1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu tạp văn nguyễn ngọc tư

79 429 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 289,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở Việt Nam cũng vậy, không ít các nhà văn bên cạnh việc sáng tác cácthể loại văn xuôi chính nh tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài còn viết cả bút ký, tạp văn…Trong nền văn xuôi Việt Na

Trang 1

Trêng §¹i häc Vinh -*** -

Trang 2

Lời cảm ơn

Tìm hiểu tạp văn Nguyễn Ngọc T là một đề tài nghiên cứu về thể loại

tạp văn của một nhà văn đơng đại Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực, cốgắng của bản thân, tác giả còn nhận đợc sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trongchuyên ngành Văn học Việt Nam thuộc khoa Sau Đại học, của gia đình, ngờithân, đặc biệt là sự hớng dẫn tận tình của Tiến sĩ Phạm Tuấn Vũ

Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm

ơn thầy giáo – Tiến sĩ Phạm Tuấn Vũ đã trực tiếp giao đề tài, tận tình hớngdẫn, giúp đỡ để luận văn hoàn thành!

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong chuyên ngành đãtạo mọi điều kiện giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và làm luận văn!

Nhân dịp này, tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình,ngời thân, bạn bè đã quan tâm, động viên, giúp đỡ để tôi vợt qua trở ngại vơnlên trong học tập và hoàn thành tốt bản luận văn này!

IV Phạm vi khảo sát và phơng pháp nghiên cứu 10

Trang 3

Chơng 1: Những đặc sắc về nội dung tạp văn Nguyễn Ngọc T 11

1.2 Tạp văn Nguyễn Ngọc T biểu lộ nhận thức về ngời nông dân

Nam Bộ

18Chơng 2: Những đặc sắc về nghệ thuật tạp văn Nguyễn Ngọc T 37

1 Cuộc sống ngày nay đã có nhiều thay đổi, văn học cũng có những bớc

đổi thay để đáp ứng nhu cầu của ngời đọc Do tính chất công việc và thời gian

bị hạn hẹp, độc giả hôm nay dờng nh có xu hớng đọc nhanh, đọc đợc nhiều vàmuốn đọc đợc những tác phẩm thật sự có ý nghĩa Vì vậy mà ngời ta tìm đếncác thể loại có khả năng đáp ứng đợc nh truyện ngắn, truyện mini (truyện cựcngắn), tạp văn, bút ký… Giải quyết đề tài này nhằm góp phần nhận thức tínhnăng động, linh hoạt của thể loại tạp văn

2 Hiện nay “tạp văn” là thể loại đợc sử dụng khá phổ biến Chẳng hạn

hầu nh báo Văn Nghệ số nào ít nhất cũng có đăng một tác phẩm, nhiều loại

báo không chuyên về văn chơng cũng in tạp văn Văn học nớc ngoài và ViệtNam có không ít tác giả viết tạp văn bên cạnh các thể loại khác nh tiểu thuyết,truyện ngắn, kịch…và họ cũng rất thành công Song dờng nh những ý kiếnnhận xét, đánh giá, nghiên cứu về thể loại này còn ít Giải quyết đề tài này sẽgóp phần nghiên cứu thể loại tạp văn

Trang 4

3 Nguyễn Ngọc T là một cây bút truyện ngắn khá xuất sắc Chị đã

nhận đợc nhiều giải thởng văn học có giá trị ngay từ những tập truyện đầu tay

nh Ngọn đèn không tắt, Giao thừa, Nớc chảy mây trôi… Sau truyện ngắn

Cánh đồng bất tận, chị nổi lên nh một hiện tợng văn học gây nhiều tranh cãi.

Nhng sự đánh giá đối với nhà văn này chủ yếu là ở truyện ngắn và rất khácnhau Nghiên cứu tạp văn Nguyễn Ngọc T còn có ý nghĩa đối sánh để hiểuhơn truyện ngắn của nhà văn

II Lịch sử vấn đề

1 Về khái niệm Tạp văn “ ”

Tạp văn là một khái niệm cha đợc minh định rõ ràng, còn lẫn lộn với

các tên gọi khác nh tản văn, bút ký, tạp bút, tạp cảm…

Từ điển Văn học định nghĩa về tạp văn nh sau:

1 – “Tạp văn là những bài văn nghị luận có tính nghệ thuật Phạm vicủa tạp văn rất rộng, bao gồm tạp cảm, tuỳ cảm,tiểu phẩm, bình luận ngắn…

Đặc điểm nổi bật là ngắn gọn.”

2 – “Tạp văn là một bộ phận lớn của nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn viếttheo một thể loại đặc biệt bao gồm những bài cảm nghĩ nhỏ, luận văn, tuỳ bút,

th từ, nhật ký, hồi ức…” [45, tr333]

Từ điển thuật ngữ Văn học cho rằng: “Tạp văn là những áng văn tiểu

phẩm có nội dung chính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứvăn vừa có tính chính luận sắc bén vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh

và bình luận kịp thời các hiện tợng xã hội” [21, tr247].

Trơng Chính trong lời giới thiệu Tạp văn Lỗ Tấn tuyển tập, Nxb Văn

học, H.1963 cũng đa ra cách hiểu về tạp văn nh sau: “Tạp văn là một thànhtựu đặc biệt của Lỗ Tấn trong 30 năm hoạt động văn học của ông nhng thật rakhông phải là một thể loại mới Xét nguồn gốc và phong cách của nó thì tạpvăn chính là kế thừa và phát triển hình thức tản văn trong văn học cổ điểnTrung Quốc”[13; 6]

Dơng Tấn Hào quan niệm: “Theo nghĩa đen thì hai chữ tạp văn dùng đểchỉ những thể văn đoản thiên không đồng một thể với các tập thi ca, tản văn,tiểu thuyết và bi kịch đã thịnh hành nh xa Ngày nay, bản chất thứ tạp văn đãbiến tớng và danh từ đó hiện giờ đã chuyên chỉ lối văn đoản thiên, những thiêntạp cảm trở giàu về tính cách tranh đấu” [31, tr21].

Trần Xuân Đề trong cuốn Tác gia tác phẩm văn học phơng Đông (Trung Quốc) cho rằng: “Thể văn không bị hình thức gò bó , nội dung không

có gì là không đề cập đến, cho nên gọi là “tạp” [18, tr444]

Trang 5

Theo Lỗ Tấn: “Kì thực, cái gọi là tạp văn cũng không phải là một mónhàng mới mẻ, mà ngày xa cũng đã có” Phàm là văn chơng, nếu cần phân loại,thì đều có loại để mà quy Nếu muốn ghi năm thì chỉ căn cứ vào năm sáng tác

ra nó, bất cứ là thể văn gì, mọi thứ gộp lại với nhau, thế thành ra “tạp”[18,tr444] Lỗ Tấn đặc biệt “đề cao vai trò của tạp văn, một hình thức bút kýchính luận” Tác giả xem “tạp văn là loại “ngôn chí hữu vật” Tạp văn thể hiệnchức năng của nghệ thuật, tham gia cụ thể vào nhiệm vụ đấu tranh xã hội.”[19, tr212]

Trong cuốn Tạp văn Mạc Ngôn ở bài mở đầu “Vì sao phải biên soạn

cuốn sách này?”, tác giả viết: “Đây là tập “tản văn, tuỳ bút” đầu tiên của tôi.Tuy nhiên tôi rất muốn nói rằng, đây là một đĩa lòng dê đã xắt miếng Bởi tôicũng không dám chắc rằng, những bài văn đợc su tập lại ở đây, rốt cuộc nêncoi nó là tản văn, hay xem là tạp văn, hay gọi là “tuỳ bút”, hay nên coi là mộtthể loại khác Thật lòng không thể ngờ rằng, trong hơn chục năm qua, ngoàiviệc viết tiểu thuyết và kịch bản ra, tôi còn viết đợc nhiều thứ ba lăng nhăng

đến thế.” [35, tr5]

Nhìn chung, các quan niệm về thể loại này còn khác nhau, cha minh

định đợc rõ ràng, thậm chí là đối lập Chẳng hạn, Đỗ Hải Ninh trong bài viết

Ký trên hành trình đổi mới xem tạp văn một dạng nhỏ của “tản văn” Tác giả

viết: “Chúng tôi quan niệm tản văn là loại văn ngắn gọn, hàm súc, với khảnăng khám phá đời sống bất ngờ, thể hiện trực tiếp t duy, tình cảm tác giả, baogồm cả tạp văn, tuỳ bút, văn tiểu phẩm…”[37, tr77] Nhng Dơng Tấn Hào lại

xem tạp văn dùng để chỉ những thể văn đoản thiên, không đồng một thể vớicác tập thi ca, tản văn, tiểu thuyết và bi kịch đã thịnh hành nh xa Bởi “tảnvăn” là một khái niệm rất rộng bao trùm toàn bộ các sáng tác văn xuôi xa màngời Trung Quốc đã dùng

Hoàng Ngọc Hiến xem tạp văn là một tiểu loại của thể loại ký, trongcuốn sách Năm bài giảng về thể loại, ông viết: “Trong nghiên cứu văn học

Việt Nam đơng đại, ký là một thuật ngữ đợc dùng để gọi tên một thể loại vănhọc bao gồm nhiều “thể” hoặc “tiểu loại”: bút ký, hồi ký, du ký, ký chínhluận, phóng sự, tuỳ bút, tản văn, tạp văn, tiểu phẩm (ét-xe)…”[22, tr5]

Hoàng Trung Thông nhấn mạnh tính chất cơ động và khả năng ứng chiếncủa thể loại ký nh sau: “Với sở trờng nhiều mặt của thể loại văn học này, cácnhà văn có thể khi thì dựng lên những bức tranh rộng lớn về cuộc sống, miêutả từng sự việc, khi thì đi sâu vào một điạ phơng, một con ngời với chi tiết, có

Trang 6

khi với cả số liệu cụ thể Khi thì chỉ nói lên những cảm nghĩ nhẹ nhàng củamình khi thì lại là một sự tranh luận sôi nổi, không khoan nhợng Thể loại vănhọc này với sự phóng khoáng rộng rãi và cơ động của nó có thể giúp cho nhàvăn ngay trong một bài vừa phản ánh hiện tại, vừa đi ngợc dòng thời gian, vừamiêu tả, vừa suy nghĩ biện luận… vừa trữ tình vừa châm biếm.” [19, tr 213 -213]

Qua các ý kiến nêu trên, chúng tôi có thể rút ra một số đặc điểm của thểloại tạp văn nh sau:

+ Là thể loại ngắn gọn, hàm súc

+ Thờng chớp một ý nghĩ, khoảnh khắc suy t, một thoáng liên tởng bất ngờ,

độc đáo, đậm dấu ấn cá nhân của tác giả

+ Nội dung khá đa dạng phong phú: có thể liên quan đến các vấn đề chính trịxã hội mang tính chính luận, sắc sảo; cũng có thể là những thiên “tạp cảm” trởgiàu chất trữ tình, mang đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật của một tác giảvăn chơng

+ Rất năng động, linh hoạt, phù hợp với nhu cầu thởng thức của độc giả hiện đại Đã có những tác giả tiêu biểu viết nhiều và thành công ở thể loại tạp văn.Nói đến tạp văn Trung Quốc, ngời ta thờng nhắc tới Lỗ Tấn, Mạc Ngôn Nếu

nh truyện ngắn làm cho Lỗ Tấn nổi tiếng, làm cho ông có một vị trí vẻ vangtrên văn đàn Trung Quốc và thế giới thì tạp văn là sự cống hiến của ông chonền văn học hiện đại Trung Quốc cũng nh cho sự nghiệp cách mạng TrungQuốc Tạp văn Lỗ Tấn – “một lâu đài dựng gần 800 000 chữ”[50, tr364]

Ông viết trong gần 30 năm, đăng trên vài chục tờ báo, dới 87 cái tên kí khácnhau gồm 650 bài in thành 16 tập

Tạp văn của Lỗ Tấn là những bài văn chính luận viết sắc sảo, đanh théptrên mặt trận chính trị t tởng, phục vụ đắc lực vào công cuộc đấu tranh củanhân dân Trung Quốc lúc bấy giờ Nó đợc xem là “dây thần kinh cảm ứng”, là

“chân tay tiến công và phòng thủ”, là “dao găm và mũi dao có thể cùng bạn

đọc mở ra một con đờng máu để sinh tồn” (Lỗ Tấn)

Mạc Ngôn cũng viết tạp văn rất hay Ông cũng là tác giả nổi tiếng TrungQuốc và thế giới về lĩnh vực tiểu thuyết, truyện ngắn Tạp văn của ông chủyếu là những thiên tạp cảm “thoải mái” về mọi lĩnh vực nh ăn mặc, ngủ nghê,

đi lại, nói cời, chửi bới, khoái cảm rửa chân, t tởng, thẩm mĩ…Đó là những lờitản mạn về mọi thứ xung quanh gần gũi có liên quan cuộc sống đời thờng của

Trang 7

riêng ông cũng nh con ngời nói chung Tạp văn Mạc Ngôn đợc viết bằng sựtrải nghiệm, hiểu biết, thâm trầm, sâu sắc với một giọng văn vừa cà kê vừahóm hỉnh, vui tơi.

ở Việt Nam cũng vậy, không ít các nhà văn bên cạnh việc sáng tác cácthể loại văn xuôi chính nh tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài còn viết cả bút

ký, tạp văn…Trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, sau Nguyễn Tuân – mộttên tuổi gắn liền với thể loại tuỳ bút, các nhà văn nh Vũ Trọng Phụng, ThạchLam, Vũ Bằng, Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Tởng, Nguyễn Khải,Hoàng Quốc Hải…cũng rất nổi tiếng với các tác phẩm bút ký, phóng sự, tuỳbút, tạp bút, tạp văn… Gần đây, so với các thể ký khác, tạp văn đang trở thànhmối quan tâm đối với độc giả nh món ăn tinh thần hàng ngày cần thiết và có

xu hớng đợc chọn lựa nhiều hơn Ngày càng có nhiều chuyên mục nhàn đàm,tản văn, tạp văn…trên các tờ báo và nhiều cuốn sách ra mắt với sự góp mặt của

đông đảo các thế hệ: Nguyễn Khải (Tạp văn), Đỗ Chu (Tản mạn trớc đèn),

Thảo Hảo (Nhân trờng hợp chị Thỏ Bông), Tạ Duy Anh (Ngẫu hứng sáng tra chiều tối), Nguyễn Ngọc T (Tạp văn), Mạc Can (Tạp bút)…Ngời viết ít, ngời

viết nhiều, nhng có lẽ những ngời thực sự quan tâm, có hứng thú theo đuổi và

đạt đợc thành công tới mức chúng trở thành một bộ phận làm nên phong cáchvăn chơng thì không nhiều

Tạp văn của Nguyễn Khải bao gồm những bài báo đề cập đến các vấn đề

đạo đức, lối sống, những tự truyện, những mẩu chuyện nghề nghiệp…liên quan

đến nhiều khía cạnh của đời sống hiện thực, song nhìn chung là xoay quanhnhững suy nghĩ về cuộc đời và nghề văn Nguyễn Khải lấy chất liệu hiện thực

là những quang cảnh, sự kiện, con ngời bình thờng của cuộc sống hàng ngày,chủ yếu là môi trờng quen thuộc của nhà văn: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…Khai thác đề tài có phần “hẹp“ nhng tác phẩm của ông vẫn đạt đợc mức độkhái quát cao bên cạnh vẻ chân thực, sinh động, hấp dẫn riêng Chính vì vậytạp văn của ông mang dáng dấp của những câu chuyện nhỏ nhặt thờng ngàysong lại có sức chuyển tải những vấn đề lớn

2 Điểm lại sự nghiên cứu về tạp văn Nguyễn Ngọc T và truyện ngắn Nguyễn Ngọc T

Cho đến nay, các ý kiến đánh giá về tác phẩm của Nguyễn Ngọc T khá

đa dạng, phong phú: ngời khen cũng nhiều mà ngời chê cũng lắm

Trang 8

Nghiên cứu các sáng tác của Nguyễn Ngọc T chủ yếu thiên về truyệnngắn, đặc biệt là truyện Cánh đồng bất tận, có các bài viết sau:

- “Đọc Nguyễn Ngọc T qua Cánh đồng bất tận” – Hoàng Thiên Nga, báo

- “Là trẻ con…” - Phan Quý Bích, báo Văn Nghệ Trẻ số 17 (28/4/2006)

- “Nỗi nhớ qua Cánh đồng bất tận” - Nguyễn Quang Sáng, báo Tuổi Trẻ

(25/11/2005)

- “Tôi viết trong nỗi im lặng” – Phong Điệp phỏng vấn Nguyễn Ngọc , báo Văn Nghệ Trẻ số 45 (06/11/2005)

T “Nguyễn Ngọc T – quả sầu riêng của trời” – Trần Hoàng Thiên Kim,

báo Hà Nội Mới.

- “Một nhịp cầu” – Huỳnh Kim, báo Đồng Nai (24/01/2006)

- “Dữ dội và nhân tình” – Phạm Xuân Nguyên, báo Tuổi Trẻ

Trang 9

- “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc T” – Trần PhỏngDiều, báo Văn Nghệ Quân Đội số 647 (6/2006)

- “Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc T” – Phan Quý Bích, báo Văn Nghệ Trẻ số 46 (12/11/2006)

Các bài viết đều khẳng định tài năng văn chơng của Nguyễn Ngọc T, đặcbiệt là truyện ngắn Cánh đồng bất tận Cũng có một vài bài không đồng tình

với lối viết mới của chị nh Im lặng thở dài của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (báo Tuổi Trẻ – 30/11/2005) hay bài Nói nhỏ cho T nghe của doanh nhân Lê Duy

(báo Văn Nghệ Trẻ – 16/4/2006) thì lại tỏ ý lên giọng kẻ cả xem nhẹ tài

năng, thậm chí là trình độ học vấn của Nguyễn Ngọc T! Hoặc nh bài Bênh vực truyện đạo văn - đạo đức hay văn hoá của Lý Nguyên Anh đăng trên báo Văn nghệ Trẻ số 40 (01/10/2006) nhân việc d luận xung quanh 2 truyện ngắn Cánh

đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T và Dòng sông tật nguyền của Phạm Thanh

Khơng có sự giống nhau, đã hạ một câu (dù chỉ trong ngoặc đơn): “Nhân đâycũng nói thêm rằng, dù vì lí do nào đi chăng nữa, dù ai hết lời tán dơng đichăng nữa, tôi cũng coi hai truyện ngắn đồng sàng đồng mộng ấy là những tácphẩm hết sức tật nguyền!”[2]

Tạp văn cũng là một thể loại đợc Nguyễn Ngọc T sáng tác rất nhiều.Song dờng nh thể loại này của chị cha thu hút đợc sự quan tâm cần thiết, đúngmức của giới nghiên cứu Những đánh giá chủ yếu dành cho truyện ngắn, còntạp văn thì thảng hoặc có một vài bài viết lẻ tẻ in trên các báo nh:

- “Tạp văn Nguyễn Ngọc T” , Thanh Vân, eVan Com (07/02/2006)

- “Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc T : Nguyễn Ngọc T - quen mà lạ”, Hạ Anh, báo Thanh Niên (19/01/2006)

- “Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc T “, Trần Hữu Dũng, (lời bạt của tập

Tạp văn Nguyễn Ngọc T )

- “Đọc tạp văn “Trở gió” của Nguyễn Ngọc T”, Phú Cờng, Thời báo kinh

tế Sài Gòn (10/2005)

Mặc dù một số bài viết có đề cập đến thể loại tạp văn của Nguyễn Ngọc

T nhng nhìn chung lối viết con chung chung, sơ sài mà cha thực sự đi sâu tìmhiểu về nôị dung cũng nh nghệ thuật để có cái nhìn toàn diện hơn về tạp văncủa chị Chẳng hạn trong bài: Đọc tạp văn Trở gió của Nguyễn Ngọc T“ ” , chỉ

là cảm nhận của Lê Phú Cờng về một tác phẩm tạp văn mà anh ấn tợng Trở gió là tác phẩm khiến anh rung động bởi lối viết về gió chớng của Nguyễn

Trang 10

Ngọc T thật êm đềm, thật nhẹ nhàng mà tinh tế và khiến không ít kẻ xa quê

“sẽ chết giấc trong nỗi nhớ quê nhà”[47, tr 9-10]

Trong lời bạt của Tạp văn Nguyễn Ngọc T, Trần Hữu Dũng khẳng định:

“Nguyễn Ngọc T mà tôi gặp chính là Nguyễn Ngọc T mà mọi ngời đều có thểbiết rõ qua các bút ký của cô, và Cà Mau mà tôi đến là Cà Mau của tất cảnhững gì T viết” [47, tr188] Nhìn chung bài viết khá bao quát song vẫn thấynổi bật trong đó là tình cảm của ngời con xa quê hơng, khi đọc tạp vănNguyễn Ngọc T sẽ càng thấy mến yêu và thơng nhớ quê nhà Ngời viết xemtạp văn Nguyễn Ngọc T nh “một nhịp cầu” gắn kết những ngời xa xứ nh ôngvới quê hơng đất nớc Việt Nam tơi đẹp

Hai bài “Tạp văn Nguyễn Ngọc T” và “Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc T :Nguyễn Ngọc T quen mà lạ” nhìn chung có nêu đến nội dung của tạp vănNguyễn Ngọc T và giọng điệu chính luận, giọng trữ tình thế sự của NguyễnNgọc T khi viết về những vấn đề thiết thực, sát sờn với quê mình Song trongphạm vi những bài báo nhỏ nên các tác giả chỉ nêu đợc những vấn đề nổi bật,

dễ nhận thấy, cảm thấy mà cha phải là những nghiên cứu mang tính chất đisâu đi sát tìm kiểu cặn kẽ, thấu đáo vấn đề

Chính vì vậy trong luận văn này, chúng tôi sẽ đi sâu nhận định, đánh giánhững nét đặc sắc cả về nội dung cũng nh hình thức của tạp văn Nguyễn Ngọc

T, nêu lên những hạn chế cũng nh xác định ý nghĩa của thể loại này trongsáng tác văn học Nguyễn Ngọc T và cũng để hiểu hơn truyện ngắn của chị

III mục đích nghiên cứu

1 Luận văn khái quát và lý giải những nội dung chủ yếu của tạp văn

Nguyễn Ngọc T Tìm hiểu những nội dung, t tởng mà tác giả quan tâm thểhiện trong tạp văn Từ đó khẳng định những nội dung mà tác giả kế thừa và cógì mới so với các tác giả trớc đó và cùng thời

2 Làm rõ những đặc sắc về phơng diện hình thức nghệ thuật của tạp văn

Nguyễn Ngọc T là một nhiệm vụ mà luận văn đi vào khai thác Qua đó nhằmkhái quát những thủ pháp, biện pháp, những hình thức nghệ thuật mà tác giả

đã sử dụng để chuyển tải đợc nội dung cũng nh những quan điểm của tác giả

3 Đối sánh tạp văn Nguyễn Ngọc T với truyện ngắn của cùng tác giả về

phơng diện nội dung cũng nh hình thức giống và khác nhau, bằng việc chú ýlàm rõ đặc điểm của từng thể loại cũng là một cách để giúp chúng ta hiểu hơntruyện ngắn của Nguyễn Ngọc T

Trang 11

IV phạm vi khảo sát và phơng pháp nghiên cứu

1 Phạm vi khảo sát

Tạp văn Nguyễn Ngọc T đợc đăng lẻ tẻ trên các báo, Internet và chủ yếu

đợc tập trung trong cuốn Tạp văn Nguyễn Ngọc T bao gồm 35 tác phẩm nên

chúng tôi cũng khảo sát nghiên cứu chủ yếu dựa trên tập sách này Ngoài rachúng tôi có sử dụng thêm một số tạp văn trên Internet cần cho việc nghiêncứu Chúng tôi cũng sử dụng tập truyện ngắn hay và mới nhất Cánh đồng bất tận để tìm hiểu và đối sánh.

2 Phơng pháp nghiên cứu

Ngoài các phơng pháp nghiên cứu phổ biến nh khảo sát, thống kê, phânloại, khái quát, phân tích, tổng hợp, chúng tôi còn chú trọng phơng pháp sosánh để làm nổi bật sự đối sánh giữa hai thể loại truyện ngắn và tạp văn nhằmtìm hiểu thêm truyện ngắn qua tạp văn của tác giả Nguyễn Ngọc T

V đóng góp của luận văn

Luận văn này đi sâu nghiên cứu tạp văn Nguyễn Ngọc T ở những khíacạnh đặc sắc về cả nội dung và nghệ thuật, phát hiện những đóng góp cũng

nh những hạn chế Qua đó hiểu thêm về truyện ngắn của nhà văn này

VI Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đợc trình bày trong ba chơng:

Chơng 1: Những đặc sắc về nội dung của tạp văn Nguyễn Ngọc T

Chơng 2: Những đặc sắc về nghệ thuật của tạp văn Nguyễn Ngọc T

Chơng 3: Tạp văn Nguyễn Ngọc T và truyện ngắn Nguyễn Ngọc T

Trang 12

“Đề tài là khái niệm chỉ loại các hiện tợng đời sống đợc miêu tả, phản

ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là phơng diện khách quan của nộidung tác phẩm”[21, tr 96]

Các hiện tợng đời sống có thể liên kết với nhau thành loại theo mối quan

hệ bên ngoài hoặc bên trong của chúng, cho nên cũng có thể xác định đề tàivăn học theo giới hạn bên ngoài hoặc bên trong của phạm vi hiện thực đợcphản ánh trong tác phẩm

Nếu nh đối tợng nhận thức, miêu tả của sáng tác văn học là cái còn nằmngoài tác phẩm, đối diện với tác phẩm thì đề tài của tác phẩm là một phơngdiện trong nội dung của nó, là đối tợng đã đợc nhận thức, lựa chọn gắn liềnvới dụng ý, thế giới quan, lập trờng t tởng, quan điểm thẩm mỹ của nhà văn Tạp văn là những tác phẩm văn học có tính chất bình luận trực tiếp, vìthế việc lựa chọn đề tài, chủ đề rất quan trọng Một bài tạp văn có mang đợc

đúng màu sắc hay không phụ thuộc rất lớn vào việc lựa chọn đề tài Lỗ Tấntừng nói: “Mỗi khi chọn đề tài tôi đều chọn những ngời bất hạnh trong xã hộibệnh tật với mục đích là lôi hết bệnh tật của họ ra, làm cho mọi ngời chú ý tìmcách chạy chữa”[13] Đề tài trong tạp văn Lỗ Tấn đậm chất chính trị, phê phánxã hội nh đề tài chống phong kiến, đế quốc; phê phán bệnh trạng xã hội: mêmuội tê liệt, bảo thủ trì trệ, tự kiêu tự mãn, a dua mù quáng; đấu tranh chốngbọn bồi bút chó săn; hay đấu tranh cho thắng lợi của văn học vô sản Đề tàitrong tạp văn Nguyễn Khải là những vấn đề giản dị trong cuộc sống xungquanh ông nh quan niệm về nghề văn, những vấn đề đạo đức

1.1.2 Đề tài tạp văn Nguyễn Ngọc T giản dị, gần gũi, đời thờng

Văn học phản ánh cuộc sống Các nhà văn mỗi ngời chiếm lĩnh mộtmảng nào đấy và chính sự hiểu biết thành thạo, sự quan tâm của tác giả về mộtmặt nào đó của đời sống cũng đã góp phần tạo nên phong cách cá nhân củamỗi nhà văn Có ngời viết về đời sống thành thị, có ngời viết về nông thôn, lại

có ngời viết nhiều và viết rất hay về miền núi Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào

sự trải nhiệm và khả năng khám phá cũng nh tình cảm của tác giả vào mảnh

đất nơi mà mình đang sống và viết

Nếu nh giai đoạn văn học cách mạng (1945-1975) hớng theo đờng lốichung của Đảng là văn học viết về đại chúng, tập trung phản ánh cuộc chiếntranh nhân dân của dân tộc nên cảm hứng sử thi, cảm hứng về cái “hoànhtráng” của cộng đồng là nổi bật thì từ năm 1986, nhiều nhà văn viết về cuộc

Trang 13

sống đời thờng, cá nhân cá thể, những ngõ ngách trong tâm hồn con ngời vốnphức tạp và nhiều mâu thuẫn do cuộc sống sau chiến tranh có nhiều thay đổi Nguyễn Ngọc T là nhà văn Nam Bộ với tuổi đời còn rất trẻ Chị sinhnăm 1976 tại huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Vốn là một ngời con sinh ra vàlớn lên nơi mảnh đất nông thôn còn nhiều khó khăn vất vả, Nguyễn Ngọc Tthấu hiểu cuộc sống của những ngời dân lao động, đặc biệt là ngời nông dân.Văn chị giản dị tới mức ai đọc cũng có thể nghĩ mình viết đợc Tởng nh bất cứcái gì tác giả cũng viết đợc, “những câu chuyện bình thờng về những điềubình thờng của những ngời bình thờng của cuộc sống quanh cô” [36] Chị tâm

sự: “Viết vì nhiều thứ lắm, phần vì sự thôi thúc và để giải toả những nhữngcảm xúc dồn nén bên trong, phần vì buồn quá, không biết nói chuyện cùng ainên tìm cách trút vào trang viết…Những cảnh đời, cảnh ngời bên cạnh mình,những ngôn ngữ đời sống bình dị hàng ngày cứ thế ùa vào trang viết” [52].

Nguyên Ngọc trong bài viết Còn nhiều ngời cầm bút rất có t cách cũng

đánh giá về Nguyễn Ngọc T rất cao bởi cái lẽ viết giản đơn đến mức “nhkhông” của chị “Cô ấy nh một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hayrừng đớc Nam Bộ vậy, tơi tắn lạ thờng, đem đến cho văn học một luồng giómát rợi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh tế, đặc biệt “Nam Bộ ” mộtcách nh không, chẳng cần chút cố gắng nào cả nh các tác giả Nam Bộ đi tr-ớc”[34].

Quả thật, đọc tạp văn của Nguyễn Ngọc T, tởng chừng chị viết giản dị và

dễ vô cùng Chị gắn bó tự thân với mảnh đất Nam Bộ, nơi chị sinh ra và lớnlên, những cảnh vật, con ngời, thiên nhiên nơi đây đi vào trang viết của chịthực tế và sống động lạ Còn gì gần gũi và thân thơng hơn hình ảnh gia đình

có ba có má và anh chị en trong Gió mùa thao thức. Đó là một gia đình êm ấm

hạnh phúc, cha mẹ thơng yêu, quan tâm đến con cái hết lòng, quen thuộc cả

sở thích ăn uống của từng đứa Hình ảnh ngời cha ngời mẹ thân thơng sốngtảo tần, lam lũ suốt cả cuộc đời vẫn luôn buồn khi thấy những đứa con mìnhsống nghèo túng thiệt thòi so với bạn bè cùng trang lứa trong Cha và con, Sân nhà, Tháng Chạp ở rạch Bộ Tời, Chợ của má, Lời cho má, Mơ thấy mùa đang tới…

Không chỉ vậy, hình ảnh những ngời nông dân cực khổ, lam lũ ở nôngthôn Cà Mau hiện lên trong tạp văn của Nguyễn Ngọc T cũng rất chân chấtmộc mạc, giản dị, dễ gần Tạp văn Nguyễn Ngọc T thờng viết về cuộc sống

Trang 14

của ngời nông dân “Thủng thẳng, nhỏ nhẹ nh ngời con gái quê đang vừa háirau muống vừa kể chuyện, những câu chuyện lúc thì da diết, lúc lại hóm hỉnh,tng tửng, vui vui Tạp văn Nguyễn Ngọc T có sự kết hợp rõ nét giữa văn vàbáo”[55] Nếu ở truyện ngắn, Nguyễn Ngọc T đã biết cách đa vào những chitiết lay động lòng ngời thì trong tạp văn Nguyễn Ngọc T cũng có đợc sức rungcảm từ những chi tiết nh thế Đọc hết 35 tạp văn của chị, gấp sách lại vẫn cònvơng vấn hình ảnh những ngời nông dân tảo tần lam lũ rng rng cầm con tômchết trên tay, hình ảnh chợ quê, cái lu, khạp muối, vờn cây trái xào xạc, nhữngmón ăn bình dị mà giàu nghĩa giàu tình Nếu ở truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tcha chạm nhiều đến kinh tế, chính trị thì trong tạp văn, chị bộc lộ cái nhìn củamình về chuyện lúa chết non, tôm chết lãng, chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh

tế ở nông thôn, chuyện giữ đất hay bán đất, chuyện quan lại nhũng nhiễu,hạch sách ngời dân trong Ngậm ngùi Hng Mỹ, Đi qua những cơn bão khô, Ngơ ngác mùa da, Chờ đợi những mùa tôm, Làm cho biết, Kính tha anh nhà báo…

“Cái “công nghệ” cho ra đời hết tác phẩm này đến tác phẩm khác của cô

đợc khẳng định là rất…đơn giản: viết là viết, bất kì lúc nào, không sắp đặt,không bố cục, cứ thế đoạn sau cuốn theo đoạn trớc Viết gần gũi nh chính đờithờng ăn nói thô thô kệch kệch của cô” [56]

Tạp văn của Nguyễn Ngọc T viết về tất cả những gì có liên quan đếncuộc sống con ngời nơi đây: hình ảnh ngọn gió chớng, hình ảnh dòng sông,chợ,…cho ta thấy đợc những phong tục, thói quen sinh hoạt, đời sống kinh tếcủa ngời dân Nam Bộ; còn hình ảnh gia đình, những ngời nông dân trong lao

động sản xuất còn nhiều khó khăn vất vả lại cho ta hiểu sâu hơn về tính cách,lối sống, tình cảm chân thành, rộng mở và đầy nghị lực của con ngời nơi đây.Tất cả những cái đó chẳng có gì xa lạ, chẳng có gì khoảng cách với nhà vănNguyễn Ngọc T Sự thấu hiểu tờng tận, sự quan tâm sâu sắc của tác giả đếncuộc sống và con ngời Nam Bộ cho ta thấy Nguyễn Ngọc T là “nhà văn củaxóm rau bèo”, nhà văn của nông dân, nhà văn của những vấn đề bình thờng,giản dị, gần gũi nhất

Tạp văn Nguyễn Ngọc T vừa là những trang viết về tình cảm, đạo đức,phong hoá mang đậm chất trữ tình; lại vừa là những trang viết phản ánh kịpthời đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn bất cập, những vấn đề mang tínhchất thời sự nóng bỏng của mảnh đất Nam Bộ nhiều nắng và gió

Trang 15

1.1.3 Nổi bật là đề tài về ngời nông dân Nam Bộ trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất

Từ bao đời nay ngời nông dân Việt Nam gắn bó sâu nặng với cây lúa Cóthể nói, cây lúa đã trở thành biểu tợng, là niềm tự hào của nền nông nghiệpViệt Nam nói riêng, của nền văn minh nông nghiệp lúa nớc nói chung Đất, n-

ớc và thời tiết là ba yếu tố chủ đạo có ảnh hởng quyết định đến việc trồng trọtcây lúa và các lọại cây lơng thực khác cùng với việc chăn nuôi gia súc giacầm

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vựa lúa lớn nhất cả nớc

Đó là nơi cung cấp lơng thực thực phẩm chính không những cho trong nớc màcòn xuất khẩu Ngời dân ở đồng bằng sông Cửu Long cũng nh đồng bằngsông Hồng gắn bó với cây lúa nh cá với nớc Cuộc sống ngày một nâng cao vànhu cầu cải thiện đời sống là nhu cầu tất yếu của con ngời, đó cũng là điềukiện thúc đẩy sự phát triển đi lên của xã hội Dới chủ trơng, chính sách của

Đảng và Nhà nớc, sản xuất trong nông nghiệp cũng có nhiều chuyển biến

đáng mừng, góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc

Đó là các mục tiêu điện khí hoá, cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp nôngthôn, phát triển các ngành nghề đánh bắt chăn nuôi thuỷ hải sản…nhằm giúpngời nông dân thoát nghèo và đi lên làm giàu chính đáng từ bàn tay công sứccủa mình, trên chính mảnh đất quê hơng mình Đồng thời với quá trình đó làquá trình đô thị hoá mở rộng đất đai thành thị về phía nông thôn Và ngờinông dân đứng trớc nhiều nỗi lo: nỗi lo về cân bằng sinh thái, nỗi lo về một cơchế mới mà cái giàu sang, cái mới, cái hiện đại cha đạt tới nhng cái đẹp, cáitruyền thống, cái quen thuộc lại đang dần mất đi hay bị tàn phá xói mòn và cónguy cớ sup đổ Chuyển dịch cơ cấu sản xuất là một biện pháp tốt nhng khiếnngời nông dân Nam Bộ thực sự đứng trớc nhiều thách thức, nhiều mâu thuẫn.Tạp văn Nguyễn Ngọc T đã phản ánh khá nhiều vấn đề của ngời nông dântrong chuyển dịch cơ cấu sản xuất

Chủ trơng của Nhà nớc là cho nông dân vay vốn từ ngân hàng để thựchiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất: từ trồng lúa sang nuôi tôm, nuôi vịt Nhngrồi lúa chết non, tôm chết lãng, dịch cúm gia cầm lan tràn khiến hàng triệucon gà vịt bị thiêu huỷ…Ngời dân đứng trớc những món nợ khó lòng trả đợccho ngân hàng, cuộc sống trở nên khó khăn, nghèo khổ hơn; họ sống trongtâm trạng phấp phỏng lo âu rất nhiều

Trang 16

- Trời, mới đây mà tháng Chạp rồi, lụi hụi là tới tết “Vậy hết năm naycũng cha trả đợc nợ”

- Kìa, cậu, cần gì nói chuyện nợ…Bao nhiêu chuỵên đó thôi lo cũng đãbứt gân, tóc tai tơi bời rồi, nhắc làm chi chuyện nợ nần từ mùa chuyển dịch[47, tr 29]

Và họ giải thích việc tôm chết, thất bát là do điều kiện đất đai khônghợp, công trình cấp thoát nớc không thuận tiện, không đầu t kĩ càng, kĩ thuậtcòn non yếu…

Đêm canh con nớc khiêng máy tát ra tát vô, tờ mờ sáng ra đi đổ

lú, rồi suốt ngày lụi hụi vớt rong, múc sình cải tạo ao đầm, trồnglúa, lúa chết thì trồng năn cho có cái tôm ăn Quần quật tới đỏ đèn

đôi chân mới ráo nớc, ngồi đón coi mấy ông khuyến ng phổ biến kĩthuật nuôi tôm trên tivi đặng học hỏi Nhng dụng kĩ thuật nào vôcái đất này cũng trớt quớt, tôm cũng chết thẳng cẳng Hết cách rồi

Đất phèn mặn, kinh lại cạn, lấy nớc ngọn của sông Gành Hào chảyqua chợ Cà Mau, vô trong nầy đã đầy rác, con ngời nhìn con muốnbịnh nói chi tôm vốn đã ốm yếu, bịnh hoạn sẵn từ hồi bằng cây kimmay tay[47, tr 29-30]

Ngậm ngùi Hng Mỹ nói lên nỗi khổ đến cùng cực của bà con nơi đây.

Gấp sách lại mà hình ảnh những ngời dân nh gia đình chú Sáu Tấn, chị Nga,chú Bảy Chà…vẫn ám ảnh, day dứt mãi không thôi, biết bao cảnh ngời cảnh

đời khiến ta phải bùi ngùi cảm động “Thì tôm chết triền miên, chết suốt bamùa chuyển dịch rồi, hỏi dân làm sao không nghèo?”[47, tr 43]

Những lời tâm sự, giải thích thật thà của bà con làm chúng ta cảm động

đến rơi nớc mắt:

Bây giờ đất này còn nghèo hơn trớc, cái nghèo lừa mị ngời xứ

xa, lừa mị những ông quan kinh lí a kiểm tra lớt lớt Chú Sáu Tấnnhà ở Kinh Ngang bảo: “Trời ơi, cô đừng thấy bà con cất nhà máitôn mới cáu, dới bến có xuồng có máy mà lầm tụi nầy giàu, cô phảivô tới trong bếp để coi hũ gạo, coi túi tiền của tụi tui Nó trống hơthôi Coi cái vỏ vậy chứ trong ruột tan nát hết [47, tr 44]

“Tiền đâu khi nợ cũ vay để cải tạo kinh mơng hồi mới “chuyển dịch”

bây giờ vẫn còn nguyên đó, trả lãi còn vất đừng nói chuyện hoàn vốn để vay

Trang 17

lại Ngời dân Hng Mỹ nợ ngân hàng trên 30 tỉ đồng, hy vọng trả đợc rất xaxôi, mờ mịt” [47, tr 49].

Đó là những lời tâm sự của ngời dân Hng Mỹ sau ba mùa chuyển dịchthất bại Cùng đó là các tác phẩm nh Th từ quê, Đi qua những cơn bão khô, Chờ đợi những mùa tôm, Gió mùa thao thức… cũng nổi bật về chuyện chuyển

dịch Mọi hình thứ đổ dồn vào cho con tôm nhng họ dờng nh cay đắng nhận rarằng ở đây có quá nhiều thứ bất tiện, bất lợi cho chuyển dịch cơ cấu sản xuất.Song niềm tin vơn lên thoát nghèo của ngời nông dân Nam Bộ vẫn không hềnguội lạnh, vẫn khảng khái một niềm tin

Nguyễn Ngọc T rất tinh nhạy Chị đã phản ánh kịp thời những vấn đềthời sự nóng bỏng của vùng quê nghèo nơi đất Mũi Cà Mau xen vào nhữngtrang viết đậm chất trữ tình về cuộc sống, sinh hoạt, văn hoá, con ngời và tấtcả những gì thân thuộc quanh chị Dờng nh những trang viết đậm chất trữ tình

đó càng làm nổi bật những vấn đề kinh tế xã hội nóng bỏng của bà con nơi

đây, gây sự chú ý cho ngời đọc Nhờ đó mà đề tài trong tạp văn Nguyễn Ngọc

T vừa có cái chung vừa có cái riêng, vừa có sự đa dạng phong phú lại vừa cónét đặc trng nổi bật

1.2 Tạp văn Nguyễn Ngọc T biểu lộ nhận thức về ngời nông dân Nam Bộ

1.2.1 Những nỗi khổ triền miên dai dẳng của ngời nông dân

Có thể nói trong các tầng lớp, giai cấp của xã hội thì nông dân là lực ợng chiếm đông đảo nhất, và cũng là những ngời nghèo khổ nhất Cuộc sốngcủa ngời nông dân lam lũ, cực nhọc, họ gánh trên vai mình bao nhiêu là tráchnhiệm, là sứ mệnh lịch sử của dân tộc trong lúc lâm nguy, sau đó trở về sốngvới cuộc đời lam lũ Song cuộc sống ngày một phát triển, sự phân hoá giàunghèo càng khiến ngời nông dân rơi vào biết bao hoàn cảnh trái ngang, dởkhóc dở cời

Trong Tháng Chạp ở rạch Bộ Tời, Nguyễn Ngọc T nói về nông dân

nh một lời giới thiệu về đặc trng nghề nghiệp và cuộc sống của họ:

Những con ngời có một trảng trời mênh mông mà cả đời chẳng

mấy khi thảnh thơi ngớc mặt ngó trời Những con ngời có một mùagió tơI bời nhng không có một lần thơ thới hít lấy cái hơng xuâncủa trời đất Ai cũng có nhà nhng quanh năm phải dầm dãi ngoài

đồng đất Bởi ở đó toàn là nông dân, tính luôn ba tôi [47, tr 28]

Trang 18

Ngời nông dân suốt một đời làm lụng vất vả mà nghèo vẫn hoàn nghèo.

Họ “tuyệt không thấy ai biếng nhác bê tha chơi bời nhậu nhẹt, vậy mà nghèomới tức” [47, tr 29] Cái nghèo cái khó sinh ra đủ thứ thiệt thòi: nợ nần khó

trả, thất học,trộm cắp vặt, thậm chí nghèo tới mức không có mảnh đất mà sảnxuất phải đi làm thuê làm mớn…Cực khổ không gì tả hết, dờng nh cái cực

“truyền kiếp”, cái cực mọi phơng ứng vô đời nông dân vậy “Làm nông dân

mà, cực từ đằng Đông Tây đem lại, cực từ Nam, Bắc cực vô, cực từ trên trờirơi xuống” [47, tr179] Và nh một lời giải thích khiến cho ngời ta phải ngậm

ngùi thơng cảm: “Tôi có cảm giác cái nghèo giăng ra sẵn những cái bẫy mà bàcon nông dân mình đi luẩn quẩn thế nào vẫn quay về ngay trân chỗ ấy Nhữngngời tốt, những ngời lam lũ cả đời chẳng đợc (hay cha đợc ) đền đền đáp?”[47,

tr 50]

Các tác phẩm tạp văn nh Tháng Chạp ở rạch Bộ Tời, Ngậm ngùi Hng

Mỹ, Th từ quê, Kính tha anh nhà báo, Đi qua những cơn bão khô, Chờ đợi những mùa tôm, Gió mùa thao thức, Ngơ ngác mùa da, Lời cho má, Mơ thấy mùa đang tới…là những trang viết đầy xúc động về cảnh sống của ngời nông

dân Nam Bộ Họ vật lộn với cái nghèo cái khó để sống một cách tạm bợ, tùtúng và bị động: “Coi cái cảnh bà con ở đây chạy gạo từng bữa còn đuối nóichi trả nợ” [47, tr 50]

Những ngày mùa vất vả cực nhọc đến với ngời nông dân lại là những

ngày sung sớng hạnh phúc vì ít ra cũng có việc để làm, có lúa gạo để ăn,không phải lo chạy gạo từng bữa vất vởng Đọc đoạn văn sau đây ta lại liên t-ởng đến nhân vật mẹ Lê trong tác phẩm Nhà mẹ Lê của nhà văn Thạch Lam:

“Cái hồi làm lúa không khổ cùng khổ tận vầy đâu, cô Bây giờ hỏi nhà nào ởxóm nầy mà không mua gạo chịu chỗ thím Sáu Đức, ai mà hỏng vay tiền củathím í” Đó là lời một ngời dân tâm sự Và, “Lúc nầy, cái “ngân hàng…xóm”

ấy đang ngóng lại đằng xã, coi trên có rót tiền hỗ trợ cho mấy hộ bị thiệt hạisau cúm gà cha, hòng gỡ lại chút đỉnh, chứ nợ của các chủ vuông tôm, ắp lẫmrối, mong gì?”[47, tr108-109]

Cũng vì nghèo, vì nợ mà Nguyễn Ngọc T miêu tả bà con nông dân phải

ăn những cái Tết “xo cò” đến tội nghiệp Thiệt thòi cho ngời lớn đã đành, và

họ chấp nhận hết, chỉ thơng những đứa trẻ phải bỏ dở học hành, phụ giúp gia

đình kiếm kế sinh nhai, lao động vất vả, từ bỏ những ớc mơ mà các em từngkhao khát, Đó là nỗi đau không chỉ của những ngời làm cha làm mẹ mà còn là

Trang 19

nỗi đau của con ngời, của toàn xã hội nói chung Đọc những trang văn trong

Ngậm ngùi Hng Mỹ chúng ta thấy xúc động, day dứt, nhức nhối bởi những lời

tâm sự nh ám ảnh, nh khắc vào tâm trí chúng ta: chị Võ Thị Nga có 4 đứa conthì 3 đứa thất học Còn đứa út “hỏng biết chừng…“ Chị kể với giọng buồn rờirợi về đứa con đầu lòng: “Tội nghiệp thằng nhỏ, học hết lớp 12 rồi mà không

có tiền, tui bắt nó nghỉ Tơng lai của nó tui coi nh xong rồi” [47, tr 44].

Những con số mà Nguyễn Ngọc T đa ra khiến ngời đọc phải giật mình:

“Cả ấp có 365 hộ hết 105 hộ nghèo, năm nào huyện cũng lên cứu đói chừngnăm ba chục hộ Học trò từ cấp 2 trở đi bắt đầu bỏ học đi làm mớn, mà cũngphải làm mớn xứ khác, chứ đất nầy ai cũng nh ai Nhiều thanh niên của Thị T-ờng bây giờ đang ở biển, ở rừng, mỗi mùa gió Chớng rao rao lại cồn cào nhớquê xứ” [47, tr 47].

Một cách giải thích nhẹ nhàng mà sâu, mà thấm, mà làm cháy lòngnhững ngời có trách nhiệm với đất nớc quê hơng: “Hồi đó Thị Tờng có “bakhông ”, không theo giặc, không bỏ Đảng, bỏ cách mạng…bây giờ “tùm lumkhông” Không gạo, không tiền, không cá, không rau cỏ…” [47, tr 47]

Có phải nghèo túng, bần cùng, nợ nần và thất học sinh ra tệ nạn, trộmcắp không? Trong Gió mùa thao thức có đoạn tác giả kể về một ngời đàn ông

tên gọi T Nổ , mùa đìa trớc còn háo hức vẽ ra cảnh sống giàu sang nếu nuôitôm trúng vụ mà mùa đìa sau vì nghèo khó sinh ra trộm cắp, bị bắt đợc vàkhóc Những giọt nớc mắt ân hận vì làm điều không tốt hay đó là những giọtnớc mắt khóc cho giấc mơ giàu sang đã xa vời vì thất bát liên miên? Câuchuyện thật cảm động là cách c xử của hai vợ chồng nhân vật ngời cha Ôngkhông phạt mà chỉ nhắc nhớ, gợi lại những kỉ niệm mùa đìa năm ngoái, ông

bà cũng thể hiện tình yêu thơng của những con ngời cùng cảnh ngộ “Thôi, coi

nh lá lành đùm lá rách, rách ít đùm lá rách nhiều, rách nhiều đùm rách nát,bây biết mà, tao cũng nghèo”[47, tr145]

Một câu hỏi mà cũng là câu trả lời cho việc này đợc một nhân vật trong

Đất Mũi mù xa phát biểu: “Đã có câu “Nghèo cho sạch, rách cho thơm” còn

sáng tác ra câu “Bần cùng sanh…lâm tặc, ng tặc” chi vậy không biết?” [47,tr17] Hay một câu khác cũng tơng tự nh thế “Mấy ông nhà nớc không nghĩ racách nào cứu tụi tui, để vầy hoài, hai năm nữa không chết đói cũng chết vìtrộm cớp cho cô coi, bần cùng nên sanh đạo tặc, ông bà mình dạy vậy” [47, tr108]

Trang 20

Ngời nông dân khổ là vậy, song họ cũng chẳng đợc che chở bởi một thứbảo hiểm lao động xã hội nào khi sản xuất gặp khó khăn, mất mùa, bệnhdịch…Làm ra hạt lúa biết bao khó khăn cực nhọc, vậy mà mất mùa là ngờinông dân lâm vào cảnh đói nghèo Nhng dẫu hăng hái làm và đợc mùa thì giálúa cũng rẻ bèo, thậm chí không có đầu ra nên bà con nông dân vẫn cực.

Cũng liên quan đến cây lúa còn có dịch ốc bơu vàng Trong quyển tạpvăn Nhân trờng hợp chị Thỏ bông của Thảo Hảo (Phan Thị Vàng Anh) cũng

có bài viết về cái khổ của ngời nông dân trớc nạn ốc bơu vàng Thảo Hảo viếtsắc,gọn, đanh, đa ra những thống kê, bảng so sánh chi tiết, dẫn chứng khoahọc cụ thể Vì thế, đọc Thảo Hảo xong ngời ta thấy tức tối vì cái sự “mù mắt”của những ngời có trách nhiệm trớc thảm hoạ ốc bơu làm khổ nông dân.Nguyễn Ngọc T cũng có bài viết về nỗi khổ của ngời nông dân trớc nạn dịchnày Viết không đanh, không sắc nhng mà sâu, đọng, day dứt:

Tôi đi học xa, chiều thứ bảy về nhà bắt ốc Cả nhà bắt ốc, cả

xóm bắt ốc, cả tỉnh bắt ốc Lúc sức trẻ tôi rệu rã thì má tôi vẫnchăm chăm từng con ốc theo mỗi bớc chân thụt lút dới sình…phải l-

ợm lại ốc để gieo sạ đợt hai…Má già sọp nh trăm ngày góp lại…Mắttôi nhức, rụng xuống những giọt nớc trong và mặn [47, tr179] Dịch cúm gia cầm H5N1 lan rộng và có nguy cơ lây lan bệnh dịch sangngời đã khiến nhà nớc ra quyết định thiêu huỷ một số lợng rất lớn gà vịt củangời nông dân nói chung, Nam Bộ nói riêng Theo số liệu thống kê số gà vịtthiêu huỷ lên tới 267 813 con Đó là một tổn thất quá lớn mà ngời nông dânphải gánh chịu

“Chẳng ầm ĩ, bạo phát, bạo tàn nh dịch cúm gia cầm, cơn “bão tôm” từtốn, lặng lẽ mà bào mòn sức chịu đựng của con ngời …đây là năm thứ t tômchết, nghĩa là năm thứ t nông dân Cà Mau vắt kiệt mình trong nỗi lo đóinghèo” [47, tr108] Đi qua ba mùa chuyển dịch “thất trận” tôm là ba mùa ng-

ời nông dân sống trong thất vọng, lo âu, bải hoải Nợ thì không trả đợc mà tômnăm nào cũng thất bại Nguyên nhân là ở đâu? Có nhiều nguyên nhân lắm: kĩthuật cha thông thạo là một lẽ, điều kiện đất đai và hệ thống cấp thoát nớckhông thuận lợi khiền ngời nông dân làm việc tởng chừng kiệt sức mà vẫnkhông đủ ăn, mà nghèo vẫn hoàn nghèo Không những thế, một phần lỗikhông nhỏ là do tin, bài đa lên các phơng tiện thông tin đại chúng, truyền hìnhvới những cái tên rất “kêu” nh “A.B.C đợc mùa tôm”, hay “X.Y.Z đi lên nhờ

Trang 21

vụ lúa – vụ tôm” mà thực chất chỉ một số lợng rất nhỏ các hộ đạt đợc nh thế.Nông dân mà, cực khổ suốt đời rồi, ai mà không ham đổi đời, ai mà khôngnóng lòng muốn làm giàu nhanh? Vậy là, khách quan có, chủ quan có, nhữngnguyên nhân trên khiến ngời nông dân cứ thế ngày một khó khăn hơn, nghèokhổ hơn “Hành trình từ cái nghèo vừa vừa đến nghèo xác xơ nhanh nh mộtcơn mơ, một cơn gió, một cái phủi tay” [47, tr106].

“Nông dân Việt Nam nh những ngời đi biển trên chiếc thuyền rách nát”

[47, tr112] là câu nhận xét đơn giản mà đúng, mà sâu sắc cả về hình ảnh lẫn ýnghĩa về cuộc sống cũng nh số phận của ngời nông dân Họ là những ngời làmlụng vất vả cực nhọc nhất nhng lại là ngời chịu sự tác động nhiều nhất củacuộc sống, họ không có bảo hiểm cho những rủi ro trong lao động sản xuất

Nhất là khi dịch cúm gia cầm đi qua nh một cơn bão khô, ngời

nông dân đau xót mà không khỏi ngơ ngác Ngơ ngác đến lặng đi.Nhiều ngời đặt ra câu hỏi, “Chừng nào mới có bảo hiểm những rủi

ro cho nông dân , tại sao ngời nông dân lại là ngời thiệt thòi, ngời

chịu nhiều tác động của cuộc sống nhất? [47, tr112] Câu hỏi đặt ra vậy thôi và họ biết rõ là câu trả lời cha có Và họ ngèo

vẫn cứ nghèo. “Nghèo không phải vì bê trễ làm ăn, không phải vì dánh bài

đánh số, mê ăn nhậu, nghèo chỉ vì những lí do không lờng trớc đợc Nghèo vìmình là nông dân” [47, tr112]

Đó là tất cả những khó khăn mà ngời nông dân Nam Bộ đã và đang phảitrải qua Song khổ cực mà họ không ngồi than vãn kêu ca, khổ mà không thôi

hy vọng, khổ mà vẫn vơn lên làm lụng, khắc phục và vợt qua để chờ đợinhững điều tốt đẹp Đó là tính cách, là lối sống của ngời nông dân Nam Bộ màNguyễn Ngọc T đã khắc hoạ rất đậm và rõ nét trong tạp văn của mình

1.2.2 Tình cảm và lối sống của ngời dân Nam Bộ

Ai lớn lên mà không có quê hơng xứ sở, đặc biệt, đối với những ngời xa

xứ thì quê hơng là một phần máu thịt gắn bó Nó thiêng liêng trong tâm tởng

Nó là một vùng hoài niệm trong tâm tởng mà chỉ nhắc đến thôi là đã thấy baonhiêu tình cảm dâng trào khó tả Quê hơng là nơi ta sinh ra và lớn lên, ở đó cóbiết bao ngời ta yêu thơng gắn bó ở đó có ông bà, cha mẹ, có anh em thân tộc

và bà con chòm xóm… Có những vùng đất mà ngời ta đi xa luôn nhớ về bởi ở

đó có những con ngời sống tình cảm thật lòng với nhau và gắn bó, đùm bọc,san sẻ cho nhau tình đời tình ngời sâu nặng

Trang 22

Đã có biết bao nhiêu vùng đất miền quê đi vào thơ văn của các tác giảsống động, nên thơ đậm đà tình nghĩa Ta biết đến nông thôn Bắc Bộ qua thơthu của Nguyễn Khuyến – nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, ta biết đến làngquê “hơng đồng gió nội” trong thơ của Nguyễn Bính, ta cũng biết làng quêtrong truyện của Nam Cao hay Nguyễn Minh Châu…Đề tài nông thôn và ngờinông dân đã trở thành quen thuộc gắn bó đối với những tác giả yêu và hiểu vềnông dân, nông thôn Phảng phất trong tất cả các tác phẩm tạp văn củaNguyễn Ngọc T là tình cảm, lối sống của ngời nông dân Nam Bộ

1.2.2.1 Đó là những con ngời chân chất, mộc mạc, giàu tình cảm, hào sảng,

thuỷ chung, tình nghĩa và luôn mang trong mình ý thức trách nhiệm cao củangời công dân chân chính

Ngời dân ở đây thờng mang trong mình ba dòng máu: ngời kinh,

ngời tiều, ngời Khơ-me Ba dòng máu, ba dòng văn hoá trong mộtcon ngời Tính cách của ngời dân cũng có cái gì đó vừa chung lạivừa riêng Cần cù với ruộng rẫy, miệt mài trên sông nớc, trung hậu,sống đầy tình cảm, tình cảm đến mức có khi lạc lòng…[41]

Đất Mũi mù xa là câu chuyện giữa ba nhân vật tôi, anh, và em tôi Tôi

thì đã nhận mình là ngời nhạt nhẽo tình cảm với quê hơng, anh thì biết tôi

nh-ng cha một lần đến đất Mũi, chỉ có em tôi là nh-ngời còn giữ đợc tất cả vẻ đẹp dịudàng đằm thắm của xứ sở “Em có tất cả đặc trng của ngời đất Mũi, da ngămngăm, rắn rỏi, mắt hay cời, em hay hồn nhiên xắn quần cao đến khỏi đầu gối,lội qua kinh những lúc nớc ròng, mộc mạc, không giả đò mắc cỡ làmduyên…”[47, tr15] Tôi trở thành nhịp cầu nối hai miền đất Đất Mũi không cógì đặc biệt nh những vùng đất nhiều danh lam thắng cảnh trên quê hơng ViệtNam “Đất Mũi thiệt tình không có núi cao, không có biển xanh, cát trắng,không cung đình cổ kính, lại càng không có phố cổ đìu hiu Đất Mũi chỉ cóbùn sình, rừng thẳm và biển”[47, tr12] Những lời giới thiệu về rừng, về biển,

về gió Chớng, các loại hải sản địa phơng, cây đớc lấn biển giữ đất lại cho ời…đợc tác giả miêu tả một cách cụ thể, sống động và giàu sức sống Nhng rồitất cả cũng chỉ để khẳng định về con ngời đất Mũi, về mảnh đất nơi địa đầu tổquốc này. “ở đây chỉ có nớc biển mặn thôi, tất cả thì ngọt bùi Ngời đất Mũi

ng-sao mà hiền từ, mến khách thấu trời thấu đất vậy không biết, dờng nh sốnggiữa bao la trời, bao la biển nầy, ngời ta phải học cách thơng nhau để khỏi cô

độc” [47, tr14] Tác giả nói đất Mũi thờng thôi, rất thờng, song tác giả lại

Trang 23

miêu tả mọi thứ ở đây đều thắm và đậm Đó có phải là nhằm tôn lên vẻ đẹptiềm tàng mà không phải ai cũng thấy đợc, cảm đợc hay chăng?

Nắng thì lầm lì thôi là lầm lì, gió cởi mở thôi là cởi mở Rừng đã

xanh là xanh lặc lìa, một màu rời rợi Biển đã đục là ngầu ngầu phù

sa Nớc đã mặn là mặn quéo đầu lỡi Ngời đất Mũi rặt đã thơng làthơng trọn, đã nhớ thì nhớ sâu, đã sầu thì sầu dai dẳng Hết thảykhông thể nửa vời [47, tr15]

Chỉ một đoạn văn cha đầy 70 âm tiết mà Nguyễn Ngọc T đã miêu tả đợccái thần thái của đất Mũi Với lối sử dụng các tính từ chỉ sự tuyệt đối, tác giả

đã làm hiện lên phong cảnh cũng nh tính cách ngời đất Mũi “hết thảy khôngthể nửa vời” Cái tình cảm đó làm nên bản sắc vùng khiến cho ngời ta nhớ vìlạ, vì thơng “Nơi ấy, những ngôi nhà đều không cửa, nhà mở toang cho gióNam vào, Chớng tới, bấc qua, nhìn nhà là hiểu ngời, chân thật đến bày cả ganruột” [47, tr11]

ở đó có những căn nhà không bao giờ khép cửa Những căn nhà

không có vách che đằng trớc, và chẳng ai thèm tham lam của ai cáigì….Nó hợp với tính cách con ngời của vùng đất nầy làm sao đâu,vì ngời ở đây cũng sống khảng khoát, cởi mở, rộng rãi, hào sảng[47, tr160]

ở đó có những con ngời đáng quý nh “bà già tốt bụng” luôn chăm lo

cho cái lu nớc ma với bộ vạt ở hàng ba nhà bà, chăm lo cho ngọn đèn hoa kì

đầu ngõ để những ngời lỡ độ đờng nghỉ ngơi uống miếng nớc đỡ khát, haycảm thấy ấm áp và bình yên vì có ngọn đèn đứng soi tỏ một góc đờng tối mịt

ở đó còn có những con ngời nh dì Hai trong tác phẩm Quán nhớ Đó là

một cái tiệm tạp hoá nhỏ bán lẻ “trăm thứ bà giằng” cho ngời dân quanh đóvới cuộc sống nghèo khổ, thu nhập thấp kém Đó là nơi gắn bó biết bao kỉniệm của những đứa trẻ nghèo bởi mỗi lần đợc sai đi mua đồ cho gia đình, còn

d vài hào “thể nào dì Hai cũng thối lại mấy cục kẹo chanh, kẹo dừa xanh xanh

đỏ đỏ, ngọt dai dẳng cả một tuổi thơ của đám con nhà nghèo”[47, tr35] Mọi

thứ theo thời gian đều thay đổi, chỉ có dì Hai và cái tiệm tạp hoá của dì làchẳng hề đổi thay Dì cời hiền hậu “nếu cái gì cũng đổi hết thì bây biết đờng

đâu mà về”[47, tr37] Đó không chỉ là sự tồn tại của quang cảnh mà chính là

sự tồn tại của tình ngời, tình quê hơng đã gắn bó sâu nặng với những ngời con

xa xứ

Trang 24

ở đó còn có những cái “chợ bên đờng”, “chợ của má” mà ngời đi chợmua bán không ai mặc cả đắn đo bởi họ họp chợ chỉ là nhu cầu giao lu, trao

đổi, hiểu biết về nhau. “Đã hiểu nhau về hết thảy nỗi nhọc nhằn nên ngời mua

không nặng nề mặc cả bon chen, ngời bán cũng chẳng đanh đá chua ngoa nh

kẻ chợ, hình nh họp chợ chỉ để trao đổi san sẻ với nhau những gì mình có”[47,tr39] Họ quan niệm “có hề gì chuyện nặng nhẹ đong đo, lòng ngời ta tin nhau

đầy ắp kia mà… Thành ra chợ không chỉ để bán gà, bán cá, bán rau củ trongvờn nhà mà còn gửi gắm thông tin cho nhau nên chợ ít ngời mà vui, mà thắm

đợm nghĩa tình cũng vì lẽ đó… Chợ còn có nhiệm vụ là nhóm lên một bếp lửa

đời cho cuộc hành trình bớt xa đi”[47, tr39]

Hình ảnh chợ quê, chợ ruộng nhắc nhở, gợi nhớ cho ta biết bao kỉ niệm

về ngời thân yêu của ta nh mẹ ta, nh dì ta, nh chị ta…Đó là những tình cảmchân thành, mộc mạc, hiền hậu, dù mọi thứ ở đó cồn lên sự lam lũ, nhỏ nhoi,khiêm tốn, chịu đựng nhng nó chất chứa một cái hồn sâu mênh mông lắm nênngời ta nhắc nhớ hoài, thơng hoài

1.2.2.2 Ngời nông dân Nam Bộ sống tình cảm, họ hay nuối tiếc, nhớ tiếc,

hoài niệm về quá khứ để soi tỏ mình hơn trong hiện tại Hầu hết các tác phẩmtạp văn của Nguyễn Ngọc T đều thể hiện tình cảm này Có thể nói khi con ng-

ời ta nhìn lại quá khứ cũng là cách bầy tỏ thái độ đối với hiện tại Họ nhậnthấy hiện tại có nhiều đổi thay không phù hợp, hiện tại khiến họ hy sinh mấtmát, chịu đựng nhiều quá, hiện tại không đợc nh họ hằng mơ ớc ở 35 tạp văncủa Nguyễn Ngọc T, ta thấy có đến 33 tác phẩm xuất hiện các từ, cụm từ chỉ

sự nuối tiếc, nhớ tiếc, nhắc nhớ về quá khứ êm đẹp, bình yên và thanh thản

Có đến 16 lợt từ “nhớ ” đợc nhắc tới để dẫn dắt ngời đọc trở về với quákhứ đã qua; từ “nhắc lại”, “nghe nhắc” 5 lợt; “hồi đó”, “cái hồi” 6 lợt; “trớc

đây”, “mùa trớc” 3 lợt; “ngày xa” 2 lợt; “coi lại” 2 lợt; “kỉ niệm” 2 lợt; “đãtừng” 2 lợt; “tiếc” 2 lợt; “năm ngoái” 2 lợt…rồi thì “thời thơ ấu”, “thời thơdại”, “hồi nhỏ”, “khi ấy”, “kí ức”, “ngày trớc”, “hồi nào tới giờ”…

Đó chỉ là các từ, cụm từ mở đầu cho đoạn văn “quay về kỷ niệm xa”,còn trong suổt các tác phẩm thì chúng còn đợc nhắc nhiều hơn nữa

Quá khứ đối với ngời nông dân Nam Bộ đó là gì? Đó trớc hết là tình cảmcủa những ngời con, ngời xa quê hơng đối với đồng đất Nam Bộ ở đó có mộtkhoảng trời mơ ớc của thời thơ ấu ngọt ngào, trong trẻo, hồn nhiên không thểquay trở lại,nh trong Quán nhớ, Sân nhà, Hiên trớc nhà một bà già tốt bụng,

Trang 25

Đôi bờ thơng nhớ, Nhớ nguồn…Ai cũng có quê hơng chôn rau cắt rốn, lu giữ

hình ảnh thời thơ bé và trở thành ký ức da diết trong lòng ngời đi xa Có phảitất cả những đặc điểm, tình cảm đó của con ngời Nam Bộ khiến cho những ng-

ời con xa quê hơng không thể nào quên đợc mảnh đất dù còn nhiều khó khănvất vả, dù nghèo khổ nhng thắm đợm nghĩa tình Những chuyến hành hơng vềnguồn giáo dục con cháu không quên đợc gốc gác, nguồn cội

Những bài tạp văn của Nguyễn Ngọc T có một phong cách riêng vợt caohơn giá trị thông tin đơn giản không phải là những tri thức lịch sử cụ thể sinh

động mà còn nh linh hồn của sông núi quê hơng, của tổ tiên ông bà đợc gợilên từ lịch sử nh các địa danh lịch sử, các địa phơng mà chị thờng say sa thuật

kể với nhiều chi tiết thú vị

Tôi yêu Hà Tiên từ má, từ những cậu, những dì trong họ, từ

những chuyến đi nh thế nầy Những con ngời chân chất bình dị…Tôi yêu Hà Tiên trớc hết cũng vì cái điều mà ông bà ba má tôi cốcông gìn giữ Họ sợ rằng, sau nầy họ khuất rồi, đám con cháu sẽquên nguồn quên cội, quên tổ quên tông Cái truyền thống tốt đẹpnầy mà không ráng gìn giữ thì tội lắm [47, tr176].

Điều đó khiến mỗi chúng ta rạo rực bồi hồi nhớ về cái tuổi hoa niên, dùvất vả khó nhọc hơn những ngời bạn trẻ khác cùng trang lứa nhng đó vẫn lànhững khoảnh khắc bình yên, tơi rói, đầy chất thơ

Sự chờ đợi đã thành thói quen của thời thơ dại khi gió bắt đầu

hiu hiu se lạnh, đám con nít nhảy cà tng, háo hức vỗ tay cời, vậy làgần đợc sắm quần áo mới, dép mới (Nhà nghèo cả năm chỉ đợc dịpnầy chứ mấy) Gió Chớng (và gió bấc) với tôi là gió Tết…Cảm xúcngọt lành thời thơ ấu chín muồi trong kí ức, lúc lớn lên, gió Chớng

ám luôn vào những trang viết [47, tr8]

Cái tuổi thơ êm đềm đó đợc đánh đổi bằng sự hi sinh, vất vả của nhữngngời làm cha làm mẹ, để cho con mình luôn có “một vạt sân đầy nắng” Mẹthắt thẻo, chắt mót từng lọn rau, bó cải để sắm cho con bộ quần áo mới, chiếc

xe đạp nhỏ là món quà từ tháng lơng của ba để con tới trờng. “Bây giờ nhớ lại

thấy lạ, lạ quá chừng…Sân nhà mình hồi ấy có rộng mấy đâu, chỉ khoảng trời

là lồng lộng phía trên đầu, nhng đã đi hết tuổi thần tiên rồi, sao tôi vẫn cònnhớ tiếc”[47, tr 76]

Trang 26

Để rồi lớn lên nhận thấy cuộc sống không êm đềm nh tuổi thơ yên bình

một thuở, sống giữa phố thị và sự lạnh lùng của những ngôi nhà kín cổng caotờng, ngời ta thèm một hơi ấm tình ngời nh cái lu, nh ngọn đèn mà bà già tốtbụng xa đến nay vẫn trao tặng cho ngời qua đờng

Phải đợi lớn lên, tôi mới nhận ra, bà dành cho những ngời qua

đờng chúng tôi không chỉ lu nớc ma, cái vạt cau và cây đèn chong.Cái không gian nhỏ nhoi dới mái hiên đó giống nh tổ ấm của mỗingời với đầy đủ nhu cầu tối thiểu, có thức uống, có chỗ nghỉ ngơi,

có ánh sáng…Phải đợi về sống nơi phố thị, tôi mới nhận ra, cứ bớcchân ra khỏi nhà - công sự của mình là lòng lại thấy chẩng hẩng,chơ vơ, không hiểu vì nỗi gì! Nhìn những hàng rào cao ngất, kín b-

ng bọc lấy những ngôi nhà ở hai bên đờng, bỗng thèm đợc đi quaxóm cũ, ghé tạt vào cái hàng ba quen thuộc , uống một ngụm nớc

ma giữa mùa, ý trời, nó mát thì thôi đi chớ…[47, tr59]

Đọc đoạn văn ai cũng thấy lòng dịu lại khi hồi tởng đến thời thơ ấu của

mình, nhất là những ngời xuất thân từ thôn quê tỉnh lẻ Ai cũng thích nghemột câu chuyện hay, đọc những nhận xét tinh tế Trong văn chơng NguyễnNgọc T, chúng ta ở khắp mọi phơng trời tìm lại đợc cái quê hơng đích thựctrong tâm tởng, những tình tự ngủ quên trong lòng, những kỉ niệm tởng nhkhông ai chia sẻ

Nhớ tiếc quá khứ, đó còn là cảm xúc của ngời nông dân Nam Bộ khinhắc đến những năm tháng kháng chiến oanh liệt, hào hùng Ngời nông dânnơi đây một lòng tin tởng theo Đảng, theo cách mạng Có biết bao nhiêu cán

bộ cách mạng đợc dân nuôi và che chở, có biết bao ngời ra đi không trở lại

“Những cái xóm nhỏ bình thờng, cái tên cũng bình thờng nhng là vùng căn cứnổi tiếng thời chống Pháp và Mĩ Xứ uỷ Nam Kì ở đây, tỉnh uỷ nằm ở đây, cácbáo kháng chiến nằm ở đây, đoàn văn công nằm ở đây…Xóm làng chechở”[47, tr 23] “Nhớ những ngời dân áo vá, chân bùn nhng một lòng theo

Đảng, theo cách mạng Nhớ hàng ngàn cái hầm đào dới những vờn dừa bạtngàn mà ngời Pháp, ngời Mĩ không tìm đợc lối vào vì miệng hầm nằm trongtrái tim mỗi cụ già, em nhỏ”[47, tr43].Họ nhớ và họ cũng mong muốn ngời ra

đi nhớ về họ Họ lu giữ từng kỉ niệm với mong muốn một ngày nào đó nhữngngời ra đi, những ngời từng gắn bó một thời sẽ quay lại ôn những kỉ niệm xanghèo khổ, gian nan mà vui, mà ấm áp, mà thắm nghĩa đợm tình Nhng dờng

Trang 27

nh nhắc cũng chỉ để nhắc vậy thôi, họ không oán thán, trách móc gì cả Họhiểu những ngời ra đi bây giờ đều làm chức này, chức nọ, bận trăm công nghìnviệc, đâu có thời gian rảnh để về lại thăm cảnh cũ ngời xa hay tiếp những ngờidân muốn đến thăm Họ thực sự không gay gắt gì mà họ chỉ muốn nhắc nhởchơi vậy thôi “Gần 30 năm sau giải phóng, quê vẫn còn những cây cầu khỉ,những con đờng đất lầy lội, đứt đoạn mỗi lúc ma về…”[47, tr 71-72] Hay,

“Hồi đó Thị Tờng có “ba không ”: không theo giặc, không bỏ Đảng, bỏ cáchmạng …bây giờ “tùm lum không”: không gạo, không tiền, không cá, khôngrau cỏ…”[47, tr 47] Không đòi hỏi, không đấu tranh nhng những trang viếtcủa Nguyễn Ngọc T làm nhức nhối biết bao ngời có trách nhiệm Cảm giác bịlãng quên khiến ngời dân đau tủi, xót xa mà không một lời trách móc, oángiận “Với cách mạng, chén cơm bà con từng xẻ nửa, hạt muối chia đôi, vậy

mà giờ đây cái cảm giác bị lãng quên đau đáu trong lòng”[47, tr 43-44] Khổ

đến đâu họ cũng ráng chịu đựng, rồi đùm bọc nhau lá lành đùm lá rách

“Không ai bảo ai, bà con xóm kinh tự lo, tự xoay xở riêng mình nh hồi nào giờvậy, Nhà nớc lo đợc bao nhiêu thì hay bấy nhiêu Có tủi thân tủi phận thì lủithủi than với nhau chơi vậy thôi Nhà nớc còn phải lo tỉ tỉ chuyện lớn, chuyệnmất còn khác” [47, tr 117].

Quá khứ đối với ngời nông dân Nam Bộ đó còn là những kỉ niệm nhữngtháng ngày trớc mùa chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh tế Từ hiện tại sau bamùa chuyển dịch thất bại liên tục về con tôm, vịt, ngời dân tiếc nhớ đến nhữngmùa đìa, những khi còn làm lúa, nhớ về cảnh quê yên bình tơi đẹp xa, nay đã

đổi khác đến không ngờ Ngời nông dân “nhớ đồng” là “nhớ lúa, nhớ vờn, nhớdòng nớc ngọt ngào năm cũ Nhớ cái hồi dân xứ chị nghèo nhng trong bồ cólúa, ngoài vờn có rau, dới ao có cá, hồi nghèo mà thanh thản, cha phải chịucảnh nợ nần chồng chất đến nỗi, hột muối, chén cơm, chai nớc mắm bà con ăn

đều là từ tiền vay hết” [47, tr 42]

Đã bao đời nay ngời nông dân gắn bó với cây lúa, quen thuộc với câylúa, giờ đây chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ trồng lúa sang nuôi tôm khiến họ

bỡ ngỡ song không khỏi háo hức vì muốn đổi đời, muốn đợc cải thiện cuộcsống của mình bằng chính sức lao động của mình Đó chẳng phải là lí dochính đáng lắm sao?

Song cái khác rõ ràng nhất là chuyển dịch cơ cấu sản xuất …

Ngời nông dân bao đời gắn bó với cây lúa bây giờ đang nôn nả cho

Trang 28

nớc mặn vào đồng để nuôi tôm Lứa tôm đầu chết hàng loạt, đã dộigáo nớc lạnh vào bà con mình nhng làm sao mà dập tắt đợc lửa lớn.

Ai chứ bà con mình nghèo đã bao đời rồi, chờ đợi cũng biết baolâu rồi Nên có nơi nầy làng xóm xuống đầm vớt tôm chết, nơi khác

đang đào đắp cải tạo ao nuôi Đi đâu, làm gì cũng nghe chuyện contôm hừng hực tiến công vào cái nghèo dai dẳng [47, tr 99].

Chuyện chuyển dịch khiến bà con nông dân Nam Bộ chặt phá cây cối,thay đổi cảnh quan quê nhà để lấy đất làm vuông nuôi tôm, để lấy ánh sáng và

ôxi cho tôm thở; đất đai đang đứng trớc quá trình đô thị hoá…Đó là những lí

do làm cho thiên nhiên ngày một nghèo nàn, rách rới, cái bản sắc vùng đã phainhạt đi ít nhiều Ngời nông dân bắt đầu tiếc nuối “Quê xứ nh cô con gái trót

lỡ khôn ba năm dại một giờ, bắt đầu nhớ tiếc vì mình đã đứng núi nầy trôngnúi nọ” [47, tr146] Một sự ví von so sánh nghe có vẻ nặng nề nhng thật đúngvới tâm trạng bà con, nhất là đối với những ngời yêu thiên nhiên “Chuyện cátôm nhiều vô kể quanh năm, chuyện một chiếc xuồng con với vài tay lới cóthể nuôi cả gia đình đã quá xa vời Chuyện xuồng đi tới đâu, đàn cá nợc đuổitheo đến đấy chỉ còn là cổ tích”[47, tr 25] Bởi những cách đánh bắt của ngời

xứ khác đến, hết thảy đều mang tính tận diệt, họ sống bằng cách phá rừng, cànquét bãi bồi Th từ quê là tạp văn thể hiện sự nuối tiếc cảnh quê sâu sắc nhất.

Nhân vật tôi tranh cãi với ngời cậu về việc phá vờn cây làm ao đầm nuôi tôm

“Tôi tiếc những liếp dừa, hàng cau bị đốn, tàu bẹ còn nằm ngổn ngang Tiếcrặng tre mạnh tông sau nhà, tiếc cây còng già, bụi trâm bầu ngoài họng ao…Tiếc một hàng bạch đàn hôm rồi về giăng võng ngủ…”[47, tr100] Ngời cậunêu ra lí do rất phù hợp, rất chính đáng: “Thấy trên đài ngời ta nuôi tôm giàubắt ham, rồi nhà nớc cho chủ trơng, còn chờ gì nữa mà không tính chuyện đổi

đời Hồi đó, ông ngoại mầy với tao trồng cây ăn trái là cũng để cho sắp nhỏsau nầy, bây giờ tao đốn thì nghĩ cũng cho tơng lai con cháu sau nầy chớ

đâu”[47, tr 102] S.Antov viết rằng, mỗi ngời có những ớc mơ khác nhau nênkhông hiếm khi bi kịch đã xảy ra vì có số ớc mơ phải hy sinh để những ớc mơkhác trở thành hiện thực.

Quả thật vậy, “tôi nghĩ tới đất Mũi, ớc mơ của em tôi, của ngời yêu thiênnhiên đã đau đớn gục xuống cho bầy trẻ có tiền đi học, khạp gạo để ở góc nhà

đợc đầy, bữa cơm không chỉ muối trắng, tối ngủ mùng lành, có mền đắp đểqua mùa gió bấc năm nay” [47, tr 17] Ước mơ thật bình dị, thật giản đơn vậy

Trang 29

mà ngời nông dân Nam Bộ phải hi sinh đi phần nào cái hồn quê, cái bản sắcvùng, cái nét đẹp mà trong lòng ngời yêu thiên nhiên, trong lòng những ngờicon xa xứ luôn luôn nhớ về, mơ về Nhng khao khát vơn lên trong cuộc sốngkhao khát làm giàu cũng là lí do không thể nào bác bỏ đợc Chính vì vậy mà

bi kịch đã xảy ra Đó là bi kịch của một bên là cái mới, cái giàu sang thì ch atới nhng cái cũ, cái truyền thống lâu nay đã bị mai một, tàn phá, khiến chocảnh quê dở dang nh cô gái “trót lỡ”

Nguyễn Ngọc T viết nh sự trả nghĩa với đồng đất quê hơng mà

chị gắn bó máu thịt, đau đáu về xóm làng, ngời thân, ba má chị,những ngời bạn thuở nhỏ nh Nguyệt, nh Bèo, và đồng cảm với dìHai có cái tiệm tạp hoá “cất dứa mé sông” để ngời đi đâu về đâubiết đờng mà tìm về quê…Những trang viết của Nguyễn Ngọc Tday dứt ngời đọc bởi những thân phận, những cảnh đời và bởi sựthay đổi của làng quê trong thời kinh tế thị trờng ở đó, nếp xa cảnh

cũ gần gũi thân quen cứ dần mất mát, cái mới cái giàu cha tới, cái

đẹp cái truyền thống đã bị xâm hại, mai một [39]

1.2.3 Tình yêu thơng của tác giả đối với ngời dân Nam Bộ và niềm tin mãnh liệt vào một ngày mai tơi sáng

Con ngời sống là phải có ớc mơ, hi vọng, niềm tin vào tơng lai phía trớc.Nếu không có những thứ đó, ta gọi là “tồn tại” chứ không phải “sống”

Những ngời nông dân Nam Bộ trong tạp văn của Nguyễn Ngọc T sống khổcùng khổ tận vậy, tởng nh không còn nơi đâu trên đất nớc yên bình này conngời còn sống nghèo khổ đến thế thì con ngời nơi đây vẫn không tắt niềm hivọng, vẫn không thôi lạc quan, nhìn thẳng về phía trớc để sống cho có ýnghĩa Đó là một phẩm chất đáng quý mà mỗi con ngời chúng ta cần có để cóthể vợt qua mọi chông gai thử thách của cuộc đời này Mỗi tác phẩm tạp văn làmột vẻ đẹp về niềm tin, niềm hi vọng, lạc quan Nó nh một cái điểm tựa đểcho số phận bấp bênh, cực nhọc của ngời nông dân vịn vào mà vơn tới, dùcuộc sống có khó khăn đến đâu, dù những đổi thay không lờng trớc đợc cólàm họ lao đao, lận đận đến đâu đi chăng nữa. “Nông dân là vậy, khổ nh cô

Lựu mà không thôi hi vọng Con ngời mà tắt hi vọng thì chết còn sớng hơn”[47, tr 32]

Quả đúng nh vậy, con ngời ta sống phải có ớc mơ, hoài bão, phải có mộtcái mục tiêu nào đó để mà cố gắng phấn đấu đạt tới nó Paven Coócxagin

Trang 30

trong tác phẩm Thép đã tôi thế đấy từng nói: “Đời ngời chỉ sống một lần, làm

sao sống cho đáng sống, cho khỏi sống hoang sống phí, cho khỏi ân hận xótxa…” Câu nói này ở một nơi nào đó, tại một thời điểm nào đó, nhìn nhận nó

dới góc độ chính trị thì thấy nó nh khẩu hiệu, nhng nếu ngẫm kĩ, ta lại thấythật đúng Có một câu danh ngôn rất hay cũng nói về cách sống của con ngời,

đại ý là: Đời ngời nh một cuốn sách, ngời cẩu thả giở qua loa vội vã, ngời kiênnhẫn lật giở từ trang đầu đến trang cuối, vì họ biết rằng mình không có cơ hộigiở lại lần thứ hai Câu nói thật sâu sắc Nó dạy cho mỗi chúng ta cách sống

có ý nghĩa trong cuộc đời Nó cũng dạy cho ta cách chấp nhận thất bại, bởiquy luật của cuộc sống “thất bại là mẹ thành công” Ông cha ta từng dạy “khổtận cam lai” Hồ Chí Minh trong Nhật kí trong tù cũng khẳng định:

“Hết ma là nắng hửng lên thôi

Hết khổ là vui vốn lẽ đời”

Ngời nông dân Nam Bộ từng đi qua những “cơn bão khô” nh dịch cúmgia cầm, chết và thiêu huỷ hàng loạt, chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ trồng lúasang nuôi tôm mà tôm chết suốt ba mùa chuyển dịch, nợ nần ngân hàng chồngchất không phơng trả lãi đừng nói chuyện hoàn vốn; ngời nông dân sống vật

vờ, tù túng, sản xuất tủn mủn, eo hẹp; đất đai nơi dùng cho sản xuất thì vấn đềcấp thoát nớc không đảm bảo hay cằn cỗi, xơ xác, nhiều chất độc hại, nơi cókhả năng phát triển thì thành đất đô thị hoá Ngời nông dân rơi vào những tìnhcảnh trớ trêu, dở khóc dở cời, tiến thoái lỡng nan chẳng biết đâu mà lần Cảmtởng nh họ kiệt sức và sẵn sàng buông xuôi trớc hoàn cảnh vậy Nhng, không!

“Cảm giác cũng chai đi, hồi đó tôm chết còn bàng hoàng, nôn ruột nh con trai

út của mình bệnh ngặt, bây giờ thì coi nh không rồi Vậy mới sống đợc Cũng

nh ngày xa, lúc còn làm ruộng, nghe giá lúa lên xuống thất thờng riết cũngquen” [47, tr30]

“Sống để mà bớc tới”, đó là quan điểm cũng là sự nỗ lực không ngừng

nghỉ của con ngời nói chung, đặc biệt là ngời nông dân Khổ cùng khổ tậnvậy nhng lạ là không bao giờ họ tắt niềm hi vọng Nguyễn Ngọc T thơng quênghèo đến độ phải thốt lên: “Làm nông dân mà, cực từ đằng Đông, Tây đem

lại, cực từ Nam, Bắc cực vô, cực từ trên trời rơi xuống”[47, tr179] Thế nhng,nói là nói vậy, than cũng để than vậy thôi, chứ trong tạp văn Nguyễn Ngọc Ttrang nào kết lại cũng vẫn lấp lánh niềm tin Cái tạng của dân “Hai Lúa” vốnlạc quan là vậy Tôm chết đợt này thì nuôi tôm đợt khác cẩn thận hơn, lúa chết

Trang 31

đợt này gieo sạ đợt khác đúng kĩ thuật hơn, đời mình cha sớng thì làm hết sức

để đời con cháu mình sớng hơn Đó là cách nghĩ tiến bộ mà ngời nông dâncần có và luôn có để có thể vợt qua những trắc trở của cuộc sống vốn khôngnhiều u đãi với họ Dù nghèo khó đến độ phải ăn những cái Tết “xo cò”, nhngngời nông dân không buồn “Họ thấy mình còn ngon lành, còn sức để đi tiếpcái đời nông dân khổ nhọc Hi vọng con nớc tới, lứa tôm tới, mùa tôm tới lạibắt đầu Cổ tích ngày xa thể nào cũng có thật Những con ngời lam lũ cả đờixứng đáng đợc trả công” [47, tr 32]. “Họ giống nh những ngọn cỏ bên đờng,vẫn ngoi lên bền bỉ sống sau bao lần bị giẫm Tôi nhận ra rằng, nông dân mình

xa rày có món đặc sản “độc” lắm, nhờ món đó mà họ sống từ thế hệ nầy sangthế hệ khác, từ đời nầy sang đời khác Đó là “hi vọng” [47, tr113].

Dờng nh trong cuộc sống khó khăn, con ngời ta có niềm tin là ngời ta

nh đợc chắp thêm đôi cánh, nh có một điểm tựa nào đấy về mặt tâm lý, tinhthần để ngời ta thấy cuộc sống còn đáng sống, đáng cố gắng để vơn lên, nỗlực không ngừng nghỉ mà chờ đợi, mà hy vọng vào tơng lai tốt đẹp

“Cho tới bây giờ, khi vừa ngoi lên đã bị kẹt lại trong tấm lới đói nghèo, ngờinông dân lại cần hi vọng hơn bao giờ hết, cho dù nó đã bị hâm nhiều lửa lắmrồi Nhng phải hi vọng để sống, làm lụng, để chịu đựng và vợt qua”[47,tr 114]

“Tôm chết giống nh một luồng nớc lạnh tạt vào ngọn lửa trong lòng của mỗingời Nhng ngọn lửa ấy không tàn lụi, nó vẫn rạo rực cao ngọn từ tro ớt Đã tắt

hi vọng đổi đời từ cây lúa, ngời ta chờ đợi những mùa tôm” [47, tr118] “Má

và con tin rằng, dù lần lữa rồi thì những mùa tôm sẽ tới, bác à Nó tới để thay

đổi số phận, cuộc đời mỗi ngời, nó tới để đĩnh đạc báo rằng, chủ trơng củaNhà nớc mình là đúng đắn, rằng cổ tích ngày xa là có thật Những con ngờilam lũ cực nhọc cả đời xứng đáng đợc trả công” [47, tr122]

Phải là ngời yêu quê hơng tha thiết, thấu hiểu và cảm thông đối với ngờinông dân, Nguyễn Ngọc T mới có thể viết lên những trang văn tràn đấy niềmtin và lac quan đến thế Có những trang viết làm ta thơng cảm đến ứa nớc mắtsong kết lại vẫn đẹp lung linh một niềm tin cuộc sống Đó trớc hết là niềm tincủa chính tác giả vào cuộc sống hiện tại, dù cho cuộc sống còn nhiều chônggai trắc trở, hơn thế còn là niềm tin vào khả năng, nghị lực của ngời nông dân

Đó chính là khả năng vợt qua hoàn cảnh, vợt qua chính mình để sống thật sự

có ích và làm đợc những việc có ích cho gia đình, cho quê hơng, cho xã hội

Tiểu kết chơng 1:

Trang 32

Nội dung tạp văn Nguyễn Ngọc T phản ánh hiện thực đa dạng xung

quanh tác giả Những vấn đề tình cảm, đạo đức, phong hoá, những con ngờibình dị trong cuộc sống ở vùng quê nghèo nơi đất Mũi Cà Mau… đi vào trangviết của Ngọc T sống động Song có lẽ nổi bật lên trên hết là viết về ngời nôngdân Nam Bộ trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh tế, qua đó nhà văn bộc lộnhững nhận thức và tình cảm của mình đối với cuộc sống và con ngời nơi đây

Chơng 2:

Những đặc sắc về nghệ thuật

tạp văn Nguyễn Ngọc T

2.1 Dung lợng tác phẩm

2.1.1 Giới thuyết về dung lợng tác phẩm

“Dung lợng (đợc hiểu là kích cỡ, sức chứa, lớn nhỏ) là khả năng ômtrim bao quát hiện thực, là sức chứa chất liệu đời sống, dung lợng đợc hiểutheo nghĩa khả năng của nội dung phản ánh hiện thực của thể loại”[50, tr 71].Dung lợng tác phẩm là một trong những tiêu chí để phân loại thể loại tácphẩm văn học Nó trớc hết là độ ngắn dài, nhiều ít về từ ngữ Chẳng hạn, cóngời quan niệm tiểu thuyết phải là những văn bản dài từ 200 trang trở lên,truyện vừa khoảng 50 đến 199 trang, truyện ngắn là dới 50 trang Nếu xét về

số chữ thì tiểu thuyết phải đạt từ 25000 chữ trở lên, còn truyện vừa từ 20000

đến 25000 chữ, truyện ngắn dài tối đa là khoảng 20000 chữ

Tạp văn là một thể loại khá đặc biệt Một quan điểm chung về tạp văn làngắn gọn Tuy vậy, quan niệm ngắn gọn của từng ngời viết cũng khác nhau.Chẳng hạn đối với những ngời hay viết tiểu thuyết dài nh Mạc Ngôn thì “ngắngọn” trong tạp văn của ông cũng tầm tầm vài ba chục trang là bình thờng CònNguyễn Ngọc T lại khác, với cây bút chuyên viết truyện ngắn này thì tạp văncủa chị dài nhất cũng thờng không quá 10 trang Điều đó nói lên rằng, viết đ-

Trang 33

ợc đến đâu là tuỳ vào quan niệm cũng nh khả năng của từng ngời Không phảiviết nhiều hơn là hay hơn, viết ngắn hơn là kém hơn Cái chính là cái “chất”bên trong tác phẩm đó là gì? Tác phẩm có nêu bật đợc những vấn đề bức thiếtcủa đời sống hay không? Tác phẩm có để lại những ấn tợng tốt trong lòng độcgiả hay không…

Ta thấy tạp văn của Mạc Ngôn về dung lợng khá lớn Tỉ nh tác phẩmngắn nhất là Nói về ông già Faulkner cũng đến 5 trang dịch ra tiếng Việt, dài

nhất là tác phẩm Quê hơng vợt trội 42 trang Còn lại phần lớn là hơn 10 trang,

hơn 20 trang, ở đó ta tìm thấy một tác giả có tài quan sát và miêu tả, đi sâu đisát mổ xẻ vấn đề đặt ra nhằm làm rõ một t tởng nào đó mà tác giả tâm đắc,chú ý, cố công tạo dựng

Tạp văn Lỗ Tấn lại rất ngắn Có những bài chỉ hơn một trang, phần nhiều

là 2,3,4 trang Thảng hoặc cũng có những bài dài hơn chục trang giấy Songnhìn chung tạp văn Lỗ Tấn ngắn gọn và giàu tính chất tranh đấu, tranh đấucho cách mạng Trung Quốc và cho nền văn học vô sản

Tạp văn của Nguyễn Ngọc T ngắn gọn, hàm súc, khái quát cao, giàu ý ởng hơn là giàu từ ngữ Tạp văn của chị ngắn nhất là 3 trang ở các tác phẩm

t-Bùa yêu và con nhỏ thất tình (592 âm tiết), Kính tha anh nhà báo (644 âm

tiết) và Cửa sau (679 âm tiết) Dài nhất trong tạp văn của Nguyễn Ngọc T

cũng chỉ có 9 đến 10 trang Đó là Ngậm ngùi Hng Mỹ và Mơ thấy mùa đang tới Còn lại cứ tầm tầm 5 – 7 trang Tạp văn của Nguyễn Ngọc T ngắn gọn và

hàm súc, giàu ý nghĩa Chỉ sử dụng số lợng từ ngữ rất ít mà ý nghĩa lại nhiều,tởng đơn giản mà lại nói đợc những vấn đề không đơn giản, nói những cái t-ởng nh nhỏ nhặt vụn vặt mà lại có sức khái quát cao bởi nó đụng đến nhữngvấn đề mang tính thời sự, gắn liền với cuộc sống của con ngời chúng ta…Nguyễn Ngọc T giỏi là ở chỗ đó

2.1.2. Tạp văn Nguyễn Ngọc T mang tầm của những thể loại lớn hơn“ ” “Thể loại” có thể hiểu là các “thể” có chung một đặc điểm nào đấy vànằm trong một “loại thể” nào đấy Aristôt đã từng phân chia tất cả các tácphẩm văn chơng thành 3 “loại” lớn là “tự sự”, “trữ tình” và “kịch” Chẳng hạntrong loại tự sự lại có thể phân chia thành các “thể” nhỏ hơn nh: tiểu thuyết,truyện ngắn, tạp văn, bút ký, hồi ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tản văn, tuỳ bút,văn tiểu phẩm…Tuy mỗi thể loại có những đặc trng không giống nhau nhngchúng đều mang đặc điểm của loại bao chứa nó là văn xuôi tự sự Trong các

Trang 34

thể thuộc loại tự sự đó lại có thể lớn hơn, thể nhỏ hơn Ngời ta xem tiểuthuyết lớn hơn truyện ngắn, truyện ngắn lớn hơn tạp văn, bút ký…

Ngời ta phân chia độ dài ngắn về dung lợng để xếp một tác phẩm nào đóvào thể loại gì Mặc dù điều đó cũng là một tiêu chí song không hoàn toànnhất thiết phải theo nh vậy “Dung lợng là sức chứa (nó không phải là dung tích hiểu theo nghĩa của vật lý học), nhng sức chứa không hiểu theo nghĩa đen

là to – nhỏ, ít – nhiều mà đồng nghĩa với khả năng của nội dung phản ánh

hiện thực của tác phẩm”, “Trên tinh thần ấy, sự cải tiến kỹ thuật là làm sao cho

số chữ tối thiểu mà sức khái quát tối đa theo kỹ thuật vi mạch”[50, tr 78 - 79].Vì thế mà phải kết hợp với đặc trng thể loại, kết hợp với cả cái “chất” mà tácphẩm có đợc nữa Ta thấy những tác phẩm gần đây của Nguyễn Bình Phơnglấy tên thể loại là “tiểu thuyết” lại không dài hơn những cái ta vẫn quen gọi vàcoi là “truyện ngắn” bao nhiêu Còn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc T,

đang rất đợc d luận chú ý, và công khai gọi là truyện ngắn thì lại không ngắnhơn lắm so với các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phơng Vậy cái nào nên coi làtruyện ngắn, cái nào là truyện vừa, cái nào là tiểu thuyết?

Có ngời quan niệm tạp văn là thể loại nhỏ, dễ viết, viết nhẹ nhàng.(Ngay chính Nguyễn Ngọc T khi đợc phỏng vấn cũng khẳng định điều đó.Trong một lần đợc phỏng vấn tác giả nói: “Mỗi tháng em viết vài tạp văn Emthích viết tạp văn, vừa nhẹ nhàng, vừa tiện đăng báo để kiếm tiền”) Songchúng tôi lại nhận thấy tạp văn Nguyễn Ngọc T tuy ngắn gọn mà không hềgiản đơn, hời hợt; tuy viết hóm hỉnh nhẹ nhàng mà những vấn đề đặt ra lạikhông hề “nhẹ nhàng” tí nào; tuy khai thác đề tài có phần hẹp nhng tác phẩmvẫn có sức khái quát cao về nhiều vấn đề quan trọng của đời sống Tạp văncủa Nguyễn Ngọc T viết về những chuyện nhỏ nhặt thờng ngày song lại cósức chuyển tải những vấn đề có ý nghĩa xã hội - chính trị lớn lao Đó là cái

“tầm”, cái “chất” của “truyện ngắn” trong tạp văn của Nguyễn Ngọc T Tạpvăn Nguyễn Ngọc T nếu gạt bỏ tên ngời, tên đất cụ thể mà gắn vào đó nhữngdanh thừ phiếm chỉ thì có thể trở thành những truyện ngắn hết sức cảm động,thông qua đó ngời ta cảm nhận, chiêm nghiệm đợc nhiêù điêù về cuộc sống vàcon ngời

Quả thật ta thấy tạp văn của Nguyễn Ngọc T ngắn mà đầy đủ ý nghĩa.Càng ngắn lại càng nhận thấy sự dồn nén, khái quát của những vấn đề bứcthiết của cuộc sống: Đất Mũi mù xa, Th từ quê tiếc nuối cảnh quê và cảnh báo

Trang 35

nguy cơ huỷ diệt tài nguyên môi trờng sinh thái ở địa phơng; Ngậm ngùi Hng

Mỹ và Đi qua những cơn bão khô là bức tranh về sự đói nghèo, nợ nần cùng

quẫn của những ngời nông dân trớc sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất ở nôngthôn; Làm cho biết và Kính tha anh nhà báo lại phản ánh lối làm việc quan

liêu, thiếu trách nhiệm của giới quan chức hành chính, của những ngời viếtbáo, qua đó tác giả cũng thể hiện mong muốn một sự “cải tổ” rõ rệt để ngờidân bớt khổ hơn; Chờ đợi những mùa tôm đặt ra biện pháp về việc chuyển đổi

cơ cấu nông nghiệp ở nông thôn để đạt hiệu quả cao…

Không chỉ có tầm khái quát cao mà khả năng liên tởng của tác giả cũngrất độc đáo, giàu sức gợi, góp phần làm cho tạp văn Nguyễn Ngọc T không chỉ

bó hẹp trong đặc trng thể loại nhỏ này mà để lại những ấn tợng sâu sắc tronglòng ngời đọc nh những tác phẩm có quy mô lớn Cửa sau là một tác phẩm rất

hay, thể hiện từ cửa sau “tinh thần”, cửa sau “tâm hồn” biến thành cửa sau “vậtchất”: đó là tệ nan hối lộ Nỗi bức xúc của tác giả đợc biểu lộ một cách tế nhịnhng rất sâu sắc Ngời ta “mở-cửa-sau” vì ngời ta tham ô tiền bạc, ngời takhông đi đợc “cửa - trớc” thì đi “cửa –sau” bởi không đủ trình độ hay muốn

có một nơi làm việc yên ấm, nhiều bổng lộc sau này Ngời ta dùng tiền để muatất cả “Ngời ta đa hai tiếng cửa sau vào ngoặc kép, cửa sau làm nhà nớc thấtthoát tỉ tỉ đồng, mồ hôi nhân dân đổ xuống nhiều hơn, nớc mắt vì nỗi nhọcnhằn cạn đi (còn đâu nữa mà rơi) Cửa sau làm ngời ta không trọng nhau,không thơng nhau,không tin nhau” [47, tr 98]

Bùa yêu và con nhỏ thất tình là một câu chuyện vui nhng cảnh báo một

lối sống “tham vọng” (chứ không phải “khát vọng”) đang dần phá vỡ những

đạo lý, chuẩn mực tốt đẹp Nó làm cho con ngời phải sống trong sự lo âu, căngthẳng, mu toan để “cố chiếm” và “cố giữ” những chức tớc, bổng lộc… mà thật

ra chúng chỉ là phù du của cuộc đời Tác giả ví chức tớc, bổng lộc nh nhữngchiếc bùa làm ngời ta lu mờ đi tất cả Sự mù quáng của ngời đời vì những thứ

đó là nguyên nhân của mất trật tự xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống, bănghoại nhân cách con ngời…mà mỗi chúng ta cần đề cao cảnh giác

Viết tạp văn – viết những truyện nhỏ bé, kiểu trà d tửu hậu –

tởng nh dễ nhng thực chất rất khó Làm sao để tạo một d vị đằm sâutrong lòng độc giả vốn là việc “thiên nan vạn nan” Nói chuyện nhỏ

mà vấn đề thực chất lại lớn, nói chuyện thời thế mà chạm đến đáy

Trang 36

những tấm lòng trong thiên hạ là việc chẳng dễ dàng gì Thế màbằng giọng điệu nhỏ nhẹ ấy, Nguyễn Ngọc T đã làm đợc [1].

Là thể loại khá tự do, sự linh hoạt trong nghệ thuật viết cũng chính làmột thế mạnh tạo nên sự hấp dẫn của tạp văn thời đổi mới Những tạp văn cógiá trị thờng mang tính t tởng sâu sắc, đợc dồn nén trong dung lợng nhỏ nên

dễ kích thích khả năng suy nghĩ đối thoại của ngời đọc Vì vậy tạp văn đòi hỏi

ở ngời viết sự tinh tế, sắc sảo cũng nh sự sáng tạo trong lối viết Nguyễn Ngọc

T là cây bút sắc sảo trong nghệ thuật kết cấu và lập luận với những thủ phápphản đề, liên tởng, suy luận Tạp văn của chị đa giọng điệu, vừa mang tínhtriết luận song cũng rất trữ tình, đằm thắm Dung lợng nhỏ nhng tạp văn cósức nén lớn, dồn chứa t tởng và quan điểm ngời viết, tác động trực tiếp đến ng-

ời đọc một cách hiệu quả

Chúng tôi cũng nhận thấy trong tạp văn Nguyễn Ngọc T có mang dángdấp của những truyện ngắn là nh vậy Nó luôn là những câu chuyện có hồn,khiến ngời đọc nhớ mãi chứ không hoàn toàn là những trang tạp văn chỉ có tácdụng nhất thời rồi chìm vào quên lãng Chúng tôi khẳng định tạp văn NguyễnNgọc T mang “tầm” của những thể loại lớn hơn cũng bởi lẽ đó

2.2 Kết cấu

2.2.1 Giới thuyết về kết cấu

“Kết cấu” là toàn bộ tổ chức sinh động của tác phẩm Đó là cách tổchức, sắp xếp tạo ra mối quan hệ giữa các yếu tố trong tác phẩm Việc tổ chức,sắp xếp các sự kiện phụ thuộc vào chất liệu đời sống nhng phải dựa trênkhuynh hớng sáng tác Kết cấu phụ thuộc vào đặc trng của thể loại, mỗi thểloại có đặc điểm tổ chức hình thức riêng Kết cấu không đơn thuần là việc tổchức, sắp xếp tạo ra mối quan hệ mà dụng ý của nhà văn là phải làm nổi bậtchân lý đời sống Nói cách khác đó chính là quá trình vật lộn của nhà văn với

t liệu đời sống để làm nổi bật chân lý khách quan

Tạp văn đợc xem là một thể trong loại tác phẩm “Ký” Mặc dù có đặc

điểm riêng của thể nhng tạp văn vẫn mang đặc điểm chung của loại ký Tạpvăn là một thể của loại ký, không có cốt truyện, nó mang kết cấu – liên tởng

“ở đó xen kẽ giữa sự kiện, con ngời với những đoạn nghị luận trữ tình là tỉ lệkhá lớn của nhân vật trần thuật” [42, tr 298]

2.2.2 Kết cấu văn bản nghệ thuật tạp văn

2.2.2.1. Xây dựng lối kết cấu liên tởng, so sánh, lắp ghép

Trang 37

Với sự phát triển mạnh mẽ của thời đại thông tin và nhịp sống hiện đạinày, tạp văn trở thành một thể loại rất có u thế bởi tính chất ngắn gọn, có thểchớp đợc một ý nghĩ, một khoảnh khắc suy t, một thoáng liên tởng mang đậmdấu ấn cá nhân của tác giả, nhờ vậy mà nó đến đợc những khía cạnh sâu xamột cách bất ngờ và tác động trực tiếp tới t duy, tình cảm ngời đọc.

Nguyễn Ngọc T thờng xây dựng kết cấu tạp văn theo các thủ pháp liên ởng, so sánh từ các sự kiện, sự việc vốn không hoặc rất ít quan hệ, tạo đợcnhững lối liên tởng, so sánh thú vị, độc đáo

Hình ảnh gió chớng là hình ảnh ta hay gặp trong tạp văn Nguyễn Ngọc

T Đó là loại gió thổi từ phía biển Đông vào miền Nam nớc ta vào khoảngtháng 9 đến tháng 12 âm lịch nên đợc gọi là “gió Tết” Mỗi lần gió về là baocảm xúc của con ngời nơi đây lại trào lên Ngời lớn chờ đợi mùa thu hoạch và

lo toan cho những là nợ nần năm hết Tết đến, họ thấy năm hết mà mình “chakịp sống” Trẻ em lại mong gió về bởi gió về là Tết đến, chúng sẽ có quần áomới, dép mới Trở gió, Ngủ ở Mũi là những tác phẩm miêu tả rất tinh tế về gió

chớng ở đó ta không chỉ thấy hình ảnh ngọn gió thật đẹp, thật ý nghĩa màcòn thấy đợc những phong tục, tập quán, thói quen và cách sống của ngời dânNam Bộ thật rộng rãi, hào sảng Nó luôn là một hình ảnh gợi thơng gợi nhớcủa biết bao ngời Nam Bộ xa quê hơng, đất nớc “Tôi vẫn thờng hình dung,một mai mình đi xa, xa lắm, xa cả những mùa gió, hoặc đọc, hoặc ai đó nhắcchỉ gọn lỏn hai từ “gió chớng”, ngay lập tức tôi sẽ chết giấc trong nỗi nhớ quênhà” [47, tr 9-10].

Tháng Chạp ở rạch Bộ Tời và Hiên trớc nhà một bà già tốt bụng lại so

sánh lối sống, cách sống của ngời thành phố và nông thôn Tác giả miêu tảcuộc sống xô bồ, phức tạp trong những dịp lễ tết và những ngôi nhà kín cổngcao tờng thâm u lạnh lẽo nh sự ngăn cách tình cảm của ngời thành thị khác xamột trời một vực với lối sống của ngời nông dân ở thôn quê, vừa chân thànhvừa ấm áp nghĩa tình và thanh thản biết bao nhiêu Chỉ có những con ngờixuất thân ở nông thôn và yêu quê hơng mới thấy hết cái cảm giác thèm hơi ấmtình ngời nơi chốn quê bình lặng khi sống nơi phố thị hào hoa mà tẻ lạnh Lời nhắn là những lời tâm sự của ngời dân vùng kháng chiến với nhân

vật “tôi” về những ngời cán bộ cách mạng đã từng sống và hoạt động nơi đây,

đợc dân che chở, nay đang là những ngời “làm quan ở trển” Lời nhắn “thămnhau” của ngời dân nghe gần gũi thân thơng song thực hiện đợc còn xa vời

Trang 38

quá Cũng nh cánh cổng uỷ ban nọ “đến đây rồi, cha chắc đã gặp nhau Cổngthì quá cao…”(Tản mạn quanh… cái cổng) Đó có phải tại cổng quá cao hay

bây giờ ngời đã cao sang, cao xa, cao quý…mà không ai với đợc nữa rồi? Lối kết cấu văn bản tác phẩm theo liên tởng, so sánh, lắp ghép khôngnhững tạo độ “mở” cho tác phẩm đợc giàu ý nghĩa mà nó còn có sức kháiquát cao Khả năng liên tởng, tạt ngang vấn đề làm cho tạp văn Nguyễn Ngọc

T có thêm tính chất hàm ngôn mà không phải ai cũng làm đợc Đây là một lốikết cấu khá hiện đại đợc tác giả sử dụng trong tạp văn nhằm làm rõ những nét

đặc trng của thể loại này và diễn đạt đợc những nội dung mà tác giả muốn thểhiện

2.2.2.2. Đi theo xu hớng kết thúc mở

Kết thúc còn gọi là mở nút, là một trong những thành phần của

cốt truyện thờng tiếp theo ngay sau đỉnh điểm, đảm nhiệm chứcnăng thể hiện tình trạng cuối cùng của xung đột đợc miêu tả trongtác phẩm

Những phần kết thúc của các tác phẩm cụ thể hết sức đa dạng

Có kết thúc đánh dấu sự giải quyết trọn vẹn xung đột đợc miêu tảtrong tác phẩm, lại có kết thúc tuy đánh dấu sự xoá bỏ tính cách và

số phận của nhân vật nhng mâu thuẫn vẫn có thể tiếp tục căngthẳng hoặc cha bị xoá bỏ [21, tr132-133]

Nguyễn Ngọc T là cây bút truyện ngắn đợc nhiều độc giả yêu thích Các

tạp văn của chị cũng đợc độc giả hào hứng đón nhận Không chỉ lối vào đầurất tự nhiên, có duyên mà kết thúc tác phẩm cũng rất thú vị, độc đáo, giàu ý t-ởng Chị từng tâm sự trong bài phỏng vấn của Báo Hà Nội Mới ra ngày

10/5/2004: “Tôi sợ viết phần vào đầu, bởi vì lối viết truyện của tôi phần vào

đầu rất quan trọng, diễn biến toàn bộ câu chuyện hoàn toàn ảnh hởng và bị chiphối ở cái phần mào đầu ấy Đặc biệt tôi thích viết kết và muốn sáng tạo, thêmhay dừng ở đâu cũng đợc” [25]

Cuộc sống vốn đa dạng, phức tạp, văn chơng cũng vì thế phải đa dạng.Trong cuộc sống cũng nh trong văn chơng, một-kết-thúc-bất-ngờ bao giờ cũngchứa đựng kịch tính và sự thú vị, đặc biệt sẽ gây ấn tợng sâu xa, tạo cho tácphẩm có d ba “Cách kết thúc nào cũng đều nhằm tái hiện nghệ thuật dòngchảy phức tạp của đời sống vốn luôn nhiều “chuyện” Điều quan trọng hơn cả

là sau mỗi cách kết thúc, tác giả phải gieo vào lòng ngời đọc những nhận thức

Trang 39

sâu sắc về quy luật đời sống và những dự cảm về tơng lai, về cái đẹp tất yếu sẽchiến thắng”[50, tr 98].Việc xây dựng một kết thúc ấn tợng và chứa đựngnhiều ý nghĩa là một trong những yếu tố làm nên sức hấp dẫn của các tácphẩm văn học

Tạp văn Nguyễn Ngọc T cũng xây dựng những cách kết thúc theo chiềuhớng “mở”, “để ngỏ” của suy tởng rất hay Có những tác phẩm kết lại hoànhảo, lấp lánh một niềm tin Song cũng có những tác phẩm kết lại dờng nhtrong đó có sự đắn đo, tranh chấp giữa các cặp phạm trù: đợc-mất, đúng-sai,phải-trái, cho-nhận; có những tác phẩm phải đi đến kết luận cuối cùng bằngdấu chấm lửng, tạo khoảng trống cho sự liên tởng của ngời đọc về các vấn đềcủa con ngời và xã hội Tác giả tâm sự :

Lúc mới viết truyện tôi thờng thích những cái kết có hậu Sau

này tôi thấy rằng những cái kết không có hậu hoặc bỏ lửng thờng

để lại những ấn tợng đặc biệt trong lòng độc giả và buộc họ phảisuy nghĩ theo những chiều hớng khác nhau, điều đó sẽ làm họ nhớnhững câu chuyện của mình lâu hơn [25].

Xét về mặt thẩm mỹ thì những cái kết trọn vẹn, viên mãn hay tạo nêncảm giác thoả mãn, đắc ý trong lòng ngời đọc, và vì vậy nó cũng dễ bị chìmkhuất, dễ bị lãng quên Còn nỗi buồn luôn để lại trong chúng ta cảm xúc sâusắc hơn, day dứt hơn nên nó cũng không dễ quên trong lòng ngời đọc

Có thể thấy cách kết truyện trong tạp văn Nguyễn Ngọc T rất đa dạngphong phú Vui có, buồn có Nhng hầu hết là cách kết gợi sự suy nghĩ, “đồngsáng tạo” của ngời đọc Để cho “độ mở” của đoạn kết đợc rộng, tạo nên độ tincậy và quyền chủ động của ngời đọc, trong các tạp văn của chị thờng có mộtkhoảng trống ở cuối truyện

Trớc hết, đó là kiểu kết thúc bằng sự liên tởng, gợi sự so sánh nh trong

Nguyệt ngời bạn không biết viết văn, Đôi bờ thơng nhớ, H ảo rồi tan, Chút tình sông nớc, và Mơ thấy mùa đang tới… Trong Nguyệt ngời bạn không biết viết văn, tác giả viết về một ngời bạn tên Nguyệt Nguyệt không viết văn

và cuộc sống của Nguyệt bình thờng nh bao con ngời khác Đó là một cuộcsống đơn giản, vô t, vui vẻ và hết sức thanh thản Nguyệt có thời gian để locho gia đình, làm tròn phận sự của ngời vợ đảm đang, ngời mẹ dịu hiền và ng-

ời con hiếu thảo; Nguyệt có thời gian để giải trí, gặp gỡ bạn bè Đó là một

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hạ Anh (1/2006), “Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc T: Nguyễn Ngọc T – Quen mà lạ”, báo Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạ Anh (1/2006), “Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc T: Nguyễn Ngọc T –Quen mà lạ”
2. Lý Nguyên Anh (10/2006), “Bênh vực truyện đạo văn - đạo đức hay văn hoá”, báo Văn Nghệ Trẻ (số 40) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Nguyên Anh (10/2006), “Bênh vực truyện đạo văn - đạo đức hay vănhoá”, "báo Văn Nghệ Trẻ
3. Lại Nguyên ân (Biên soạn) (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại Nguyên ân (Biên soạn) (2003), "150 thuật ngữ vănhọc
Tác giả: Lại Nguyên ân (Biên soạn)
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2003
4. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trờng viết văn NguyÔn Du, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: M. Bakhtin (1992), "Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
5. Báo Công An Nhân Dân (phỏng vấn nhà văn Nguyễn Ngọc T) (1/2006),“Đằng sau thành công là gánh nặng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: (phỏng vấn nhà văn Nguyễn Ngọc T) (1/2006),“Đằng sau thành công là gánh nặng
6. Báo Tuổi Trẻ (phỏng vấn nhà văn Nguyễn Ngọc T) (3/2004), “Văn học trẻ cha có xu hớng riêng” (Theo Thể Thao và Văn Hoá) Sách, tạp chí
Tiêu đề: (phỏng vấn nhà văn Nguyễn Ngọc T) (3/2004), “Văn học trẻ chacó xu hớng riêng” (Theo "Thể Thao" và "Văn Hoá
7. Báo Tuổi Trẻ (phỏng vấn nhà văn Dạ Ngân) (4/2004), “Nguyễn Ngọc T - điềm đạm mà thấu đáo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: (phỏng vấn nhà văn Dạ Ngân) (4/2004), “Nguyễn Ngọc T- điềm đạm mà thấu đáo
8. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học (số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”,"Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
9. Phan Quý Bích (4/2006), “Là trẻ con…”, báo Văn Nghệ Trẻ (số 17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Quý Bích (4/2006), “Là trẻ con…”, "báo Văn Nghệ Trẻ
10. Phan Quý Bích (11/2006), “Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc T”, báo Văn Nghệ Trẻ (số 46) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Quý Bích (11/2006), “Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc T”,"báo Văn Nghệ Trẻ
11. Lê Phú Cờng (10/2005), “Đọc tạp văn Trở gió của Nguyễn Ngọc T”, Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Phú Cờng (10/2005), “Đọc tạp văn "Trở gió "của Nguyễn Ngọc T”
12. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB Giáo Dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu (1999), "Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1999
13. Trơng Chính (1963), Tạp văn tuyển tập (tập 1,2,3), NXB Văn Học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trơng Chính (1963), "Tạp văn tuyển tập (tập 1,2,3)
Tác giả: Trơng Chính
Nhà XB: NXB Văn Học
Năm: 1963
14. Trần Phỏng Diều (6/2006), “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc T”, báo Văn Nghệ Quân Đội (số 647) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Phỏng Diều (6/2006), “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắnNguyễn Ngọc T”, "báo Văn Nghệ Quân Đội
15. Nguyễn Thị Mỹ Dung (2004), Cảnh sắc và hơng vị đất nớc trong ký Hoàng Phủ Ngọc Tờng, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Mỹ Dung (2004), "Cảnh sắc và hơng vị đất nớc trong kýHoàng Phủ Ngọc Tờng
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Dung
Năm: 2004
16. Trần Hữu Dũng (2004), “Nguyễn Ngọc T, đặc sản Miền Nam”, Diễnđàn tháng 2 (theo Viet studes. Org – ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Hữu Dũng (2004), “Nguyễn Ngọc T, đặc sản Miền Nam”, Diễnđàn tháng 2 (theo "Viet studes. Org
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2004
17. Đặng Anh Đào (4 –5/2006), “Sự sống bất tận”, báo Văn Nghệ (số 17 và 18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Anh Đào (4 –5/2006), “Sự sống bất tận”, "báo Văn Nghệ
18. Trần Xuân Đề (2003), Tác gia tác phẩm văn học phơng đông Trung Quốc, NXB Giáo Dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Xuân Đề (2003), "Tác gia tác phẩm văn học phơng đông TrungQuốc
Tác giả: Trần Xuân Đề
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2003
19. Hà Minh Đức (2001), Lí luận văn học, NXB Giáo Dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Minh Đức (2001), "Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2001
20. Hoàng Quốc Hải (1994), Tạp văn Hoàng Quốc Hải, NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Quốc Hải (1994), "Tạp văn Hoàng Quốc Hải
Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w