1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề con người trong triết học nho gia tiên tần

176 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tác động bởi quan điểm của các trường phái triết học khác thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc với việc hình thành quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần .... Triết học Trun

Trang 1

-

HUỲNH THỊ TUYẾT NHUNG

VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2018

Trang 2

-

HUỲNH THỊ TUYẾT NHUNG

VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS,TS.Trịnh Doãn Chính Tư liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực

TÁC GIẢ

HUỲNH THỊ TUYẾT NHUNG

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 10 Chương 1 CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN 10 1.1 ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ - XÃ HỘI TRUNG HOA THỜI XUÂN THU - CHIẾN QUỐC VỚI VIỆC HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN 101.1.1 Sự biến chuyển xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc với sự hình thành quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần 10 1.1.2 Sự băng hoại về luân lý đạo đức trong xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu

- Chiến quốc với sự hình thành quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần 19

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN 281.2.1 Học thuyết “Thiên mệnh” của người Trung Hoa cổ đại với việc hình thành quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần 28 1.2.2 Sự tác động bởi quan điểm của các trường phái triết học khác thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc với việc hình thành quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần 37

Kết luận chương 1 57 Chương 2 NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN 59 2.1 NỘI DUNG QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN 592.1.1 Quan điểm của Nho gia Tiên Tần về nguồn gốc con người 60 2.1.2 Quan điểm của Nho gia Tiên Tần về bản tính con người 64

Trang 5

2.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG

TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN 99

2.2.1 Sự thống nhất giữa chính trị và đạo đức trong quan điểm về con người của triết học Nho gia Tiên Tần 99

2.2.2 Tính nhân văn trong quan điểm về con người của triết học Nho gia Tiên Tần 113

2.3 GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN 122

2.3.1 Giá trị của quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần 122

2.3.2 Hạn chế của quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần 137

2.3.3 Bài học lịch sử từ quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần với việc phát huy vai trò nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam hiện nay 145

Kết luận chương 2 159

KẾT LUẬN CHUNG 161

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 165

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Đằng

sau sự phát triển của sản xuất vật chất và tất cả các mặt khác của xã hội chính là con người - chủ thể của lịch sử” [65, tr.102] Quả thật như vậy, xã hội loài người đã trải qua các phương thức sản xuất từ thấp đến cao Dù ở phương thức nào, con người đều tham gia vào quá trình sản xuất với tất cả tâm - trí - lực của mình và là yếu tố cơ bản nhất, quan trọng nhất, quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng và của xã hội nói chung Bằng hoạt động thực tiễn con người đã tác động vào tự nhiên, làm biến đổi tự nhiên, cải tạo xã hội và qua đó, cũng làm biến đổi chính bản thân mình Con người đã làm nên lịch sử của chính mình và là chủ thể của lịch sử

Ngày nay, trước bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển như vũ bảo, tri thức khoa học thâm nhập vào mọi quá trình sản xuất và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì phát triển bền vững được xác định là chiến lược ưu tiên hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới Chính nguồn lực con người là cơ sở nền tảng để thực hiện có hiệu quả chiến lược đó bởi vì con người được xác định

là nhân tố quan trọng nhất và là mục tiêu, động lực của quá trình phát triển Chính vì vậy, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững của các quốc gia, dân tộc

Đối với Việt Nam ta, nhận thức rõ vai trò to lớn của nguồn lực con người, trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, “xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh" [25, tr.70], Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến nguồn lực con người, coi đó

là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản

Trang 7

Việt Nam đã chỉ rõ là trong thời kỳ mới này phải: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [20, tr.85],

“con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển” [25, tr.71] Để xây dựng nguồn lực con người vừa hồng vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã xác định giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”

Giáo dục thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình là trang bị những năng lực cần thiết cho con người tham gia vào đời sống xã hội bằng cách tác động vào chính con người với tư cách là chủ thể của hoạt động xã hội nhằm đào tạo - biến đổi chủ thể đó thành con người nhân cách, tăng sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, tăng khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội của con người Thông qua giáo dục và đào tạo con người tích lũy được tri thức và kinh nghiệm của loài người trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại Thời đại ngày nay, với tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ hiện đại, hơn lúc nào hết, giáo dục và đào tạo cần phải có bước đi và phương pháp phù hợp để đạt hiệu quả giáo dục và đào tạo con người trong thời kỳ mới bởi, con người làm công tác giáo dục và đào tạo; sản phẩm của giáo dục và đào tạo cũng chính là con người Giáo dục và đào tạo muốn làm tốt nhiệm vụ của mình thì trước hết cần phải quan tâm nghiên cứu con người, phải hiểu thật rõ về con người

Con người là một thực thể sinh vật - xã hội và văn hóa [33, tr.273] Khi xem xét con người, nguồn gốc và động lực phát triển xã hội, vấn đề được đặt ra

là phải biết được nguồn gốc của con người, phải hiểu được mặt mạnh, mặt yếu của con người, phải xác định được vị trí, vai trò của con người trong thế giới

Do đó, từ khi triết học ra đời cho đến nay, vấn đề con người vẫn luôn là một trong những vấn đề trung tâm Nghiên cứu về con người dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau của các trường phái triết học Triết học phương Tây có khuynh hướng “hướng ngoại”, nên chỉ nghiên cứu con người nhằm để tăng thêm sức mạnh chinh phục thế giới bên ngoài Khác với triết học phương Tây, triết học

Trang 8

phương Đông với khuynh hướng “hướng nội”, ngay từ thời cổ đại, đã rất quan tâm nghiên cứu vấn đề con người Nếu như triết học Ấn Độ tập trung giải quyết vấn đề nhân sinh quan nhằm hướng đến sự “giải thoát” con người thì con người hiện diện trong triết học Trung Quốc cổ đại chủ yếu dưới góc độ “con người đạo đức, con người chính trị” [94, tr.546] Triết học Trung Quốc cổ đại do điều kiện lịch sử và yêu cầu của xã hội thời Xuân thu - Chiến quốc, đó là cần phải giáo hóa con người, ổn định trật tự xã hội nên rất chú trọng đến vấn đề con người, bàn luận rất kỹ về phương pháp giáo dục và tu dưỡng, “phương pháp để học” (chi học vi phương), mà nổi bật là các luận điểm của Nho gia thời Tiên Tần Đây là đóng góp quan trọng của triết học Trung Quốc cổ đại cho kho tàng triết học của nhân loại nói riêng và cho sự tiến bộ của loài người nói chung

Đứng trên lập trường thế giới quan duy vật biện chứng, quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể thì vấn đề con người và phương pháp tu dưỡng của triết học Trung Quốc cổ đại vẫn có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn đối với việc phát huy vai trò nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt

Nam ta hiện nay Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài Vấn đề con người trong triết

học Nho gia Tiên Tần làm luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề con người trong triết học Trung Quốc, đặc biệt là trong học thuyết Nho gia thời kỳ Tiên Tần là đề tài thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà tư tưởng Việt Nam cũng như trên thế giới Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về vấn đề này theo các chủ đề như sau:

Hướng nghiên cứu thứ nhất, đó là những công trình nghiên cứu về con

người gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của triết học Trung Quốc;

gồm có tác phẩm Trung Quốc triết học sử đại cương của Hồ Thích (Minh Đức

dịch), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội xuất bản năm 2004 Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày nội dung tư tưởng cơ bản của các triết gia Trung Quốc nổi tiếng thời cổ đại, khái quát quá trình phát triển của triết học Tiên Tần Các

Trang 9

vấn đề con người được tác giả quan tâm nghiên cứu và trình bày như: Khổng

Tử với nhân, trí, dũng; Dương Chu với vị ngã; Tuân Tử với thiên và tính; Lão

tử với vô vi; tác phẩm Trung Quốc cổ đại triết học, gồm 2 tập thượng và hạ

của Phương Lập Thiên, do Trung Quốc nhân dân đại học xuất bản xã, xuất bản năm 2006 Đây là công trình nghiên cứu rất công phu về triết học Trung Quốc Tác giả sử dụng cách tiếp cận theo các chủ đề của triết học và đã dành 2 chương trong tổng số 12 chương của tác phẩm trình bày cách có hệ thống và lý giải sâu sắc về các vấn đề con người như nguồn gốc, bản tính, vai trò, thái độ của con người theo từng giai đoạn lịch sử

Cũng theo hướng nghiên cứu này, phải kể đến tác phẩm Lịch sử triết học

Trung Quốc gồm 2 tập của Phùng Hữu Lan (do Lê Anh Minh dịch), Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội xuất bản năm 2006 Trong tác phẩm này, tác giả đã dày công nghiên cứu và trình bày một cách hệ thống, khoa học về các trường phái triết học Trung Quốc từ thời đại Tử học (cổ đại) đến thời đại Kinh học (cận hiện đại) Nổi bật trong tác phẩm này là các vấn đề về con người, bản tính con người; như ở Chương 4, tác giả trình bày về Khổng Tử và khởi nguyên của Nho gia; nói về tính thiện, trời, tính, khí hạo nhiên ở Chương 6; nói về nhân cách lý tưởng và xã hội lý tưởng theo Đạo gia ở Chương 8; Tuân học trong Nho gia ở Chương 12 và nói về tính ác ở Chương 13…Trong tác phẩm, tác giả đã trích dẫn rất nhiều đoạn cổ văn từ các nguồn thư tịch gốc nên tác phẩm là nguồn tham khảo rất quý báu về các văn bản gốc của triết học Trung Quốc

Tại Việt Nam, nghiên cứu về con người và bản tính con người trong lịch

sử triết học Trung Quốc nói chung, Nho gia Tiên Tần nói riêng, trước hết phải

kể đến tác phẩm Đại cương triết học Trung Quốc, quyển thượng và quyển hạ

của các học giả Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Cảo thơm, Sài Gòn, xuất bản năm 1965, 1966 Trong công trình này, các tác giả trình bày lịch sử phát triển triết học Trung Quốc và phân tích, trích dẫn theo các chủ đề tư tưởng về vũ trụ luận, tri thức luận, nhân sinh luận và chính trị luận Tác phẩm đã trình bày một

Trang 10

cách hệ thống và bao quát các vấn đề về bản chất con người, đạo làm người thông qua các phạm trù tâm, tính, tình, vô vi, hữu vi, quân tử, tiểu nhân, nghĩa

và lợi …trong phần nhân sinh luận Trong tác phẩm Lịch sử triết học Trung

Quốc (2 tập) của Hà Thúc Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm

1998-1999, tác giả đã dành một phần để trình bày và phân tích những vấn đề về nguồn gốc, bản tính con người, mối quan hệ giữa con người với thế giới và vai trò, vị trí của con người trong quan hệ xã hội Cũng nghiên cứu theo hướng này,

những năm gần đây, có tác phẩm Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc do

Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1997 và

tái bản có sửa chữa bổ sung năm 2004; Lịch sử triết học Phương Đông do Doãn

Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, xuất bản năm 2015 Trong các tác phẩm này, tác giả trình bày khái quát điều kiện hình thành, các giai đoạn phát triển của triết học và các nền triết học, phân tích khá sâu sắc về

hệ thống nội dung tư tưởng của các nhà triết học và các trào lưu triết học trên các mặt bản thể luận, nhận thức luận và đạo đức nhân sinh cũng như những vấn

đề về chính trị - xã hội Trong đó, các tác phẩm này đã dành một phần để trình bày, phân tích những vấn đề có liên quan đến con người, bản tính con người,

quan hệ xã hội của con người Tác phẩm Triết học đại cương của các tác giả Đỗ

Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Đắc Lý, Lê Kim Bình, Nxb Thời Đại xuất bản năm 2013, trong chương đầu tiên đã đề cập đến một số triết gia Trung Quốc

cổ đại tiêu biểu cùng với tư tưởng cơ bản của họ về con người như: Khổng Tử, Mặc Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử…

Hướng nghiên cứu thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về con người

gắn với quá trình phát triển của nền văn hóa Trung Quốc Tiêu biểu cho hướng

nghiên cứu này có các tác phẩm như Lịch sử văn hóa Trung Quốc do Đàm Gia

Kiện chủ biên (bản dịch của Phạm Văn Các, Thạch Giang, Trương Chính), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1993, với phần nghiên cứu về vấn

đề bản tính con người của các trường phái triết học Trung Quốc thời kỳ Tiên

Trang 11

Tần; tác phẩm Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc do Ngô Vinh Chính,

Vương Miện Quý chủ biên (bản dịch của Lương Duy Thứ, Hồ Sỹ Hiệp), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, xuất bản năm 1994, với các phần A và E đã nghiên cứu về các trường phái triết học Trung Quốc và vấn đề bản tính con người, luân lý đạo đức con người và tư tưởng giáo dục con người; tác phẩm

Trung Quốc văn hóa sử, thượng và hạ, Trung tâm xuất bản Đông phương,

Thượng Hải, xuất bản năm 1988, đã bàn về cái học của chư tử, bàn về Lão Tử,

Khổng Tử với các vấn đề về con người; hay tác phẩm Cội nguồn văn hóa Trung

Hoa do Đường Đắc Dương chủ biên (Nguyễn Thị Thu Hiền dịch), Nxb Hội

nhà văn, Hà Nội, xuất bản năm 2003, trong chương A đã trình bày nhiều khía cạnh về vấn đề con người từ nhân cách con người đến triết lý nhân sinh, từ bình diện nhận thức luận đến bình diện chính trị - xã hội

Các tác phẩm kể trên là những công trình nghiên cứu bao quát tất cả các lĩnh vực đời sống văn hóa và lịch sử của dân tộc Trung Hoa Trong đó, các học giả Trung Quốc đã hết sức tâm huyết, nghiên cứu công phu về đời sống và bản tính con người, về việc giáo hóa con người

Hướng nghiên cứu thứ ba, là hướng nghiên cứu về con người trong triết

học Trung Quốc cổ đại nói chung, Nho gia Tiên Tần nói riêng qua các khảo cứu

có tính chuyên sâu theo từng trường phái, từng nhà triết học Ở Trung Quốc có

các tác phẩm như Khổng Tử: Cố chấp nhân sinh của Lý Húc, Nxb Văn nghệ Trường Giang xuất bản năm 1993; Mạnh Tử: Khảng khái nhân sinh của Vương Diệu Huy, Nxb Văn nghệ Trường Giang xuất bản năm 1993; Tuân Tử: Tiến

thủ nhân sinh, Nxb Văn nghệ Trường Giang, 1993 Các công trình kể trên có

tính chuyên luận; trong đó, các tác giả đã nghiên cứu khá sâu về vấn đề nhân sinh và vấn đề con người

Ở Việt Nam, có tác phẩm Khổng học đăng của Phan Bội Châu, Nxb

Khai Trí, Sài Gòn xuất bản năm 1973 Trong tác phẩm này, qua các nhà tư tưởng và các tác phẩm kinh điển của Nho giáo, Phan Bội Châu đã nghiên cứu

Trang 12

và chú giải tư tưởng triết học Nho giáo từ thời cổ đại đến thời kỳ nhà Thanh Trong đó, các vấn đề về nhân sinh luận và tâm tính luận được ông trình bày cách tập trung như Khổng học với chữ nhân; mệnh, tính, đạo với trung hòa; vấn

đề tính thiện, ý nghĩa của tính ác Cũng nghiên cứu theo hướng này, có tác

phẩm Nho giáo của Trần Trọng Kim, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội xuất bản

năm 2001 Trong tác phẩm, vấn đề con người đã được tác giả trình bày bao quát qua các chủ đề như Khổng Tử và sự giáo hóa của Khổng Tử, tâm học triết lý của Mạnh Tử, tâm lý học của Tuân Tử Ngoài ra còn có các công trình

nghiên cứu khác như Triết học phương Đông (Trung Hoa, Ấn Độ và các nước

Hồi giáo) của M.T Stepaniants (Trần Nguyên Việt dịch), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm 2003; học giả Nguyễn Hiến Lê đã có các công trình

nghiên cứu như: Khổng Tử, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2015; Mạnh Tử, Nxb Hồng Đức, xuất bản năm 2015; Trang Tử Nam

Hoa Kinh, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2013, trong

tác phẩm này, tác giả đã dịch và phân tích kỹ với tinh thần “giữ cho Trang Tử những cái gì của Trang, mà trả cho người trước và người sau những cái gì của

người trước và người sau” [90, tr.5] Còn có tác phẩm Lão Tử Đạo đức kinh

do Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch và bình chú, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ

Chí Minh xuất bản năm 2016 (tái bản lần thứ 4); tác phẩm Học thuyết tính

thiện của Mạnh Tử với việc giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay của Phạm

Đình Đạt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2009 Cũng nghiên cứu về vấn đề con người trong lịch sử triết học Trung Hoa cổ đại còn có nhiều

công trình nghiên cứu, như tác phẩm Quan niệm của Nho giáo về con người,

về giáo dục và đào tạo con người của Nguyễn Thị Tuyết Mai, Nxb Chính trị

Quốc gia, 2009 hay luận văn thạc sĩ triết học Đặc điểm và ý nghĩa trong tư

tưởng về con người của triết học Trung Quốc cổ đại của Trịnh Thị Kim Chi,

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia thành phố

Hồ Chí Minh), 2013… Trong các công trình kể trên, các vấn đề nguồn gốc,

Trang 13

bản tính con người, vị trí, vai trò của con người, việc giáo hóa con người được các tác giả trình bày cách khái quát và tương đối hệ thống

Các công trình nghiên cứu kể trên về vấn đề con người của các học giả trong và ngoài nước là tài liệu quý báu để học viên kế thừa và phát triển trong luận văn của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn: Từ việc nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống các vấn đề về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần, luận văn nhằm đánh giá và rút ra bài học lịch sử đối với việc phát huy vai trò nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được các mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, trình bày và phân tích cơ sở xã hội và tiền đề lý luận hình thành quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần

Thứ hai, trình bày nội dung và phân tích những đặc điểm chủ yếu trong quan điểm về con người của triết học Nho gia Tiên Tần Từ cơ sở đó chỉ ra những giá trị, hạn chế và rút ra bài học lịch sử đối với việc phát huy vai trò nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn không nghiên cứu vấn đề con người trong tất cả các trường phái triết học Trung Quốc mà chỉ tập trung nghiên cứu quan điểm về con người của Nho gia trong một giai đoạn lịch sử nhất định, đó là thời Tiên Tần - thời Xuân thu - Chiến quốc

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, tác giả luận văn còn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như

Trang 14

logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, diễn dịch và quy nạp cùng với phương pháp văn bản học để nghiên cứu và trình bày luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận: Trên cơ sở trình bày và phân tích những nội dung

và đặc điểm chủ yếu của tư tưởng về con người của Nho gia thời Tiên Tần như vấn đề nguồn gốc, bản tính con người, vị trí, vai trò con người trong xã hội và quan điểm về việc giáo hóa con người, luận văn góp phần làm rõ những vấn đề

lý luận cơ bản về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần

6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Những bài học lịch sử rút ra được từ việc làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực đối với việc phát huy vai trò nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam hiện nay

Kết quả của đề tài luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử triết học, Đạo đức học trong các trường cao đẳng và đại học ở Việt Nam

7 Kết cấu cơ bản của luận văn

Luận văn được kết cấu thành 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; trong đó phần nội dung luận văn được trình bày thành 2 chương, 5 tiết

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN

1.1 ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ - XÃ HỘI TRUNG HOA THỜI XUÂN THU - CHIẾN QUỐC VỚI VIỆC HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN

1.1.1 Sự biến chuyển xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc với sự hình thành quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học nảy sinh từ điều kiện thực tiễn xã hội nhất định, phản ánh và chịu sự quyết định của thực tiễn xã hội đó Đến lượt mình, triết học thực hiện vai trò định hướng cho hoạt động của con người trong xã hội trên cơ sở phản ánh sáng tạo và kế thừa tinh hoa tư tưởng triết học trước đó

Không nằm ngoài quy luật này, tư tưởng triết học Nho gia nói chung và quan điểm về con người của Nho gia nói riêng trong thời kỳ Tiên Tần cũng phát sinh trên cơ sở điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội, phản ánh và phát triển gắn liền với sự biến đổi của tính chất sinh hoạt xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc Đúng như Ph Ăngghen viết: “… trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại, cái cơ sở

mà chỉ có xuất phát từ đó mới cắt nghĩa được lịch sử đó” [70; tr.523] Thế cho nên, nghiên cứu quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần, để hiểu rõ nội dung và đặc điểm của nó, chúng ta không thể không nghiên cứu cơ sở

xã hội và tiền đề lý luận mà từ đó các quan điểm này hình thành

Trong tiến trình lịch sử Trung Hoa cổ đại, thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc bắt đầu từ thế kỷ VIII tr.CN kéo dài tới tận cuối thế kỷ III tr.CN, lúc Chu Bình Vương dời đô từ Cảo kinh ở phía Tây qua Lạc Ấp (Lạc Dương, Hà Nam) ở phía

Trang 16

Đông để tránh rợ Tây Nhung vào năm 770 tr.CN cho đến lúc Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc bằng bạo lực vào năm 221 tr.CN Thời kỳ này được các

sử gia gọi là giai đoạn Đông Chu (để phân biệt với giai đoạn trước là Tây Chu) hay thời Tiên Tần Giai đoạn Đông Chu được chia thành hai thời kỳ: thời Xuân thu (770 - 403 tr.CN) và thời Chiến quốc (403 - 221 tr.CN) Cũng có cách chia khác dựa vào Lỗ sử, có khác với cách chia này đôi chút về thời điểm kết thúc thời Xuân thu và bắt đầu thời Chiến quốc; nhưng trong phạm vi Luận văn chúng tôi sử dụng cách chia này để thống nhất về thời gian

Đây là thời kỳ xã hội Trung Hoa cổ đại chuyển biến từ chế độ chiếm hữu

nô lệ sang chế độ phong kiến Định chế xã hội cũ đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, mất hết vai trò đối với xã hội, không còn tác dụng duy trì, ổn định trật tự xã hội nhưng những quy tắc, chuẩn mực của xã hội mới chưa định hình Mạnh Tử viết

về thời kỳ này: “Mãi cho đến nay, chẳng có bậc Thánh Vương ra đời mà đem lại sự trị an cho thiên hạ: Các vua chư hầu thì luông tuồng, chẳng theo lễ nghĩa; hàng trí thức chẳng ra làm quan thì mạnh ai nấy bàn ngang luận càn” [72, tr.207] Xã hội Trung Hoa thời kỳ này đại loạn, “vương đạo suy tàn, bá đạo nổi lên, chế độ tông pháp nhà Chu đảo lộn, đạo đức nhân lý suy đồi” [34, tr.21]

Về mặt kinh tế, nền kinh tế Trung Hoa cổ đại chủ yếu là sản xuất nông

nghiệp lúa nước với trồng trọt, chăn nuôi có tính chất tự cấp tự túc; thời Tây Chu, trình độ của lực lượng sản xuất tuy đã cao hơn nhiều so với thời Ân Thương nhưng vẫn mang nặng tính tự nhiên và đã đạt được bước tiến đáng kể với sự ra đời của đồ sắt ở thời Xuân thu - Chiến quốc Sự ra đời của đồ sắt trong thời Xuân thu - Chiến quốc với những tiến bộ trong kỹ thuật khai thác, luyện kim đã dẫn đến sự thay đổi về quyền sở hữu ruộng đất; thủ công nghiệp phát triển dần tách khỏi nông nghiệp dẫn đến phân công lao động xã hội theo hướng chuyên môn hóa, nhiều ngành nghề mới hình thành trong đó có thương nghiệp; tầng lớp thị dân và quý tộc mới xuất hiện làm thay đổi cơ cấu giai cấp xã hội

Trang 17

Từ đây phát sinh một loạt quý tộc mới là những thương nhân có thế lực ngày

càng mạnh, họ tìm mọi cách để tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ

Thời Tây Chu, đồ đồng thau vẫn được sử dụng phổ biến; những công cụ, vật dụng bằng sắt chỉ mới bắt đầu xuất hiện Sang cuối thời Xuân thu, công cụ lao động bằng sắt đã được sử dụng phổ biến, nhất là thời Chiến quốc với kỹ thuật luyện sắt tiến bộ rất nhanh Nước Ngô dựng lò luyện sắt lớn đến 300 người thụt bễ, đổ than Năm 513 tr.CN, người nước Tấn đã dùng sắt để đúc đỉnh và khắc lên đó những điều luật của Phạm Tuyên Tử; các nước Triệu, Hàn, Tề… đều có những trung tâm luyện sắt lớn Kết quả khảo cổ học đã cho chúng

ta những bằng chứng sống động: người ta đã tìm được trên một cái chuông xuất

xứ từ nước Tề niên đại vào giữa thời Xuân thu có khắc một đoạn chữ, trong đó

có câu: “Người luyện sắt bốn nghìn”; nhiều loại công cụ lao động bằng sắt có niên đại cuối thời Xuân thu như lưỡi cày, lưỡi cuốc, xẻng, liềm, búa và những binh khí đã được khai quật được trong một ngôi mộ cổ ở Hồ Nam (ngày xưa thuộc đất Sở) vào năm 1954

Về nông nghiệp, đời nhà Hạ, mỗi người chủ gia đình được phát cho năm

chục mẫu ruộng, mỗi mùa phải đóng thuế cống bằng huê lợi của năm mẫu Đời

Ân, mỗi người chủ gia đình được phát cho bảy chục mẫu mà được hưởng trọn huê lợi nhưng tám gia đình phải chung sức làm một khoảng ruộng công bảy chục

mẫu ở giữa, phép đó gọi là trợ Đời Chu, mỗi người chủ gia đình được phát cho

một trăm mẫu, được hưởng trọn huê lợi nhưng tám gia đình phải chung sức làm

một khoảng ruộng công ở giữa một trăm mẫu, phép đó gọi là triệt Ta thấy, trải

các thời Hạ, Ân, Chu, quyền sở hữu thuộc về Nhà nước nên ruộng đất không được mua bán mà được cấp cho các gia đình nông nô canh tác Đời Ân, Chu, mảnh ruộng đất hình vuông được chia giống hình chữ “tỉnh” ( 井 ), tám gia đình cày cấy tám mảnh xung quanh và chung sức làm mảnh ruộng công ở giữa nên còn được gọi là phép “tỉnh điền” Dù diện tích canh tác khác nhau nhưng nhìn chung, số huê lợi người cày cấy phải nộp cho Nhà nước là một phần mười thu

Trang 18

hoạch Đến thời Xuân thu - Chiến quốc, công cụ lao động và phương tiện sản xuất được cải tiến, kỹ thuật canh tác tiến bộ đã tạo điều kiện cho nông nô khai phá đất hoang, ruộng tư xuất hiện ngày càng nhiều, bọn quý tộc quyền thế cũng chiếm dần ruộng công xã làm ruộng tư Hiện tượng mua bán ruộng đất cũng đã

xuất hiện; sách Tả truyện chép: “Người Nhung Địch đến ở, dùng vật quý để đổi

lấy đất, đất có thể mua bán” [92, tr.142] Chế độ tư hữu ruộng đất phát triển và chế độ tỉnh điền dần tan rã Lúc này lượng ruộng đất của nông dân canh tác không đều nhau như trước nên cách thu thuế cũ không còn phù hợp Thế kỷ thứ VII tr.CN, nước Tề đã căn cứ vào ruộng đất tốt xấu để thu thuế; năm 594 tr.CN, nước Lỗ là nước đầu tiên thi hành chế độ thu thuế mới, căn cứ theo diện tích đất

để đánh thuế gọi là thuế sơ mẫu và đến năm 350 tr.CN, nước Tần tuyên bố bỏ chế độ tỉnh điền, cho dân được buôn bán ruộng đất Chế độ tỉnh điền tồn tại từ thời nhà Ân (khoảng thế kỷ XVII tr.CN) đến đây chấm dứt Như Will Durant và

Ariel Durant đã viết trong Bài học của lịch sử: “Lịch sử kinh tế không khác gì

trái tim của xã hội, nó đập chậm chậm: trong thời gian trái tim phồng ra, của cải được một thiểu số tập trung lại, để rồi tới thời gian trái tim bóp lại thì nhất định phải phân phát ra để lưu thông” [16, tr.92] Cùng với chế độ thu thuế mới, các nước cũng thi hành chế độ quân sự mới Ở nước Trịnh, chế độ quân sự mới này gọi là “khâu phú” còn ở nước Lỗ gọi là “khâu giáp”

Cùng với việc cải tiến công cụ lao động, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp

đã có bước tiến bộ mới Người Trung Quốc đã biết dùng trâu, bò, ngựa làm sức

kéo Thiên Tấn ngữ của sách Quốc ngữ chép rằng: “Những súc vật làm vật hiến

tế ở đền miếu có thể dùng trong công việc đồng áng” [92, tr.140] Người Trung Quốc thời Xuân thu đã biết dùng bò kéo cày để đường cày được sâu hơn; biết bón phân chăm sóc cây trồng; đặc biệt là đã biết đào kinh dẫn nước và tháo nước Nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật canh tác, có thể chủ động được nguồn nước và dinh dưỡng cho cây trồng nên lúc này, người dân đã có thể làm hai mùa trong năm

Trang 19

Công tác thủy lợi cũng được nhà nước coi trọng; khu vực Trường Giang

đã hình thành hệ thống thủy lợi không những giúp cho nông nghiệp phát triển

mà còn giúp cho việc giao thông thuận lợi Thế kỷ thứ V tr.CN, vua Phù Sai nước Ngô đã cho đào một hệ thống kênh nối Trường Giang với Sông Hoài và nối sông Hoài với các con sông ở gần lưu vực Hoàng Hà Nhà Tần đã cho xây đập Đô Giang ở Tứ Xuyên trong suốt 5 năm (256 - 251 tr.CN), lại cho đào kênh Trịnh Quốc dài hơn 3000 dặm dẫn nước từ huyện Kinh (Thiểm Tây) vào Lạc Thủy biến vùng bình nguyên Quan Trung rộng lớn có đến 200 vạn mẫu đất vốn chua phèn thành đất đai màu mỡ, canh tác cho sản lượng cao làm cho kinh tế phát triển; đó là một trong những cơ sở giúp nước Tần trở nên giàu, mạnh Các nước Ngụy, Sở, Tề cũng đều có kinh đào khá dài

Sự ra đời của đồ sắt không chỉ thúc đẩy nông nghiệp phát triển Công cụ lao động và cả nhiều phương tiện lao động cũng được cải tiến thúc đẩy thủ công nghiệp phát triển nhanh dẫn đến một loạt ngành nghề thủ công dần tách ra khỏi nông nghiệp thành những nghề độc lập và ngày càng phát triển như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm, v.v…Các ngành thủ công quan trọng như nghề làm muối, nghề sắt, làm vũ khí…đều do nhà nước trực tiếp quản lý nhưng nền thủ công nghiệp tư nhân đã bắt đầu phát triển Những nhà giàu có thường sản xuất kinh doanh các ngành nghề đòi hỏi phải có nhiều vốn và có quyền thế như nghề làm muối, nghề luyện sắt; triều đình các nước đã đặt ra các chức quan chuyên quản lý về sắt và muối và thu thuế 3/10 thu nhập

Sách Chu lễ đã phản ánh tình hình phát triển ngành nghề thủ công trong xã hội

thời bấy giờ như sau: “Thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…” Hệ quả tất yếu là dẫn đến phân công lao động xã hội lại theo hướng chuyên môn hóa, phá vỡ nền kinh tế thuần nông, sản phẩm làm ra trở nên dư thừa đòi hỏi có sự thông thương mua bán trao đổi sản phẩm thúc đẩy thương nghiệp và việc sử dụng tiền tệ ngày càng phát triển

Trang 20

Thời Ân Thương, người Trung Hoa đã biết sử dụng tiền bằng vỏ ốc gọi là

bối; sau đó còn sử dụng bối bằng đồng nhưng hiện tượng lấy vật đổi vật vẫn còn

phổ biến Tiền đồng ra đời vào cuối thời Xuân Thu và được dùng rộng rãi trong thời Chiến Quốc nhưng mỗi nước có một loại tiền riêng: Trong khi nước Sở vẫn

dùng bối bằng đồng thì các nước Tần, Tây Chu dùng tiền hình tròn, các nước Ngụy, Triệu, Hàn dùng tiền hình lưỡi xẻng gọi là bố, các nước Yên, Tề dùng tiền hình con dao gọi là dao Thời Chiến quốc người Trung Hoa cũng đã biết dùng

vàng làm tiền tệ để mua những thứ có giá trị lớn như thiên lý mã, bảo kiếm v.v… Đến cuối thời Chiến quốc đã có tiền vàng, tiền bạc xuất hiện Nhiều thành phố vốn là những đô thị trung tâm chính trị đã trở nên phồn hoa, sầm uất như Hàm Dương ở Tần, Lâm Truy ở Tề, Hàm Đan ở Triệu, Đại Lương ở Ngụy, Lạc Dương ở Chu, Thọ Xuân ở nước Sở, Khai Phong ở nước Ngụy v.v…dân chúng các nơi di cư tới đông đúc hình thành nên hạng người gọi là “thị dân” Theo

Chiến quốc sách, thành phố Lâm Truy nước Tề lúc bấy giờ có đến 7 vạn hộ

(khoảng 350.000 người) Việc mua bán phát triển nên trong xã hội đã dần xuất hiện một số lái buôn có vốn lớn lên đến hàng vạn lạng vàng Những phú thương này rất có thế lực và bắt đầu dùng tiền xâm nhập chính trị Những thương gia danh tiếng còn lưu lại trong sử sách có thể kể đến như Phạm Lãi, một công thần của Việt Vương Câu Tiễn Sau khi giúp Câu Tiễn đánh Ngô thắng lợi đã đổi tên thành Đào Chu Công sang nước Tề buôn bán Đoan Mộc Tử là Tử Cống, học trò của Khổng Tử, chuyên buôn bán ở nước Tào, nước Lỗ Ngoài ra còn có Huyền Cao nước Trịnh, Bạch Khuê nước Ngụy Nổi tiếng hơn hết là Lã Bất Vi, thương nhân nước Triệu và sau trở thành thừa tướng nước Tần Quan điểm “nông bản, thương mạt”, coi nghề buôn bán là nghề rẻ mạt trong xã hội tuy vẫn còn phổ biến nhưng cũng đã dần thay đổi; người dân đã thấy cái lợi của thương nghiệp mà ham mua bán nên đã xuất hiện quan niệm: “Tòng bần cầu phú, nông bất như công, công bất như thương” Khổng Tử cũng đã nói về học trò mình, Nhan Hồi

và Tử Cống như sau: “Trò Hồi (Nhan Uyên) thì sức tu học gần mức chí Đạo; trò

Trang 21

thường ở trong cảnh nghèo, nhưng vẫn yên phận vì Đạo Trò Tứ (Tử Cống) chẳng yên chịu với số phận, bèn đi buôn bán mà trở nên giàu; nhưng liều lượng điều chi thì thường hay trúng lý” [60, tr.171] Tuy nhiên với chính sách “trọng nông, ức thương” cùng với tình hình xã hội rối ren, phương tiện giao thông còn thô sơ, đi lại khó khăn do lãnh địa bị chia cắt bởi nạn cát cứ của chư hầu nên thương nghiệp vẫn chưa thực sự phát triển

Về chính trị - xã hội, những biến chuyển về kinh tế của Trung Hoa cổ đại

tất yếu sẽ dẫn đến những biến chuyển về chính trị - xã hội

Đứng đầu giai cấp quý tộc thời nhà Chu là vua, được gọi là “Vương” ( 王),

là “Thiên tử” ( 天子) ; Thiên tử có quyền sở hữu toàn bộ đất đai và thống trị toàn

bộ thần dân trong nước Trật tự lễ nghĩa, thể chế xã hội thời kỳ này hết sức chặt chẽ và tôn nghiêm, cấp dưới phải phục tùng cấp trên tuyệt đối

Chế độ chính trị nhà Chu mang tính thế tập Thiên tử nhà Chu phân phong đất đai, chức tước cho anh em, họ hàng và công thần làm chư hầu Phép phong đất có 5 hạng theo tước vị gồm có: Mảnh đất vuông vức của Vương một ngàn dặm, Công và Hầu được một trăm dặm, Bá được bảy chục dặm và Tử được năm mươi dặm để họ lập nước và trị dân các nơi Vua lại đặt ra các chức quan như tư mã, tư đồ, tư không, tư khấu phụ trách các mặt tài chính, xây dựng, quân đội, hình pháp và giáo dục

Chế độ “phong hầu kiến địa” này vừa có ý nghĩa về mặt chính trị, vừa có ý nghĩa về mặt huyết thống; nó tác dụng đảm bảo quyền lực của Thiên tử nhà Chu bao trùm khắp thiên hạ và làm cho nền cai trị của nhà Chu ổn định lâu dài Chư hầu lại phân phong đất đai, chức tước cho các đại phu, khanh, sĩ Chư hầu cũng có quân đội riêng nhưng tất cả phải thần phục mệnh lệnh Thiên tử nhà Chu; phải có nghĩa vụ triều cống, triều hội theo định kỳ hàng năm và mệnh lệnh chinh phạt Thế cho nên, các lãnh chúa lớn nhỏ ra sức bóc lột nông dân Giai cấp nông dân chiếm

đa số trong xã hội thời bây giờ; là lực lượng giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nhưng họ bị cột chặt vào công xã nông thôn, được giao cày cấy theo

Trang 22

chế độ tỉnh điền Ngoài việc nộp thuế bằng 1/10 thu hoạch họ còn phải nộp các khoản thuế phụ khác như lụa, da, thú săn…và phải đi sưu dịch như xây dựng dinh thự, thành quách, cầu đường v.v… và đi chiến trận nên đời sống rất vất vả Mặc dù

là “dân của vua” tức là dân tự do nhưng thực chất họ không có tự do Trong cuốn

Lịch sử Trung Quốc, sử gia Hạ Tăng Hữu đã bàn về chế độ “tỉnh điền” và cho rằng

đất đai hẳn thuộc quyền sở hữu riêng của quý tộc, nhà nông bị lệ thuộc vào đất đai đều là nông nô và đây chính là điểm cơ bản để phân biệt giữa thường dân, và bách tính; bởi vì ngoài trăm họ (bách tính) của quý tộc thì nông nô đều là dân đen không

có họ Có địa vị thấp kém nhất trong xã hội là nô lệ Nguồn nô lệ chính là tù binh và còn có một số người đồng tộc cũng bị biến thành nô lệ khi họ bị phá sản hoặc phạm tội Nô lệ không được coi là người; họ thường bị thích chữ vào mặt và

bị xem như hàng hóa để ban tặng, mua bán, đổi chác và thường bị tuẫn táng theo người chết Giá trị nô lệ ở thời Tây Chu khi mang ra trao đổi, qua sử sách còn ghi nhận được là phải năm nô lệ mới đổi được một con ngựa và một cuộn tơ!

Chế độ “tỉnh điền” cũng là chế độ quân sự Các nước Chư hầu có nghĩa

vụ là cứ sáu mươi “tỉnh” phải đóng góp một chiến xa, bốn con ngựa, mười hai con bò, bảy mươi hai lính có trang bị vũ khí, lương thực đầy đủ Đến khi ra trận, quân lính do quý tộc chủ nô chỉ huy Binh lực cũng tùy theo nước lớn, nhỏ

mà có quy định cụ thể: “Nước Thiên tử có vạn chiến xa (vạn thặng), nước của Công và Hầu có ngàn chiến xa (thiên thặng), dưới nữa thì có trăm chiến xa Mỗi chiến xa được bốn ngựa kéo, có một người đánh xe ở giữa, hai bên là một quân bắn cung và một quân cầm thương” [45, tr.17]

Như trên đã nói, thời nhà Chu, vua là “Thiên tử”, sở hữu toàn bộ đất đai Chế độ kinh tế “tỉnh điền” liên quan mật thiết đến chế độ chính trị do giới quý tộc nắm giữ bởi cơ sở kinh tế thời bấy giờ là kinh tế nông nghiệp Thiên tử, chư hầu, khanh, đại phu làm chủ đất đai thì đồng thời cũng là chủ về phương diện kinh tế

và chính trị Dân đen không có đất đai phải lao động phục vụ cho giới quý tộc và khi có chiến tranh giặc giã thì họ là người chết thay cho giới quý tộc Sang thời

Trang 23

Xuân thu - Chiến quốc, sự xuất hiện chế độ tư hữu về ruộng đất đã dẫn đến sự phân hóa mạnh trong giai cấp thống trị Giai cấp thống trị xã hội trước chỉ gồm

có quý tộc, chủ nô thì nay xuất hiện lớp quý tộc mới xuất thân từ tầng lớp tự do, nhờ giàu có, tài ba mà trở nên có thế lực, tầm ảnh hưởng của họ đối với xã hội ngày càng lớn và họ bắt đầu chi phối xã hội theo cách riêng của mình Kẻ sĩ từ giai cấp dưới nổi lên, từ bình dân mà trở thành quan văn nhờ tài du thuyết có Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Thư, Sái Trạch; từ tay trắng mà thành võ tướng nhờ tài chinh chiến giỏi có Tôn Tẫn, Bạch Khởi, Liêm Pha, Vương Tiễn v.v…Lại còn có những người như thương nhân Huyền Cao đã giúp nước Trịnh chống được nước Tần (năm 627 tr.CN), Lã Bất Vi đã dùng vàng “buôn vua” mà làm đến Tướng quốc nước Tần Có thể nói, chính sự biến đổi cơ cấu giai cấp bắt nguồn từ sự biến đổi công cụ sản xuất đã làm xã hội Trung Hoa cổ đại chuyển mình từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến

Chế độ chiếm hữu nô lệ đã tồn tại và phát triển trải qua các triều đại nhà

Hạ, nhà Thương đến cuối thời Tây Chu thì bước vào giai đoạn khủng hoảng và dần đi tới suy tàn; nhưng phải đợi đến năm 305 tr.CN, với biến pháp của Thương Ưởng nước Tần thì mới đến hồi cáo chung

Tóm lại, xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc có sự biến đổi to lớn về kinh tế tất yếu dẫn đến biến đổi về các mặt chính trị - xã hội; đây

là giai đoạn giao thời chuyển từ chế độ tông tộc sang chế độ gia trưởng Các giá trị đạo đức xã hội mới chỉ mới manh nha xuất hiện chứ chưa định hình trong khi các giá trị đạo đức xã hội cũ đã bị băng hoại làm nảy sinh nhu cầu

ổn định trật tự xã hội và giáo hóa con người Trước xu thế của thời đại, nhiều nhà tư tưởng đều rất quan tâm nghiên cứu về con người và đã có nhiều triết thuyết ra đời trong thời kỳ này Trong đó, phải kể đến quan điểm về con người của triết học Nho gia Tiên Tần với Khổng Tử là người mở đường không chỉ riêng trường phái Nho gia mà còn cho toàn bộ lịch sử triết học Trung Quốc

Trang 24

1.1.2 Sự băng hoại về luân lý đạo đức trong xã hội Trung Hoa thời

kỳ Xuân thu - Chiến quốc với sự hình thành quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần

Quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần không chỉ nảy sinh do sự biến đổi về điều kiện kinh tế xã hội mà còn do sự băng hoại về đạo đức xã hội Sự băng hoại về đạo đức trong xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc biểu hiện qua nạn tranh quyền, đoạt lợi dẫn đến chiến tranh loạn lạc diễn ra khắp nơi và kéo dài đẩy nhân dân vào cảnh lầm than, trật tự xã hội đảo lộn, lễ tiết bị khinh nhờn Tình cảnh hỗn loạn, mất kỷ cương đó được Trang Tử

phản ánh trong Nam Hoa Kinh: “Thiên hạ đại loạn, thánh hiền không xuất hiện

nữa, đạo đức không còn thuần nhất nữa Rất nhiều người chấp nhất, có thiên kiến mà tự cho mình là phải” [100, tr.543]

Thời Tây Chu, trật tự lễ nghĩa, thể chế xã hội hết sức chặt chẽ và tôn nghiêm, Khổng Tử đã nói: “Triều đại nhà Châu soi xét theo hai triều đại đã qua (nhà Hạ và nhà Thương) mà chế định lễ tiết Nhờ vậy, lễ tiết trở nên rực rỡ biết bao! Vậy ta theo lễ tiết nhà Châu” [60, tr.41] Từ khi dời đô qua phía đông, nhà Chu suy yếu dần, nhà vua chỉ còn giữ cái danh Thiên tử chứ không còn thực quyền Trong khi đó, các nước chư hầu ngày càng lớn mạnh Với chiêu bài phò trợ thiên tử nhà Chu, các nước chư hầu thôn tính lẫn nhau để giành quyền bá chủ dẫn đến cảnh thiên hạ đại loạn, chiến tranh diễn ra liên miên kéo dài đến

500 năm (770 - 221 tr.CN)

Sang thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc, chế độ tông pháp nhà Chu không còn giữ được trật tự lễ nghĩa, uy nghiêm như trước: đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa Thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, quan hệ huyết thống ngày càng xa; các việc tang, viếng, hiếu, hỷ trở thành thủ đoạn ngoại giao dẫn đến tình trạng trật tự lễ nghĩa, thể chế xã hội bị đảo lộn dẫn đến sự phân hóa giai cấp và nạn “tiếm ngôi việt vị 僭嵬越位 ” Tình hình chính trị - xã hội rối ren, đạo đức băng hoại thời bấy giờ được Tư Mã Thiên

Trang 25

chép lại trong Sử ký, Phong thiện thư: “Từ khi Chu khắc phục Ân mười bốn đời

sau, đời càng lúc càng suy kém, lễ nhạc bị bỏ phế, chư hầu làm liều…- Tự Chu khắc Ân hậu thập tứ thế, thế ích suy, lễ nhạc phế, chư hầu tứ hành…”; hay

trong Tần Thủy Hoàng bản kỷ, Tư Mã Thiên viết: “Vua Văn Vương, Vũ vương

nhà Chu phong con em cùng họ làm vua rất nhiều, nhưng về sau dòng họ càng ngày càng xa, họ đánh lẫn nhau, xem nhau như thù Chư hầu càng giết nhau, đánh nhau, Thiên tử nhà Chu không làm sao ngăn cấm được”

Thiên tử nhà Chu trị vì khắp thiên hạ, Kinh Thi có câu: “Khắp cõi dưới

trời, chẳng có chỗ nào là không phải lãnh thổ của vua Noi theo những vùng đất ven bờ, dân chúng khắp nơi, chẳng ai là không phải bề tôi của vua” [47, tr.324-

325] Tả truyện năm Chiêu Công thứ 7, tức năm 535 tr.CN chép: “Thiên tử

quản lý khắp thiên hạ, chư hầu cai quản đất nước được Thiên tử ban cấp cho, đó

là chế độ xưa Ở trong cương thổ, đâu chẳng là đất của vua; ăn rau và ngũ cốc của đất ấy, ai chẳng là dân của vua” Như vậy, đất nào cũng là đất của Thiên tử nhà Chu, dân nào cũng là dân của Thiên tử nhà Chu; chức tước, đất đai của các vua chư hầu đều là được Thiên tử nhà Chu ban phát, phân phong Thiên tử nhà Chu cai trị chủ yếu dựa vào lễ và tập tục; quy định tất cả các việc lễ, việc nhạc, việc chính trị, việc hình phạt và vua các nước chư hầu phải tuân thủ nghiêm ngặt, phải thực hiện theo các quy định đó Đến thời Xuân thu thì Thiên tử nhà Chu không còn thực quyền, bị tiếm ngôi việt vị; mọi việc do chư hầu, khanh đại phu tùy tiện, tự ý sắp xếp, quyết định Nạn tiếm ngôi việt vị biểu hiện trong xã hội thời bấy giờ là tình trạng tiếm quyền (僭權) và tiếm lễ (僭澧)

Thiên tử nhà Chu bị chư hầu tiếm quyền, chư hầu lại bị đại phu tiếm quyền là vấn nạn diễn ra phổ biến và kéo dài trong xã hội thời bấy giờ Trong

Luận ngữ, Khổng tử nói rằng: “Khi trong thiên hạ được thái bình, thì những việc

lễ tiết, âm nhạc cùng là những cuộc hưng binh sửa phạt các nước chư hầu đều gom vào quyền hành của vua Thiên Tử xuất phát Khi trong thiên hạ loạn lạc những việc lễ tiết, âm nhạc cùng là những cuộc chinh phạt đều do nơi vua chư

Trang 26

hầu ra lệnh Các quyền ấy phát ra từ vua chư hầu thì ít ra giữ được đến mười đời, trong khoảng thời gian ấy, ắt bị hàng đại phu chiếm đoạt Quan đại phu chiếm lấy quyền hành, ít ai giữ được năm đời” [60, tr.259] Vua chư hầu tiếm quyền Thiên

tử có người truyền đến mười đời, đại phu tiếm quyền chư hầu thì ít ai truyền đến năm đời Lịch sử Trung Hoa cổ đại cho chúng ta thấy nạn “tiếm quyền” trong xã hội thời bấy giờ diễn ra dai dẳng kéo dài từ thế hệ này qua thế hệ khác và không phải chỉ ở xảy ra một nước chư hầu nào mà hầu như diễn ra khắp nơi Mạnh Tử

đã bức xúc nói về thực trạng này như sau: “Năm vị bá là tội nhân của ba đời vương Hiện nay các vua chư hầu là tội nhân của năm vị bá Các quan đại phu đời nay là tội nhân của các vua chư hầu đời nay vậy” [73; 195]

Do uy thế chính trị của nhà Chu giảm sút, nhiều nước chư hầu tiếm quyền và có dã tâm muốn khống chế Thiên tử để chỉ huy các nước khác Nước Trịnh là nước đầu tiên thực hiện mưu đồ này Chu Hoàn Vương đã phải huy động lực lượng các nước Trần, Thái, Vệ đánh Trịnh nhưng đều bị thua, bản thân Chu Hoàn Vương cũng bị thương Mượn cớ “tôn vương bài di”, nhiều nước chư hầu động binh thôn tính các nước nhỏ, yếu để mở rộng đất đai, củng

cố thế lực, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ Năm 496 tr.CN, vua Ngô là Hạp

Lư đem quân đánh nước Việt mở đầu cuộc chiến tranh Ngô - Việt Mãi đến năm 473 tr.CN, khi Việt Vương Câu Tiễn tiêu diệt nước Ngô thì cuộc chiến hai nước Ngô - Việt mới kết thúc Việt Vương lại tiếp tục thôn tính các nước và trở thành bá chủ ở phía đông sông Giang, sông Hoài Năm 656 tr.CN, lấy lý do nước Sở không nộp cống cho nhà Chu, Tề cùng một số nước khác đem quân tấn công nước Sở Sau đó, Tề Hoàn Công họp chư hầu mấy lần và được chư hầu công nhận làm bá chủ miền hạ lưu sông Hoàng Hà Đời Lỗ Ân Công năm thứ hai, nước Trịnh đem quân đánh nước Vệ Đến năm thứ tư đời Lỗ Ân Công, người nước Cử đem quân đánh nước Kỷ chiếm đất: “Mùa xuân, vương, tháng

hai, người Cử phạt nước Kỷ, chiếm đất Mân Lâu” [43, tr.70] Sách Mạnh Tử

viết: “Năm vị bá mỗi vị đều dùng cường quyền mà kéo nhiều vua chư hầu theo

Trang 27

mình, rồi khiến những vua chư hầu này đi xâm phạt những vua chư hầu khác” [73, tr 197] Có thể nói, Xuân thu - Chiến quốc là thời loạn nhất trong lịch sử Trung Quốc Đây là thời mà các chư hầu đều “tranh thành dĩ chiến, tranh địa dĩ chiến”, “sát nhân doanh dã, sát nhân doanh thành” Hầu như không có năm nào

là không có chiến tranh Lỗ sử còn ghi chép có đến 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ trong vòng 242 năm Nếu đầu thời Tây Chu Trung Hoa có hàng ngàn nước thì đến cuối thời Xuân thu chỉ còn hơn một trăm nước Những nước mạnh nhất thay nhau làm bá chủ thiên hạ Lúc đầu là cục diện “ngũ bá” gồm có năm nước

Tề, Tấn, Sở, Tống, Tần; sau thêm Ngô, Việt thành bảy nước còn được gọi là

“thất hùng”

Không chỉ Thiên tử bị vua chư hầu tiếm quyền Vua chư hầu cũng bị khanh, đại phu tiếm quyền Năm Khổng Tử 35 tuổi thì ở nước Lỗ xảy ra việc Quý Bình Tử hợp lực cùng nhà họ Mạnh và họ Thúc Tôn đánh Lỗ Chiêu Công

Trong Sử ký Tư Mã Thiên viết: “Nước Lỗ từ đại phu trở xuống đều vượt quyền

và rời khỏi con đường chính đạo” [103, tr.151] Không chỉ có vua chư hầu nước

Lỗ bị đại phu tiếm quyền mà một loạt các nước chư hầu như nước Tấn, Tống,

Vệ, Trịnh, Tào, Cử, Châu, Tiết, Kỷ…quyền hành của nhà vua đã bị các đại phu chiếm đoạt nên vua chư hầu cũng chỉ có danh nghĩa chứ không có thực quyền:

“Tháng ba, Lỗ công hội tại Cức Lương với Tấn hầu, Tống công, Vệ hầu, Trịnh

bá, Tào bá, Cử tử, Châu tử, Tiết bá, Kỷ bá, Tiểu Châu tử vu Cức Lương, mậu dần, đại phu minh” [44, tr.104] Trong từng nước chư hầu cũng xảy ra những cuộc chiến tranh tranh giành địa vị, quyền thế, đất đai giữa bọn quý tộc với nhau Chẳng hạn, ở nước Tấn vào năm 403 tr.CN có ba dòng họ lớn là Hàn, Triệu, Ngụy chia nhau nước Tấn nên gọi là Tam Tấn Công Sơn Phất Nhiễu là gia thần họ Quí lại hiệp với Dương Hổ mà cầm tù ông Quí Hoàn Tử để chiếm quyền cai trị Có đến 36 vụ giết vua được sử sách ghi chép Còn những vụ sát hại nhau như con giết cha, em giết anh, vợ chồng sát hại lẫn nhau thì không biết bao nhiêu mà kể

Trang 28

Cùng với nạn tiếm quyền, tiếm lễ là biểu hiện cho tình trạng đạo đức bị

băng hoại sâu sắc Ở Trung Hoa cổ đại, việc lớn hàng đầu là việc tế tự Sách Tả

truyện, Thành công thập tam niên chép: “Việc lớn quốc gia là tế lễ và chiến

tranh - Quốc chi đại sự, tại tự dữ nhung”; sách Tả truyện, Tương công nhị thập

lục niên chép: “Năm 547 khi bị đuổi ra khỏi nước, Vệ Hiến công sai người về

đàm phán với quyền thần Ninh Hỉ: Chính trị do Ninh, còn tế lễ là do quả nhân

ta - Chính trị do Ninh thị, tế tắc quả nhân” Vệ Hiến công thà mất chính quyền chứ không đành mất quyền tế tự Những việc này cho thấy người Trung Hoa cổ

đại xem việc tế tự là việc trọng đại nhất trong đời người Trong Lễ ký, Vương

chế viết: “Thiên tử tế trời đất, chư hầu tế xã tắc, đại phu tế ngũ tự - Thiên tử tế

thiên địa, chư hầu tế xã tắc, đại phu tế ngũ tự” Sách Lễ ký, thiên Khúc lễ hạ

cũng viết: “Thiên tử tế trời đất, tế bốn phương, tế núi sông, tế ngũ tự; chư hầu tế phương mình ở, tế ngũ tự; quan đại phu tế ngũ tự, kẻ sĩ tế tổ tiên - Thiên tử tế thiên địa, tế tứ phương, tế xuyên sơn, tế ngũ tự; chư hầu phương tự, tế ngũ tự; đại phu tế ngũ tự; sĩ tế kỳ tiên” Người Trung Hoa cổ đại cho rằng Trời là đấng chủ tể và rất mực tôn kính Thiên tử chính là người vâng mệnh Trời chăn dắt muôn dân nên chỉ có Thiên tử mới được quyền tế Trời; tế Trời là tế Giao Còn chư hầu thì cai quản khu vực được Thiên tử phân phong nên chư hầu tế xã tắc,

ai ở phương nào tế thần phương ấy, không được tế Giao Các quan đại phu thì

tế ngũ tự là tế thần cửa, ngõ, giếng, bếp và ở giữa nhà, còn kẻ sĩ thì tế tổ tiên

Thế mà thời Xuân thu - Chiến quốc, các nước chư hầu giành được quyền

bá chủ thì lấn át uy thế thiên tử nhà Chu, “tiếm vị”, chiếm dụng lễ nghĩa của Thiên tử Năm thứ 31 đời vua Hy Tông nước Lỗ, Thiên tử nhà Chu đã bị tiếm lễ Giao: “Mùa hạ, tháng tư, bốn lần bói về việc tế Giao” [42, tr.192] Không chỉ Thiên tử bị tiếm lễ mà vua chư hầu cũng bị quan đại phu tiếm lễ Quan đại phu nước Lỗ họ Quí tế Lữ ở núi Thái Sơn, tiếm lễ của vua chư hầu nước Lỗ (Thái Sơn ở ngoài cảnh giới nước Lỗ, Thiên tử có lệ phái vua chư hầu thay mặt mình đến đó tế thần, đó là tế Lữ, như vậy chỉ vua có chư hầu mới được dùng lễ “Lữ”

Trang 29

tế) Không những thế, họ Quí còn lấy lễ bát dật là lễ của bậc Thiên tử mà tế tổ tiên mình (bát dật là tám hàng học trò lễ; gồm tám hàng người múa, mỗi hàng có tám người, tổng cộng có 64 người) Chỉ bậc Thiên tử mới được dùng lễ bát dật để múa cúng tổ tiên Vua chư hầu là vua nhỏ, chỉ có quyền dùng lục dật để múa cúng tổ tiên (lục dật gồm sáu hàng người múa, mỗi hàng có sáu người, tổng cộng

có 36 người múa) Quan đại phu chỉ được phép dùng tứ dật (gồm bốn hàng người múa, mỗi hàng có bốn người, tổng cộng có 16 người múa) còn quan chức bậc dưới như quan sĩ phải dùng nhị dật (gồm hai hàng người múa, mỗi hàng có hai người, tổng cộng có 4 người múa) Quí Khương là quan Đại phu nước Lỗ, theo quy định chỉ được phép dùng tứ dật Thế mà ông Quí Khương lại dùng bát dật để múa cúng tế tổ tiên là phạm lễ chế Vì vậy, Khổng Tử trách họ Quí rằng: “Người

ấy dám dùng lễ bát dật mà múa ở miếu đình nhà mình, việc đó mà người nhẫn tâm làm được, thì việc gì mà người chẳng nhẫn tâm làm?” [60, tr.31]

Không chỉ có thế, Thiên tử nhà Chu và vua chư hầu các nước còn bị các

nhà quyền thế khác tiếm lễ Sách Luận ngữ viết: “Ba nhà quyền thế làm quan

đại phu nước Lỗ là họ Mạnh Tôn, họ Thúc Tôn và họ Quí Tôn, khi tế ông bà ở nhà thờ xong, bèn tụng thi Ung để triệt đồ cúng” [60, tr.31] Theo lễ nhà Chu, khi Thiên tử tế tổ tiên xong thì tụng thi Ung để triệt đồ cúng; việc này vua chư hầu cũng không được phép dùng huống chi chỉ là bậc đại phu! Cho nên đức Khổng Tử chê bai ba nhà đại phu ấy: “Nay ba nhà ấy chẳng phải là ngôi Thiên

tử, cũng chẳng phải là bậc chư hầu, vậy lấy danh nghĩa gì mà dùng tụng thi Ung nơi miếu đường?” [60, tr.31]

Không chỉ tiếm quyền, tiếm lễ của Thiên tử, các nước chư hầu giành được quyền bá chủ còn tự ý phá bỏ chế độ triều cống và đàn áp bắt các nước nhỏ phải cống nạp và lệ thuộc mình Như nước Lỗ là nước chư hầu mà trong

242 năm chỉ triều cống Thiên Tử nhà Chu có ba lần Còn theo Tử Sản, mỗi lần nước Trịnh cống nạp cho nước Tấn “phải dùng đến một trăm xe chở lụa và da

thú” (Quốc ngữ, Trịnh ngữ), mà một trăm xe thì phải cả ngàn người

Trang 30

Trong khi vua chúa, quý tộc cầm quyền sống xa hoa thì dân chúng khổ

sở, bần cùng vì tình cảnh phải quần quật làm xâu cho chủ, đóng thuế cho quan; lại còn khổ vì nạn cường hào ác bá Còn vua chúa, quan lại thì ức hiếp dân lành,

vơ vét cạn kiệt sức người sức của dân chúng để ngày đêm ăn chơi hưởng lạc, bỏ

cả chức phận Cung Bồng Đế của vua Tấn rộng đến mấy dặm, trong cung chen

chúc cung nữ (Tả truyện, Chiêu công năm thứ ba); cuộc sống của những bọn

cầm quyền thời kỳ này là chuỗi ngày “rong chơi vô độ, đi săn ngoài sông Lạc,

mười tuần (100 ngày) không về” [49, tr.258] Kinh Thư viết: “Hy, Hòa nghiêng

ngả mất đức, chìm đắm vào rượu, bỏ chức bỏ bậc, làm rối đạo trời, quẳng xa việc không làm Ngày mồng một cuối tháng thu, xẩy nhật thực ở khoảng sao Phòng; quan Cổ (quan coi về âm nhạc, bị mù) dục trống, quan Sắc phu (chức quan nhỏ trng cung) bươn trải, dân chúng tháo chạy Hy, Hòa làm quan mà

chẳng làm gì, chẳng nghe biết gì; mù mịt về tượng trời” [49, tr.260] Họ không cần làm lụng nhưng của cải chất đầy nhà! Kinh Thi, thiên Quốc Phong, bài Phạt

đàn có đoạn: “Không cấy không gặt Sao lại lấy được lúa của ba trăm nhà?

Không đi săn đi bắn Sao lại thấy ở sân nhà anh có treo con chồn? Người quân

tử kia, không hề ngồi không mà ăn!” Dân chúng thống khổ vì bọn cầm quyền không chỉ ăn chơi phè phỡn, mà còn cậy quyền cậy thế ức hiếp dân lành, họ khổ công oằn lưng làm lụng để nạp thuế, làm phu vẫn chưa đủ thỏa mãn bọn quan tham Chúng không từ thủ đoạn bóc lột tận xương tủy dân đen lại còn giở thói côn đồ từ trộm đạo cho đến cướp bóc trắng trợn: “Dân chúng chưa được yên, chỉ vì bọn bề tôi ăn trộm giở trò cướp bóc” [48, tr.702] Bọn chúng không chỉ

chiếm đất mà chiếm cả người nữa! Kinh Thi, thiên Đại Nhã viết: “Nhân hữu thổ điền, nhữ phản hữu chi, nhân hữu dân nhân, nhữ phúc đoạt chi” Vì thế người ta

ngao ngán, hối tiếc rằng sinh bất phùng thời, giá mà đừng sinh ra sống ở thời này thì hay hơn: “Hoa cây điều, lá thì rườm rà Biết ta cũng sẽ như thế (giống như hoa lá cây điều chóng tàn tụn), thì chẳng bằng là đừng sinh ra vậy” [48, tr.473] Dân chúng ngày càng đói khổ thảm thương, người chết đói la liệt mà

Trang 31

nhà cầm quyền chẳng đoái hoài Sách Mạnh Tử, Lương Huệ Vương chương cú

thượng, tiết 4 viết: “Bếp vua có thịt béo, tàu vua có ngựa mập Mà dân thì có

sắc đói, ngoài đồng ruộng nằm la liệt kẻ chết đói” Trong khi đó thì nhà cầm

quyền bỏ bê chức phận không đoái hoài đến nỗi thống khổ của dân chúng: “nhà vua để cho loài chó heo ăn hết đồ ăn của người, mà chẳng biết cấm ngăn; còn trên đường thì nằm đầy kẻ chết đói, thế mà vua chẳng chịu xuất lúa ra mà phát

chẩn cho dân” [72, tr.15]

Dân chúng lao dịch khổ cực Bọn vương công, quý tộc mặc sức trưng dụng sức dân làm những việc nặng nhọc như đào hào, chở lương thực, quân nhu, xây đồn, xây cất cung điện bất kể lúc nào Có khi đương mùa cấy gặt cũng phải bỏ dở công việc đồng áng để làm phu cho chúng Việc lao dịch nặng nề, vất vả, chiếm toàn bộ thời gian và sức lực của dân đen, đến nỗi con cái không thể làm tròn chữ hiếu phụng dưỡng cha mẹ vì lực bất tòng tâm, tiếng than oán đến tận trời xanh: “Việc vua sai không hề chẳng làm hoàn hảo tinh mật, cho nên quá mệt nhọc mà không thể trồng lúa dé và lúa mạch Thì cha mẹ ăn gì để sống? Trời xanh xa vời ôi!” [47, tr.446-447] Đến nỗi Mạnh Tử nói với Lương Huệ Vương: “Nếu vua chẳng làm trái nghịch thời tiết kẻ làm ruộng, đừng bắt

họ làm xâu trong mùa cấy gặt, thì lúa thóc ăn chẳng hết” [72, tr.13] Trong

Luận ngữ, Khổng Tử cho rằng một trong năm điều mà bậc quốc trưởng cai trị

một nước chư hầu nên giữ là: “Như khiến dân làm xâu thì phải tùy lúc, tránh những cơn cày, bừa, cấy, gặt - Sử dân dĩ thì - 使民以时” [60, tr.7] Dân chúng đói khổ triền miên vì chế độ cai trị khắc bạc của nhà cầm quyền đến mức họ tự thấy mình, con người, còn không bằng cỏ cây vô tri vô giác: “Chỗ thấp thì có cây trường sở, cành mềm mại dịu dàng Non tơ đẹp đẽ và trơn bóng, vui thích thay cho cây trường sở không tri giác (cho nên không có ưu lo vì chính trị phiền phức, thuế má nặng nề)” [47, tr.530]

Không chỉ khổ vì lao dịch, thuế má nặng nề; dân chúng còn chịu khổ nạn

vì chiến tranh Chiến tranh đến cây cỏ còn tàn lụi huống chi con người; dân tình

Trang 32

ly tán, lưu lạc tha phương Kinh Thi nói lên tiếng lòng của người dân thời này:

“Trăm thứ cây cỏ đều tiêu điều, thời loạn thì lắm bệnh hoạn ưu phiền, ta sẽ đi

về nơi đâu?” [48, tr.317] Càng về cuối đời Chiến quốc thì tình cảnh dân chúng càng bi đát hơn Ở nước Tấn, ông già 73 tuổi cũng phải ra tòng quân; nước Vệ bắt lính tới một phần năm dân số; còn ở nước Tề, người dân bị thu thuế tới hai phần ba hoa lợi, ruộng đất bị bỏ hoang Thậm chí có kẻ đói quá, phải đổi con

cho nhau mà ăn thịt! Chiến Quốc sách, bài Tề V.1 có đoạn nói về thảm cảnh đất

nước và dân chúng phải gánh chịu khi đất nước có chiến tranh: “Chiến tranh là

tàn mạt: nghe tin có chiến tranh, kẻ sĩ gom của riêng mà cấp cho binh đội; người ở chợ thì gom lương thực mà cấp cho lính cảm tử; quan trên ra lệnh chặt đòn ngang của xe để làm củi, giết bò (cày) để đãi lính, như vậy là đưa binh đội đến chỗ suy nhược Người thường thì cầu khấn, vua chúa thì tế lễ các tử sĩ, từ kinh đô tới các huyện nhỏ đều đặt bàn cúng vái, ấp nào có chợ thì cũng ngưng mọi hoạt động mà phục vụ nhà vua, như vậy là làm cho nước hóa rỗng không Hôm trước hết chiến tranh thì hôm sau lo chôn người, giúp đỡ kẻ bị thương; dù

có công thắng trận, nhưng hao tổn về quân phí, nhân dân bi thảm khóc lóc, cũng đau lòng cho vua Nhà nào có người chết thì khuynh gia, bại sản vì việc ma chay; nhà nào có người bị thương thì dốc hết tiền lo việc thuốc thang; nhà nào không có người chết hoặc bị thương thì bày tiệc mừng; rượu chè tơi bời, phí tổn cũng không kém những nhà kia Phí tổn vào chiến tranh, mười năm thu lúa cũng chưa đủ bù Quân đội mà chiến đấu xong thì mâu và kích gãy, vòng và dây cung đứt, nỏ hao tổn, xe hư hỏng, ngựa mệt mỏi, tên mất già đi nửa, áo giáp cùng binh khí triều đình phát ra, kẻ sĩ và đại phu giấu đi một phần, sĩ tốt lấy trộm đi một phần, dù thu thuế ruộng mười năm cũng chưa đủ bù”

Tóm lại, phàm đã sinh ra là con người, có ai không muốn sống và có mấy

ai không sợ cái chết Thế nhưng sống mà bị vùi dập, khổ sở cùng cực cả về thể xác lẫn tinh thần; khổ cực đến mức không còn chỗ nào để bấu víu, không còn điểm nào tựa để ngoi lên, không còn thân quyến, gia tộc để mà lo lắng thì người

Trang 33

ta cũng chẳng còn thiết sống nữa! Con người trong thời đại nhiễu nhương, loạn lạc thời Xuân thu - Chiến quốc có lòng như thế Nỗi niềm của họ chất chứa trong Kinh Thi: “Có con thỏ (vì giảo quyệt, được thoát khỏi lưới) thung dung thư thả, con chim trĩ (vì chính trực) mắc vào lưới Đầu đời của ta sống, (thiên hạ) còn vô sự Cuối cuộc đời của ta sống, thì gặp (lúc biến loạn) trăm mối lo âu (Ta chẳng làm sao được) chỉ mong ngủ yên không động đậy” [47, tr.291] Bên cạnh những người cùng khổ có tư tưởng yếm thế đó thì cũng có những nhà hiền

sĩ, những nhà tư tưởng lớn vẫn bừng bừng nhiệt huyết mong bình loạn, cứu đời,

ra sức giáo hóa đưa con người quay về chính đạo Một trong những trường phái

tư tưởng nổi bật thời kỳ này là Nho gia với tôn chỉ giáo hóa và xây dựng con người có đủ năng lực “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC NHO GIA TIÊN TẦN

1.2.1 Học thuyết “Thiên mệnh” của người Trung Hoa cổ đại với việc hình thành quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần

C.Mác viết: “Ý thức (das Bewubtsdin) không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là tồn tại được ý thức (das Bewubte Sein), và sự tồn tại của con người

là quá trình đời sống hiện thực của con người” [67, tr.37] Có thể khẳng định rằng quan điểm về con người của triết học Nho gia Tiên Tần không phải tự nhiên mà có Nó nảy sinh và phát triển trên mảnh đất hiện thực Trung Hoa thời

kỳ Xuân thu - Chiến quốc với những chuyển biến lớn lao về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng, văn hóa Không những thế mà nó còn kế thừa tư tưởng “Thiên mệnh” của người Trung Hoa cổ đại

Lịch sử Trung Hoa cổ đại kéo dài khoảng 2000 năm (từ khoảng thế kỷ XXI tr.CN đến năm 221 tr.CN), đã trải qua thời kỳ xã hội nguyên thủy với các truyền thuyết về thời thượng cổ như Bàn Cổ, Tam hoàng, Ngũ đế Triều đại nhà

Hạ xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ II tr.CN là nhà nước chiếm hữu nô lệ đầu tiên của xã hội có giai cấp ở Trung Hoa rồi đến nhà Thương Nhà Chu thay

Trang 34

thế nhà Thương trị vì thiên hạ vào khoảng thế kỷ 11 tr.CN Kết thúc giai đoạn Tây Chu vào thế kỷ thứ 8 tr.CN, Trung Hoa cổ đại bước vào giai đoạn Đông Chu Với trình độ lực lượng sản xuất xã hội còn cực kỳ thấp kém và năng lực nhận thức còn hạn chế, đứng trước các lực lượng tự nhiên vô cùng mạnh mẽ, đầy bí ẩn và luôn luôn đe dọa đời sống của con người như sấm sét, mưa bão, lụt lội, hạn hán, dịch bệnh, thú dữ hay những tai họa khủng khiếp do chính con người mang đến cho con người như sự đày đọa, nô dịch, chiến tranh…người Trung Hoa cổ đại cố gắng lý giải nó và họ cho rằng đó là do “Thiên mệnh”

Người Trung Hoa cổ đại cho rằng có một đấng tối cao, linh thiêng, có quyền năng tuyệt đối là Trời, Thượng đế là đấng sinh thành ra muôn loài, quyết định, chi phối vạn vật trong vũ trụ cũng như con người Con người sinh ra như thế nào về thể xác, tinh thần, tính cách đều đã được Trời phú; con người sống cuộc sống ra sao, sướng hay khổ, vinh hay nhục đều do Trời định Quan điểm

này được thể hiện rõ nét trong nguồn sử liệu là các thư tịch cổ như Kinh Thư,

Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Quốc ngữ, Tả truyện,… Đây là các tác phẩm

mang tính kinh điển và được coi là cội nguồn của nền văn hóa Trung Hoa thời

cổ đại Học thuyết “Thiên mệnh” thể hiện trong các tác phẩm này có thể khái quát như sau:

Thứ nhất là, người Trung Hoa cổ đại cho rằng chỉ có một đấng tối cao có

uy quyền tối thượng sinh ra con người và vạn vật Đấng tối cao đó có quyền năng quyết định, chi phối số phận, trật tự đẳng cấp của con người trong xã hội Đấng tối cao được người Trung Hoa cổ đại tôn thờ đó được gọi là “Đế” ( 帝)

hoặc “Thượng đế” ( 上帝), hay còn được gọi là “Trời” (Thiên - 天)

Ngay từ thời cổ đại, nếu như ở phương Tây, nhà triết học Hy Lạp Socrate (469 - 399 tr.CN) đã đưa ra luận điểm nổi tiếng: “Con người hãy tự biết lấy mình” thì ở phương Đông, người Trung Quốc cổ đại cũng không ngừng tự hỏi con người và thế giới chung quanh con người do đâu mà có? vạn vật bắt nguồn

từ đâu? ai là đấng sinh thành ra muôn loài? cái gì chi phối, quyết định số phận

Trang 35

muôn loài nói chung và loài người nói riêng? nhiều triết gia đưa ra nhiều cách

lý giải khác nhau về ngọn nguồn sự sống Trong số đó thì thuyết “Thiên mệnh”

là học thuyết nổi bật, có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và hành động của con người và trở thành hình thái ý thức xã hội chi phối đời sống văn hóa tinh thần của người Trung Hoa cổ đại

Từ triều đại nhà Hạ, cùng với sự xuất hiện giai cấp và nhà nước thì những quan điểm sùng bái sức mạnh các lực lượng siêu nhiên mang tính chất thần thoại, duy tâm, tôn giáo với tư tưởng “Thiên mệnh” thịnh hành “Thiên mệnh” là mệnh lệnh của Trời Quan điểm “Thiên mệnh” cho rằng mọi thứ liên quan đến cuộc sống con người từ lúc sinh ra, lớn lên cho đến lúc mất đi; người sang hay hèn, cuộc sống sướng hay khổ, thành công hay thất bại đều do Thiên định, người giỏi hay dở, hiền hay dữ là do Thiên phú “Thiên mệnh chi vị tính”, con người không thể tự định đoạt được Các nguồn sử liệu tìm được cho chúng

ta biết được quan niệm của người Trung Hoa thời cổ về nguồn gốc, vận mệnh con người cũng như muôn loài Có thể nói, người Trung Hoa cổ đại “ai cũng nghĩ rằng trời sinh ra muôn vật, làm chủ cả muôn vật” [4, tr.148]; mọi sự biến

hóa, sinh tử đều do ý chí của đấng chủ tể là Trời đặt để Kinh Thi viết: “Trời

sinh ra dân chúng - Thiên sinh chưng dân” [48, tr.726] Không chỉ con người

mà cả cỏ cây, vạn vật đều xuất phát từ Thiên mệnh: “Mệnh trời không sai, tốt tươi như cỏ cây, triệu dân nảy nở” [49, tr.264] Cả việc tạo dựng quốc gia, dân

tộc và đặt người cai trị đều do “Thiên ý”, Trời đã sắp đặt mọi việc Kinh Thư,

Thương tụng, Huyền điểu viết: “Trời khiến chim én xuống để sinh ra nhà

Thương ở đất Ân to lớn Khi xưa Trời đã sai khiến Thành Thang cai trị cả thiên

hạ bốn phương ấy”

Trời sinh ra con người và muôn loài, Trời cũng quy định vị trí, thứ bậc, xếp đặt trật tự trên dưới, cao thấp, trước sau của con người và muôn loài Cho

nên Chu Thư, Thái Thệ thượng viết: “Trời đất là cha mẹ của muôn vật, người

là linh trưởng của muôn vật, kẻ thông minh hơn cả thì làm vua, vua là cha mẹ

Trang 36

dân” Tư tưởng này cho thấy của người Trung Hoa cổ đại cho rằng con người

và vạn vật tuy có cùng nguồn gốc “trời đất là cha mẹ” nhưng người và vạn vật vừa sinh ra đã khác nhau, đẳng cấp, thứ bậc đã định sẵn; chỉ có “người là linh trưởng của muôn vật” và trong số những con người được Trời sinh ra đó “kẻ thông minh hơn cả thì làm vua” Người được đặt làm vua là cha mẹ của dân,

là người thay Trời chăn dắt muôn dân Quan điểm này cũng được thể hiện

trong Tự quái truyện: “Có trời đất rồi mới có vạn vật; có vạn vật rồi mới có

nam nữ; có nam nữ rồi mới có vợ chồng; có vợ chồng rồi mới có cha con; có cha con rồi mới có vua tôi; có vua tôi rồi mới có trên dưới; có trên dưới rồi lễ nghi mới có chỗ thi thố được” [14; tr.348 - 379] Con người phải chuyên tâm thực hiện đúng chức phận do Trời sắp xếp Người làm vua thì phải dựng nước, đặt đô, cắt đặt quan lại để cai trị muôn dân: “Đức vua sáng suốt vâng mệnh trời! dựng nước, đặt đô, lập vua chúa công khanh, theo các đại phu, sư, trưởng; không chỉ muốn vui vẻ, mà còn để an tại dân chúng Minh vương phụng nhược thiên đạo, kiến bang thiết đô, thụ hậu vương phân công, thừa dĩ

Đại phu Sư trưởng, bất duy dật dự, dung dĩ loạn dân” (Kinh Thư, Duyệt mệnh

trung) Mọi việc vua làm từ việc chăn dân, trị nước cho đến việc gây ra những

cuộc chiến tranh đẫm máu, chinh phạt kéo dài, hay việc huynh đệ tương tàn, thay đổi triều đại; tất cả đều là tuân theo mệnh Trời, không phải tự ý người Vậy thì kẻ làm dân cũng phải yên tâm, vui vẻ thực hiện chức phận của mình;

bị đau khổ, khốn khó cũng phải cố gắng chịu đựng chớ có oán thán vì đó là số Trời đã định

Trời còn là nguồn gốc của đạo, của mọi lẽ sinh tồn, biến hóa trong vũ trụ cũng như con người: “Cái nguồn gốc của đạo tự nơi trời mà ra, nó không thể dời đổi; cái thật thể của đạo vẫn có đủ nơi ta, chúng ta chẳng nên rời khỏi đạo.”

[106, tr.44-45] Sách Chu Dịch đại truyện, Hệ từ thượng, Chương 1 viết: “Trời

cao, đất thấp; nên Càn và Khôn xác định Cao và thấp đã phô bày, thì địa vị quý

và tiện được xác lập Sự vật luôn có động và tĩnh; theo đó, có sự phân biệt

Trang 37

cương (cứng) và nhu (mềm) Người tụ tập theo loại; vật phân chia theo bầy Cát hung từ đó nảy sinh Trên trời các hiện tượng thành lập, dưới đất các hiện tượng thành lập, và những biến hóa của chúng hiển hiện ra - Thiên tôn địa ti, Càn Khôn định hĩ; ti cao dĩ trần, quý tiện vị hĩ Động tĩnh hữu thường, cương nhu đoán hĩ Phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân, cát hung sinh hĩ Tại thiên thành tượng, tại địa thành hình, biến hóa hiện hĩ” Về vấn đề sinh tử của vạn vật, trong đó có con người và quan điểm “Thiên tôn địa ti” của người Trung Hoa

thời cổ cũng được thể hiện rõ trong Hệ từ thượng truyện, chương IV: “Thánh

nhân ngước lên quan sát các hiện tượng trên trời, cúi xuống quan sát các hình thể dưới đất, cho nên biết nguyên do của sáng và tối Các ngài suy cứu cặn kẽ

từ khởi đầu đến kết thúc của vạn vật, cho nên biết giải thích về sống chết Tinh khí là vật (thần), du hồn thì biến hóa (quỷ), cho nên các ngài biết tình trạng của quỷ và thần - Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố tri u minh chi cố Nguyên thủy phản chung, cố tri tử sinh chi thuyết Tinh khí vi vật, du

hồn vi biến, thị cố tri quỷ thần chi tình trạng” Hệ từ thượng truyện, chương VII

viết: “Trí cao, lễ khiêm Cao là bắt chước trời, khiêm là bắt chước đất - Tri sùng, lễ ti Sùng hiệu thiên, ti pháp địa”

Trời là nguồn gốc sinh ra vạn vật, trong đó có con người; Trời cũng định

ra phép tắc để uốn nắn, giáo dục, đưa con người vào khuôn phép: “Có vạn vật thì có phép tắc - Hữu vật hữu tắc” [48, tr.726] Để thực hiện những phép tắc do Trời đặt ra, Trời sinh ra người thông minh, tài giỏi đặt làm đấng minh quân để trị nước, chăn dân, cai quản con người: “Trời sinh ra những bậc thông minh để

dẹp loạn - Duy thiên sinh thông minh, thời nghệ”(Chu thư, Thái thệ thượng)

Việc trị quốc, chăn dắt muôn dân là việc hệ trọng nên Trời lựa chọn rất kỹ và chỉ người có nhân phẩm tốt đẹp mới được Trời giao nhiệm vụ này: “Trời giao

mệnh cho người có đức” ((Kinh Thư, Cao Dao mô) Trời chọn người thông

minh và có đức đặt làm vua Người có đức, có tư chất thông minh được chọn thì phải nhận nhiệm vụ vì Thiên mệnh khó cãi: “Lịch số của Trời đã vận vào ông,

Trang 38

ông phải lên ngôi vua Thiên chi lịch số tại nhữ cung, nhữ chung trắc nguyên

hậu” (Kinh Thư, Đại Vũ mô)

Xuất phát từ thế giới quan “Thiên mệnh”, người trung Hoa cổ đại cho rằng Trời là nguồn gốc sinh ra con người và vạn vật, trật tự đẳng cấp trong xã hội người làm vua, quan, kẻ làm dân đen, tôi, tớ tất cả đều do Trời định Vua là người làm việc thay Trời: “Đây là việc của Trời, người làm thay Trời: Trời đặt

ra đạo thường, giao cho ta Ngũ điển và năm cách chăm nom vậy! Trời đặt ra lễ,

ra có Ngũ lễ và năm cách dùng! Trời giao mệnh cho người có đức, Ngũ phục

phải có năm loại rõ ràng” (Kinh Thư, Cao Dao mô) Còn dân chúng được Trời

sinh ra thì phải: “Không được làm, khôn làm biết, chỉ thuận theo phép tắc của Thượng đế mà thôi Bất thức bất tri, thuận đế chi tắc” [47, tr.549-550] “Đế chi tắc” là phép tắc của Trời, là các định chế chính trị - xã hội do Thượng đế lập ra, con người phải tuân theo mà không cần biết, không cần ý thức vì đã có Trời định liệu, sắp đặt

Thứ hai là, người Trung Hoa cổ đại cho rằng Trời ở trên cao, định phép

sống cho vạn vật trong vũ trụ, sáng suốt cai quản muôn nơi, hết lòng yêu thương con người và thưởng phạt rất công minh

Qua các thư tịch cổ chúng ta thấy người Trung Hoa thời cổ đại tin rằng

có một đấng chí tôn, rất nhân từ và rất thần thông quảng đại là Trời, Thượng đế luôn ra tay cứu giúp người khốn khó Nhưng Trời cũng rất nghiêm khắc, ban bố

ân uy cùng khắp thiên hạ không chừa một ai Người có công ắt được thưởng, người có đức ắt được phước, người ở hiền ắt gặp lành Kẻ bất tuân mệnh Trời tất bị nghiêm trị; mức độ phạm tội khác nhau thì hình phạt cũng khác nhau

Kinh Thi viết: “Đức Thượng đế rất lớn, soi xuống dưới đất rõ ràng, xem xét bốn

phương để tìm sự khốn khổ của dân mà cứu giúp” [46, tr.42] Chính vì yêu thương con người, muốn giúp kẻ hạ dân nên Trời uốn nắn, giáo hóa để con người không lầm đường lạc lối mà kính cẩn tuân theo Thiên mệnh, yên tâm

sống theo trật tự xã hội mà Trời đã sắp đặt Chu thư, Thái thệ thượng viết: “Trời

Trang 39

giúp kẻ hạ dân, dựng ra vua, dựng ra thầy nhằm giúp đỡ Thượng đế, ân sủng bốn phương” Lòng yêu thương con người của Trời bao la và sáng suốt, thưởng phạt

có mục đích rõ ràng Thưởng nhằm động viên khuyến khích con người tích đức, làm điều thiện, cư xử hợp lễ; phạt người sai trái, phạm lỗi nhằm mục đích ngăn ngừa tội lỗi tiếp tục xảy ra, giúp cho muôn dân yên ổn sinh sống, thiên hạ thái bình: “Thi hành hình phạt là mong không có hình phạt, dân hợp với đạo trung

(Kinh Thư, Đại Vũ mô) Hết lòng yêu thương con người là thế nhưng đối với

người có công, kẻ phạm tội thì sự thưởng phạt của Trời rất nghiêm khắc Bất tuân mệnh Trời sẽ bị trừng phạt nhưng mức độ có khác tùy tội nặng hay nhẹ: “Trời

phạt kẻ có tội, Ngũ hình có năm cách dùng” (Kinh Thư, Cao Dao mô) Việc phạt

tội cũng hết sức cẩn trọng, phân biệt kẻ vô tình với người cố ý phạm tội thì mức

độ xử phạt có khác: “Cho dân biết hình phạt đã đặt có tội Ngũ hình, có tội nhẹ;

có hình phạt dạy bào bằng đánh đòn, có hình phạt bằng vàng để chuộc tội Người lầm lỡ được tha, kẻ cậy thế mà tái phạm thì xử nặng Cẩn trọng, phải cẩn trọng

vậy! Việc hình phạt phải hết sức cẩn trọng” (Kinh Thư, Thuấn điển)

Trời cũng rất công minh, không thiên vị ai Những bậc vua chúa, nếu bất tuân mệnh Trời phạm tội thì cũng bị trừng phạt, bị phế truất: “Vua Hạ có tội, dối nắm mệnh Trời để ra lệnh cho thiên hạ, Trời cũng cho là bất thiện Trời sai nhà Thương nhận mệnh, nhằm làm sáng tỏ cho dân chúng” [49, tr.262] Không

chỉ phế truất ngôi vua mà Trời còn kiên quyết tiêu diệt kẻ có tội nặng, Thương

Thư, Thang thệ viết: “Vua Hạ nhiều tội, mệnh Trời sai giết” Còn người có đức

lớn thì được ân thưởng và giao mệnh lớn: “Đức của vua Nghiêu rộng lớn, như thánh như thần, gồm võ gồm văn Trời cao yêu mến cho mệnh, gồm cả bốn bề,

làm vua thiên hạ” (Kinh Thư, Đại Vũ mô) Đối với dân chúng, Trời cũng quan

tâm thưởng phúc, thưởng thọ cho người có đức, biết kính vâng mệnh Trời và bắt tội, trừng trị kẻ bất kính, làm trái ý trời: “Trời soi xét hạ dân, nêu cái nghĩa Cho dân tuổi có người thọ, có người không thọ, không phải trời bắt dân chết yểu, mà tại dân nên nửa đời phải chết Dân có kẻ không giữ đức, không biết tội

Trang 40

Trời liền ra lệnh, nhằm sửa đức nó;… nhà vua lo việc kính dân, không ai không

vâng mệnh trời” (Kinh Thư, Cao Tông Dung nhật)

Có thể nói, quan điểm Thiên mệnh chi phối người Trung Hoa cổ đại từ tư tưởng đến hành động Họ cho rằng Trời là đấng chủ tể thưởng thiện phạt ác rất công minh nên con người phải hết sức kính cẩn vâng mệnh Trời, lấy đạo Trời làm khuôn phép để noi theo: “Đạo Trời đất là điều chính để chỉ bảo, đạo mặt trời mặt trăng là điều chính để sáng tỏ, sự hoạt động trong thiên hạ là điều chính quay về

một lẽ phải vậy” (Chu dịch, Kinh hạ, 301) Đạo Trời đó sẽ được vua là đấng Thiên

tử được Trời chọn chăn dắt muôn dân theo ý Trời, thay Trời thi hành ban bố ân uy cùng khắp thiên hạ: “Bậc thiên tử cùng tham dự với trời đất, cho nên đức phối hợp với trời đất, lợi kiêm tới vạn vật, (bậc thiên tử) cùng sáng với mặt trăng, mặt trời chiếu sáng bốn bể mà không sót (một vật gì) nhỏ bé” [50, tr.213-214]

Thứ ba là, người Trung Hoa cổ đại cho rằng Trời không chỉ sinh ra con

người và muôn loài, toàn quyền chi phối, quyết định vận mệnh con người và muôn loài mà Trời còn quy định bản tính con người Tư tưởng này đã góp phần không nhỏ vào việc hình thành quan điểm về con người trong triết học Nho gia Tiên Tần

Về vấn đề bản tính con người, cũng xuất phát từ thế giới quan Thiên mệnh, người Trung Hoa cổ đại quan niệm rằng bản tính con người là do Trời phú, là cái mà con người khi sinh ra đã có Họ cho rằng Trời và người “Thiên nhân tương thông” Con người có nguồn gốc do Trời sinh ra, Trời đã định sẵn

từ hình hài cho đến hành động; bẩm thụ được tính Trời nên Trời và người có liên quan mật thiết với nhau, người phải lấy phép tắc của Trời làm mẫu mực, nết ăn nết ở của người sao cho hợp ý Trời tức là theo khuôn phép mà đấng Thiên tử thay Trời hành đạo đặt ra để chăn dắt muôn dân Nếu làm trái khuôn phép đó tức là làm trái mệnh Trời: “Trời với người chỉ có một lẽ, sự hành động của người là vận của Trời Nếu theo ý riêng của mình mà hành động, thì là

“người” rồi” không phải “Trời” nữa” [51, tr.75]

Ngày đăng: 14/04/2021, 18:23

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w