạn văn, bởi thế, anh chỉ phảy vài nét mà hiện được người, hiện được cảnh, với giọng văn rất riêng Đọc nguyên bản trên blog còn thú vị hơn nhiều, bởi cái khẩu khí đặc biệt của Lập Những ngôn ngữ vỉa hè, bặm trợn, thậm chí rất tục mà đọc lại không thấy tục Đây là biệt tài của Lập Không phải ai cũng

làm được và không dễ học được " (Trần Đăng Khoa, Kí ức vụn mà không

vụn, Văn học và tuổi trẻ, 2009, số 2)

Báo Người lao động, đã đăng bài "Ghép lại những mảnh vụn kí ức"

của Tiểu Quyên, trong đó có đoạn tác giả viết về Kí ức vụn của Nguyễn

Quang Lập: "Nhiều bạn văn nhận xét vui rằng Nguyễn Quang Lập viết “Kí ức vụn” bằng ngôn ngữ đôi lúc “tưng tưng”, “cù rờ cù rựng” và dùng cả những

từ ngữ nằm trong “vùng cấm kỵ” đến mức “tầm bậy tầm bạ” Nhưng thật kỳ

lạ, nếu thiếu những ngôn ngữ ấy thì các mảnh kí ức chắc chắn sẽ vắng hẳn nét riêng trong văn chương của bọ Lập"

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã nhận xét về giọng văn trong Kí

ức vụn: " Thường người ta hoài niệm thì hay tiếc nuối và tiếc nuối thì hay kể

lể và triết lý rông dài Nhưng Lập hoài niệm là kể chuyện có truyện, kể một cách giản dị, xúc động, với những chi tiết được lọc qua cái ray trí nhớ và được nói ra tự nhiên và khéo léo qua miệng một người viết văn có nghề Như chi tiết con Hà bị giết bom còn giữ chặt 5 hào bạc trong tay Như chi tiết thằng

Dư cõng em lết đi trên đường làng mà không hay đứa em đã chết trên lưng mình Những chi tiết khiến người đọc rơi nước mắt vì sự sống thực"

Tác giả Ngô Ngọc Ngũ Long có bài: “Nguyễn Quang Lập được công chúng biết đến nhiều ở lĩnh vực điện ảnh và sân khấu, nhiều hơn là văn học”

Đây là bài viết tác giả nhận xét về tập Kí ức vụn Tác giả cho rằng: "Mỗi câu

Trang 10

chuyện được kể bằng lối văn nói rất “bọ” của vùng quê Quảng Bình, một lối văn tuy viết bằng chữ trên giấy mà người đọc có cảm giác như mình đang được nghe kể bằng vô số âm thanh hài hước lạ tai " Tác giả còn so sánh với cách kể rặt tiếng địa phương Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư, với cách kể của Nguyễn Quang Lập được nâng lên một nấc thang nữa của lối văn nói đầy ắp chất cười của dân gian

Còn tác giả Nguyễn Ái Học thì viết: "Kí ức vụn của Nguyễn Quang Lập gồm 59 bài, gọi là truyện ngắn cũng được, gọi là hồi ký cũng được, gọi là chân dung cũng đúng Bởi vây, gọi là tạp văn là hợp lý! Đọc Kí ức vụn, cảm giác ban đầu thấy Nguyễn Quang Lập nói càng chuyện "tầm bậy tầm bạ", "cù

rờ cù rựng"! Suy ngẫm một chút ta dễ thấy giọng văn ở đây có vẻ "ba trợn ba trạo" mà thực chất không "ba láp", "ba hoa ", cứ tưởng "cù rờ cù rựng" mà thực chất toàn chuyện cần thiết, nghiêm chỉnh, chuyện trung tâm của con

người " (Nguyễn Ái Học, Kí ức vụn: Khối tình lớn, đọc "đã đời", Báo Thể

thao và văn hóa, 2009)

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Tư liệu để khảo sát là 59 bài tạp văn trong cuốn Kí ức vụn (2009), Nxb

Hội Nhà văn - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông tây Bổ sung thêm 20 tạp

văn được thu thập từ blog Quê choa của Nguyễn Quang Lập

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ đã được nêu ở trên, trong luận văn chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu quen thuộc thường được áp dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật

- Phương pháp thống kê phân loại

Với phương pháp này chúng tôi thống kê phân loại về các loại từ, biện pháp tu từ và một số loại câu trong 79 tạp văn mà chúng tôi khảo sát

Trang 11

- Thủ pháp phân tích, miêu tả và tổng hợp

Trên cơ sở thống kê phân loại, chúng tôi sử dụng các thủ pháp phân tích, miêu tả các đặc điểm từ ngữ và câu văn trong tạp văn Nguyễn Quang Lập Từ đó, tổng hợp đưa ra những khái quát về phong cách ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Quang Lập

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Quang Lập với một số tác giả khác, nhất là tác giả cùng thời như Băng Sơn, Nguyễn Ngọc Tư nhằm mục đích làm nổi bật đặc điểm riêng của Nguyễn Quang Lập cũng như đóng góp của ông

5 Đóng góp của đề tài

- Luận văn Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Quang Lập đi sâu vào

nghiên cứu ngôn ngữ tạp văn của Nguyễn Quang Lập ở những khía cạnh đặc sắc về từ ngữ và biện pháp tu từ, câu văn Qua đó, luận văn đánh giá những đóng góp cũng như những hạn chế của ông, giúp hiểu thêm về ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Quang Lập

- Qua hình thức khẩu văn của Nguyễn Quang Lập, luận văn góp phần chứng tỏ xu hướng tự do hóa, hiện đại hóa của ngôn ngữ văn xuôi đương đại Việt Nam

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Nội dung và phần Kết luận thì luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2 Các lớp từ ngữ và một số biện pháp tu từ trong Kí ức vụn Chương 3 Câu văn trong Kí ức vụn

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Kí ức vụn trong văn nghiệp của Nguyễn Quang Lập

1.1.1 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Lập

Nguyễn Quang Lập (1956) là nhà văn, nhà viết kịch, nhà biên kịch điện ảnh của Việt Nam Nguyễn Quang Lập là tên thật Ông sinh năm 1956 tại Quảng Trạch - Quảng Bình Ông còn có bút danh Hồng Nhật, Hồng Đức, Quang Quang

Cũng như phần lớn các nhà văn Việt Nam khác, ông cũng có thời gian tham gia quân đội và một số tác phẩm đầu tay của ông được viết trong thời kỳ này Sau khi rời quân ngũ, ông làm việc tại Nhà xuất bản Kim Đồng Hiện nay ông làm việc tại báo Sài Gòn tiếp thị

Nguyễn Quang Lập là hội viên của Hội nhà văn Việt Nam, Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Hội điện ảnh Việt Nam và Hội nhà báo Việt Nam

Ông là một người thông minh, hóm hỉnh, nói năng tếu táo, có khi bốc đồng nhưng rất thật bụng, là người thẳng tính nên ông không ít những người ghét Sau Đại hội nhà văn trẻ lần III (1987) ở Hà Nội, các nhà văn được tham quan nhà máy Thủy điện Hòa Bình đang xây dựng Trên xe, nhà văn đã kể chuyện tếu làm mọi người cười nghiêng ngả Những chuyện như nhà văn Huế ngu ngơ lặn lội vô Sài Gòn mua thuốc bổ cho vợ uống để vợ “múp”, sờ cho mát tay lại mua phải thuốc tăng trọng lợn; chuyện xây nhà lầu cho văn nghệ sĩ không cần xây hố xí v.v Ông là người thẳng tính nên trong cuộc sống không

ít người ghét Trong bài báo viết về cái tâm nước bọt của ông ít người trong ngành điện ảnh gần đây, ông kể: “Vương Đức xưa làm phim Cỏ lau, tìm trợt

mặt một diễn viên đóng vai nữ phụ, mừng hơn cha chết sống lại Cô này nói

em từ chối nhiều vai rồi, nhưng vai này hay lắm khổ mấy em cũng làm Cô này lại nói Quảng Trị là chiến trường ba em chiến đấu chết em cũng đi

Trang 13

Vương Đức nghe suýt trào nước mắt Đến khi nói chuyện tiền nong, cô đòi cao ngất, gấp đôi vai diễn chính, Vương Đức cũng cắn răng nghe theo Tưởng thế là xong, đến ngày vi hành, cô gọi điện đòi thêm nữa, nói tiền bảo hành cho

bộ giò của cô Vương Đức nghe suýt té xỉu, đành thank and bye người đẹp cùng với cái tâm nước bọt của cô” Viết thật như vậy dễ bị người ta ghét Nhưng như thế mới chinh phục được độc giả ngày càng khó tính

Năm 1986 - 1988, ông sống trong một gian phòng bốn mét vuông vừa

kê đủ cái giường ngủ ở 22 - Lê Lợi - Huế Giữa lúc đó, ông gặp cô gái Ba Đồn Nguyễn Thị Hồng (nay là vợ của ông) vừa đi lao động ở Liên Xô về, có khuôn mặt trắng trẻo, lúm đồng tiền, phúc hậu lại cùng quê ông xây dựng gia đình trong thời gian đó

Năm 1989, ở Huế xảy ra chuyện tranh luận giữa những người ủng hộ tiền chiến (những bài hát của Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Thương trước 1945) và những người cho nhạc tiền chiến là nhạc vàng Ông luôn ủng hộ phổ biến nhạc tiền chiến

Năm 1999, Nhà văn đã bị tập tễnh do một vụ tai nạn giao thông

Năm 2007, bắt đầu tiếp xúc với blog, làm chủ nhân blog Quê choa, chỉ hơn một năm Quê choa trở thành blog có số lượng người truy cập gần

500.000 lượt

Năm 2008, sau những thành công về kịch bản cho các bộ phim, ông đã thành lập công ty Scripts, một công ty chuyên về kịch bản và là công ty về kịch bản đầu tiên ở Việt Nam

Nhận định về nghề tác giả nói: "Tôi luôn xác định rõ đối tượng của mình là khán giả từ 25 tuổi trở lên và những người có văn hóa cao Họ xem phim tôi để nghiền ngẫm và suy tưởng chứ không phải chỉ giải trí thuần túy

Đời cát và Thung lũng hoang vắng sở dĩ thành công vì tôi xác định đúng đối

tượng phục vụ và mục đích làm phim là để cống hiến cho nghệ thuật chứ không thuần túy là câu khách"

Trang 14

Tên tuổi của Nguyễn Quang Lập được mọi người biết đến không chỉ trên một lĩnh vực mà trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Lập đã có một bề dày, ông thành công với tư cách là một nhà văn, nhà biên kịch, nhà viết kịch Nguyễn Quang Lập được công chúng biết đến nhiều ở lĩnh vực điện ảnh, sân khấu hơn là văn học Ông làm thơ từ năm 20 tuổi, cho đến năm 30 tuổi thì bắt đầu viết văn xuôi, viết kịch, phim rất nhiều Trên mỗi một lĩnh vực nghệ thuật, Nguyễn Quang Lập lại gặt hái được những thành công nhất định

- Về văn học

Trong lĩnh vực văn học, có những tác phẩm như: Một giờ trước lúc

rạng sáng (tập truyện ngắn, 1986), Kỷ niệm thời trai trẻ (1988), Người thổi kèn Trom pet, Những mảnh đời đen trắng (tiểu thuyết, 1989), Tiếng gọi nơi mặt trời lặn (Tập truyện ngắn, 1989), Mười tám truyện ngắn Nguyễn Quang Lập (1997) được đánh giá là đã khiến cho người đọc phải chùng lòng

- Về kịch bản: Mùa hạ cay đắng, Trên mảnh đất đời người Vào tháng

10 năm 2005, Nhà hát kịch Hà Nội công diễn vở Những linh hồn sống với

kịch bản của ông khắp ba miền Bắc - Trung - Nam Việt Nam

Kịch bản điện ảnh Đời cát (giải vàng liên hoan phim châu Á - Thái

Bình Dương, giải Bông sen vàng liên hoan phim Việt Nam lần thứ 13 và

nhiều giải thưởng khác) Thung lũng hoang vắng (giải Fipresci, Bông sen bạc

tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ 13) cũng trong liên hoan phim Việt Nam

lần thứ 13, với thành công của Đời cát và thung lũng hoang vắng, Nguyễn

Quang Lập được trao giải nhà biên kịch xuất sắc nhất

Ngoài ra, còn có kịch bản Không có Eva: kịch bản này chưa được dựng

thành phim mà lý do được bà Nguyễn Thị Hồng Ngát phó cục trưởng Cục Điện ảnh Việt Nam nêu ra: "Tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, vượt trội các

kịch bản khác Tuy nhiên, một số cảnh trong Không có Eva mang màu sắc u

Trang 15

ám và hơi tiêu cực, chưa phù hợp với cuộc sống hiện nay Bởi vậy, hội đồng

đề nghị tác giả sửa chữa và chờ đến đợt xét duyệt vào năm sau"

Cuốn tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng (1989) ra đời với bao lời

khen, cùng với búa rìu dư luận Có nhà phê bình cho rằng nhà văn đang phủ

nhận, bôi đen, cười cợt đối với lịch sử Nhưng cái mà nhà phê bình gọi là phủ

nhận, cười cợt ấy chính là cái chất người thật - con - người nhân loại trong từng nhân vật mà ông đã phát hiện ra Vì nhân vật ông mang đến cho nền văn học Việt Nam thường là những nhân vật éo le, bi kịch, thậm chí kì dị, ai cũng mang đầy mình những mất mát, đau khổ trong chiến tranh Mà chuẩn mực đạo đức thẩm mĩ khi đó ta tốt - địch xấu, ta thắng - địch thua nên nhà văn bị búa rìu dư luận rất nhiều Phải nói rằng, Nguyễn Quang Lập là một trong những nhà văn đưa cách nhìn mới về chiến tranh với tất cả những bi thương, đau đớn vốn như nó đã xảy ra vào truyện Nhờ thế, bức tranh hiện thực chiến tranh trở nên chân thật, sinh động

Văn đàn thời gian qua dường như xáo động bởi cuốn tạp văn chọn lọc

của nhà văn Nguyễn Quang Lập có nhan đề Kí ức vụn do Nhà xuất bản Hội

nhà văn phối hợp với trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản Sau

hai mươi năm, kể từ khi cuốn Những mảnh đời đen trắng, Nguyễn Quang Lập

mới lại ra sách, điều đó khiến bạn bè văn chương, bạn đọc mừng cho ông

Thực ra Kí ức vụn đã được tác giả công bố trên blog của mình Chính những bài viết đó khiến blog Quê choa của Nguyễn Quang Lập được nhiều người chú ý, hàng vạn người truy cập mạng để đọc tác phẩm của ông Kí ức vụn là sự góp nhặt một số bài viết ông đã phổ biến trên blog Quê choa và được chia làm

từng phần như những ngăn đời của tác giả

Cũng trong năm 2008, sau những thành công về kịch bản cho các bộ phim, ông đã thành lập công ty Scripts, một công ty chuyên về kịch bản là công ty về kịch bản đầu tiên ở Việt Nam

Trang 16

1.1.2 Nguyễn Quang Lập - hotboy blog

Trong vài năm lại đây, hàng ngàn trang blog liên tiếp nổi lên với nhiều khía cạnh hấp dẫn người đọc khi mà những trang báo giấy ngày càng rời xa độc giả do bị ràng buộc và viết theo định hướng bởi guồng máy nhà nước Các trang blog nhanh chóng thay thế báo lề phải để chuyển tải thông tin cũng như những bài viết chắc chắn không thể xuất hiện trên bất cứ tờ báo nào trong nước

"Blog" là một thuật ngữ có nguồn gốc từ cặp từ “Web Log” hay

“Weblog” dùng để chỉ một tập san cá nhân trực tuyến, một quyển nhật ký dựa trên nền web hay một bản tin trực tuyến nhằm thông báo những sự kiện xảy ra hàng ngày về một vấn đề gì đó

Nội dung và chủ đề của “blog” rất đa dạng, nhưng thông thường là những câu chuyện cá nhân, bản tin, danh sách các liên kết web, những bài tường thuật, phê bình một bộ phim hay tác phẩm văn học mới xuất bản và cuối cùng là những sự kiện xảy ra trong một nhóm người nào đó

Sau tai nạn tưởng chừng như cướp mất luôn trí tuệ của Nguyễn Quang Lập, để chống chọi lại hoàn cảnh gần như liệt nửa người của mình, tác giả đã bước chân vào không gian mạng như một người chuyên nghiệp Đây là điều hoàn toàn bất ngờ với bản thân tác giả, bởi trước đó, thế giới computer hoàn toàn xa lạ đối với ông Năm 1996 đến chơi nhà của Bảo Ninh thấy máy vi tính Nguyễn Quang Lập đã rất phục Không biết làm sao mà nó vận hành được như vậy Lúc ấy Nguyễn Quang Lập quan niệm rất là ấu trĩ, "Viết văn thì phải viết bằng giấy! Viết bằng máy thì chẳng ra làm sao cả! Phải có tâm, chuyển từ

óc xuống tay mình cầm bút mới được, chứ máy vi tính thì chả là gì đâu!" Thế nhưng, cuối cùng khi vợ kê cho một máy tính trên giường, vì không đi được thì ban đầu Nguyễn Quang lập chỉ tập đánh máy thôi

Lúc bấy giờ, Nguyễn Quang Lập hoàn toàn không biết gì về blog Có một cô học trò ở Hà Nội đề nghị lập blog Nghĩ đó là trò trẻ con, trò của mấy

Trang 17

cô sinh viên chứ mình già rồi làm mấy thứ ấy làm gì Thế rồi, khi cô con gái lập cho một blog và bắt ép viết, thì Nguyễn Quang Lập đã nghe lời cô con gái

và bắt đầu viết Khi viết xong một blog, viết cái entry đầu tiên xong Nguyễn Quang Lập đã không để ý tới nó, quên luôn không nhớ nữa Nhưng rồi, vài ngày sau mở ra thấy bao nhiêu là comment! Qúa ngạc nhiên vì sự thu hút của

nó với mọi người, suy nghĩ lại, ông thấy rằng blog có tính chất rất tuyệt vời! Rất tuyệt vời! Đối với người luôn phải ở nhà một mình, bản thân thì què không đi đâu cả, con cái đi học, vợ đi làm, một mình ở trong bốn bức tường lạnh ngắt không có gì cả thì việc viết trên blog rất có ý nghĩa

Từ niềm vui này, Nguyễn Quang Lập đã quyết định mở blog để nghe những tiếng comment, nghe chính người khác trò chuyện với mình Theo lời Nguyễn Quang Lập: "Đấy là một niềm vui vô cùng luôn vì hàng ngày nghe tiếng lao xao của comment Thấy phấn khởi và yêu đời hơn! Thật sự như thế Phải nói thật nhờ blog tôi sống nhông hơn và nhờ blog tôi viết nhiều hơn"

Blog Quê choa của Nguyễn Quang Lập chính thức ra mắt độc giả Chỉ hơn một năm, Quê choa trở thành blog có số lượng người truy cập gần

500.000 lượt Những mẩu truyện như đùa như thật được đưa lên blog từng ngày để thăm dò phản ứng của độc giả, và ông đã thực sự cảm thấy an tâm,

hào hứng trong cuộc thử nghiệm lối văn chương mới mà theo ông gọi là khẩu

văn đã được sự hưởng ứng nồng hậu của các cư dân mạng Blog của nhà văn

Nguyễn Quang Lập được gọi là chiếu rượu Quê choa- đây là một phương ngữ

chỉ về quê hương của ông - tỉnh Quảng Bình

Nguyễn Quang Lập viết nhiều, viết không mệt nghỉ Nguyễn Quang Lập nói: "Với trước khi tôi bị tai nạn Tôi viết văn từ năm 20 tuổi nhưng chỉ trong vòng 2 năm tôi viết blog, khối lượng tôi viết gấp 4 lần so với tất cả những năm tôi không què quặt Đó là cái nhu cầu Nhu cầu tiếp xúc với bạn đọc Nghề viết văn tóm lại là sự chia sẻ Một khi, mình nhìn thấy sự chia sẻ thật sự thì mình rất háo hức, háo hức lắm và mình viết không biết mệt"

Trang 18

Blog Quê choa trở thành một món ăn tinh thần mà ngày ngày biết bao nhiêu người dung nạp vào Số lượng người truy cập vào Quê choa ngày một

đông, tên tuổi của Nguyễn Quang Lập trở nên nổi tiếng khắp cư dân mạng

Với sự thành công của blog Quê choa, Nguyễn Quang Lập đã trở thành một hiện tượng trong văn học mạng Bọ Lập trở thành một hotboy blog

Hotboy không đơn thuần chỉ là một khái niệm dùng để chỉ một người con trai đẹp, nhà giàu, sành điệu vốn như ta vẫn nghĩ Mà ý nghĩa chung nhất của từ hotboy là dùng để chỉ một người con trai nào đó có năng lực nổi trội trong một lĩnh vực nào đó, có khả năng đặc biệt về một cái gì đó thì được gọi là hotboy

Nguyễn Quang Lập có khả năng nổi trội trong việc thu hút người đọc cùng tham gia vào blog của mình, để đọc, để nghiền ngẫm Với một số lượng

dân mạng lớn cùng truy cập vào blog Quê choa như vậy nên việc Nguyễn Quang Lập trở thành một hotboy blog là hoàn toàn chuẩn xác

1.1.3 Từ blog Quê choa đến Kí ức vụn

Trang blog Quê Choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập, ngay từ ngày

đầu tiên ra mắt đã được công dân mạng chú ý Có thể do tên tuổi của anh đã

có từ trước và cũng có thể do cách viết khá độc đáo đã làm người đọc chú ý, thích thú và chuyền nhau đường link tới trang này

Người vào truy cập, đọc và tìm hiểu các câu chuyện trên blog Quê choa ngày một đông Số người vào trang Quê Choa cho tới nay đã lên hơn chục triệu lượt Con số lớn lao này đã nói lên sự thành công của trang Quê Choa

một cách thuyết phục và một phần nữa là do chính hai tác phẩm xuất phát từ trang blog này được in ra trên sách đã như sức hút khó kìm lại đối với công dân mạng

Trước đề nghị của bạn đọc cùng với nhiều lời khuyên của bạn bè

nên tập hợp những câu chuyện trên blog Quê choa thành một cuốn sách

Nhà văn, dịch giả Đoàn Tử Huyến bảo Nguyễn Quang Lập in những bài

Trang 19

viết trên blog ra vì theo Đoàn Tử Huyến thì "những bài này rất hay và sẽ hấp dẫn người đọc trên sách" Theo lời của bạn bè, cuối cùng Nguyễn

Quang Lập cũng tập hợp một số tác phẩm của mình thành cuốn Kí ức vụn

Đây là cuốn sách tạp văn chọn lọc, nó gồm có 59 tạp văn được lựa chọn

trên tổng số tạp văn đã được đăng trên blog Quê choa

Khi đó, cũng giống như khi lập blog Quê choa viết entry đầu tiên đăng tải

trên blog, tác giả cũng không để ý gì tới Thế nhưng, một lần nữa Nguyễn Quang Lập đã thành công, khi in ra, sách bán chạy khủng khiếp luôn Nó tạo nên một cơn sốt mới trong giới nghệ thuật và bạn đọc Không chỉ tham gia trên blog, nay

ai cũng muốn có một cuốn sách để đọc để nghiền ngẫm kĩ hơn Nguyễn Quang Lập nói: "Có thể nói lúc đó vào năm 2009 tôi thật sự bất ngờ vì mình viết theo loại văn khẩu văn, mình bịa ra loại khẩu văn gọi là văn nói, cho nên mình cứ nghĩ người ta quen loại văn kia rồi ai coi loại văn này làm gì! Nhưng không ngờ

kể cả những người bình thường hay có học đều rất thích thú!"

Từ lúc cuốn sách ra đời, Nguyễn Quang Lập đã nhận được hàng trăm, hàng nghìn những tin nhắn của bạn bè, của những người không quen nhiều

người nói: ông ơi vợ tôi đang đọc sách của ông mà cười như thế này

Kí ức vụn in ra năm 2009 trở thành best seller đối với thị trường sách

Việt Nam khiến trang blog Quê Choa càng nổi tiếng hơn Quyển tạp văn này

mang một nét mới của văn học Việt Nam do cách kể chuyện bằng khẩu văn của tác giả Nhiều bài điểm sách cho rằng cách kể chuyện của Nguyễn Quang Lập làm người ta say mê Đọc nó như đọc Kim Dung và không thể bỏ quyển sách xuống khi chưa tới trang cuối

1.2 Khẩu văn trong Kí ức vụn

1.2.1 Xác lập một hình thức văn mới

Sự ra đời của mình Kí ức vụn đã xác lập một hình thức văn mới đó là

tạp văn Tạp văn là một thuật ngữ nằm trong hệ thống các thuật ngữ “tạp

Trang 20

văn”, “tạp chí”, “tiểu thuyết”,… có nguồn gốc từ Trung Quốc Do tập quán gốc gác của người Trung Quốc là tập quán tự diễu, thậm xưng nên nhiều thuật ngữ khoa học mang màu sắc biểu cảm, đánh giá Vậy nên, nội dung thông tin khách quan - một thuộc tính căn bản của thuật ngữ khoa học đã vô tình bị phương hại Theo cách hiểu nguyên nghĩa, thể "tiểu thuyết" là những thứ vụn vặt, chuyện nhỏ, được coi là loại văn chương không nghiêm túc, trong khi đó, các ngôn ngữ Âu Mĩ gọi là “roman” là thể tự sự có dung lượng trang viết lớn,

có quy mô về không gian, thời gian tự sự lớn nhất “Tạp chí” có nghĩa như là việc ghi chép những chuyện vụn vặt, không kén chọn, tạp nham, nhưng khi ta dùng trong “tạp chí khoa học”, “tạp chí cộng sản”,…thì nó là một loại ấn phẩm hoàn toàn nghiêm túc, đúng đắn Theo đó, “tạp văn” tức là loại văn ghi chép những chuyện tản mạn (tương tự cách gọi đó còn gọi là “tản văn”) Từ

“tạp văn” vốn xuất hiện trong sách “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp nhưng dùng để chỉ chung các thể loại văn chương Tạp văn với tư cách là một thể văn chính thức ra đời vào cách mạng Ngũ Tứ (1917- 1924) chỉ những bài luận văn ngắn, giàu tính chiến đấu, thường xoay quanh một số vấn đề xã hội, lịch

sử, văn hóa, chính trị Đặc điểm chung của tạp văn là ngắn gọn, đa dạng, phản ứng một cách nhanh nhạy, kịp thời những vấn đề bức xúc trong xã hội bằng những ý kiến đánh giá rõ ràng và sắc sảo Do bối cảnh xã hội ngày nay phát triển, con người bị chi phối bởi nhiều yếu tố của đời sống xã hội nên văn chương muốn đi vào đời sống phải là món ăn dễ tiêu nên hình thức ngắn gọn súc tích Tạp văn có thể là những áng văn giàu chất trữ tình, cũng có thể hiện

về tình cảm chính luận Nhưng điểm mấu chốt ở trong đó bao hàm một thái

độ đánh giá của cá nhân người viết

Trong văn học Việt Nam, một số tác giả đã thành công ở thể tạp văn như Ngô Tất Tố, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Khải Những năm cuối của thập niên 90 cho thấy thể loại tạp văn có khả năng theo sát các vấn đề chính trị, xã hội với tính chính luận sắc bén, triết lý sâu sắc Gần đây, cùng với các

Trang 21

thể loại khác, tạp văn đang trở thành mối quan tâm của nhiều độc giả Nó như một món ăn tinh thần hàng ngày, cần thiết và có xu hướng được lựa chọn hơn

ở các cây bút tạp văn ngày càng có mặt nhiều trên các tờ báo và nhiều cuốn sách ra mắt với sự góp mặt của đầy đủ các thế hệ Nguyễn Khải (Tạp văn), Đỗ Chu (Tản mạn trước đèn), Nguyên Ngọc (Tản mạn nhớ và quên, Lắng nghe cuộc sống, Nghĩ dọc đường), Tạ Duy Anh (Ngẫu hứng sáng chiều tối), Nguyễn Ngọc Tư (Tạp văn), Mặc Can (Tạp bút)

Với sự phát triển mạnh mẽ của thời đại thông tin và diễn biến của nhịp sống hiện đại, tạp văn trở thành thể loại có ưu thế bởi tính chất ngắn gọn, có thể chớp được một ý nghĩa, một khoảng khắc suy tư, một thoáng liên tưởng mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả, nhờ đó mà nó đến được những khía cạnh khá sâu xa một cách bất ngờ và tác động trực tiếp đến tư duy, tình cảm, cảm xúc của người đọc Khi hướng tới tạp văn, văn học đã chú ý hơn đến tính tư tưởng trong nhận thức các vấn đề xã hội và sự đa dạng hoá quan niệm của cách thể hiện suy nghĩ độc lập và cách kiến giải riêng Tạp văn có dung lượng ngắn nên dễ kích thích khả năng suy nghĩ, đối thoại của độc giả Cũng chính vì vậy, tạp văn đòi hỏi ở người viết sự tinh tế và sắc sảo cũng như sự sáng tạo trong lối viết Một lý do nữa mà tạp văn trở nên hấp dẫn, đó

là những vấn đề của hoàn cảnh xã hội phức tạp, sự đan xen của nhiều nền văn hoá, sự đảo lộn các giá trị quan điểm riêng của mỗi người Sự phản hồi của mỗi cá nhân và cũng là nhu cầu bộc lộ của bản thân của mỗi nhà văn nói như Mạc Ngôn: "Văn khi đã viết truyện, tiểu thuyết, thường phải làm ra vẻ chững chạc hoặc thần bí, độc giả rất khó nhìn thấy bộ mặt thật của anh ta thông qua cuốn truyện, song đối với loại văn chương tạp nham mà ta có thể gọi là tạp văn khi viết tác giả thường quen dấu giếm, cho nên dung mạo thật

sự của anh ta rất dễ lộ ra" (Tạp văn Mạc Ngôn - Võ Toán dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2006)

Trang 22

Tạp văn là thể loại đa giọng điệu châm biếm, hài hước và giàu tính triết luận Dung lượng ngắn nhưng tạp văn có sức nén lớn, dồn chứa tư tưởng và quan điểm của người viết tác động trực tiếp đến người đọc một cách hiệu quả Với tư cách là một thể loại nhạy bén, tạp văn có khả năng đáp ứng một cách cao nhất nhu cầu đặc biệt được nói sự thật, hệ quả tất yếu của tính dân chủ Khả năng đối thoại, đề xuất những kiến giải riêng trên cơ sở trải nghiệm của

cá nhân đã tạo nên chiều sâu nhận thức và sức hấp dẫn của thể loại Đó cũng chính là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên tính mở của tạp văn trong thời

kì bùng nổ thông tin hiện nay

Kí ức vụn gồm có năm phần đó là Những người bạn khó quên, Buồn vui một thủa, Người từng gặp, Thương nhớ mười ba, Bạn văn, với 59 tạp văn

Mỗi tác phẩm là một câu chuyện được kể bằng giọng văn rặt chất “bọ” của

những người vùng quê Quảng Bình, một lối văn tuy viết bằng chữ trên giấy

mà người đọc cứ có cảm giác như mình đang được nghe kể bằng vô số thanh

âm hài hước, lạ tai bằng những con chữ ngổn ngang tượng hình như có thể lật sấp, lật ngửa trang giấy lên So với cách kể rặt tiếng địa phương Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư, cách kể của Nguyễn Quang Lập được nâng thêm một nấc thang nữa của lối văn nói đầy ắp chất cười của dân gian Ông nói tục tự nhiên đến lạ, tự nhiên đến mức như đó là truyện ăn ngủ bình thường của người đời,

vì nó sử dụng quá thường xuyên nên nó bỗng trở thành một thứ gần như độc quyền trong văn ông

Tạp văn của ông dường như là những câu chuyện rất thật của tác giả vì lồng trong từng mẩu chuyện, bao giờ cũng có bóng dáng của “Cu Lập” trong

đó Nhưng thực hay hư đó là chuyện của nhà văn Vấn đề là chuyện kể thuyết phục được người đọc và người ta tin tất cả những gì được viết trên trang giấy

chính là chuyện của cuộc đời thực Bên cạnh cuộc đời ấy là những người bạn

văn như tác giả gọi, những người đi qua cuộc đời và để lại ít nhiều ấn tượng

Trang 23

với ông Nhiều mẫu được vẽ bằng lối biếm họa cố hữu, với những nét đậm nhạt nhấn nhá trên từng tính cách của từng người Viết về kí ức, nhưng Nguyễn Quang Lập đã không đặt quá khứ lên bệ thờ mà vừa giễu nhại, vừa cợt nhả, lại vừa bao bọc cái kí ức ấy trong một không gian đầy chất thơ và tự

bóc mẽ mình trong Đại ca, cũng có khi giễu cợt thói hám danh, sĩ diện của

những người dân làng mình trong Hot boy I, Hot boy II, diễu cái tinh thần tiết hạnh khả phong của các bà, các cô có chồng đi kháng chiến nhưng hàng đêm vẫn tằng tịu với anh Cu Đô, mặc cái áo rộng thùng thình không thèm mặc quần cho đỡ mất thời gian hành sự, giễu cái lối giấu dốt của các nhà văn bạn mình trong “Niệu liệu pháp” Hay cười hóm hỉnh đôn hậu, tán dương cái tinh thần phồn thực mạnh mẽ của dân ta khi viết về ông bảy vợ, chị nhiều chồng (Đa phu) Đó là những mảnh vụn khiến người ta vừa bật cười sảng khoái vừa phải suy ngẫm về cuộc đời Những kí ức của Nguyễn Quang Lập không chỉ là những cợt nhả và giễu cợt Văn của ông bớt bông đùa hơn và trở nên sâu lắng khi viết về những kí ức một đi không trở lại, hay có chăng trở lại cũng chỉ có thể hắt lên một cái bóng yếu ớt nhỏ nhoi về sự hiện diện tội nghiệp và đầy bâng khuâng của dĩ vãng Đó là những mảnh vụn khiến người ta bật khóc, và chính tác giả cũng không giấu giếm mình đã khóc Đó là những mảnh vụn kí

ức năm hào, kí ức về chị Du, về cô giáo Dạ Thi, về con chó John, thương nhớ

vỉ hè, kí ức về mối tình đầu đẹp và thơ mộng nhưng cũng găm đầy cỏ may Tạp văn của Nguyễn Quang Lập được bao bọc trong một chất thơ cảm động của quá khứ, không chỉ là chất thơ từ những cảnh sắc thiên nhiên một thời thơ

ấu Nó thơ hơn, bởi nó là kí ức của những gì đã mất Mảnh vụn thứ ba trong

kí ức của Nguyễn Quang Lập là những kí ức vẫn đang chảy thành dòng đến hiện tại Nó không bị nỗi mất mát nào chặn lại Đó là những kí ức về những người bạn đến giờ vẫn còn gặp gỡ, kí ức về những bạn văn thân thiết, những bữa nhậu trắng đêm còn kéo dài từ quá khứ đến tận bây giờ, những người bạn tri kỉ mà quá khứ vẫn sắt son như hiện tại

Trang 24

Bằng ngôn ngữ đôi lúc tưng tưng, cù rờ cù rựng và dùng cả những từ ngữ nằm trong vùng cấm kị đến mức tầm bậy tầm bạ Nhưng thật kỳ lạ, nếu

thiếu những ngôn ngữ ấy thì các mảnh kí ức sẽ vắng hẳn nét riêng trong văn

chương của Nguyễn Quang Lập Nhà văn tâm sự: Sau khi cười song, người ta

nhận ra chút gì đó ngậm ngùi, đăng đắng là cách tôi vẫn hay làm Và đúng

vậy, khi đến với tạp văn của ông, có những mảnh kí ức khiến người ta bật cười, nhưng cái cười ấy bao giờ cũng đan lồng một nỗi rưng rưng Cái thanh khiết ở mỗi con người chính là họ đã sống và cảm nhận đúng ý nghĩa cuộc đời của họ Nhưng cái bất hạnh của mỗi cuộc đời chính là sự nghiệt ngã của lằn roi số phận

Giá trị tạp văn Nguyễn Quang Lập được kết tinh lên từ nhiều nhân tố:

đó là việc lựa chọn đề tài, chủ đề, là khả năng phản ánh hiện thực quá khứ và năng lực sử dụng ngôn ngữ như những tín hiệu nghệ thuật mang đậm cá tính sáng tạo của nhà văn

1.2.2 Một hình thức phô diễn mới

Từ blog Quê choa đến Kí ức vụn, Nguyễn Quang Lập đã tái cấu trúc kí

ức của chính bản thân mình và những người mình từng gặp gỡ, quen biết bằng một hình thức ngôn ngữ văn xuôi mới lạ, hấp dẫn: khẩu văn

Qua lối viết như lời kể bằng miệng, từ miệng với những từ ngữ khẩu

ngữ thô ráp, những yếu tố địa phương rặt phương ngữ Quảng Bình, vùng

phương ngữ Bắc Trung Bộ, thỉnh thoảng lại văng ra những từ thông tục ngổn ngang, bò, chạy, sấp ngửa nhưng lại níu mắt người đọc; câu văn tuồng như lời nói hàng ngày với những trùng điệp, đan lặp, chuồi lẫn đan xen lời dẫn thoại, lời thoại, người thoại , tất cả định hình một lối khẩu văn Nguyễn Quang Lập

Đó cũng chính là những đặc điểm nổi trội của một hình thức văn xuôi mới lạ, hấp dẫn của Nguyễn Quang Lập

Hình thức khẩu văn đã xuất hiện trong một số sáng tác của Nam Cao,

Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, nhưng phải đến Nguyễn Quang Lập

Trang 25

mới trở thành một hình thức văn lạ, một loại ngôn ngữ văn xuôi mới Văn chương, xét đến cùng là một cuộc chơi của mỗi cá tính nên Nguyễn Quang Lập đã chọn cho mình một lối viết riêng Khẩu văn Nguyễn Quang Lập có sự pha trộn của lối nói dân gian tự nhiên, sinh động với thể văn hồi kí phóng túng, đầy cảm hứng Khẩu văn Nguyễn Quang Lập là viết theo lối nói, như

tác giả đang nói/ trò chuyện trực tiếp với người đọc, do đó, đọc Kí ức vụn, ta

khoái cảm như nghe những dòng âm thanh đang chạy rần rật, như thấy những con chữ đang cựa quậy trên trang giấy

Viết về “khẩu văn” của Nguyễn Quang Lập, nhà văn Bảo Ninh cho

rằng: Anh viết dường như rất dễ, nhưng sự dễ ấy trái ngược hoàn toàn với dễ

dãi Đố anh dễ dãi nào viết được như thế….Viết được như thế thật sướng, nhưng muốn sướng được như vậy phải đổi cả một đời trần ai, nào ai dám đổi

Bảo Ninh nói chí lý Nhưng tôi lại muốn nghĩ thêm Nguyễn Quang Lập viết

dễ, viết nhanh vì đã phát kiến ra được lối văn “khẩu ngữ” gần gũi với đông đảo người đọc Chỉ có lối văn này mới tạo ra được phong cách hài hước, buồn cười mà cuốn hút người đọc

1.2.3 Khẩu văn và sex

Trở lại ngoạn mục với Kí ức vụn - tập tạp văn “độc” đã vào đến vòng

chung khảo Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2009 Năm mươi chín câu chuyện là năm mươi chín mảnh kí ức sinh động bị cắt vụn của nhà văn về chính mình, về thời thơ ấu, người thân, bạn bè văn nghệ, về quê hương hay đơn giản chỉ là những miền đất anh đã đi qua, những người anh đã gặp… Rất đẹp, từng mẩu kí ức rời rạc ấy, khi thì nhang nhác truyện ngắn, lúc lại ra hồi

ký, rồi giống như chân dung, hiểu là ghi chép hay tản mạn, tạp văn, tùy bút cũng được, “gói” vào nhau thật dễ chịu Cũng bởi “vụn” nên ngắn và gọn Nhà văn viết những cái riêng, cái tế nhị mà vô tư, hồn nhiên, không quan ngại, kiêng dè, bề bộn chất đời, chất nhân tình thế thái Những mảnh vụn kí

Trang 26

ức đã được Nguyễn Quang Lập kể lại bằng một hình thức văn chương mới: khẩu văn

Đặc biệt, ngấm ngầm trong từng trang Kí ức vụn là một mưu toan lớn

của tác giả: phá vỡ những “vùng cấm” trong văn chương Việt, thiết lập và khẳng định khát vọng tự do dân chủ trong sáng tạo, nhất là trong một xã hội hiện đại mà nền dân chủ còn nhiều cửa ngõ chưa thông như ở Việt Nam Từ

“âm mưu” phá vỡ “vùng cấm” văn chương…

- Nghệ thuật “thô tục hóa” ngôn ngữ

Tập sách cuốn hút người đọc bởi thứ khẩu văn hóm hỉnh, bỗ bã của người Bình Trị Thiên Vô hình chung, cái cách Nguyễn Quang Lập viết

ngông, hành văn dân dã, đời thường, xưng mình, gọi nó, phương ngữ Quảng Bình hè, tề, chi, ni, nì, mô, rứa, ri, răng, mi, tui, mạ, mự, mần, chớ, ui chầu,

răng… dày đặc kết hợp các câu văn ngắn, không có lời thoại, tưởng không có

chuyện mà lại có chuyện, nhiều màu nhiều vị: khi trong sáng, hồn nhiên, ngộ

nghĩnh; khi lại hài hước, dung tục, khóc cười hu hu, hi hi, ha ha, he he…, văng tục mịa, cụ chúng mày, bố mày, bố con cu mày, đ mẹ… đủ cả, lại là

bước đột phá về cách hành ngôn nhắm thẳng tới mục đích phá vỡ tính thi pháp bó buộc của văn tự văn học, nhằm gây cười cho độc giả “Vùng cấm” ngôn ngữ của văn chương bắt buộc phải mở lối cho ngôn ngữ đời thường

dung tục đi vào Ngay cái đặc danh blog “Bọ Lập” cũng được sử dụng như

một địa hạt hợp pháp của tiêu chí bình dân hóa, dân chủ hóa, không quên tôn cao lòng tự tôn quê hương

Nguyễn Quang Lập tin rằng: Tục, nếu dùng đúng chỗ, sẽ được thanh

hoá, làm câu văn của mình sáng lên, sinh động lên, gần gũi với cuộc sống… Tôi dùng từ tục khi không có từ thanh nào để thay thế Và ông đã làm tốt điều

đó Mỗi trang viết đậm đà chất “xứ bọ” làm người đọc thú vị, hả hê, cất tiếng cười khoái chí, thậm chí ngay sau đó có thể khóc, thương, giận hờn và nuối

Trang 27

tiếc cái gì đó thật gần mà đã xa xôi, khó cắt nghĩa Ngay cả khi viết về bi kịch đời người, Nguyễn Quang Lập cũng viết hài hước, khiêu khích Nhà văn không độc đoán ở góc độ sử dụng ngôn ngữ hay xây dựng hình tượng sao cho khác người nhưng độc quyền ở mức độ đời thường hóa những chất liệu trào lộng tiếu lâm dân gian, cách kể chuyện khôi hài, cách nói phúng dụ và sắp đặt các chi tiết đời thực dưới cảm nhãn quan tinh nhạy Cách nói tục của nhà văn, xem ra cũng đã gợi lên trong người đọc những xúc cảm thẩm mỹ tích cực, những suy ngẫm sâu xa về cuộc đời hay triết lý về cái đẹp đích thực

Nếu nói các tác phẩm của Nguyễn Quang Lập rất thật, trần trụi đến mức thông tục đấy, mà nói nhà văn kể chuyện như bịa Bằng chứng là từ những câu chuyện có thật, những nhân vật có thật, tác giả gia thêm hoặc bớt

đi các chi tiết thật rồi xếp chúng theo trình tự lôgíc nào đó để có được một tác phẩm hoàn thiện Thêm cái kết truyện đôi khi giật cục bắt độc giả muốn đọc

và tự giải mã những nghi ngờ của họ Từ trí thức đến người dân lam lũ quê mùa đọc xong cũng hiểu, cũng cười ngây ngất

Cách tiếp cận xã hội xưa và nay với nhiều chiều kích, cách nhìn con người trong tính hai mặt của nó: phần sinh học và phần xã hội với nhiều hoàn cảnh - tầng lớp, nhiều số phận - thân phận giúp nhà văn có một thái độ công bằng, dân chủ Ông tả chân một xã hội nhiều mặt với những con người nhiều mặt, dùng đối thoại và độc thoại nội tâm của các nhân vật, như một phương pháp thám hiểm vùng tiềm thức của con người Người đọc tự chìm vào những suy tư của mình rồi làm một hệ quy chiếu để so sánh với tâm sự của tác giả, ít nhiều họ đã tìm thấy mình trong đó

Trong sáng tạo, nói đến dân chủ, có nghĩa là đồng nhất được tự do cá nhân và yêu cầu xã hội Văn chương xưa nay từ một sản phẩm của cá nhân để

đi đến cái đích đại chúng Nguyễn Quang Lập, với “Kí ức vụn”, đã làm sâu sắc điều này

Trang 28

Nói “Chuyện giường chiếu”, phá vỡ “vùng cấm” văn chương đạo đức

để đến gần mức “dân chủ hóa” công khai

Văn chương Việt ít dám nói về vấn đề tế nhị của con người là chuyện

sinh hoạt giường chiếu, hoặc giả, gần đây có nhiều tác phẩm dám nói nhưng

vẫn ở mức độ nói giảm, nói tránh Nguyễn Quang Lập đi một đường khác: ông đánh động vào cái cấm kỵ đó bằng thứ ngôn ngữ thông tục, bỗ bã mà

xưng tụng: giường chiếu có văn hóa của giường chiếu

Thực vậy, tính dục (sexuality) là một hiện tượng văn hóa Theo triết gia

hiện đại nổi tiếng của nước Pháp Michel Foucault: tính dục cũng là một nét

cơ bản của “bản chất người” - thứ “bản chất người” mà theo ông, nên để ở dạng số nhiều, tức là phải đa chiều và phức tạp, dưới sự tạo tác của xã hội Như thế, nhà văn khám phá “bản chất người” trong mỗi nhân vật phải vừa là

cái tôi riêng (self) vừa là cái chung (common), vừa là cái tốt vừa là cái xấu, vừa là cái được chấp nhận và cái không được chấp nhận như một tất yếu trời

sinh, chỉ có điều phần nào nên ít hơn, phần nào nên trội hơn Dù ở khía cạnh nào thì tất cả đều phải được hợp thức hóa để phục vụ cho mục đích xây dựng những hình tượng chân thực tiêu biểu cho thời đại đó

Văn học Việt xưa coi “chuyện giường chiếu” là cấm kỵ vì các diễn ngôn về tính dục thời đó được nhìn dưới góc độ đạo đức Xã hội hiện đại dân chủ, diễn ngôn tính dục được nhìn nhận dưới góc độ khoa học, thông qua phân tâm học, là một bản năng tự nhiên và là một nhu cầu của con người Cho nên, khi nói về “chuyện giường chiếu” của bản thân, của bạn bè, Nguyễn Quang Lập nói rất thô, thẳng, không giấu diếm, không né ai Những danh từ

rất tục chỉ bộ phận sinh dục nam như: “chim”, “cặc”, “dái”, “cái ấy” hay các

từ chỉ khoản sinh hoạt giường chiếu như: “mần”, “make love” được nhà văn

sử dụng rất hồn nhiên Như thế, tác giả của “Kí ức vụn” đã mưu toan phá vỡ

“vùng cấm” văn chương đạo đức để đến gần mức “dân chủ hóa” công khai, gần thứ văn học tự do của công chúng

Trang 29

- Khát vọng dân chủ trong sáng tạo

Ăngghen đã nói: “Tự do là tất yếu được nhận thức” Chế độ ta là chế

độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý Đó là một quyền lợi mà cũng

là một nghĩa vụ Không ai được phép đặt ra các vùng cấm cho bất cứ ai Khi

sáng tác, nghệ sĩ phải chịu nhiều sức ép từ phía các lực lượng thống trị, từ phía công chúng và cuối cùng là sức ép từ chính bản thân người viết Nghệ sĩ sáng tạo trên cái vốn hữu hạn của chính mình, cho nên: “Bất cứ người viết tài năng nào cũng đều chạm phải những bức tường Họ không thể viết về tất cả những gì họ muốn, hoặc người đọc muốn Nhà văn, hơn bao giờ hết, cần được

hoàn toàn tự do trước trang viết của mình” (Êrenbua)

Từ âm mưu phá vỡ “vùng cấm” văn chương theo cách nhà văn thể hiện

đã hợp thức hóa mối liên quan giữa tác giả và các hình tượng, chân dung văn học, giữa tác giả và độc giả, đương nhiên sau đó là các hình tượng, chân dung văn học và công chúng Đó cũng là cách thể hiện đầy đủ nhất tinh thần và khát vọng dân chủ tự do trong sáng tạo của Nguyễn Quang Lập

Những “hành vi” suồng sã, quê mùa, chất phác của nhà văn tuyệt nhiên không phải là một thứ văn dễ dãi từ một cái đầu hời hợt, ngược lại, tự nó và nhờ nó đã chế nên thứ đặc sản văn chương ngon lành, tốn ít gia công mà lại nhiều dư vị: văn chương bình dân Thứ văn nhất định là dành cho những người dân quê lam lũ cần nhiều hơn nữa tiếng cười, nghe có vẻ không mấy hợp với văn chương đô thị song lại có sức cuốn hút nhiều giới, nhiều đối tượng, dù ở hình thức văn học mạng hay viết Sự xuất hiện ngang tàng của thứ văn nghịch ngợm này đã hoán đổi vai trò của người cầm bút với người phát ngôn đòi quyền dân chủ trong sáng tạo, làm đã cơn khát của một xu thế văn học thành thị hoa mỹ chạy đua sex đang ngày một xa rời quần chúng nhân dân

Trang 30

Mang tinh thần nhân văn dân chủ, Nguyễn Quang Lập bạo dạn “viết

bất kỳ chuyện gì chợt nhớ, chợt thấy, chợt ngẫm ra…” Không viết hằn học

gai góc, cứ mình mình ta ta, tự mình bảo hành cho lý lẽ của mình, thận trọng điểm ra những mặt khuất của đời người, phận văn chương và tình người, lẽ đời, dứt khoát đi ra ngoài quỹ đạo của lối văn xưng tụng, mềm rớt, văn Nguyễn Quang Lập là một thứ “của lạ” Hồn nhiên mà thâm hậu, viết vu vơ

mà đầy chất sống, “Kí ức vụn” tưởng chỉ đọc cho vui để cười nhưng rồi lại khóc, lại bâng khuâng, nhớ thương, tiếc nuối ngay được Hơi thở dài tiếc nuối xót xa của tác giả kéo dài sau những câu văn ngắn trơ ngắn trọi, những câu văn gấp, những câu chuyện kết thúc vội vàng bi ai sau tiếng cười khôi hài như muốn khiêu khích lòng tin của độc giả Thứ văn chất phác, thật thà chạm được mạch tâm cảm của nhiều người, dù là trong cuộc hay ngoài cuộc Không thể đo lường tính toán được hết những cung bậc xúc cảm trong thế giới ngầm

do kí ức vụn gây ra, song mỗi câu chuyện đã đánh thức phần trắc ẩn thiêng

liêng trong mỗi chúng ta Những câu chuyện về nhiều người, giữa nhiều người một thời có thể sẽ có duyên trở thành những tư liệu có giá trị sống chân thật và đầy nhân văn Cũng cần nhận ra rằng: cách nói tục xen nhiều phương

ngữ đôi khi bị lạm dụng, làm cho tính thẩm mỹ của câu văn bị giảm sút

Như thế, cùng với vùng kí ức đang dang dở về đời văn Nguyễn Quang Lập, hy vọng từ những mảnh kí ức vụn vặt ý nghĩa trong “Kí ức vụn” lần này

sẽ góp phần hoàn thiện một chân dung nhà văn xứ Quảng tài hoa Rõ ràng, với “Kí ức vụn”, Nguyễn Quang Lập đã chọn cho mình một lối đi riêng Lối viết ấy có thể khiến nhiều người thích, và đương nhiên cũng sẽ có những người “dị ứng” Nhưng văn chương, xét tới cùng là cuộc chơi của mỗi cá tính Trong “cuộc chơi liều” ấy, tự do là một “thiết chế” của sáng tạo Chỉ có tự do sáng tạo mới đem lại quyền dân chủ cho người sáng tác và người tiếp nhận, phát huy tối cao quyền tự do cá nhân Có những điều lớn lao không bao giờ

Trang 31

nói hết một điều bé nhỏ Ngược lại, những cái tầm thường vụn vặt, nhiều khi, lại nên chuyện! “Kí ức vụn” nằm trong số đó

1.3 Tiểu kết chương 1

Nhà văn Nguyễn Quang Lập là một cây bút trưởng thành trong quân đội có sự sáng tạo dồi dào, độc đáo Ông đã có những thành công trên nhiều lĩnh vực, điện ảnh, sân khấu, tiểu thuyết đặc biệt tạp văn thể hiện ở việc khai thác đề tài, sử dụng ngôn ngữ, xây dựng hình tượng nghệ thuật Ngôn

ngữ tạp văn Nguyễn Quang Lập cù rờ cù rựng, tầm bầy tầm bạ, thô tục

Nhưng đằng sau đó là sự ngầm ngùi, đăng đắng, ẩn chứa những nội dung ngữ nghĩa sâu sắc và giàu tính triết lí về cuộc đời

Về khái niệm tạp văn, có rất nhiều quan điểm khác nhau Thông qua những ý kiến đó, chúng tôi đã rút ra được một số đặc điểm về thể loại tạp văn như: ngắn gọn, hàm súc, bất ngờ, mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả và có chứa nội dung phong phú Khi tìm hiểu ngôn ngữ tạp văn, chúng ta nhận thấy rằng ngôn ngữ tạp văn là một loại hình trong ngôn ngữ nghệ thuật

Nguyễn Quang Lập là một cây bút văn xuôi Với sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã khẳng định được vị trí và chỗ đứng trong nền văn xuôi

đương đại Việt Nam Kí ức vụn là một trong số những cuốn tạp văn của

Nguyễn Quang Lập góp phần làm nên một gương mặt tác giả đang nỗ lực tự khẳng định mình trên con đường nghệ thuật

Từ tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng đến Kí ức vụn, Nguyễn

Quang Lập tỏ ra từng trải hơn, chín chắn hơn, hóm hỉnh hơn và thâm thuý

hơn Thị trấn Ba Đồn cùng với lời ăn tiếng nói, tính khí, cốt cách rặt bọ hiện

rõ mồn một trong từng trang Kí ức vụn, làm nên một thương hiệu Nguyễn

Quang Lập: viết văn như nói trên chiếu rượu để khẩu ngữ hoá, tự do hoá ngôn

từ nghệ thuật Với Kí ức vụn, Nguyễn Quang Lập đã chọn cho mình một lối đi

riêng, thể hiện sự tự do trong sáng tạo, và chỉ khi có tự do sáng tạo mới đem lại quyền dân chủ cho nhà văn và người tiếp nhận

Trang 32

ý nghĩa của từ), ngữ pháp (mặt kết hợp của từ), và phong cách (nghệ thuật

sử dụng từ) Tuy nhiên, khi bàn về khái niệm từ lại có những quan niệm khác nhau:

Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời” [26, tr 72]

Theo Đỗ Thị Kim Liên: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết có nghĩa nhỏ nhất, cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng

tự do để cấu tạo nên câu” [50, tr 18]

Tuy có khác nhau trong cách giải thích, nhưng hầu hết các nhà Việt ngữ khi định nghĩa về từ đều thống nhất ở một số điểm chính: âm thanh, ý nghĩa, cấu tạo, và có khả năng hoạt động tự do

Từ là đơn vị cấu trúc - ngữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ dùng để gọi tên các sự vật, thuộc tính của chúng, các hiện tượng, các quan hệ của thực tiễn, là một tổng thể các dấu hiệu ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp đặc trưng cho từng ngôn ngữ Các dấu hiệu đặc trưng của từ là tính hoàn chỉnh, tính có thể phân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện lại dễ dàng trong lời nói Từ có thể phân chia thành các cấu trúc: cấu trúc ngữ âm của từ, cấu trúc hình thái

Trang 33

của từ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ Cấu trúc ngữ âm của từ là toàn bộ các hiện tượng âm thanh tạo nên vỏ âm thanh của từ Cấu trúc hình thái của từ là toàn bộ các hình vị tạo nên từ, cấu trúc ngữ nghĩa của từ là toàn bộ các nghĩa khác nhau của từ

“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên; được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.” [13, 170]

"Từ là đơn vị cơ bản chủ yếu có khả năng vận dụng độc lập mang nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp Chúng ta gọi từ là đơn vị trung tâm, vì từ có đầy đủ những tiêu chuẩn của đơn vị ngôn ngữ cơ bản và là đơn vị quan trọng nhất" (Nguyễn Văn Tu, Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1968, 33 - 34)

“Từ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập ở trong câu: Nhưng không phải bất kì một từ nào cũng là một đơn vị tế bào của cú pháp” (Nguyễn

Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học và THCN, Hà Nội, 1975, 326)

“Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động có khả năng kết hợp tự do, có tính vững

chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa” (Hồ Lê, Vấn đề cấu tạo từ của

tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, 104)

“Từ là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu Từ có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo

ổn định” (UBKHXHVN, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

Trang 34

thành phần ngữ pháp” (Đỗ Hữu Châu, Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986, 21)

2.1.1.2 Vai trò của từ trong văn bản nghệ thuật

Trong nghệ thuật, không có hình tượng nghệ thuật chung chung, mà chỉ

có các hình tượng nghệ thuật gắn liền với một chất liệu cụ thể: hình tượng hội họa, hình tượng âm nhạc, hình tượng sân khấu, hình tượng văn học… Tính chất, đặc trưng của một loại hình nghệ thuật gắn liền với đặc điểm và khả năng nghệ thuật của chất liệu được dùng làm cơ sở cho nghệ thuật đó Chính

vì vậy, sẽ không hiểu được đặc trưng của văn học nếu bỏ qua đặc điểm thể hiện nghệ thuật của ngôn từ

Ngôn từ là lời nói được sử dụng với tất cả phẩm chất thẩm mĩ và khả năng nghệ thuật của nó Như M Gorki có nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng đều phản ánh cuộc sống, con người thông qua hình thức ngôn ngữ Dĩ nhiên, so với lời nói hàng ngày, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học (ngôn ngữ nghệ thuật) không còn là hình tượng ngôn ngữ mang chức năng giao tiếp thông thường mà đã được đưa vào một hệ thống giao tiếp khác, mang chức năng khác

Từ ngữ trong văn bản nghệ thuật có một vai trò rất quan trọng và từ

trong văn bản nghệ thuật không sống đơn độc, tự nó Có thể nói, một yếu tố ngôn ngữ chỉ có ý được ý nghĩa thẩm mĩ khi nằm trong tác phẩm Chính là, trên cái nền văn bản phù hợp mà từ ngữ có thể thay đổi ý nghĩa cũ kĩ hay mới

mẻ, dịu dàng hay thâm độc, trang trọng hay hài hước Một từ trong tác phẩm nghệ thuật không thể được coi ngang bằng như từ của ngôn ngữ thực hành, vì trong văn bản nghệ thuật, từ thi ca có hai bình diện theo khuynh hướng nghĩa của mình, có mối tương quan đồng thời cả với những từ của ngôn ngữ văn hóa nói chung, cả với những yếu tố của cấu trúc ngôn từ của văn bản nghệ thuật nói riêng

Trang 35

Có thể nói, từ ngữ có vai trò quan trọng trong văn bản nghệ thuật, trước hết, nó là yếu tố để tạo nên hình hài của tác phẩm, tạo nên sự sống cho hình tựơng trong tác phẩm Đọc bất cứ văn bản nghệ thuật nào, trước hết, ta cũng bắt gặp một văn bản ngôn từ - đó là lớp lời văn của tác phẩm tạo thành khách thể tiếp nhận trực tiếp của người đọc Đặc điểm của lớp từ này là trực tiếp chịu sự quy định của quy luật ngôn ngữ như: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, phong cách học đồng thời lại chịu sự chi phối của quy luật thơ văn, thể loại

Từ ngữ còn là công cụ, chất liệu để nhà văn thể hiện các hình tượng trong tác phẩm của mình Xuyên qua lớp ngôn từ ta bắt gặp các chi tiết tạo hình, các tình tiết sự kiện và từ đó hiện lên các sự vật, phong cảnh, con người, quan hệ xã hội, thế giới, những hình tượng vừa lạ vừa quen, vừa giống vừa không giống Các hình tượng nghệ thuật hiện lên thông qua việc sử dụng từ

ngữ của tác giả chẳng hạn như: Dư (Thằng hai đầu gối), Chí Phèo (Chí Phèo - Nam Cao), Kép Tư Bền (Kép Tư Bền - Nguyễn Công Hoan), Mị (Vợ chồng APhủ- Tô Hoài)… Trong Kí ức vụn của Nguyễn Quang Lập, các từ ngữ rất

phong phú nhưng nổi bật nhất là vốn từ ngữ địa phương; từ khẩu ngữ; từ ngữ chỉ địa danh, nhân danh và các từ ngữ xưng hô

2.1.2 Cách sử dụng từ ngữ trong Kí ức vụn

Theo M.Bakhtin, người viết tiểu thuyết “Tiếp thu vào trong tác phẩm của mình những tiếng nói và ngôn ngữ khác nhau trong ngôn ngữ văn học và phi văn học, nhưng không làm chúng suy yếu đi mà thậm chí còn khơi động thêm chúng” [2, 113] Chính vì vậy, mỗi nhà văn tuỳ theo “cái tạng” của mình

mà lựa chọn hệ thống ngôn ngữ cho phù hợp Nguyễn Quang Lập là nhà văn luôn có ý thức học tập lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân lao động, vận dụng một cách sáng tạo, ghi dấu ấn riêng đặc sắc trong quá trình lao động nghệ thuật Vì thế, trên từng trang văn của ông, người ta ít thấy ngôn ngữ cầu kỳ

Trang 36

mang tính quan phương Để tạo nên ngôn từ nghệ thuật, nhà văn có thể sử dụng các lớp từ khác nhau Cố nhiên, việc khai thác và sử dụng chủ yếu lớp từ ngữ

nào là tùy thuộc ở kiểu lựa chọn của người viết Đọc các mẫu kí ức của Nguyễn

Quang Lập, chúng tôi thấy ông chủ yếu sử dụng các lớp từ ngữ gồm: từ địa phương, từ chỉ địa danh và nhân danh, từ khẩu ngữ, và từ xưng hô biến chúng thành những mã thẩm mĩ có sức ám gợi người đọc, tạo nên cá tính khẩu văn

Qua khảo sát và thống kê tuyển tập Kí ức vụn của Nguyễn Quang Lập

chúng tôi có được kết quả như sau:

Bảng 1.1 Bảng thống kê các lớp từ trong tạp văn Nguyễn Quang Lập

Tác phẩm

Từ địa phương

Từ nhân danh, địa danh

Từ khẩu ngữ

a Khái niệm từ địa phương

Cũng như định nghĩa về từ, cách hiểu về khái niệm từ địa phương hiện vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau

Trong các giáo trình ngôn ngữ học đại cương, giáo trình từ vựng học,

có nhiều tác giả đưa ra định nghĩa về từ địa phương Khi định nghĩa về ngôn ngữ địa phương thì có sự phân biệt với ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ văn hóa

Trang 37

Có thể thấy rõ hai tiêu chí nổi bật mà các tác giả thường nhắc đến khi định nghĩa về từ địa phương đó là:

- Từ ngữ đó là biến thế của ngôn ngữ toàn dân

- Phạm vi sử dụng bị hạn chế

“Từ địa phương không ở trong ngôn ngữ văn học mà thuộc về tiếng

nói của một vùng nhất định Chúng mang sắc thái địa phương Người của địa phương này không hiểu những từ của địa phương kia” [73, 129]

Theo Hoàng Thị Châu: “Biến dạng của mọi ngôn ngữ được sử dụng với

tư cách là phương tiện giao tiếp của những người gắn bó chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất, về lãnh thổ, về hoàn cảnh xã hội, hay về nghề nghiệp còn gọi là từ địa phương” [12, 24]

“Những đơn vị từ vựng địa phương là những đơn vị từ vựng có ý nghĩa khác nhau nhiều hay ít kèm theo sự khác nhau về ngữ âm nhiều hay ít nhưng không nằm trong những sai dị ngữ âm đều đặn” [8, 241]

“Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học, khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương đặc điểm của nhân

vật.v.v ” (Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Đại học và THCN, Hà Nội, 1985, 292 - 293)

Theo nhóm tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn

Hoài Nguyên và Phan Mậu Cảnh trong cuốn Từ điển địa phương Nghệ Tĩnh,

định nghĩa như sau: “Từ địa phương là vốn từ cư trú ở một địa phương cụ thể

có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hóa hoặc địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa”

Trang 38

Như chúng ta đã biết, trong bản chất, tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất trong cả nước Đi dọc từ Bắc chí Nam, mọi người có thể giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt Tuy nhiên, ở mỗi vùng, mỗi địa phương khác nhau do đặc điểm địa hình sinh sống nên có sự khác nhau về từ vựng Do đó, mỗi vùng có

sử dụng những phương ngữ khác nhau

Trong lĩnh vực văn học, các nhà văn đã sử dụng từ địa phương với dụng ý tu từ để chuyển tải những nội dung nhất định Nguyễn Quang Lập là một nhà văn của Quảng Bình cho nên từ địa phương mà ông dùng trong các

sáng tác của mình là từ địa phương Quảng Bình trong đó có tập tạp văn Kí ức

vụn và 20 tạp văn được trích dẫn trên blog Quê choa

b Từ địa phương trong tạp văn Nguyễn Quang Lập

Trong tạp văn Nguyễn Quang lập, chúng ta thấy có sự góp mặt của lớp

từ địa phương giàu màu sắc biểu cảm - cảm xúc, có tác dụng làm tinh tế hóa ý nghĩ cho câu văn Nhà văn đã mang đến cho người đọc thứ ngôn ngữ đặc trưng của vùng Thung lũng Chớp - ri miền tây Quảng Bình

Qua khảo sát và thống kê 79 tạp văn, chúng tôi thấy rằng, hầu hết các tạp văn của Nguyễn Quang Lập viết đều mang đậm dấu ấn của ngôn ngữ địa phương vùng Quảng Bình Trong 79 tạp văn, có 13 tạp văn là không sử dụng

từ địa phương (chiếm 11.06%) Đó là các chuyện sau: Giai nhat nhạt giai

Nhớ Trần Dần, Nhớ Nguyễn Khải, Quốc Trọng, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Thanh Sơn, Nhà văn thèm con trai, Người đẹp, Nhớ anh Đoàn Thắng, Chú Lình, Thương nhớ nghìn năm, Tiên trách kỷ, Ma ám, Đời yếm

Chúng tôi còn thấy, ngoài những chuyện có rất nhiều từ địa phương cùng xuất hiện trong tác phẩm thì cũng có những tác phẩm lại chỉ có một từ

địa phương Đó là 10 tác phẩm sau: Nụ hôn đầu, Chuyện biết vui hay buồn,

Bạn cũ, Đại ca, Chín khúc buồn thiu, Anh Thu, Tuyết Nga, Nguyễn Trọng Tạo, Nhớ Xuân Sách, Trung Trung Đỉnh Chiếm 7.9% trong số 79 tác phẩm

mà chúng tôi khảo sát

Trang 39

Trong 79 tạp văn chúng tôi khảo sát, từ địa phương xuất hiện 1211 lần, chiếm 11.5 % trong tổng số các từ khảo sát Ngoài những trường hợp mà trong tạp văn, từ địa phương chỉ xuất hiện 1 lần hoặc không xuất hiện lần nào như chúng tôi đã nói ở trên thì có những tạp văn từ địa phương lại xuất hiện

dày đặc như: Kí ức năm hào, Thằng Á, Chị Du, Hotboy, Anh cu Cá, Anh cu

Luật, Tết miền thơ ấu, Trần Vàng Sao, Hố xí hai ngăn, Đa phu, Hot boy hot beo, Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp- ri, Xóm gái hoang, Chuyện bắt phi công Bằng ngôn ngữ văn chương, Nguyễn Quang Lập đã tái hiện lại những

mảnh đời, những sự việc, những con người mà cuộc đời ông đã từng tiếp xúc,

đã từng gần gũi và nó đã trở nên quá quen thuộc với người nghệ sĩ này Tất cả những hình ảnh về mảnh đất, về con người, về những sự việc đã diễn ra đều

đã được Nguyễn Quang Lập viết và kể lại một cách chân thật bằng một thứ ngôn ngữ địa phương quen thuộc, không bóng bẩy, không tỉa tót, tất cả đều rất thật Sử dụng ngôn ngữ địa phương nhưng không phải là Nguyễn Quang Lập

đã đưa hết ngôn ngữ mang đậm tính chất của lời nói hàng ngày vào mà ông đã

sử dụng khéo léo những từ ngữ địa phương quen thuộc đó rất dung dị, thú vị

và độc đáo Đằng sau những cái tưởng chừng như quá bình thường, quá đơn giản, những tạp văn mà tác giả kể lại chúng ta có cảm giác nó như là những câu chuyện như đùa như tếu, như để thư giãn gây cười cho bạn đọc nhưng tất

cả đều mang trong mình một ý nghĩa sâu xa, kể không phải kể để kể mà để thấm thía những nỗi đau, xót xa cho những số phận, những cuộc đời hẩm hiu, bất hạnh Ai trong chúng ta có thể quên hình ảnh của thằng Dư trong truyện

Thằng hai đầu gối Một đứa trẻ có hoàn cảnh hết sức là bi đát, "mạ nó hành

nghề đĩ điếm, đẻ ra hai đứa, nó là Dư, em gái nó là Thừa, chắc mạ nó nghĩ giá

không đẻ đứa nào thì mới đủ" [2, 46, 9]

Hay: "Mới 11 tuổi ngực nó đã nhú trấy cau Thỉnh thoảng nó vén áo

cho mình xem đôi núm vú bé xíu của nó Mình lấy ngón tay ấn ấn hỏi đau

Trang 40

không nó nói mới mọc hơi đau giờ hết đau rồi Mình ngồi nhìn đôi núm vú

say sưa nói hay hè hay hè Nó nói rồi to bằng người lớn tề Mình nói tởm hề

Nó lườm nói răng mà tởm, phải to bằng người lớn để cho con bú chớ Mình

nhăn răng cười nói tởm" [4, 46, 17]

Hàng lọat từ địa phương tác giả sử dụng hết sức tự nhiên như "trấy" (trái),“hay hè" (hay nhỉ),“tề" (kìa),“ tởm hề" (tởm nhỉ),“ răng " (sao) thể hiện tình cảm gần gũi, gắn bó thân thuộc của những người quê Qua các từ địa phương, người đọc như được tiếp xúc với lời ăn tiếng nói hàng ngày của một vùng quê Quảng Bình thân thương

Từ ngữ địa phương thuộc ngôn ngữ Quảng Bình nói riêng, vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ nói chung đã được Nguyễn Quang Lập sử dụng rất nhiều, tần số cao như: tui (tôi), "mà" (màng), "tau" (tôi), "ba láp" (vớ vẩn),

"thày" (thầy), "chi" (gì), răng rứa (sao thế), cái mịa (cái mẹ) bọ (bố), mạ (mẹ),

y chang (giống hệt), cạu (rổ), bâu (túi), tra (gác), hà bay (thế sao), trờ (lướt), tụi bay (bon bay), nớ (ấy), mô (đâu) nhằm khắc họa tính cách của nhân vật trong truyện Đó là những con người rất chất phác, hồn nhiên Họ xem cuộc sống đơn giản, dung dị hết đỗi bình thường Không bon chen, chen lấn lẫn nhau, nhìn cuộc đời một cách chân thật, thật như con người của họ Nhưng không phải vì thế mà những nhân vật này trở nên nhàm chán, bình thường như ai cũng như ai

mà sâu thẳm bên trong đó là những con người với tính cách mạnh mẽ, dứt khoát không bị "gió theo chiều nào đổi chiều" và họ rất mạnh mẽ

Tác giả dùng từ địa phương với dụng ý nghệ thuật, xây dựng hình tượng nhân vật gắn với một địa phương, gợi những tình cảm ở người đọc về vùng thung lũng Chớp - ri quê hương ông Ngoài ra, sự xuất hiện của các từ địa phương đó còn giúp cho khoảng cách ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời sống dường như rút ngắn, đường ranh giới không rõ ràng, tính hiện thực của tác phẩm được nâng lên Nhưng nếu từ địa phương lạm dụng nhiều quá trong sáng tác nghệ thuật thì sẽ làm đánh đố người đọc, tác giả phải có sự điều

Ngày đăng: 03/10/2021, 13:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
2. N.Bakhtin (1993), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: N.Bakhtin
Năm: 1993
3. N.Bakhtin (1996), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepki
Tác giả: N.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
4. Diệp Quang Ban (2004), Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, Trường Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2004
5. Phan Mậu Cảnh (2002), Ngữ pháp tiếng Việt các phát ngôn đơn phần, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt các phát ngôn đơn phần
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2002
6. Nguyễn Tài Cẩn (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
7. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng- ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng- ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
9. Đỗ Hữu Châu (2003), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
10. Đỗ Hữu Châu (2003), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
11. Hoàng Thị Châu (2003), Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
12. Hoàng Thị Châu (1984), Tiếng Việt trên các miền đất nước, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trên các miền đất nước
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1984
13. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2003), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
14. Trương Chính (1963), Tạp văn tuyển tập (tập 2), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp văn tuyển tập
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1963
15. Nguyễn Đức Dân (1984), Ngôn ngữ học thống kê, Nxb Đại học và Tung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học thống kê
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Đại học và Tung học chuyên nghiệp
Năm: 1984
16. Nguyễn Đức Dân (1997), Lôgic và Tiếng việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic và Tiếng việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1997
17. Nguyễn Đức Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học Xã hội và nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội và nhân văn
Năm: 2004
18. Hữu Đạt (1999), Nhà văn, Sự sáng tạo nghệ thuật, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn, Sự sáng tạo nghệ thuật
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1999
19. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt - từ loại, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt - từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1986
47. Nguyễn Quang Lập (2009), http://quechoablog.wordpress.com Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Bảng thống kờ cỏc lớp từ trong tạp văn Nguyễn Quang Lập - Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập
Bảng 1.1. Bảng thống kờ cỏc lớp từ trong tạp văn Nguyễn Quang Lập (Trang 36)
Bảng 1.3. Bảng thống kờ số lần xuất hiện từ khẩu ngữ trong tạp văn Nguyễn Quang Lập - Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập
Bảng 1.3. Bảng thống kờ số lần xuất hiện từ khẩu ngữ trong tạp văn Nguyễn Quang Lập (Trang 51)
Bảng 1.4. Bảng thống kờ số lần xuất hiện từ nhõn danh trong tạp văn - Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập
Bảng 1.4. Bảng thống kờ số lần xuất hiện từ nhõn danh trong tạp văn (Trang 58)
b. Từ chỉ địa danh - Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập
b. Từ chỉ địa danh (Trang 59)
Bảng 1.5. Bảng phõn loại cỏc loại từ chỉ địa danh trong tạp văn Nguyễn Quang Lập  - Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập
Bảng 1.5. Bảng phõn loại cỏc loại từ chỉ địa danh trong tạp văn Nguyễn Quang Lập (Trang 59)
Bảng 1.6. Bảng thống kờ số lần xuất hiện từ chỉ địa danh trong tạp - Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập
Bảng 1.6. Bảng thống kờ số lần xuất hiện từ chỉ địa danh trong tạp (Trang 63)
Bảng 1.7. Bảng thống kờ số lần xuất hiện từ xưng hụ trong tạp văn - Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn nguyễn quang lập
Bảng 1.7. Bảng thống kờ số lần xuất hiện từ xưng hụ trong tạp văn (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w