Những tư tưởng về con người và những chủ đích mà con người cầnvươn tới của Friedrich Nietzsche trở thành tiền đề quan trọng của chủnghĩa hiện sinh, trong đó con người hiện hữu với tư các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ trong một công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn
Hồ Thị Mỹ Tình
Trang 4Con kính cảm ơn Ba Mẹ và gia đình, những người
luôn tiếp sức, động viên về cả tinh thần lẫn vật chất, cho con
tiếp tục hoàn thành ước vọng học tập của con.
Em kính cảm ơn các thầy cô, đã cung cấp thêm cho em
những kiến thức bổ ích, để em tiếp tục làm người đồng nghiệp tự
tin hơn khi đứng trên bục giảng Đặc biệt, xin cảm ơn
PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, người đã rất tận tình hướng
dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn.
Cảm ơn những người bạn gần xa, luôn sát cánh bên tôi
chia sẻ những khó khăn trong suốt khóa học này.
Xin chân thành cảm ơn!
ra, và cũng đã có không biết bao nhiêu cách trả lời về những câu hỏi ấy.Qua nhiều thời đại, với những chế độ xã hội kế tiếp nhau trong lịch sử,vấn đề con người không hề trở nên cũ trong nhận thức của nhân loại
Là một hình thái ý thức xã hội, triết học bao giờ cũng trở lại với conngười và coi con người như một đối tượng trung tâm của mình Dù là duy
Trang 5vật hay duy tâm, dù có tuyên bố hay không tuyên bố là “triết học của conngười, vì con người”, thì mọi trào lưu triết học từ cổ đại đến hiện đại, từphương Tây sang phương Đông đều đi vào lý giải một cách trực tiếp haygián tiếp những vấn đề chung nhất của con người.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, những biến đổi mạnh mẽ của khoahọc và xã hội đã thúc đẩy sự phát triển của các tư tưởng triết học Vấn đềthân phận con người, sự tồn tại của con người càng trở thành vấn đề nóngbỏng trong triết học Friedrich Nietzsche – một trong những triết gia dámtạo điểm nhấn, dám đưa ra những quan điểm trái chiều với quan điểmtruyền thống trong xem xét và đánh giá con người Friedrich Nietzsche,nhà tư tưởng Đức, người gây chấn động bằng tuyên bố “Chúa đã chết”
Và con người muốn hiện hữu với tư cách là chủ thể của chính mình,không tha hóa với chính mình, thì phải biết cởi bỏ những giá trị ảo quanhmình Những tư tưởng về con người và những chủ đích mà con người cầnvươn tới của Friedrich Nietzsche trở thành tiền đề quan trọng của chủnghĩa hiện sinh, trong đó con người hiện hữu với tư cách là một nhân vị.Cùng chủ nghĩa hiện sinh, Friedrich Nietzsche đã tạo ra một phong cáchsống mới, một cách nhìn mới về vấn đề con người
Vấn đề con người là một vấn đề triết học có ý nghĩa đặc biệt, dovậy, việc nhìn nhận, đánh giá vai trò và vị trí của con người luôn là mộtvấn đề cấp thiết trong mọi thời đại Những năm gần đây, thế giới nóichung, Việt Nam nói riêng, quan niệm coi con người là trung tâm trởthành cách nhìn, cách nghĩ có sức hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của đôngđảo các nhà lý luận và các nhà chính trị xã hội Chúng ta, mỗi cá nhân xã hội Chúng ta, mỗi cá nhânđang sống và cống hiến, nhận thức rõ việc phát huy năng lực của chínhbản thân đồng nghĩa với việc phát huy nguồn nhân lực cho đất nước, lấycon người làm trung tâm trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa làmột việc làm đặc biệt có ý nghĩa và hết sức cấp thiết Tìm hiểu, khai thác
tư tưởng, quan niệm về con người của Friedrich Nietzsche để nhìn nhận rõhơn, thiết thực hơn vấn đề con người, đồng thời chọn lọc những yếu tốtích cực, góp phần hữu ích vào việc phát huy mạnh mẽ hơn tiềm năng sứclực, trí lực của con người trong thời đại mới
Với ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài
“Vấn đề con người trong triết học Friedrich Nietzsche” làm đề tài cho
luận văn tốt nghiệp cao học ngành triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 6Giới học thuật phương Tây đã rất quan tâm nghiên cứu triết họcFriedrich Nietzsche, tiêu biểu có: Martin Heidegger, Felicien Challaye,Charter Andler, Karl Jasper,…Và Nguyễn Đình Thi là người mở đầu chonghiên cứu về Friedrich Nietzsche ở Việt Nam vào năm 1942 [39].
Trước năm 1975, triết học Nietzsche được quan tâm đặc biệt ởMiền Nam Việt Nam Các học giả miền Nam Việt Nam muốn thông quatriết học Nietzsche để tìm tiếng nói tương đồng cho thân phận con người,cho sự khốn cùng của trí tuệ trong xã hội hiện đại Nổi bật có Lê Thành
Trị với “Hiện tượng luận hiện sinh” [43]; Phạm Công Thiện với “Ý nghĩa
trong Văn nghệ và Triết học” [40], “Im lặng hố thẳm” [41], “Ý thức bùng vỡ” [42]; Trần Thái Đỉnh với “Triết học hiện sinh” [12]; Thế Phong với
“F Nietzsche và chủ nghĩa đi lên con người” [35] Bên cạnh đó việc dịch
sang tiếng Việt những cuốn sách viết về Nietzsche và các tác phẩm kinhđiển của Nietzsche đã góp phần đưa Nietzsche lại gần với những ngườiquan tâm đến Triết học của ông, điển hình như: Felicien Challaye với
“Nietzsche - cuộc đời và triết lý” [4], F Nietzsche “Tôi là ai” [30] và
“Buổi hoàng hôn của những thần tượng hay làm cách nào triết lý với cây
búa” [31]…
Ở miền Bắc trước năm 1975, do tập trung vào việc đấu tranh thốngnhất đất nước nên triết học Nietzsche chỉ được nhắc đến trong một bài viếtkhi cần minh họa cho các tư tưởng của phương Tây
Sau năm 1975, đặc biệt sau năm 1986, chúng ta đã có cái nhìn mới
về triết học phương Tây hiện đại Tên tuổi của Nietzsche đã được nhiềunhà văn, nhà nghiên cứu thừa nhận, trích dẫn, thậm chí còn được xem làcảm hứng sáng tác Nhiều công trình nghiên cứu gần đây ở Việt Namcũng như nước ngoài về triết học phương Tây hiện đại liên quan đến
Nietzsche đã được xuất bản, như: “Triết học phương Tây hiện đại” (4 tập) của Lưu Phóng Đồng [13-16]; M Heidegger với “Tác phẩm triết
học” [17]; Diêu Trị Hoa với “Edmund Husserl” [18] và Hàn Lâm Hợp với
“Max Weber” [20] Lời giới thiệu về triết học Nietzsche của Quang Chiến trong “Zarathustra đã nói như thế” [32]; “Mười nhà tư tưởng lớn thế
giới” [34] của Vương Đức Phong và Ngô Hiếu Minh; “Phridrich Nitsơ” [2] của Lưu Căn Báo; “Câu chuyện triết học” [23] của Bryan
Mage; “Nhập môn triết học phương Tây” [36] của S E Stumpt và
D C Abel; “Lịch sử triết học và các luận đề” của
S E Stumpt [37];“Hành trình cùng triết học” của T Honderich [19].
Trang 7Ở Việt Nam sau năm 1990, việc nghiên cứu và giới thiệu Nietzschehướng vào hai bộ phận hợp nhất tạo thành tư tưởng Nietzsche là văn học
và triết học, có các công trình như: Trần Mai Nhi với “Những trường hợp
giữa F Nietzsche và văn học” [28]; “Nhân vị - một thành tố trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh” [29]; Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng với
“Lược khảo triết học phương Tây hiện đại” [10]; Nguyễn Tiến Dũng với
“Lịch sử Triết học phương Tây” [9], “Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử và sự
hiện diện ở Việt Nam” [8]; “Triết học Nítsơ và cuốn sách viết về triết học Nítsơ đầu tiên ở Việt Nam” [7]; Trần Thiện Đạo với “Chủ nghĩa hiện sinh
và thuyết cấu trúc” [11]; Nexmeyanov E.E với “Triết học hỏi và đáp” [24]; Hoàng Đức Bình với “F Nietzsche: con người và tác phẩm Zarathustra đã nói như thế” [3]; Hà Lê Dũng với “Sự ảnh hưởng của triết học F Nietzsche đối với chủ nghĩa hiện sinh vô thần” [6]…
Trong các công trình nghiên cứu trên, một số đi vào nhìn nhận vàđánh giá tổng quát về cuộc đời và tư tưởng của Nietzsche, một số thì tậptrung đi sâu phân tích một khía cạnh về con người và lập trường triết họccủa Nietzsche Có thể khẳng định, cho đến nay, ở Việt Nam chưa có côngtrình nào trùng với tên của đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Sau khi hoàn thành, luận văn phải đạt được mục đích là:
+ Làm rõ quan điểm của Nietzsche về con người
+ Chỉ rõ những luận điểm có thể kế thừa và những tư tưởng cầnphê phán
Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Khái quát vài nét về Nietzsche và những nhân tố tác động đến sựhình thành quan điểm về con người của ông
+ Phân tích những quan điểm của Nietzsche về con người và đưa rađánh giá, nhận xét
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề con người trong triết họcNietzsche
+ Phạm vi nghiên cứu: Những quan điểm về con người trong hệthống triết học Nietzsche
Trang 85 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủnghĩa duy vật lịch sử và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xâydựng và phát triển con người trong thời đại mới
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp của phépbiện chứng duy vật với quan điểm: lịch sử, cụ thể, toàn diện và phát triển
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp: phân tích và tổnghợp, diễn dịch và quy nạp, đối chiếu và so sánh,…
6 Đóng góp của luận văn
Nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ góp một phần nhỏ vào việc làmtài liệu tham khảo cho việc học tập, tìm hiểu triết học phương Tây hiện đại
ở bậc đại học và sau đại học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm hai nội dung chính là 2 chương, 6 tiết
Chương 1: Sự hình thành tư tưởng về con người trong triết họcFriedrich Nietzsche
Chương 2: Nội dung cơ bản trong tư tưởng về con người của FriedrichNietzsche
Trang 9CHƯƠNG 1
SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG
TRIẾT HỌC FRIEDRICH NIETZSCHE
1.1 Bối cảnh thời đại
Marx viết: “Các nhà triết học không phải là những cây nấm mọc trênđất Họ là những sản phẩm của thời đại mình, dân tộc mình, mà những tinhlực quý giá nhất và khó thấy nhất đã được suy tư trong các khái niệm triếthọc” [27, tr.9] Vâng, mỗi thời đại sinh ra những anh hùng, những tư tưởngnảy mầm trên từng mảnh đất của những con người sống trong thời đại ấy Tất
cả chính là những tinh túy, là niềm trăn trở của các bậc vĩ nhân, dẫn nhân loạibước lên những nấc thang mới của sự phát triển
Một tất yếu lịch sử ở thế kỷ XIX là sự ra đời của triết học Mác, khichâu Âu đang trong giai đoạn đầy biến động về tất cả mọi mặt của những vấn
đề nóng bỏng của thời đại, đó là: Thân phận con người sẽ như thế nào? Xãhội loài người sẽ đi về đâu?
Người ta nói rằng, thế kỷ XIX là thế kỷ của những biến đổi mạnh mẽcủa tinh thần lẫn vật chất, từ chính trị đến kinh tế, khoa học – kỹ thuật ở châu
Âu Làm thay đổi toàn bộ bộ mặt, cũng như đã phủ lên đời sống của conngười châu Âu một lớp áo mới – một sự chuyển đổi mới mẻ về chiều sâu tâm
lý, quan niệm sống và cảm xúc
Thế kỷ mà chủ nghĩa tư bản xác lập địa vị thống trị của mình, dần
chuyển sang chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của nó Chủ nghĩa tư bản
tạo ra một lực lượng sản xuất đồ sộ gấp nhiều lần lực lượng sản xuất của tất
cả các thế hệ trước gộp lại Nền sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao,kéo theo sự bóc lột ngày càng tinh vi hơn, sự phân hóa giàu nghèo vì thếcũng ngày càng gay gắt
Thế kỷ XIX cũng là thế kỷ mà sự phát triển của khoa học liên tiếpphục vụ cho sự phát triển của sản xuất Những phát minh về hóa học, vật lýthúc đẩy ngành cơ khí chế tạo phát triển, đưa lại bước tiến mới chưa từngthấy về năng suất lao động, sản phẩm tăng đột biến, cơ sở kỹ thuật của nềnsản xuất đổi mới, hiện đại Như ngọn lửa bỗng dưng bừng sáng vào nhữngnăm 40 của thế kỷ XIX, nước Anh trở thành cường quốc của kỹ thuật Sựthắng lợi của cuộc cách mạng Công nghiệp đã đưa tri thức và khoa học lêntầng cao mới
Trang 10Trong bức màn đêm trung thế kỷ, Kytô giáo là cột trụ tinh thần củangười châu Âu Chúa là đấng cứu thế duy nhất cho đời sống khổ đau của conngười Khi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ, khoa học tự nhiên tiếnnhững bước dài, dẫn đến sự tan rã của tín ngưỡng Kytô giáo Ở thế kỷ này,khi giai cấp tư sản ráo riết chống Tôn giáo thì người ta lại tìm cách khôi phụclại những tín điều, những quan niệm hẹp hòi từ truyền thống Kytô giáo Họlàm sống lại niềm tin của Chúa, những ma lực thần thánh đã một thời điềukhiển toàn bộ hoạt động của con người Quan điểm mới về thần thánh lúc bấygiờ chỉ khác với thời Trung cổ ở chỗ: sự mặc khải trong ánh điện thay thế cho
sự mặc khải trong ánh sáng nhập nhòe của nến
Khi khoa học tự nhiên phát triển, chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩaduy lý tính được phản ánh trong triết học đã làm lung lay về căn bản cơ sở tínngưỡng Kytô giáo, mọi giá trị truyền thống tan rã, người ta ngày càng cảmthấy mất đi ý nghĩa đã từng được xác định Con người hầu như trong trạngthái chân không không nơi nương tựa Nghĩa là, trong lòng châu Âu nhennhóm tư tưởng chống lại tư tưởng của Kytô giáo, cùng với sự xuất hiệnnhững vĩ nhân và các học thuyết mang tầm vóc thời đại
Một thế kỷ mà châu Âu gần như sôi sùng sục trong chảo lửa của cả sựphát triển, đấu tranh và tiêu diệt Một thế kỷ gắn với nhiều đổi thay, khôngchỉ lái châu Âu sang một ngã rẽ mới mà còn làm cho thế giới cũng chịunhững tác động không nhỏ, khi: “Máy móc có sức mạnh kỳ diệu trong việcgiảm bớt lao động của con người, và làm cho lao động của con người có kếtquả hơn, thì lại đem lại nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người.Những nguồn của cải mới từ xưa đến nay chưa ai biết, dường như có một sứcmạnh kỳ diệu nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ.Những thắng lợi của kỹ thuật dường như lại được mua bằng cái giá của sựthay đổi về mặt tinh thần” [26, tr.12] Sự phát triển của khoa học kỹ thuật làmvơi đi gánh nặng của đời sống xã hội, song ở những điều kiện xác định lạilàm cho chính cuộc sống bị tiêu diệt Lúc này, các thành tựu mà con ngườitạo ra gần như quay lại chống con người Niềm tin bị khủng hoảng, khi mọithứ ngày càng hiện đại thì chính con người ngày càng bị tha hóa: “Sự đảo lộnliên tiếp của sản xuất, sự rung chuyển không ngừng của tất cả các quan hệ xãhội, sự luôn luôn hoài nghi và sự vận động làm cho thời đại tư sản khác vớitất cả các thời đại trước Tất cả các quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ, với cảtràng quan niệm về tư tưởng được tôn sùng từ nghìn xưa đi kèm những quan
hệ ấy đều đang tiêu tan; những quan hệ xã hội thay thế, những quan hệ đóchưa kịp cứng thì đã già cỗi ngay Tất cả những gì mang tính đẳng cấp và trì
Trang 11trệ đều tan biến như mây khói Tất cả những gì thiêng liêng đều bị ô uế và rútcuộc mọi người đều phải buộc nhìn những điều kiện sinh hoạt của họ vànhững quan hệ giữa họ với nhau bằng con mắt tỉnh táo” [25, tr.601] Bản chấtcủa chế độ mới ngày càng lộ liễu.
Từ thành tựu rực rỡ của khoa học, cả châu Âu đề cao lý tính, mọingười cần đến chân lý khoa học hơn là những gì có trong thần thoại về cuộcsống mà ở đó có vẻ như dễ sống hơn Bằng việc vận dụng những quy luật của
lý tính, có thể quản lý được tự nhiên và phát triển không hạn chế các năng lựctinh thần và thể chất của con người Châu Âu cận đại là thời đại chủ nghĩa lýtính thịnh hành, “tri thức là sức mạnh” của Bacon vang dội lên chín tầngmây, hầu như tri thức là tâm linh của con người Một thời gian, loài người trởthành đức Chúa trời chân chính của thế giới Với loài người, lúc ấy như vừathoát ra khỏi tín ngưỡng “Thuyết chúa sáng tạo thế giới”, như là đã được giảiphóng Loài người lúc này không một chút lo lắng, lòng đầy tin tưởng khisống trong một thời đại đầy hy vọng Sự tin phục ở khoa học của con người
đã thay thế tín ngưỡng Tôn giáo, họ hiểu rằng khoa học và lý tính có thể đemlại hạnh phúc cho con người Tuy nhiên, sau khi lịch sử bước vào ngưỡngcửa của thế kỷ mới, đặc biệt sau khi trải qua hai cuộc Đại chiến thế giới,người ta phát hiện, khoa học không phải là vạn năng, sự phồn vinh vật chấtđơn thuần chỉ có thể tạo ra hạnh phúc giả tạo và biến con người thành nô lệcủa máy móc, con người dần bị tha hóa Châu Âu lún sâu vào cuộc khủnghoảng tín ngưỡng và khủng hoảng giá trị chưa từng có, thực chất của cuộckhủng hoảng là sự tan rã của quan niệm truyền thống của giai cấp tư sản.Người châu Âu bàng hoàng, đau buồn, hoang mang không biết đi theo hướngnào trước sự hoang tàn đổ nát của giá trị truyền thống
Các nhà tư tưởng đã nhìn nhận và phê phán những mặt trái của chủnghĩa tư bản, lúc bấy giờ cũng xuất hiện nhiều xu hướng khác nhau Một sốnhà tư tưởng thì muốn quay lại thời kỳ phong kiến; một số vừa muốn xóa bỏnhững khuyết tật của xã hội tư bản vừa muốn duy trì nền thống trị này; một
số khẳng định rằng có thể xóa bỏ mâu thuẫn giữa hai giai cấp tư sản và vôsản…; các triết gia cổ điển Đức đưa ra phương án giải quyết bằng ý chí,nguyện vọng; còn các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng thì muốn thay thếbằng một xã hội công bằng hơn nhưng không thấy được nguyên nhân dẫn đến
xã hội bất công lúc bấy giờ… Từ thập kỷ 40 của thế kỷ XIX, Marx đã vạch rõhiện tượng tha hóa của con người phía sau sự phồn vinh vật chất của chủnghĩa tư bản, xác nhận nguồn gốc của nó là chế độ kinh tế và chế độ chính trịcủa chủ nghĩa tư bản, là chế độ phân công lao động và chế độ tư hữu Và
Trang 12Marx cũng đã rút ra kết luận về cuộc cách mạng xã hội Đến cuối thế kỷ XIX,khi Cách mạng tháng Mười bùng nổ, một thời đại mới đã được mở ra.
Bức tranh châu Âu thế kỷ XIX chứa đựng đầy đủ các khía cạnh, màusắc của xã hội và con người ở châu Âu lúc bấy giờ Một giai đoạn lịch sử đầybiến động, những vấn đề kinh tế nóng bỏng cùng sự xoay đổi giá trị và thânphận con người Từ bức tranh toàn cảnh này, ta có cơ sở để tìm hiểu thấu đáohơn tư tưởng của nhà triết học người Đức - Friedrich Nietzsche, một conngười dám dấy lên tiếng chuông đổi thay cuộc sống hiện tại; một nhà tưtưởng làm nên dấu ấn của thời đại, luôn khao khát tìm ra giá trị đích thực củacuộc sống mà đầu tiên là giá trị của con người
1.2 Friedrich Nietzsche và quá trình hình thành tư tưởng về con người
1.2.1 Sơ lược tiểu sử Friedrich Nietzsche
Friedrich Nietzsche là nhà triết học, nhà thơ nổi tiếng nước Đức,nhà tư tưởng lớn thời cận đại Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1844 ởRoecken, miền Trung nước Đức, tức miền Thuringe, nơi phát xuất phongtrào cải cách Sinh ra trong buổi giao thời thế kỷ từ chủ nghĩa tự do quá độlên chủ nghĩa đế quốc, nhà triết học giàu tính chiến đấu này đã rất nhạycảm trước sự thối nát của thời cuộc Ông say mê khai thác, tìm tòi, xácđịnh lại ý nghĩa cuộc sống trong khi các giá trị truyền thống đang dần mất
đi Cha là mục sư, nên ông được giáo dục rất cẩn thận về trí dục và đứcdục
Friedrich Nietzsche sinh đúng ngày sinh nhật của Quốc vương, bốcủa ông rất yêu mến và đặt nhiều niềm tin vào người con của mình.Nhưng cuộc đời của Nietzsche đã đi ngược lại với mong ước của bố mẹ
và gia đình Trong một trang của cuốn Sự vật nhân bản Nietzsche viết:
“Những xung khắc không giải quyết giữa đức tính và lòng tin ở cha mẹ đãtồn tại nơi đứa con và tạo ra lịch sử cả cuộc đau khổ nội tâm của nó”
Từ mấy thế hệ gia đình của Nietzsche là thành lũy sùng đạo Kytôgiáo, kính Chúa, là môi trường kết hợp một nền văn hóa rộng rãi với mộtthứ luân lý khắt khe và một lòng tôn trọng với các đức tin Tôn giáo Ôngnội của Nietzsche từng làm giám sát khu giáo dân, là một tín đồ sùng đạotài hoa Bố là Karl Ludwig Nietzsche sinh năm 1813, là một người có tàinăng âm nhạc siêu việt, biểu diễn dương cầm và sáng tác các ca khúc,được Quốc vương Phổ yêu mến Sau Nietzsche còn có một em gáiElisabeth sinh năm 1846, và một em trai Ludwig Joseph sinh năm 1848
Trang 13Nietzsche tự hào về tổ tiên của mình là quý tộc Ba Lan, dòng máu mangđậm tính dân tộc.
Nietzsche bị khuyết tật bẩm sinh, ốm yếu, đầu to, người nhỏ, mắtlác Bị chứng bệnh đau đầu, mắt kém mãn tính của bố di truyền lại nênông nếm đủ sự khinh thường và chế nhạo của thiên hạ, tâm hồn ông đãsớm thấy sự cô đơn và u uất Bố mất lúc Nietzsche vừa mới lên năm vìcăn bệnh nhũn não Nỗi đau chưa nguôi, thì mấy tháng sau, em trai chưađầy hai tuổi của ông cũng ra đi Đau thương chết chóc liên tiếp đến quásớm với ông, làm cho tâm hồn đa cảm sớm mất niềm tin và luôn hoài nghivới cuộc sống Sau đó, gia đình Nietzsche chuyển về sống tại thành phốnhỏ Naumburg bên bờ sông Cheri Vốn quen với đời sống nông thônthanh đạm, yên tĩnh, nên Nietzsche cảm thấy không thích hợp với thànhthị, nhà thờ, đường phố và cảnh sinh hoạt đông đúc ồn ào Bệnh đau đầu
và nhức mắt luôn dày vò ông Sự đau buồn, nỗi cực khổ và ý thức mơmàng với cuộc đời con người của Nietzsche từng bước hình thành trongtình hình kinh tế – chính trị xã hội lúc bấy giờ
Năm 1850, Nietzsche đến học tại trường tiểu học công lập tại thànhphố Naumburg Tại đây, Nietzsche lại bị bạn bè chế giễu và khinh rẻ, nênông không thể vui đùa và kết bạn với bất cứ ai, và ông cũng không thể họcmột cách bình thường Đến khi được chuyển đến một trường dân lập dạycho học sinh học các môn học của nhà thờ, Nietzsche mới cảm thấy dễchịu hơn Từ nhỏ, Nietzsche đã chịu ảnh hưởng tư tưởng Tôn giáo và chịu
sự giáo dục của những người phụ nữ sùng kính và tự tin, nên đã chịu khóhọc các bài học Tôn giáo Nietzsche học tiếng Hy Lạp và La tinh Cậu béNietzsche thích cầm quyển Kinh thánh vừa đi vừa đọc trên bãi cỏ vớidáng vẻ cung kính, làm cho mọi người thấy cảm động, gọi cậu là “chú bémục sư” hay “Jesus trong đền” Nietzsche ít tham gia các trò chơi của mấyđứa trẻ, thường hay chơi một mình, thích quan sát, rất nhạy cảm và biếtsuy nghĩ Nietzsche là cậu bé ham học hỏi, dũng cảm và sáng tạo, luôn tỏ
Trang 14miêu tả những cảnh vật ly kỳ trên biển như bão tố, lửa thiêu, hay là ngườiphiêu bạt, ngủ mê Thơ thời niên thiếu của ông đều mang âm hưởng đaubuồn, phản ánh thời đại u uất, cuộc sống nhiều đau thương xót xa Ngòibút thơ Nietzsche uyển chuyển, ngôn ngữ trong sáng [2, tr.18]:
“…Trên thế giới này, Cuối cùng không ai tìm được Thú vui quê hương và gia đình;
Chúng ta chưa bao giờ rời khỏi trái đất, Cuối cùng trở về trong lòng của nó, Khi tiếng chuông du dương vang vọng, Tôi bất giác thầm nghĩ:
Chúng ta mọi người đang cuồn cuộn
Đi đến quê hương vĩnh hằng.
Người nào hằng giờ hằng phút Thoát khỏi sự ràng buộc của trái đất, Hát lên bài ca mục đồng quê hương,
Ca ngợi cái cực lạc của thiên đàng”
Đó là bài thơ Quê vũ, Nietzsche sáng tác lúc còn bé, lúc ông luôn
lẫn tránh những đám đông, thích tìm về chốn hữu tình thơ mộng
Năm 1858, mười bốn tuổi, Nietzsche được giới thiệu đến học tạitrường Schulpforta, cách nhà bốn dặm, là một trường có uy tín về giáo dục
cổ điển, nhiều giáo viên danh tiếng Trong sáu năm học ở đây, Nietzscheđặt ra nguyên tắc cho mình đó là học tập nghiêm túc, đi sâu tìm tòi,nghiên cứu chuyên ngành, hạn chế những yêu thích cá nhân Vì vậy màNietzsche đã học tập rất có hiệu quả, ông nghiên cứu tác phẩm cổ điểnĐức và so sánh phương thức tư duy của họ, kết hợp nghiên cứu lịch sử vàđịa lý, vận dụng phương pháp giáo dục vào vật lý và âm nhạc Với đứctính cần cù, chịu khó và sự giảng dạy rất thấu đáo của nhà trường,Nietzsche tiến bộ rất nhanh về kiến thức ngôn ngữ văn học và khả năngcảm thụ Nietzsche rất uyên bác, am hiểu nhiều lĩnh vực và có nhiều kiếngiải độc đáo
Ngoài việc tán thưởng âm nhạc cổ điển, Nietzsche còn thích tácphẩm của Richard Wagner, nhạc sĩ người Đức cùng thời Với số tiền ít ỏitiết kiệm được, ông mua bản tổng phổ dùng cho đàn dương cầm “Tristan
và Isolde” của Wagner Nietzsche nghiên cứu biên niên sử và tập văn học
Trang 15Băng đảo thời cổ đại, chú trọng suy ngẫm về từng nhân vật trên sân khấu
hiện đại, viết bài văn ngắn về “Hoàng đế Napoléon đệ tam”
Từ năm 1862, Nietzsche đã rất thích triết học, tuy nhiên ông chưabao giờ chính thức nghiên cứu triết học, có bài bình luận ngắn đầu tiên vềtriết học “Số phận và lịch sử”, bài tạp văn về “Ý chí tự do và số phận”.Nietzsche tỏ ra bất mãn với hiện trạng nước Đức, thông qua nghiên cứuvăn học cổ điển, cho rằng kịch nước Đức bắt nguồn từ sử thi Về sau,Nietzsche hầu như có thái độ lạnh nhạt với Kytô giáo và hoài nghi về sựtồn tại của Chúa, linh hồn bất tử, quyền uy của Kinh thánh, thần linh và có
ý đồ đi sâu tìm hiểu Ông nói rằng Tôn giáo là con đẻ của loài người thờithơ ấu
Vào đại học, Nietzsche dần dần lìa xa Tôn giáo, khi càng thực tìnhmuốn trở lại tín như cha mẹ và anh em ông thì ông càng thấy không thểtin vào đạo Tin Lành được nữa Nietzsche chọn ngành ngôn ngữ học cổđiển Lúc này, tác phẩm của Schopenhauer đã gây chấn động tâm tư biquan sầu não của ông Âm nhạc của Wagner làm ông thấy được hi vọngcủa phục hưng văn hóa châu Âu Hai người thầy lớn này làm cho cuộc đờiông có những chuyển biến căn bản Nietzsche rời bỏ Đại học Bonn,chuyển qua Đại học Leipzig Nietzsche miệt mài học tập nghiên cứu, vàcũng nhận thấy mình sống xa rời quần chúng, trầm mặc, ít giao du Ôngquyết tâm sữa chữa khuyết điểm, tập tiếp xúc rộng rãi với thế giới bênngoài Tên tuổi của Nietzsche dần nổi tiếng trong giới ngôn ngữ học cổđiển, tác phẩm của ông nhiều lần được đăng trên báo và được nhà trườngtặng thưởng về nghiên cứu chuyên đề, nhận được vinh dự nhà khoa họctrẻ ưu tú Đồng thời, Nietzsche cũng tìm thấy sự đam mê với triết học, ôngnói: “Chúng ta dùng chủ nghĩa hoài nghi để đào mồ chôn tư tưởng truyềnthống” [2, tr.30], đây chính là mầm mống tư tưởng đòi đánh giá lại mọigiá trị của ông
Trong thời gian học Đại học Leipzig, Nietzsche hai lần tham giachiến tranh thống nhất nước Đức Lần đầu quân nhập ngũ thứ nhất năm
1866, chiến tranh Phổ - Áo Lần thứ hai là năm 1867, lúc Leipzig bị bệnhthổ tả hoành hành, Nietzsche rời trường đại học tham gia quân tìnhnguyện, sau đó được tuyển vào bộ đội pháo binh địa phương Naumburg,phục vụ quân ngũ một năm Tháng 3 năm 1868, ông bị ngã trong một lầntập cưỡi ngựa, bị chấn thương xương ngực Trong thời gian tại ngũ,Nietzsche tận mắt thấy được sự tàn khốc của chiến tranh và những đau
Trang 16thương mất mát của các chiến sĩ, chứng kiến được cái bi tráng hào hùngcũng những hy sinh anh dũng kiên cường Khi nước Đức thống nhất, dướicon mắt ông, thắng lợi của vũ lực không có nghĩa là thắng lợi của văn hóa,mọi tiến bộ về vật chất chỉ phục vụ cho cuộc sống xa xỉ mà thôi.Nietzsche cho rằng thắng lợi của chủ nghĩa đế quốc Đức là sự hủy diệttriệt để tinh thần nước Đức, nước Đức lúc ấy trở thành tự mãn và không
có linh hồn Tháng 10 năm 1868, Nietzsche ra khỏi quân đội và trở về Đạihọc Leipzig học tiếp kỳ học cuối Nietzsche tỏa sáng trong lĩnh vực họcthuật đến mức trở thành giáo sư chính thức ở tuổi 25 – một trường hợpgần như chưa từng có
Nietzsche là một trong những nghệ sĩ văn chương tài năng Nhiềungười Đức nhìn nhận ông là vĩ đại nhất trong tất cả tác gia văn xuôi Đức
Sở dĩ Nietzsche có thể đàm luận với rất nhiều nghệ sĩ sáng tạo là do bản
thân ông được mệnh danh là một nghệ sĩ giữa các triết gia Ông làm thơ
hay, biết soạn nhạc, nhưng quan trọng hơn cả là bút pháp văn chương củaông rực rỡ khác thường Đa số tác phẩm của ông không được viết theocùng một kiểu văn xuôi mở rộng như trong triết học, với những luậnchứng và phản chứng được trình bày chi tiết, mà được thể hiện bằng hìnhthức tản văn qua những câu cách ngôn, những câu thơ dạng kinh thánh,hoặc những đoạn văn được đánh số riêng rẽ Ông có phương pháp đặctrưng để tìm cách đưa người đọc nhìn mọi sự theo một đường hướng mớibằng cách trình bày trước họ không phải một luận chứng thuyết phục mà
là một hình tượng dễ nhớ - có những luận chứng được hiểu ngầm, đượcrút ra từ những ẩn dụ Bên cạnh đó, bản thân Nietzsche luôn chống lạiviệc tạo nên hệ thống, nên triết học Nietzsche đương nhiên không mangtính hệ thống
Vì Nietzsche bị những kẻ Quốc xã nhận là triết gia biện hộ cho họ,nên cần phải nhấn mạnh rằng ông chế giễu chủ nghĩa dân tộc Đức vàkhinh bỉ chủ nghĩa bài Do Thái Dù bản thân là người Đức, nhưng ôngthường xuyên đưa ra những khái quát khiếm nhã về những người Đức,như “người Đức có những bí quyết làm thế nào để trở nên nhạt nhẽo bấtchấp sự thông minh, hiểu biết và cảm xúc”, và “nhìn chung, chiều sâu củamột người Đức vĩ đại bị đóng khung trong một cái hộp hình dạng xấu xí”
Về chủ nghĩa bài Do Thái thì ông cho là không thể chấp nhận được
“Những kẻ bài Do Thái”, ông nói “không tha thứ cho người Do Thái vì họ
có trí tuệ và tiền bạc Bài Do Thái – đó là tên gọi khác của “ẩu tả và hỏng
Trang 17bét” Ông đặc biệt chỉ trích dân tộc Đức về khuynh hướng bài Do Thái của
họ Những lời cuối cùng của ông về vấn đề này là: “Tôi chỉ muốn đembắn bỏ bọn bài Do Thái” Nietzsche đương nhiên không phải là đảng viênQuốc xã
Nói về Friedrich Nietzsche, là nói về một con người biết sống vớitận cùng tâm hồn mình, với những nỗi xao xuyến, dao động, với buồnthảm mênh mông dài đăng đẳng, với niềm vui phút chốc bùng cháy lên.Một con người dũng cảm, đấu tranh với bệnh tật, khổ đau tình cảm, buồnvui bất chợt; có những lúc lao mình với tình yêu mà không được đền bù;những tình bạn đam mê, đôi khi đưa đến đoạn tuyệt; những trầm tư côđộc, những cuộc du hành, đổi chỗ ở càng lúc càng thường xuyên.Nietzsche từng có những ngày huy hoàng ở các thành phố ồn ào, náonhiệt; những đầy ắp hi vọng rồi tuyệt vọng; những suy ngẫm về cuộc đời,hoài nghi, chán nản về cuộc sống và số phận con người Ông mất vàongày 25 tháng 8 năm 1900 Cuộc đời của vô vàn những biến cố
1.2.2 Sơ lược tư tưởng và tác phẩm của Friedrich Nietzsche
Triết học phương Tây hiện đại với nghĩa là triết học phi mác xít đãhình thành và được truyền bá ở các nước phương Tây từ giữa thế kỷ XIXđến nay Đó là một trong những vấn đề mà giới triết học thế giới và ViệtNam rất quan tâm, nhất là hiện nay, khi cuộc đấu tranh tư tưởng và lý luậndiễn ra gay gắt Vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa duy ýchí Nietzsche xuất hiện ở Đức, ngay lúc đó người ta chưa chú ý, nhưng vềsau ảnh hưởng của nó rất sâu rộng Nó xuất phát từ lập trường của chủnghĩa phi lý tính, dưới khẩu hiệu “đánh giá lại mọi quan niệm giá trị”; phêphán gay gắt văn hóa châu Âu dưới sự chi phối của truyền thống Kytôgiáo và triết học lý tính Nó nêu lên rằng cần phát huy cao độ bản năng vàsức sống nội tại của con người, lấy ý chí quyền lực làm thước đo đánh giámọi cái
Chủ nghĩa duy ý chí là một bộ phận thuộc trào lưu triết học nhânbản của triết học phương Tây hiện đại Là triết học duy tâm đề cao tácdụng ý chí của con người, thậm chí biến nó thành nền tảng và điểm xuấtphát của mọi tồn tại Chủ nghĩa duy ý chí ra đời trong bối cảnh lịch sử khigiai cấp tư sản châu Âu đã mất tính chất cách mạng và mâu thuẫn củahình thái ý thức, kiến trúc thượng tầng của nó biểu lộ rõ ràng… Chủ nghĩaduy ý chí phản ánh sự phản ứng của tầng lớp phản động bảo thủ nhấttrong giai cấp tư sản châu Âu lúc bấy giờ đối với lý luận cách mạng có
Trang 18đặc trưng lý tính Ở mức độ nhất định, nó cũng có thể thích ứng với tinhthần của phái cấp tiến trong giai cấp tiểu tư sản đang bất mãn với hiệnthực xã hội và đòi hỏi tự do tuyệt đối về cá tính Chủ nghĩa duy ý chí rađời có ảnh hưởng lớn nhất ở Đức và cũng phát triển ở Pháp, Anh và một
số nước Bắc Âu khác Schopenhauer và Nietzsche là đại biểu lớn nhất củachủ nghĩa duy ý chí ở Đức
Nietzsche và triết học Nietzsche là một khối hoàn bích, không nứtnẻ: triết học của ông là đời sống của ông và đời sống của ông là tài liệusuy tưởng của ông Trần Thái Đỉnh cho rằng “tất cả tác phẩm củaNietzsche chỉ là lời tự thuật của một tâm hồn chân thành và đam mê, có
tư chất họa hiếm” [12, tr.116] Triết học Nietzsche là con đẻ của thời đạichuyển tiếp giữa thế kỷ cũ và mới, là sự phản ánh vượt lên trước đối với
sự khủng hoảng lớn toàn diện của thế kỷ mới sắp đến
Trần Thái Đỉnh cũng đánh giá rằng tư chất của Nietzsche thật là họahiếm Nietzsche đã nhằm một cuộc cách mạng tinh thần như chưa từngthấy: ông nhằm đổi lại cái bảng giá trị luân lý và xã hội; những gì người tavẫn tôn trọng từ trước đến nay sẽ bị ông thóa mạ và lên án; ông sẽ đặt lại
và tạo ra những nhận định hoàn toàn mới về thiện và ác Cho nên triết họccủa ông có thể mệnh danh là “Đảo lại tất cả các giá trị” Thay vào nhữnggiá trị tư tưởng hoàn toàn duy niệm của truyền thống Socrates, Nietzsche
đã đề cao những giá trị của hiện sinh; và thay vào những giá trị “yếm thế”của các tôn giáo, Nietzsche đã nêu lên lý tưởng và ý chí hùng cường
Cuộc cách mạng Nietzsche vô cùng dũng cảm và ghê sợ, nhưngkhông phải tự nhiên mà có Nó đã được chuẩn bị khá lâu, qua không khígia đình và qua các triết gia mà ông đã say mê tìm hiểu, nhập tâm
Với tuyên ngôn: Cần có những giá trị mới, Nietzsche bắt đầu bằngcách công kích dữ dội vào sự ràng buộc với những đức hạnh và giá trịhiện có Chúng có nguồn gốc chủ yếu từ Hy Lạp cổ cùng với truyền thống
Do Thái-Cơ Đốc, ông nói, có nghĩa là chúng bắt nguồn từ các xã hội kháchoàn toàn với bất cứ xã hội nào của ngày hôm nay, và từ những tôn giáo
mà đa số nếu không muốn nói là hầu hết chúng ta đều không tin Đây làmột tình trạng khó có thể bào chữa, Nietzsche tuyên bố rằng: Chúng takhông thể đặt cuộc sống của chúng ta trên những hệ thống giá trị mà nềntảng của chúng không được công nhận Nó làm cho cuộc sống của chúng
ta thành hư giả Chúng ta phải hoặc tìm nền tảng mà chúng ta thực sự đặtniềm tin vào đó để hậu thuẫn cho những giá trị; hoặc nếu không chúng ta
Trang 19nên từ bỏ những giá trị này và tìm những giá trị khác mà chúng ta thậtlòng tán thành Và: “Nghệ thuật chỉ ngẩng cao đầu khi nào Tôn giáo giảmbớt ảnh hưởng” [23, tr.221].
Theo Nietzsche, mỗi người trong chúng ta phải tự mình trở nên toàn
mãn, nói vâng với cuộc sống, sống tận lực cho thỏa chí của mình Một
trong những từ ông thường dùng nhất là “dám”; và có lẽ điều răn đầu tiêncủa ông là: “Hãy dám trở nên chính mình” [23, tr.255]
Có rất nhiều tác phẩm ra đời, ngay cả khi Nietzsche rơi vào tìnhtrạng vô cùng đau đớn, mệt mỏi, khổ tâm, ông vẫn không ngừng sáng tác
Nguồn gốc của bi kịch, có tên gọi đầy đủ là “Bi thảm sinh ra từ
tinh thần âm nhạc”, viết từ năm 1870 – 1871, năm 1872 xuất bản đầu tiên,sau hai năm có sửa chữa một số phần và xuất bản lần thứ hai Lần xuấtbản năm 1886, Nietzsche viết lại bài tựa mới là “Thưởng thức sự tự phêphán” Đây là tác phẩm quan trọng thể hiện Nietzsche ngày càng chínmuồi, dùng nhãn quan hoàn toàn mới nghiên cứu bi kịch của Hy Lạp, tìmtòi ý nghĩa cuộc sống, là điểm xuất phát và là cơ sở của toàn bộ tư tưởngcủa ông sau này
Tác phẩm mượn nghệ thuật để bàn về đời người, mượn bi kịch HyLạp nói về bi kịch đời người, lần đầu tiên, Nietzsche diễn đạt khá hoànthiện quan điểm mỹ học – triết học – đời người Hai thần Mặt trời và thầnRượu đều bắt nguồn từ bản năng của con người, cái trước là sự xung độngcon người cá thể mượn ảo giác ngoại quan tự tôi khẳng định; cái sau là sựxung động con người cá thể tự mình phủ định và trở về bản chất thế giới.Nietzsche lấy thần Mặt trời và thần Rượu làm khái niệm cơ bản nhất, trìnhbày những vấn đề như cội nguồn, tinh thần âm nhạc, trực giác nghệ thuật,thời cơ chuyển biến văn hóa Socrates của bi kịch Hy Lạp
Thần Mặt trời Apollo là thần Thái dương trong truyền thuyết thầnthoại Hy Lạp, còn gọi là “thần sáng suốt”, ánh sáng của nó làm cho phầnngoại quan của vạn vật đẹp đẽ Theo Nietzsche, thần Mặt trời tượng trưngcủa ngoại quan đẹp, còn ngoại quan của cái đẹp về bản chất là một loại ảotưởng của con người Trong đời sống hàng ngày, giấc mộng là trạng tháicủa thần Mặt trời Trong nghệ thuật, nghệ thuật tạo hình là nghệ thuật thầnMặt trời điển hình
Thần Rượu Dionysus là thần hoan lạc trong truyền thuyết thần thoại
Hy Lạp Nietzsche cho rằng trạng thái thần Rượu tượng trưng cho phóng
Trang 20túng, là trạng thái điên cuồng của niềm đam mê và nỗi đau khổ xoắn xítvới nhau Trong đời sống hằng ngày, say là trạng thái của thần Rượu.Trong nghệ thuật, âm nhạc là nghệ thuật của thần Rượu, bi kịch và thơ trữtình tuy dựa vào hình thức của thần Mặt trời, nhưng về bản chất cũng lànghệ thuật thần Rượu.
Trong tác phẩm này, Nietzsche đã dùng thần Mặt trời và thần Rượu
để thuyết minh cội nguồn lịch sử của nghệ thuật, và có ý đồ tìm bản chất
ẩn giấu đằng sau thần Mặt trời và thần Rượu Ở đây, Nietzsche đã mượnnghệ thuật để nói về quan điểm triết học của mình, đó là sự trình bàynhững ý kiến độc đáo về linh hồn, bản thể… Tinh thần Mặt trời dạy tacách giữ vững sự sống cá thể, lưu giữ ảo mộng, quên đi đau buồn – nhânsinh quan thẩm mỹ Tinh thần của thần Rượu dạy người siêu thoát cá thể,nhìn thẳng vào khổ đau của cuộc sống, từ đau khổ thu nhận được sự saysưa có tính bi kịch – nhân sinh quan bi kịch Nội dung tác phẩm rất phongphú, vừa mang tính kế thừa có sáng tạo của các bậc thầy đi trước, vừađánh dấu một bước khi Nietzsche bắt đầu trở thành nhà triết học độc lập
Nhân tính, nhân tính thái quá (1876 – 1879), viết vào năm 1876,
xuất bản năm 1878 Năm 1886 tái bản, in chung các tác phẩm “Những ýkiến châm ngôn lộn xộn”, “Người lữ hành và cái bóng của họ” viết năm
1879, in thành tập thứ hai của “Nhân tính, nhân tính thái quá” Tác phẩmnói rằng trên thế giới không tồn tại giá trị tuyệt đối, không có tiêu chuẩnchân lí và lời răn của thánh siêu nhiên Giữa bản tính của siêu nhân không
có sự đối lập tuyệt đối Thiện và ác đều được tồn tại sau khi loài người xuấthiện, chúng được phát triển trong quan hệ đối lập lẫn nhau và dựa vào nhau
để tồn tại, chỉ có thực hiện ràng buộc về đạo đức, con người mới có thểthoát khỏi gian ác và tàn nhẫn
Rạng đông (1880 – 1881), gồm 5 phần, có tính khẳng định sâu sắc
và trong sáng Nội dung chống lại các giáo lý tội ác của Kytô giáo Kytôgiáo cho rằng tình dục là cái gian ác và sa đọa, nên tín đồ cần cảm thấyxấu hổ và tự trách mình trước sự kích động về tình dục Theo Nietzsche,
vì giáo hội cấm đoán nên ma quỷ càng được con người thấy thích thú hơn
là sứ trời và thánh nhân, câu chuyện về tình yêu cũng được các tầng lớp
ưa thích Giáo hội còn cho rằng sự hoài nghi là tội lỗi, những cái giáo hộicần là sự tê dại và tinh thần hoảng hốt, đòi hỏi ca tụng hết lời đối với nước
tù trong đầm ao đã vùi ngập lý trí
Trang 21Tri thức vui vẻ (1881 – 1882, phần thứ 5 viết năm 1886) Trong
tập sách này, Nietzsche so sánh ông với phái chủ nghĩa lãng mạn, pháiEpicure, và tín đồ Kytô giáo Cho rằng bản thân ông là nhân vật loại hình
bi kịch kiểu Dionysus Nietzsche nêu ra nhiều loại học giả như luật sư,mục sư và học giả Do thái, phê phán các học giả này không suy nghĩ giảiquyết vấn đề một cách sáng tạo, chỉ mong dùng các phương thức của mình
để chứng minh mình làm những công việc chính đáng hữu ích
Phía bên kia của cái thiện và cái ác (1885 – 1886) Cuốn sách phê
phán cái hiện đại: khoa học hiện đại, nghệ thuật hiện đại, chính trị hiệnđại Nietzsche nêu ra cái tương phản của người hiện đại, thay đổi quanniệm thiện ác của con người: cái mà mình không thích thì đừng làm chongười khác Đồng thời ông nêu ra hai loại đạo đức chủ yếu là đạo đức tựchủ và đạo đức nô lệ…Cuốn sách được giới học thuật khen ngợi, cho rằngNietzsche đã vạch ra một con đường mới cho nhân loại
Hoàng hôn của ngẫu tượng (1888) chỉ chân lý đã đến lúc chấm dứt Sách chưa đến 150 trang, viết chỉ trong vài ngày Nietzsche dùng
giọng châm biếm nói rằng quyền lợi làm cho người ta mê muội, nước Đứcđược xem là dân tộc của những nhà tư tưởng, người Đức ngày nay đãkhông còn thói quen nghiêm túc đối với mọi sự vật chân chính…
Chống tín đồ Kytô (1888) Nietzsche công kích toàn diện văn hóa
Kytô giáo: đạo đức, tín ngưỡng giả tạo, nhân sinh quan suy đồi, thế giớiquan trốn tránh thế giới Nietzsche tuyên bố “Chúa đã chết”, phủ địnhquan điểm giá trị của Kytô giáo đã làm lung lay tư tưởng tín ngưỡng củangười phương Tây
Hãy xem, con người ấy (1888) là tự truyện Nietzsche chỉ ra sau
chiến tranh Phổ - Pháp, không khí chính trị và không khí văn hóa củanước Đức làm cho người ta có cảm giác ngạt thở Ông chống lại chủ nghĩachủng tộc chống Do thái, đã kích chủ nghĩa quốc xã nước Đức, lên án cáigọi là “quốc hồn nước Đức”, là một u hồn ăn thịt người Nietzsche bấtmãn với chính trị cường quyền của Bismarck, cho rằng dân tộc này có thể
bị văn minh đem lại tai họa to lớn
Ý chí quyền lực, sách do Elisabeth, em gái ông căn cứ vào đề
cương và di cảo của ông để biên tập và xuất bản năm 1901 Nội dung chủđạo trình bày bốn vấn đề ý chí quyền lực đối với nhận thức khoa học, ýchí quyền lực trong giới tự nhiên, ý chí quyền lực của xã hội và cá nhân, ý
Trang 22chí quyền lực của nghệ thuật… Trong quá trình biên tập, Elisabeth đã đưa
ý đồ của mình vào, nên sách có nhiều quan điểm cần tranh luận
Zarathoustra đã nói như thế, là tác phẩm thể hiện đầy đủ nhất
nhân cách và tư tưởng của Nietzsche, đỉnh cao khả năng sáng tác và là tácphẩm tiêu biểu của tư tưởng chín muồi của ông Đây là một tập thơ triết lý
có tính tượng trưng, thể hiện tập trung phong cách đặc biệt độc đáo củatác phẩm Nietzsche Ông quan niệm rằng triết học là sự theo đuổi cái vôhạn và vĩnh hằng, nên cách diễn đạt tư tưởng triết học không thể khôngdùng thủ pháp tượng trưng Tác giả mượn một nhân vật lý tưởngZarathoustra để biểu lộ tình cảm và tuyên truyền tư tưởng của mình
“Zarathoustra đã nói như thế” thể hiện một loại hình thức nghệ thuật mớivới phong cách hùng vĩ, tình cảm mạnh mẽ, độc đáo
Đây là tuyệt tác của Nietzsche, nó như là một tác phẩm đứng mộtmình một cõi, có lẽ chưa từng có cái gì được sáng tạo từ một mãnh lựctràn trề đến thế Đó là tất cả sự hăng hái và tài hoa của một tâm hồn lớn tụ
lại, sáng tạo nên những bài giảng của Zarathustra Zarathoustra đã nói
như thế là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của thế kỷ XIX
Mỗi tác phẩm có một cái tên khác nhau, những nội dung khác nhau
và những đề cập không giống nhau, nhưng tất cả đều xoay quanh vấn đềcon người: bi kịch của đời người, thiện và ác, khát vọng tình yêu, sự hoàinghi, sự ngay thẳng, tâm lý tín ngưỡng, quyền làm người, sự bất bình củacon người với nỗi trăn trở về cuộc sống và số phận của con người trong
xã hội hiện tại đang nhiễu loạn Những tác phẩm của Nietzsche đã khẳngđịnh sức mạnh và giá trị đáng phục của một con người đặc biệt, một conngười mà cuộc đời sớm chìm trong đau thương, mất mát, lại thường xuyên
tự đấu tranh với bệnh tật Nietzsche đã có lúc gần như gục ngã, nhưng ông
đã dũng cảm đứng lên, gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh thời đại, làm mộtbước nhảy, rẽ sang một con đường mới Đến nay, những giá trị màNietzsche để lại không ngừng được giới học thuật nghiên cứu, tìm hiểu
1.3 Tiền đề tư tưởng
1.3.1 Sụp đổ niềm tin và khi “Thượng đế đã chết”
Tôn giáo là một hiện tượng đã tồn tại lâu đời trong xã hội loàingười Trong lịch sử, rõ nhất là trong lịch sử phương Tây, đã từng có thời
kỳ thần quyền Tôn giáo thống ngự toàn bộ đời sống xã hội, chi phối cuộcsống con người không chỉ phần hồn mà cả phần xác, không chỉ bên đạo
Trang 23mà cả bên đời Lịch sử cũng đã từng biết đến những vụ đụng độ Tôn giáoquyết liệt, những cuộc chiến tranh Tôn giáo đẫm máu Không chỉ trongthời Trung kỷ với những cuộc Thập tử chinh kéo dài, dai dẳng hàng trămnăm, mà những người Kytô giáo tiến hành nhằm giành lại Thánh địaJerusalem trong tay người Islam giáo Cả trong thời hiện đại với sự bứchại của chủ nghĩa Nadi đối với người Do Thái hồi Thế chiến II, trong cáctrại tập trung cưỡng bức, dưới 6 triệu người chết trong vòng 5 năm (1940– 1945) Đằng sau sự phân biệt chủng tộc, là thiên kiến điên cuồng của tín
đồ Kytô giáo với tín đồ Do Thái giáo Marx khẳng định rằng chính conngười làm ra Tôn giáo chứ Tôn giáo không làm nên con người Nói cáchkhác, Tôn giáo là sự tự ý thức và tự cảm giác của con người vốn chưa tìmthấy bản thân mình, hoặc đã tự đánh mất mình một lần nữa Tôn giáo làtiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của một thế giới vô tình,cũng giống như nó là linh hồn của một mảnh đất vô hồn, là thuốc phiệncủa nhân dân
Người phương Tây, từ em bé hai, ba tuổi đã tin tưởng rằng Kytôgiáo là trụ cột tinh thần và là nơi nương tựa cuộc sống Khi các giá trịKytô giáo tan rã thì mọi giá trị truyền thống bị đảo lộn khủng khiếp.Nietzsche cho rằng, bộ mặt tinh thần của một thời đại là do quan niệm đạođức quyết định, nên Kytô giáo trở thành cái đối địch lớn nhất của ông
Kytô giáo coi dục vọng của bản tính con người là tội ác, khiến conngười tự nội tâm cảm thấy tội lỗi đối với dục vọng của bản năng, cuộcsống trở nên khô héo cạn kiệt Kytô giáo tuyên truyền về thông cảm, rộnglượng, từ bi, làm cho con người trở nên nhu nhược, tan rã ý chí Kytô giáochính là liều thuốc làm tan rã sức sống Kytô giáo tuyên truyền cần mẫn,nhẫn nại, dạy người “khi có người tát vào má trái, hãy xoay má phải cho
họ tát nốt”, Nietzsche phê phán loại đạo đức Kytô giáo này vì gần nhưbiến con người thành con vật, không có sức mạnh, không có cá tính, tầmthường phó mặc số phận, không biết cách tự bảo vệ mình Loại đạo đứcnày càng được tuyên truyền, con người sống càng trì trệ, đi xuống Đạođức Kytô giáo cổ vũ việc an tâm với hiện trạng, nghe theo số mệnh, khôngcầu tiến Từ đó tạo nên những con người sống yên phận, thiển cận, tùtúng, dần dần thoái hóa
Nietzsche căm thù các tôn giáo, nhất là Do Thái giáo, Kytô giáo vàPhật giáo Ông nghĩ rằng Tôn giáo là sản phẩm của những kẻ bệnh tật, hènyếu, những kẻ này không thể hưởng được những giá trị đích thực của đời
Trang 24này, nên mới tạo ra những giá trị của đời sau Giọng của Nietzsche thực
sự khó chịu: “Đau khổ và bất lực: đó là căn nguyên đã sinh ra những “đờisau” Đó là hạnh phúc của con người đau khổ quá” [23, tr.212] Sự mệtnhọc muốn nhảy một cái đến tận cùng: chính sự mệt nhọc này đã tạo nêncác thần linh và các thiên đàng đời sau Nietzsche cho rằng các nền luân lý
cổ truyền không nhắm những giá trị hiện sinh, nghĩa là không nhằm pháttriển những đức tính của con người tại thế, mà chỉ nhằm phát triển nhữngđức tính có mục đích chê chối và ghét bỏ cuộc hiện sinh Các Tôn giáocũng như nền luân lý cổ truyền mắc vào tội “yếm thế”, không biết chânnhận những giá trị cuộc sống hiện nay, tức cuộc sống tại thế Đối vớinhững người “yếm thế” đó, Nietzsche bảo rằng thà họ đừng sống nữa, vìsống để chờ chết như thế là sống thừa
“Nếu thần sáng tạo ra tất cả, thế thì tại sao loài người không biếnthành những con vật đớn hèn chỉ dựa vào bố thí, giống như những ngườitruyền giáo suốt ngày chỉ quỳ lạy cầu xin vô tích sự Chúng ta đã là ngườithì cần phải sống ra dáng con người, hãy đứng lên rời bỏ hạnh phúc nôlệ!” [2, tr.101] Như vậy, “Chúa đã chết”, đạo đức cũ rích đã bị cuốn đi
Và cái thay thế nó là “đạo đức của người kiên cường” mới, một loại đạođức chống lại sự nhu nhược truyền thống cua Kytô giáo Nietzsche mượn
lời của Zarathoustra trong tác phẩm Zarathoustra đã nói như thế để vạch
trần những “con người hiện đại” chịu ảnh hưởng của văn hóa trụy lạc vàdùng ngòi bút sắc bén tuyên chiến đối với những giá trị văn hóa “đồi trụy”này Ông vừa chống lại Kytô giáo vừa chống lại đạo đức trần thế, để dựngnên quan niệm giá trị mới, dùng siêu nhân sáng tạo thay thế Chúa ảotưởng
Dưới con mắt của Nietzsche, tội ác của Kytô giáo là chồng chất, nóiđến bao lâu cũng không diễn tả hết được Đạo đức bị suy đồi đã len lỏivào trong mọi giá trị của loài người, được con người coi đó là giá trị nhânsinh và là giá trị văn hóa cao nhất Vì nhận thấy những sâu mọt càng ănsâu càng mục rỉ nên Nietzsche muốn châm ngòi nổ, đánh thức cơn u mêcủa con người, ông hét vang: “Chúa đã chết! Nhà thờ hàng ngày các người
đi đến là mồ chôn của Chúa!” [2, tr.109]
Nietzsche miêu tả nguyên nhân Chúa chết rằng: khi Chúa còn trẻ,vất vả cực khổ nhưng ham báo thù, về sau ngày càng già, ôn hòa và từ bi,cuối cùng có một ngày, cuối cùng vì Chúa có quá nhiều thông cảm,không chịu đựng nổi khi nhìn thấy sự đau khổ của nhân gian nên bị chết
Trang 25ngạt Tức là Chúa cũng có địa ngục của Chúa, Chúa chết vì sự thông cảmđối với con người, chứng tỏ sự thương yêu của Chúa đối với con người.Chúa đã thấy con người bị đóng đinh vào cái giá chữ thập như thế nào.Tình yêu của Chúa đối với con người trở thành địa ngục của Chúa.Nietzsche muốn ám chỉ Do thái giáo và Kytô giáo là Tôn giáo phảnkháng đã biến thành Tôn giáo thương hại, cuối cùng chết trong nhunhược Chúa đã chết chỉ rõ sự tín ngưỡng siêu nhiên đã biến mất tronglòng người, ảo tưởng về một thế giới khác tan biến Con người không thểchờ đợi và cậy nhờ vào ảo ảnh của thế lực bên ngoài, phải tự con ngườiđứng lên bằng chính năng lực của mình, trách nhiệm và sự chọn lựa củabản thân Vì thế, khi không còn Chúa nữa thì mọi giá trị đều do conngười dựng nên, con người tự đánh giá và tìm tòi ý nghĩa cuộc sống chochính mình Nietzsche nói: “Chúng ta cần phải thoát khỏi đạo đức để cóthể sống một cách đạo đức, chúng ta cần phải vứt bỏ đạo đức để quántriệt ý chí đạo đức của chúng ta” [2, tr.111].
Khi thế giới không có Chúa, giá trị lật ngược lại sau khi phủ địnhmọi đạo đức Trước đây, con người tôn Chúa là đấng sáng tạo duy nhất,coi mình là “vật” được sáng tạo, khiến mọi đạo đức đều bị đảo ngược
“Đánh giá lại mọi giá trị” tức là đánh giá lật ngược trở lại mọi giá trị đã
bị lật ngược, phủ định tất cả những cái đã được khẳng định, khẳng địnhmọi cái đã bị phủ định Trái đất, thể xác và sức sống là cuộc sống hiệnthực, giá trị của cuộc sống chính là cuộc sống hiện thực Như Voltaire đãtừng cảnh báo: “Sự mê tín đẩy toàn bộ thế gian này vào lửa; triết học dậptắt những đám cháy đó” [23, tr.294]
1.3.2 Tư tưởng nhân sinh cổ đại Hy Lạp – một ngọn nguồn của quanniệm về con người trong triết học Friedrich Nietzsche
Khi nước Đức nói riêng, châu Âu nói chung đang lún sâu vào cuộckhủng hoảng hoảng tín ngưỡng, khủng hoảng niềm tin, và những quanniệm truyền thống đang dần bị tan rã, thì nhu cầu về một cuộc cách mạngtinh thần là vô cùng cấp bách Xét về mặt lịch sử, Hy Lạp cổ đại là mộttrong ba trung tâm văn hóa lớn của thế giới cổ đại, đã tạo dựng đượcnhững giá trị quan trọng cho sự phát triển của nhân loại: “Không có nghệthuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ nô lệ, thì không có đế chế La
Mã, mà không có các cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và đế chế La Mã thìkhông có châu Âu hiện đại” [25, tr.245] Nhiều nhà tư tưởng của thế kỷXIX, trong đó có Nietzsche đã truy tìm về một thời kỳ hoàng kim trong
Trang 26quá khứ với hy vọng giải quyết được những bế tắc của hiện tại Điều màNietzsche muốn đưa ra ánh sáng đó là lòng can đảm, men say và ý chívượt qua khổ đau để vươn lên của người Hy Lạp cổ đại.
Nietzsche chủ tâm xây dựng một nền văn hóa đích thực, ông tìmđược khuôn mẫu cho nền văn hóa đó trong văn minh cổ Hy Lạp Ông đặtđối nghịch lý tưởng này với những yếu hèn của xã hội Đức hiện đại,Nietzsche ca tụng sự vĩ đại và diệu kỳ của Hy Lạp cổ xưa, coi chủng tộc
Hy Lạp là chủng tộc tốt đẹp nhất, lôi cuốn nhất và được nhiều người thèmmuốn nhất Cuộc sống và con người Hy Lạp cổ là khơi nguồn cảm hứngcho Nietzsche tìm ra ý nghĩa nhân sinh – chủ đề then chốt trong hệ thốngtriết học của ông
Nietzsche phân tích cội nguồn và thực chất của bi kịch Hy Lạp, từtruyền thống cổ xưa nhất của người Hy Lạp đã tự chế ngự nỗi bi quan củamình bằng nghệ thuật và bằng ảo ảnh Ông lấy Thần mặt trời – Apollo vàThần rượu – Dionysus là nhân vật trong thần thoại Hy Lạp làm khái niệm
cơ bản nhất trong triết học của mình, về sau trở thành phạm trù then chốtcủa triết học nhân sinh
Bi kịch Hy Lạp ra đời từ sự đối kháng và điều hòa giữa Thần Mặttrời và Thần Rượu Thần Mặt trời Apollo là Thần Thái dương trong truyềnthuyết thần thoại Hy Lạp, còn gọi là “Thần sáng suốt”, ánh sáng của nólàm cho phần ngoại quan của vạn vật đẹp đẽ Nietzsche cho rằng ThầnMặt trời tượng trưng của ngoại quan đẹp, còn ngoại quan của cái đẹp vềbản chất là một loại ảo tưởng của con người Trong đời sống hàng ngày,giấc mộng là trạng thái của Thần Mặt trời Trong nghệ thuật, nghệ thuậttạo hình là nghệ thuật Thần mặt trời điển hình Thần Rượu Dionysus làThần hoan lạc trong truyền thuyết thần thoại Hy Lạp Theo Nietzsche,trạng thái Thần Rượu tượng trưng cho phóng túng, là trạng thái điêncuồng của niềm vui đam mê đan xen với nỗi khổ đau Trong đời sốnghàng ngày, say là trạng thái của Thần Rượu Trong nghệ thuật, âm nhạc lànghệ thuật của Thần Rượu, bi kịch và thơ trữ tình tuy dựa vào hình thứccủa Thần Mặt trời nhưng về bản chất cũng là nghệ thuật Thần Rượu
Thần Mặt trời và Thần Rượu đều bắt nguồn từ bản năng của conngười: một mặt là sự xung động con người cá thể mượn cảm giác ngoạiquan tự tôi khẳng định, một mặt là sự xung động con người cá thể tự mìnhphủ định và trở về với bản thể thế giới Sự đối kháng và điều hòa làm nên
bi kịch Hy Lạp, thể hiện: Cái đẹp trong thế giới “mộng” của trạng thái
Trang 27Thần Mặt trời là tiền đề của mọi nghệ thuật tạo hình, người sáng tạo ra thếgiới này là những nhà nghệ thuật toàn năng, “mộng” phát huy trí tưởngtượng trong thơ ca, sinh ra điêu khắc và nặn tượng Hy Lạp, sử thi Homer.
“Say” làm cho chủ quan tan biến trong cái tôi lãng quên, gặp Thần Rượungười ta quên hết, người ta say sưa, thoát khỏi sự thống trị của ý thứcthường nhật Lúc ấy, mọi buồn khổ, bi thảm của đời người cũng bị lãngquên, mọi mâu thuẫn tan biến, cuộc sống trở nên tươi đẹp, múa và âmnhạc Hy Lạp sinh ra từ đó Âm nhạc là ngôn ngữ trực tiếp của ý chí, là thứdiễn đạt tình cảm dễ dàng nhất, dễ làm rung động tâm hồn…Từ Thần Mặttrời và Thần Rượu, Nietzsche thuyết minh cội nguồn lịch sử của nghệthuật, tìm cái ẩn dấu đằng sau đó, đây là cách mượn nghệ thuật để trìnhbày triết học của mình Ông chu du trong thánh địa cổ Hy Lạp, phát hiện
ra con người Hy Lạp khỏe, đẹp, kiên cường, hoan lạc…cho rằng họ giàubản năng sống và từng đau khổ nặng nề, họ sẽ hiểu sâu sắc hơn bi kịchcủa cuộc sống Apollo và Dionysus là vị cứu tinh cho nhu cầu tự vệ, hoanlạc, thích thú với cái đẹp và nghệ thuật của họ
Thần Mặt trời và Thần Rượu có mối quan hệ vừa đối lập vừa bổsung cho nhau, “đại diện sinh động cho hai hoàn cảnh nghệ thuật mà bảnchất nội tại và mục đích tối cao của nó đều không giống nhau” [dẫn theo:
2, tr.60] Thần Mặt trời khoác lên vạn vật vẻ hào quang lộng lẫy bênngoài, nhưng cái đẹp bên ngoài chỉ là cái đẹp mộng ảo Còn Thần Rượu là
sự bộc lộ lớn của cái xấu và sự không hài hòa trong nhân tính, là sống vớimen say cuồng nhiệt quên mất cái tôi, trong say người ta sống thật, không
bị guồng ép bởi những lề lối tục quy… Dionysus tiếp sức cho người HyLạp cổ, là hiện thân của những gì mang tính người nhất trong văn hóa củangười Hy Lạp Thế giới của Dionysus là một thế giới cuồng say, là thếgiới sâu kín mà tính người được biểu hiện đầy đủ, là thế giới đời sống conngười thụ cảm mãnh liệt nhất, ở đó đời sống con người và đời sống thếgiới hòa hợp làm một Đó là thế giới phi lý tính Theo Nietzsche, một triếthọc xứng danh là triết học phải có đủ cả hai chất Apollo và Dionysus, sinhhoạt đậm đà và nhận định đích xác, trong hai tính chất đó, chất Dionysusphải giữ vai trò uyên nguyên và trọng yếu Nietzsche nhiều lần nhấn mạnhrằng, triết học chân chính là triết học phi lý tính, là triết học của Dionysus.Vậy nên, Thần Rượu chính là linh hồn của triết học Nietzsche
Nietzsche cho rằng cuộc sống giống như một tấm thảm, sợi dây đaukhổ và sợi dây hoan lạc đan xen vào nhau, thiếu bất kì một sợi dây nào
Trang 28đều có thể làm cho tấm thảm không hoàn hảo, thậm chí bị hỏng Đau khổkhơi dậy sức sống của con người, mài dũa ý chí của con người, làm chocon người cảm thấy cuộc sống vui vẻ hơn, giá trị hơn Hạnh phúc của conngười nảy sinh từ sức mạnh vượt qua khổ đau, chiến thắng khổ đau Tinhthần Mặt trời dạy người ta giữ vững sự sống cá thể, lưu giữ lấy ảo mộng,quên khổ đau của cuộc sống Tinh thần của Thần Rượu dạy người siêuthoát sự sống cá thể, nhìn thẳng vào đau khổ, từ đau khổ thu nhận được sựsay sưa có tính bi kịch.
Ý nghĩa nhân sinh là ở đây, điều mà triết học cần hướng tới là đây
Từ việc nghiên cứu bi kịch trong cuộc sống của người Hy Lạp cổ,Nietzsche tìm tòi ý nghĩa cuộc sống, đồng thời lấy đó làm điểm xuất phát
và làm cơ sở cho toàn bộ tư tưởng của ông sau này
1.3.3 Triết học Schopenhauer – sự khích lệ quan niệm con người theo
ý chí
Ham mê nghiên cứu tìm tòi, đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, làcon người có cá tính, luôn tư duy độc lập sáng tạo, Nietzsche tự chọn chomình một hướng đi riêng Cùng với việc học tập, kế thừa những tư tưởngtiền bối gần như làm thay đổi con người ông, làm cho ông tiến lên nhữngbậc thang mới, góp vào kho tàng tri thức nhân loại một vàng son của thếkỷ
Nietzsche đề cập đến những tâm hồn lớn nhất đã tác động trongsuốt cuộc đời ông: “Khi nói đến Platon, đến Passcal, đến Goethe, tôi nghenhư máu họ chảy trong mạch mình” [4, tr.23]
Trong quãng đầu của cuộc đời, phần lớn bậc thầy của ông đều là
người Đức Nietzsche đọc đi đọc lại các tác phẩm thi ca của Goethe, ông
thích cái táo bạo, cái khuynh hướng vượt quá quốc gia và thế kỷ, cái cảmkhái đưa đến một “nền nhân bản toàn diện” Nietzsche say mê Goethe vàcoi ông là người đã thấu hiểu những giá trị đích thực của cuộc sống, Goethe
là lý tưởng con người sống, con người có thể vươn lên tới hiện sinh, làngười cho rằng chỉ cuộc sống là có giá trị đích thực Charles Andler viết:
“Chỗ đứng tăng trưởng mà ông dành cho Geothe trong việc đánh giá là mộttrong những dấu vết của chủ nghĩa bảo thủ thông minh của Nietzsche trong
việc lật đổ các giá trị” [4, tr.24] Còn ở Schiller – người thể hiện chủ nghĩa
anh hùng và chấp nhận định mệnh; cuốn “Kẻ cướp” của Schiller ngay từthời niên thiếu đã gợi cho Nietzsche ý thích một siêu nhân Nietzsche cũng
Trang 29đọc rất sớm triết lý của Fichte, khen gợi siêu hình học của Fichte nhưng chê
bai tính dối trá và bợ đỡ Tổ Quốc của ông này Nietzsche thích nhưng câuthơ hay, những dự tính lớn lao trong các bài thơ mênh mông của
Hoelderlin, con của một vị mục sư không tín ngưỡng giống ông, cũng là
nhà thơ, nhà tư tưởng, bị điên rồi chết cùng cảnh Trong những người ở
nước ngoài, nhà luân lý Mĩ Emerson – vị tông đồ của năng lực, là người
làm cho Nietzsche ngưỡng mộ hơn cả Những người cùng thời, người ảnh
hưởng lớn đến Nietzsche là Jacob Burckhardt; là một người bạn, người
đồng nghiệp lớn hơn ông 20 tuổi; cùng với Burckhardt, ông tác luyện mộtgiải thích mới về văn minh Hy Lạp và tất cả các nền văn minh
Trong số những nhân vật đã ảnh hưởng sâu xa vào đời suy tưởngcủa Nietzsche, chúng ta còn phải kể Wagner với những điệu nhạc vừa huy
hoàng vừa mê ly, Hoelderlin với những “cảnh vật hiên ngang, trẻ trung,
siêu thực, đầy huyền nhiệm và cám dỗ” Rồi còn phải kể những tác giảPháp mà Nietzsche đã ham đọc và đã hướng ông về con đường triết họccon người: Rousseau, Pascal, Chamfort, Montaigne, Stendhal Tuy nhiên,trước và sau, ông thầy đã thực sự hướng dẫn tư tưởng của Nietzsche vẫn
là Schopenhauer
Arthur Schopenhauer (1788 – 1860) là nhà triết học duy tâm Đứcnửa đầu thế kỷ XIX Ông sinh ra ở Gdansk (Ba Lan ngày nay) trong mộtgia đình khá giả, cha là nhà ngân hàng giàu có, mẹ là nhà viết tiểu thuyếtnổi tiếng Lúc đầu Schopenhauer làm ngành thương nghiệp, sau đó bỏnghề buôn thi vào đại học, đỗ tiến sĩ triết học tại Đại học Jena Từ bé cótính tình lãnh đạm, ngạo mạn, vui buồn thất thường, có vẻ như mắc bệnh
thần kinh Tác phẩm triết học chủ yếu: Thế giới với tính cách là ý chí và
biểu tượng (1818), Bàn về ý chí tự nhiên (1836), Hai vấn đề căn bản của luân lý học (1841) Ông rất tự tin và đánh giá cao triết học của mình.
Trước cách mạng 1848 thất bại, ảnh hưởng của triết họcSchopenhauer rất hạn chế Lúc bấy giờ, giai cấp tư sản Đức đang hướng
về cách mạng, còn giữ niềm tin với lý tính và tiến bộ Khi điều kiện thayđổi, những năm 40 của thế kỷ XIX, cách mạng Đức thất bại, giai cấp tưsản Đức nản lòng, triết học Schopenhauer được hoan nghênh, tôn ông là
“triết gia vĩ đại”, thuyết ý chí đời sống của Schopenhauer giữ vị trí chủyếu nhất trong hệ thống chủ nghĩa chiết trung Triết học Schopenhauerchịu ảnh hưởng nhiều nhất triết học Kant, Platon và Phật giáo
Trang 30Nietzsche nói rằng chính vì đọc Schopenhauer mà ông trở thành triếtgia Những nguyên do gây nên phạm vi ảnh hưởng khác thường củaSchopenhauer là rất nhiều và phức tạp, nhưng có lẽ quan trọng nhất ởSchopenhauer là có sự phối hợp giữa chiều sâu vô song của trực giác chiếuvào thân phận con người với một bút pháp văn học xuất sắc.
Trong trường đại học, lúc đang đau khổ, thất vọng u uất, Nietzschephát hiện ra tri âm của tâm hồn – Shopenhauer Một ngày cuối tháng 8năm 1865, Nietzsche tình cờ phát hiện tại hiệu sách cũ tác phẩm “Thế giớicủa ý chí và biểu tượng” của Shopenhauer xuất bản năm 1818, ông vộimua và về nhà ngồi nghiền ngẫm ngay Nietzsche nói: “Mỗi hàng chữtrong sách đều phát ra những âm thanh siêu thoát, phủ định và siêu nhiên,tôi nhìn thấy tấm gương rất sâu sắc phản ánh cả thế giới, phản ánh đờisống và nội tâm của tôi Quyển sách của thiên tài có sức mạnh nhưng nặngtrĩu ấy bắt đầu choáng cả lòng tôi” [2, tr.31] Nietzsche cảm thấy nhưShopenhauer đặc biệt viết riêng cuốn sách ấy cho mình Ông đọc sáchquên ăn quên ngủ, tâm trí như nhập vào cuốn sách, vào thần tượng
Với Shopenhauer, thế giới xung quanh chỉ được coi là thế giới biểutượng tồn tại Đó là chân lý phổ biến, tuyệt đối Shopenhauer quy kết toàn
bộ thế giới được kinh nghiệm và nhận thức của con người biết đến chỉ là
“thế giới hiện tượng” tồn tại tương ứng với chủ thể, bản thân nó không cóbất kỳ ý nghĩa thực tại nào Xuất phát từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩahiện tượng cực đoan, Shopenhauer đã công kích mọi quan điểm khẳngđịnh đối tượng khách quan tồn tại ngoài ý thức con người Lý luận này cơbản là kế thừa chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa hiện tượng của Kant
Shopenhauer dùng chủ nghĩa duy ý chí để uốn nắn và bổ sung chủnghĩa chủ quan và chủ nghĩa hiện tượng của Kant Cái tồn tại thực sự củacon người là ý chí Ý chí là bản chất của thế giới của Schopenhauer, thực
là ý chí sinh tồn, chỉ bản năng cá thể tìm sự sinh tồn Mọi hoạt động ăn, ở,
đi lại, buồn vui của con người đều do ý chí cầu sống chi phối, để duy trì
sự sinh tồn Ý chí sinh tồn còn là bản năng sinh thực để duy trì nòi giống.Con người chẳng qua là cái máy phức tạp được sắp xếp hoàn hảo nhất.Trong trường hợp ấy, dù con người có thể biết nhiều về mình, họ cũngkhông thể lý giải về mình Con người là con đẻ của ý chí, còn lý tính, tưtưởng của con người chẳng qua là biểu hiện của ý chí, phục vụ cho ý chí,
là công cụ của ý chí Chỉ có ý chí mới có thể giải thích được sự tồn tại củacon người, hành động của con người, kết cấu bên trong của con người
Trang 31Shopenhauer đảo ngược quan hệ vật chất và tinh thần, quy kết mọi bộphận trong con người là sản phẩm của tinh thần Theo Shopenhauer, conngười là một bộ phận của vũ trụ; con người có ý chí và ham muốn, ý chí
và ham muốn chi phối tất cả Ông tuyên bố “Thế giới là ý chí của tôi”.Con người khác với các vật khác là nó có thể biết mình cũng như thế giớibên ngoài vừa là ý chí vừa là biểu tượng Con người có thể phát hiện thếgiới ý chí vì nó đồng nhất với thế giới
Shopenhauer đã phân biệt hai loại nhận thức tương ứng với hai thếgiới hiện tượng và ý chí Loại nhận thức khoa học vận dụng lý tính và kháiniệm, hay nhận thức logic, đối tượng của nó là thế giới hiện tượng; loạinhận thức phi lý tính, phi khoa học, đối tượng của nó là thế giới ý chí Cáigọi là thế giới hiện tượng của Shopenhauer là thế giới kinh nghiệm mà tưduy của con người vươn tới Shopenhauer nói: “Chúng ta không bao giờ cóthể thông qua nhận thức để có thể đạt được bản chất thực tại của sự vật,chúng ta tiến hành bất kỳ sự nghiên cứu, thăm dò nào, ngoài hình tượng vàtên gọi, chúng ta sẽ không bao giờ tiếp xúc được bất kỳ vật nào Chúng tanhư một người chạy quanh pháo đài nhưng không tìm được cửa vào” [13,tr.137] Quan điểm Shopenhauer về lý tính và tri thức khoa học chỉ đạt đếnhiện tượng chứ không thể đạt đến thực tại
“Thế giới là biểu tượng của tôi” nghĩa là mọi vật trên thế giới đềucần lấy chủ thể làm điều kiện, chúng chỉ là chủ thể nên tồn tại Là mặtngoài của thể giới, còn một mặt khác là nội tại chân chính, bản chất, ý chí
“Thế giới là ý chí của tôi”, ý chí là cái tôi chân thực, hoạt động của thânthể chính là hoạt động ý chí được khách thể hóa Thế giới là ý chí và biểutượng, ý chí là vật tự tại của thế giới, mọi hiện tượng đều là khách thể hóacủa ý chí tức biểu tượng
Shopenhauer gọi nhận thức của trực giác là nhận thức ngoài thờigian, ngoài không gian, vượt lên kinh nghiệm và tư duy, tức là toàn bộ sứcmạnh tinh thần trao cho trực giác, làm cho mình hoàn toàn chìm vào trựcgiác, và để cho toàn bộ ý thức của mình chìm trong cảnh vật yên tĩnhkhách thể tự nhiên Cái gọi là trực giác ấy chỉ có thể là ý nghĩa, không thểnói thành lời
Luân lý là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong triết họcShopenhauer Ông xem vấn đề con người, đặc biệt vấn đề tự do của conngười là vấn đề hạt nhân Shopenhauer cho rằng, nếu loại bỏ hoặc xemnhẹ tự do, thì không thể bàn đến sự tồn tại thật sự và hành vi đạo đức của
Trang 32con người Nhưng ông lại xem lĩnh vực đạo đức là lĩnh vực không có liênquan gì đến nhận thức và hành động hiện thực Ông nói: “Nếu chúng takhảo sát toàn bộ cuộc sống con người, nếu chúng ta chỉ nhấn mạnh mặt cơbản nhất của nó, trên thực tế thường là bi kịch, còn hài kịch là hiếmhoi” [13, tr.143] Schopenhauer cho rằng đời người là bi quan, do vấn đềmuôn đời của con người là luôn đau khổ vì dục vọng không được thỏamãn Bằng ý chí sinh tồn, con người chỉ có thể thay đổi hình thái của sựđau khổ mà thôi, đó là sự ghen tị, đố kị Cuộc sống đau khổ cũng giốngnhư địa ngục Dục vọng của con người khó có thể thỏa mãn hết, dù có tạmthời được thỏa mãn, cũng là trống rỗng, vô vị Cứ như vậy, đời người daođộng qua lại giữa đau khổ và chán chường Đau khổ là sự làm hại chínhmình Để tự bảo vệ sự sinh tồn của mình, con người luôn phải lấy mìnhlàm trung tâm, ngay cả việc hy sinh người khác hay hủy diệt thế giới Kếtquả cũng là gây bất hạnh, tổn thương cho người khác và đau khổ chomình, vẫn không được thỏa mãn Ý chí càng tăng, càng đau khổ, bởi lúc ýchí được hoàn thiện thì sự cảm thụ đối với đau khổ càng sâu sắc Nhữngnhân vật uyên bác, có ý chí kiên cường là những người đau khổ nhất.Những người hoạt bát nhất là những người đau khổ nhất và cũng là người
vô đạo đức nhất Do vậy, cá nhân nên tự giác phủ định ý chí đời người, đivào “cõi Phàn thiên” (quy nhập Phàn thiên) giống như Ấn Độ giáo, đượcgiải thoát ở “niết bàn” của Phật giáo Đời người như một bi kịch Vậy nênSchopenhauer nói: “Mỗi cuộc đời là một bi kịch vô nghĩa sẽ hạ màn bằngcái chết không thể tránh khỏi Trọn thời gian sống trong thế giới nàychúng ta là nô lệ cho những ham muốn của chúng ta, vừa thỏa mãn hammuốn này xong thì ham muốn khác xuất hiện, để rồi chúng ta liên tụcsống trong tình trạng không thỏa mãn, và chính hiện hữu của chúng ta lànguồn gốc của mọi đau khổ” [23, tr.180]
Người ta càng có lý tưởng và mục đích nào đó, càng phải nhận thức
và hành động để thực hiện lý tưởng và mục đích ấy, càng giành đượcthành công trong hành động của mình, ý chí của họ càng mãnh liệt, nhưvậy càng đau khổ Ông ra sức công kích mọi triết học thúc đẩy con ngườihướng vào tự nhiên và xã hội, khuyến khích con người tích cực công kíchmọi triết học ca tụng lý tưởng và hạnh phúc, mọi chủ nghĩa lạc quan củalịch sử Về mặt này, ở mức độ nào đó, Schopenhauer phát hiện và vạchtrần mâu thuẫn giữa nỗi đau khổ và tai họa hiện thực của con người vớinhững lý tưởng tiến bộ, tự do, hạnh phúc trong xã hội tư bản chủ nghĩa.Như vậy, ông đã vạch đúng một số nhược điểm của các triết học lý tính và
Trang 33chính quyền thống trị lợi dụng triết học này làm công cụ của chúng.Nhưng mặt khác, ông đã bước sang một cực đoan khác: trước các tai họa
và đau khổ mà chủ nghĩa tư bản gây ra, ông lại phủ nhận mọi cuộc sống
xã hội hiện thực; nhìn thấy một số khuyết điểm của triết học lý tính, ông
đi đến phủ nhận căn bản lý tính và khoa học, từ chủ nghĩa lạc quan trướcđây sau khi bị thách thức và bị thất bại, ông đi đến phủ nhận mọi chủnghĩa lạc quan, và cuối cùng đi đến chủ nghĩa hư vô cực đoan Chủ nghĩa
hư vô cực đoan này thể hiện nổi bật ở triết học nhân sinh của ông Ôngcho rằng, để giảm nhẹ và tránh sự đau khổ trong cuộc sống, để trở thànhngười tự do và có đạo đức, thì biện pháp căn bản là ức chế sự ham muốncủa con người, phủ nhận ý chí cuộc sống của con người Tóm lại, mộtngười vốn đã bi quan, chán nán và đau buồn như Nietzsche, khi gặp phảibức tranh mờ mịt mà Schopenhauer vẽ ra, đã rất hoang mang, lo sợ và bịkích động
Schopenhauer đã từng đọc các bản dịch kinh văn Ấn Độ giáo và Phậtgiáo, nhắc đến chúng trong tác phẩm của mình, rút ra những điểm tươngđồng giữa những luận cứ của ông và của chúng Điều này gây ra nhiều ýkiến cho rằng ông đã tìm ra những tư tưởng cho mình từ các bản kinh văntrên, nhưng không phải như thế Trên thực tế, dường như đối với ông điều
có ý nghĩa quan trọng nhất là triết học Tây phương và Đông phương đã lanrộng khắp nơi trong khi vẫn độc lập với nhau vì đi trên con đường hoàntoàn khác nhau, nhưng rồi cả hai vẫn đến được cũng những kết luận thiếtyếu về những vấn đề hệ trọng nhất Nhưng bằng lối viết này, mặc dù những
tư tưởng của ông không chủ yếu hình thành từ tư tưởng của Ấn Độ giáo vàPhật giáo, ông vẫn trở thành tác gia nổi tiếng châu Âu đầu tiên đem đến chongười đọc sự hiểu biết về những vấn đề trí thức nghiêm túc của các tôn giáo
đó Ông không những là triết gia lớn duy nhất ở Tây phương thủ đắc mộtkiến thức và hiểu biết sâu xa thực sự về triết học Đông phương, mà còn làtriết gia Tây phương vĩ đại đầu tiên tìm thấy những mối liên hệ giữa tưtưởng Tây phương và Đông phương, Schopenhauer còn là người đầu tiêntheo thuyết vô thần công khai và dứt khoát Hobbes và Hume rất có thể lànhững nhà vô thần trên thực tế, nhưng họ sống vào những thời kỳ mà công
bố một văn bản phủ nhận sự hiện hữu của Thượng Đế là phạm tội hình sự;nên họ đã né tránh vấn đề này Schopenhauer coi ý tưởng về một Thượng
Đế có ngôi vị là sự lẫn lộn về mặt quan niệm, bởi vì gần như tất cả nhữngquan niệm của chúng ta về bản chất của nhân vị đều xuất phát từ con người,
có lẽ là con vật cao cấp hơn cả, nên ý niệm về một Thượng Đế có ngôi vị
Trang 34chỉ là thuyết nhân hình Tương tự như vậy với ý tưởng về linh hồn: bởi vìSchopenhauer nghĩ rằng không thể có nhận thức mà không có bộ óc, cũngnhư không thể nhìn mà không có mắt, hay tiêu hóa mà không có bao tử,nên ông viết: “Bởi vì ý niệm “linh hồn” giả thiết rằng hiểu biết và ý chí liênkết không tách rời nhau mà vẫn không phụ thuộc vào cơ quan sinh vật nênkhông lý giải được, và do vậy vô dụng” [23, tr.179].
Những năm đầu của cuộc đời, khi đón gặp tư tưởng Schopenhauer, soivào mình, tâm hồn Nietzsche đã không còn đầy ắp những hoài nghi về cuộcđời Nietzsche thán phục bi kịch về cuộc đời mà Schopenhauer đã miêu tả,tán thành thái độ chân thành của Schopenhauer khi khai thác, mổ xẻ cuộcsống Nietzsche chỉ ra cái vĩ đại của Schopenhauer ở chỗ ông có thể đứngtrước bức tranh cuộc sống, giải mã toàn bộ ý nghĩa bức tranh Một nhà triếthọc vĩ đại nên từ trong toàn cảnh của bức tranh cuộc sống mà tìm kiếm ýnghĩa sự sống Nietzsche thần tượng Schopenhauer Từ đó, Nietzsche ý thức
về việc tìm tòi ý nghĩa cuộc sống, đặc biệt là nghiên cứu triết học để tìm thấy
tư tưởng của chính mình
Nietzsche bày tỏ niềm vui, tình cảm sung sướng mãnh liệt mà ôngcảm thấy khi nghe tiếng nói của Schopenhauer Ông so sánhSchopenhauer với Montaigne, người có cái vui sống gia tăng không ngừngtrên mặt đất này, cả hai gặp nhau trên cùng một bầu trời trong trẻo, đếngần những hiện hữu rực rỡ, tiến đến những người siêu đẳng Ở thời conngười đặt khoa học lên tất cả, nhưng Schopenhauer lấy mục đích conngười không phải là khoa học mà là hiểu biết Ông chống lại thời đại củamình, đưa ra bài học cao quý: “Không thể có được một đời sống sung túc:điều chúng ta thực hiện đẹp đẽ nhất, đó là một cuộc sống anh hùng; cuộcsống ở đó chúng ta hoàn toàn hy sinh cho chính nghĩa chung, nơi ta chạmtrán với bao nhiêu khó khăn, nơi ta mang về chiến thắng mà chẳng đòi hỏimảy may đền bù nào Hoài niệm về con người như thế sống mãi, mọingười xưng tụng họ như một anh hùng Ý chí của họ, bị xâu xé trong suốtquãng đời bằng nhọc nhằn, thử thách, bằng thất bại bạc bẽo, sẽ lịm ở NiếtBàn” [4, tr.85] Và Schopenhauer đưa ra mục đích sống cho con người vàcho thiên nhiên: phải chiến đấu để triệt hạ các chướng ngại vật, điều cầnthiết hơn cả là tự do, triết học phải được coi là một điều ghê gớm bởi từ đócuồn cuộn chảy ra thủy triều của chủ nghĩa anh hùng Nhà giáo dục đãmang lại bài học hết sức to lớn cho thế gian Sự gặp gỡ này xảy ra nhưmột biến cố: “Tinh thần triết học đã cùng với Schopenhauer tràn vào tâm
Trang 35hồn Nietzsche như một trận bão táp lay chuyển tất cả con người ông” [12,tr.117] Thêm nữa, Schopenhauer cũng là một người đam mê nghệ thuật,ông cho rằng thông qua nghệ thuật, nhất là âm nhạc, mà con người tìmthấy giải thoát khỏi nỗi khổ đau của hiện hữu Đối với Schopenhauer, âmnhạc là trừu tượng và không biểu tượng cho thế giới hiện tượng, thông qua
nó chúng ta được hưởng những giờ phút thoát ra khỏi không gian và thờigian
Charle Andles phát biểu: “Ông thầy đích thực của Nietzsche làSchopenhauer vì ông này là tổng hợp của tinh thần lãng mạn và tinh thầnhùng tráng của Goethe” [12, tr.120]
1.3.4 Richard Wagner – một gợi ý sâu thẳm về tâm linh
Richard Wagner – nhạc sĩ, nhà văn người Đức, sinh ngày 22 tháng 5
năm 1813 tại Leipzig, nước Đức, mất ngày 13 tháng 2 năm 1883 tạiVenice Là nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng, đạo diễn kịch và nhà lý luận
âm nhạc người Đức nổi tiếng bởi các tác phẩm opera Không như nhiềusoạn gia lớn khác, ông tự viết lời lẫn phân cảnh cho các tác phẩm của mình
Âm nhạc của ông nhất là thời kì sau này trứ danh bởi cấu trúc đối âm(contrapuntal), phong phú chất nửa cung (chromatism) lẫn giai điệu và hòa
âm, trau chuốt theo một mô-típ nền nhạc luôn thích hợp vời từng nhân vật,từng phân cảnh trong nhạc phẩm Wagner là người tiên phong dùng những
kỹ thuật rất khó trong âm nhạc như chất nửa cung nghiêm ngặt, chuyển đổi
âm vực rất nhanh và do đó đã tạo ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển củanền âm nhạc cổ điển tại châu Âu
Các tác phẩm của ông: Chiếc tàu thủy ma (1841), Tannkaupu
chiếc vòng của Nibelemy (1852 - 1876), Tristan và Isolta (1866)…
Wagner thuộc trường phái thần bí và tương trang, ông đạt đến một sựhòa lẫn giữa bản vào và âm nhạc, một sự hài hòa giọng và thành ca, một
sự thống nhất sâu sắc đề tài, chủ đề
Wagner là người soạn nhạc kịch tuyệt vời, người khám phá ra sợidây liên hệ đích thực nối liền âm nhạc với kịch bản, âm nhạc với đời sống.Người nhạc sĩ tài ba này đã sáng tạo một tương quan hoàn toàn giữa thếgiới thấy và nghe Với Wagner, cái gì nhìn thấy được trong vũ trụ đều cókhuynh hướng hóa nội tại để biến thành âm thanh, cái gì nghe được trong
vũ trụ đều khao khát hóa nên hình thể, lao mình vào ánh sáng và trở nêncái thấy được Wagner khai sáng nên tính hợp nhất của khả năng nghệ
Trang 36thuật ở con người bằng việc dung hòa thơ ca và âm nhạc Tác phẩm củaWagner không hỗn tạp, khán thính giả thưởng thức đều thấy niềm vuidâng trào, như là được tiếp thêm sức sống mới tự mình vươn lên.
Mùa thu năm 1868, Nietzsche gặp Richard Wagner, từ việc cùngchia sẻ sự kính trọng dành cho Schopenhauer mà hai người trở nên thânthiết Trước đó, Nietzsche đã quen biết chị của Wagner, một đêm khiWagner đến thăm chị, Nietzsche làm quen với Wagner, ông kể lại: “Trước
và sau khi ăn cơm, Wagner đã biểu diễn tất cả những đoạn hát quan trọngcủa những ca sĩ rất nổi tiếng, ông bắt chước rất tự nhiên mọi âm thanh.Ông là một người rất sôi nổi và nhiệt tình, nói rất nhanh, rất khôi hài,thường làm cho những người tham dự cảm thấy rất thân thiết, vui vẻ” [2,tr.39] Wagner là một con người tài hoa và sáng tác rất giỏi, cũng thầntượng Schopenhauer Một năm trước khi bị điên, Nietzsche xuất bản cuốn
Trường hợp của Wagner (1888) và sau đó là Nietzsche chống lại Wagner
(1895)
Nietzsche bày tỏ lòng cảm phục đối với Wagner không hơn kém gì
so với lần mới bắt gặp tư tưởng Schopenhauer: “Lần đầu tiên tiếp xúc vớiWagner cũng là lần đầu tiên hít thở sâu nhất trong cuộc đời của tôi, tôixem ông như là người nước ngoài khác với người Đức, coi ông là hóathân chống lại “đạo đức của người Đức” [2, tr.40]
Wagner là một người có tính khí nóng nảy, hay nổi giận và nói totiếng, hay bắt nạt và dày vò Nietzsche Tuy nhiên, vợ chồng Wagner rất yêumến Nietzsche, xem Nietzsche như là người trong nhà Trong không khícủa một gia đình thoát khỏi trần tục này, Nietzsche cảm thấy rất thoải mái,ông thấy rất vui và như được an ủi khi tiếp xúc với thiên tài âm nhạcWagner, nơi ông có thể gần gũi trò chuyện, sẻ chia Nietzsche xem Wagnernhư một người anh trai, vừa sùng bái tác phẩm của nhà soạn nhạc tài hoa,vừa ngưỡng mộ tấm lòng vị tha của Wagner: “Từ trước đến nay chưa cómột người nào như vậy…ông đã thấm đẫm triệt để triết học cảm hóa ngườirất tuyệt diệu” [2, tr.41] Với Nietzsche, không thể có một nhà báo hay mộtnhà bình luận nào có thể đủ sức bình luận về Wagner, vì tất cả đều đứngtrên cơ sở khác, không thể quen được với tinh thần của tài năng độc đáocủa người nhạc sĩ này Trong Wagner tồn tại một lý tưởng tuyệt đối, mộtloại nhân tính cảm kích con người rất thắm thiết, một nhân cách sống caothượng Nietzsche đã có những nhà chuyên môn chống lại mình, duy chỉ cóWagner là hiểu được những thay đổi trong ông, yêu mến ở trí tuệ đang trên
Trang 37đường trưởng thành này Cuộc gặp gỡ của Nietzsche với Wagner trở thànhnguồn của một tình yêu say mê, mở rộng đến vô tận quy mô của sự nhạycảm của ông.
Tiếp xúc với Wagner, Nietzsche có những ngày sống thoải mái, giátrị và có nhiều thu hoạch Nietzsche tâm sự với Wagner nhiều điều, cảnhững thắc mắc và lo lắng trước tình cảnh của trí thức Đức Wagner thì kểcho Nietzsche về những học giả Đức bị người ta coi khinh, cho Nietzschexem những tạp văn về mỹ học và triết học của ông Có lúc, trong suytưởng của mình, Nietzsche nhận thấy rất bị ảnh hưởng bởi Wagner khinhận thức của ông về Hy Lạp bắt đầu thay đổi
Cuốn sách đầu tiên, tư tưởng mà cho thấy Nietzsche chịu ảnhhưởng trực tiếp từ Wagner là: bi kịch là con đẻ của âm nhạc thuần túy, âmnhạc – mẹ của bi kịch Nietzsche xem Wagner là đại diện đỉnh cao của sựphát triển âm nhạc hiện đại, giống như Schopenhauer là nhà triết học vĩđại nhất từ Platon đến nay Dựa theo lý luận của Wagner, Nietzsche bộc lộ
rõ sự lo lắng đối với văn hóa đương đại
Nietzsche từ bỏ thần học, chọn ngôn ngữ học, bộc lộ thế giới nộitâm của mình trong sự lo lắng đối với cuộc sống Làm quen với thiên tài
âm nhạc khiến cho sức mạnh chiến đấu của ông càng sôi sục, ấp ủ mộtước mong tìm tòi, khai thác ý nghĩa cuộc sống chân thực đang bị vùi lấptrước vô vàn thứ đang ngổn ngang
Mặc dù đã có lúc Nietzsche phát hiện trong Wagner có nửa dòngmáu Do Thái, ông không chấp nhận việc Wagner thấy trong Kytô giáomột giá trị đạo đức và một vẻ đẹp có ảnh hưởng hơn những khuyết điểm
thần học của nó Mặc dù trong cuốn Trường hợp của Wagner, Nietzsche
giận dữ viết những điều không hay về Wagner Nhưng chúng ta thấy rằng,cuối cùng, Nietzsche vẫn thích nghĩ về một tình bạn như "tình sao"(những vì sao trên trời), là mối tình vẫn âm thầm gắn bó với cuộc đời ông,
là một phần kinh nghiệm phong phú và giá trị nhất đời ông Cũng chính vìtoàn bộ tâm hồn Nietzsche tràn đầy tình yêu mãnh liệt với trí tuệ ấy, nênkhi đoạn tuyệt với Wagner đã gây nên ở ông một vết thương sâu rỉ máu,không thể liền được da và để lại sẹo hoàn toàn Về sau, vào một giây látminh mẫn trong cơn điên cuối đời, khi nhìn thấy một bức tranh Wagner,
đã chết từ lâu, Nietzsche đã thốt ra rất khẽ: "Chính người ấy, ta đã yêunhiều" Đối với ông, tình bạn với Richard Wagner là một trong những hộingộ thiêng liêng nhất
Trang 38Tất cả, đều là những gặp gỡ tình cờ mà định mệnh.