1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề tôn giáo và đạo đức trong triết học của ludwig feuerbach

20 565 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề tôn giáo và đạo đức trong triết học của Ludwig Feuerbach
Tác giả Nhóm 7
Người hướng dẫn TS. Bùi Văn Mưa
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận triết học
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 379,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt trong quan điểm triết học của Feuerbach thì vấn đề về tôn giáo và con người chiếm vị trí chủ đạo.. Đây chỉ là một bài khảo cứu chuyên ngành nên bài viết chỉ giới hạn trong những

Trang 1

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 2

B PHẦN NỘI DUNG 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

1.1 Khái quát triết học cổ điển Đức 3

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời 3

1.1.2 Các nhà triết học tiêu biểu 4

1.1.2.1 Immanuel Kant 5

1.1.2.2 George Wilhelm Friedrich Hegel 4

1.1.2.3 Johann Gottlieb Fichte 6

1.1.2.4 Ludwig von Andreas Feuerbach 6

1.2 Quan điểm chung về đạo đức và tôn giáo 9

1.2.1 Đạo đức là gì 9

1.2.2 Tôn giáo là gì 10

1.2.3 Sơ lược các quan điểm về đạo đức và tôn giáo 10

1.2.3.1 Quan niệm về đạo đức 10

1.2.3.2 Quan điểm về tôn giáo 11

Chương 2: QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO TRONG TRIẾT HỌC CỦA LUDWIG FEUERBACH 12

2.1 Quan điểm của Ludwig Feuerbach về đạo đức 12

2.1.1 Tính quy luật của đạo đức 12

2.1.2 Về tự do và tất yếu 13

2.1.3 Vấn đề khát vọng hạnh phúc 13

2.2 Quan điểm tôn giáo 18

2.3 Thành tựu và hạn chế trong Triết học Feuerbach 24

2.3.1 Thành tựu 24

2.3.2 Hạn chế 24

2.4 Đóng góp vào cuộc sống 24

Chương 3: Kết luận 25

Tài liệu tham khảo 26

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

Triết học là là sản phẩm tinh thần của hiện thực và thời đại, là nền tảng hình thành và phát triển của xã hội loài người Triết học được xem như là gốc rễ của ngành khoa học Triết học phát triển từ thấp đến cao, giống như một cây cổ thụ từ lúc nảy mầm, phát triển đến khi trưởng thành

Dưới tán cây cổ thụ triết học lịch sử có biết bao bông hoa nở rộ, mỗi một bông hoa mang một gam màu làm tươi đẹp cuộc sống của chúng ta, giúp khai sáng tri thức của nhân loại Trong số những bông hoa ấy, Ludwig Feuerbach nổi lên như đại biểu cuối cùng của triết học cổ điển Đức Và ông đã mang đến vinh quang cho toàn bộ nền triết học tư sản cổ điển Feuerbach là nhà triết học duy vật duy nhất một mình chống lại hệ thống triết học duy tâm của triết học tư bản cổ điển Đức Triết học của ông chất chứa đầy tính duy vật khả tri và nhân bản, nó là cội nguồn tư tưởng của triết học Mác

Đặc biệt trong quan điểm triết học của Feuerbach thì vấn đề về tôn giáo và con người chiếm vị trí chủ đạo Hơn nữa, vấn đề con người của ông thể hiện tính nhân bản cao, ông đề ra các nguyên tắc và chuẩn mực hành vi của con người trong

xã hội – đạo đức Đây là những khía cạnh rất quan trọng trong đời sống xã hội, nó

đã và đang chi phối mạnh mẽ đến hành vi của mỗi con người Và Feuerbach chính

là một trong những người đặt nền tảng đầu tiên và sâu sắc trong vấn đề này Vì vậy, nhóm 7 đã chọn lựa đề tài này nhằm đem đến một cái nhìn rõ hơn về quan điểm của Feuerbach về bản chất của tôn giáo và đạo đức

Về phương pháp nghiên cứu bài viết này dùng phương pháp mô tả, phân tích dựa trên các tài liệu sẵn có Đây chỉ là một bài khảo cứu chuyên ngành nên bài viết chỉ giới hạn trong những điểm cơ bản nhất về quan điểm đạo đức và tôn giáo trong Triết học Feuerbach Tuy nhiên, với những giới hạn nhất định và khả năng nghiên cứu có hạn nên bài tiểu luận không tránh khỏi một số thiếu sót, rất mong được những lời góp ý chân thành của Thầy và bạn đọc

Trang 4

B PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái quát triết học cổ điển Đức

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời

Vào cuối thế 18 đầu thế kỷ 19, Tây Âu đã đạt được những thành tựu Kinh

tế – xã hội mới, Chủ nghĩa tư bản được thiết lập ở một số nước như Italia, Anh, Pháp Sự thiết lập đó đã đem lại một nền sản xuất ưu việt, và tân tiến chưa từng

có trong lịch sử so với tất cả các chế độ trước đó Trong khi các nước Tây Âu đạt được những thành tựu to lớn như vậy nhưng nước Đức cho đến đầu thế kỷ 19 vẫn

là một quốc gia phong kiến lạc hậu Sở dĩ nước Đức còn ở trình độ rất lạc hậu vì hai lý do:

Thứ nhất, về địa lý, nước Đức đứng ngoài những đường thương mại quốc

tế lớn, chủ yếu bấy giờ đang phát triển ở bờ biển Đại Tây Dương (Tư bản phát triển ở Anh, Hà Lan, Pháp), ngoại thương không có điều kiện phát triển nên nền kinh tế Đức lúc bấy giờ vẫn lạc hậu và kém phát triển

Thứ hai, trong giai đoạn này nền kinh tế và chính trị của Đức lạc hậu và rơi vào khủng hoảng Các lực lượng tiến bộ ở Đức đã bị đàn áp và tiêu hủy phần lớn, các giai cấp nông dân, tiểu tư sản và tư sản bị chế độ hoàng thân lần lượt đàn áp

Cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng Chế độ phong kiến thối nát vẫn được tích cực duy trì làm cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực chất, đất nước cũng phân chia thành nhiều tiểu vương quốc nhỏ tách biệt nhau (1)

Trong bối cảnh đó, Nước Đức cần phải có cách nhìn mới về hiện tượng tự nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại, cần có quan niệm mới về khả năng và hoạt động của con người Với nhu cầu đó, triết học cổ điển Đức ra đời Với sứ mạng lịch sử đó, Triết học cổ điển Đức thời kỳ này đạt được sự phát triển chưa từng có đồng thời góp phần phát triển về tự nhiên, văn hoá nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu về tư tưởng của nước Đức cũng như các nước phương tây

1.1.2 Các nhà triết học tiêu biểu

Trang 5

Đây là thời kỳ vàng son của Triết học cổ điển Đức, vì nó được xem như đã hoàn thành sứ mạng lịch sử với nhiều đại diện triết học tiêu biểu như:

1.1.2.1 Immanuel Kant

Immanuel Kant (22/4/1724 - 12/2/1804) được xem là triết gia quan trọng của nước Đức, vì tư tưởng triết học của ông thể hiện nền văn hóa tân tiến và của nhiều lĩnh vực khoa học nhân văn khác Sự nghiệp triết học của ông được biết đến qua hai giai đoạn: "tiền phê phán" và sau năm 1770 là "phê phán" Học thuyết

"Triết học siêu nghiệm" (Transzendentalphilosophie) của Kant đã đưa triết học

Đức bước vào một kỉ nguyên mới "Danh tiếng của ông đã đẩy lùi những gì đi trước vào bóng tối và toả sáng lên trên những gì đi sau", như nhận xét của triết sử gia J Hirschberger

1.1.2.2 George Wilhelm Friedrich Hegel

George Wilhelm Friedrich Hegel ( 27/8/ 1770 – 14/11/1831) là một nhà triết học người Đức, cùng với Johann Gottlieb Fichte và Friedrich Wilhelm Joseph Schelling, Hegel được coi là người sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm Đức

Hegel là người có ảnh hưởng tới vô số các nhân vật, bao gồm cả những người hâm mộ ông (Bauer, Marx, Bradley, Sartre, Küng) lẫn những người nói xấu ông (Schelling, Kierkegaard, Schopenhauer, Nietzsche, Heidegger, Russell) Ông bàn luận về mối quan hệ giữa tự nhiên và tự do, tính nội tại và sự siêu nghiệm, về

sự thống nhất của hai mặt mà không phải loại trừ hay giảm bớt thái cực nào Những khái niệm có tầm ảnh hưởng của ông là về Logic phân tích, Biện Chứng, Chủ Nghĩa Duy Tâm Tuyệt Đối, tinh thần, biện chứng về "ông chủ/nô lệ", về cuộc sống đạo đức và tầm quan trọng của lịch sử Hegel bị kết tội là cha đẻ của Chủ nghĩa phát xít, dù nhiều người ủng hộ ông lại không đồng ý với quan điểm này

Dù thế nào đi nữa thì Hegel vẫn là người có công lớn trong việc phát triển triết học thế giới vì ông là người đầu tiên sử dụng phép duy vật biện chứng một cách có hệ thống, chính nhờ vào phép duy vật biện chứng của Hegel mà Marx đã

có những thành công rực rỡ trong việc phát triển lý luận Chủ Nghĩa Xã Hội khoa học, là hạt nhân của Chủ Nghĩa Marx-Lenin ngày nay

1.1.2.3 Johann Gottlieb Fichte

Trang 6

Johann Gottlieb Fichte (19/5/1762 – 27/1/1814) là một nhà triết học Đức.

Ông là một trong những nhân vật sáng lập phong trào triết học được gọi là chủ nghĩa duy tâm Đức, một phong trào đã phát triển từ các tác phẩm lý luận và đạo đức của Immanuel Kant Fichte thường bị coi như là một con số mà triết lý hình thành một cầu nối giữa các ý tưởng của Kant và chủ nghĩa duy tâm của Hegel Fichte cũng đã viết triết học chính trị và được xem là một trong những cha đẻ của chủ nghĩa dân tộc Đức

1.1.2.4 Ludwig von Andreas Feuerbach

Ludwig von Andreas Feuerbach (28/7/1804 - 13/9/1872) là một nhà triết

học Đức và nhà nhân chủng học Ông là con trai thứ tư của luật gia nổi tiếng Paul Ritter von Johann Anselm Feuerbach, anh trai của nhà toán học Karl Wilhelm Feuerbach, và chú của họa sĩ Anselm Feuerbach

Ông là đại diện cuối cùng, là sự kết thúc vẻ vang của Triết học cổ điển Đức Ông là nhà cải cách triệt để, nhà duy vật và vô thần Feuerbach bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là một nhà duy tâm, là môn đệ và là học trò của Hegel Ông thuộc nhóm Hegel trẻ Tư tưởng cải cách triết học của ông nhen nhóm từ 1828 và được hình thành từ năm 1829, khi ông vừa hoàn thành Luận án Tiến sĩ và bắt đầu giảng môn logic học và siêu hình học tại Erlangen Triết học Feuerbach là sản phẩm tất yếu của những điều kiện mới, hình thành vào cuối những năm 30 - đầu những năm 40 Đó là thời kỳ nhen nhóm tình thế cách mạng ở nhiều nơi trên nước Đức, thời kỳ gia tăng các cuộc đấu tranh tư tưởng giữa giai cấp tư sản và phản động

Feuerbach là nhà tư tưởng tự do và là nhà triết học duy vật duy nhất một mình chống lại chủ nghĩa duy tâm bài viết “ Góp phần phê phán triết học Hegel”(1839) trong hệ thống triết học Đức, tuy nhiên Ông chỉ là nhà triết học duy vật trong lĩnh vực tự nhiên nhưng trong lĩnh vực xã hội ông vẫn bị ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm Đồng thời, các tư tưởng triết học của ông mang đậm tính nhân bản nên mặc dù công có rất nhiều tác phẩm nhưng nó không phục vụ cho giai cấp thống trị và tư sản nên các tác phẩm: “Tư tưởng về cái chết và sự bất tử”(1830);

“Lịch sử triết học cận đại từ Becơn đến Spinnôda(1833), “Trình bày, phát triển và

Trang 7

phê phán triết học Lépnít”(1837) ; “Pie Beilơ Về lịch sử triết học và lịch sử loài người”(1838); “Luận cương khởi đầu về cải cách triết học” (1842); “Các luận điểm triết học cơ bản của tương lai" (1843) lúc bấy không được quan tâm

1.2 Quan điểm chung về đạo đức và tôn giáo

1.2.1 Đạo đức là gì

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức, nhưng khái quát chung đạo đức có thể được định nghĩa như sau:

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội (2)

1.2.2 Tôn giáo là gì

Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình

và vô hình

Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do

đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải

Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách

hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành

Trang 8

bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau

1.2.3 Sơ lược các quan điểm về đạo đức và tôn giáo

1.2.3.1 Quan niệm về đạo đức

+ Arixtốt: đời sống đạo đức, hạnh phúc của con người không nằm trong

thế giới ý niệm trên trời mà nằm trong thế giới hiện thực dưới đất, nơi trần gian, đồng thời chúng phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của từng người trong cộng đồng xã hội (3)

+ Immanuel Kant: Kant cho rằng một mặt con người là một nhân cách

đạo đức, trong đó lý tính là nguồn gốc duy nhất phát sinh các nguyên lý, chuẩn mực hướng dẫn hành vi đạo đức, mặt khác khát vọng cá nhân hướng con người đến hành vi phi đạo đức Đạo đức của ông thể hiện lý tưởng cao đẹp nhất mà cả nhân loại hướng đến - lý tưởng tự do (4)⇒ Quan điểm đạo đức tuy có nhiều điểm không tưởng phi lịch sử, phi giai cấp, thiếu cơ sở hiện thực nhưng chứa đựng nhiều tư tưởng nhân đạo sâu sắc vì nó góp phần xóa bỏ quan niệm ích kỷ hẹp hòi, giải phóng tư tưởng con người khỏi gông cùm của ý thức hệ phong kiến

+ Hegel: Khi cá nhân pháp lý trở thành chủ thể đạo đức thì tinh thần khách

quan tự phát triển vào lĩnh vực đạo đức Đạo đức là pháp quyền của hành vi, nó lấy sự hòa hợp hành vi của các chủ thể làm cơ sở

1.2.3.2 Quan điểm về tôn giáo

+ Denis Diderot: phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế từ lập trường duy vật.

Ông cho rằng, Thượng đế chỉ là sự thần thánh hóa các điều kiện hiện thực của con người Không phải Thượng đế sáng tạo ra con người mà ngược lại Lý tính khoa học và tôn giáo không thể kết hợp được với nhau Vì lý tính khoa học mang lại cho con người hiểu biết đúng đắn về thế giới còn tôn giáo chỉ mang lại cho người những ảo tưởng

+ Paul Henri Ditrich Holbach: Tôn giáo được bịa đặt để đặt các vua chúa

lên trên các dân tộc, và đặt các dân tộc nhận thấy cuộc sống vô cùng khổ cực của mình trên trái đất này và tìm cách thay đổi nó thì người ta lấy Thượng đế để đe dọa họ, hòng buộc họ khuất phục, chấp nhận và tim tiếng

Trang 9

+ Vinhem Giodep Senlinh: ông coi giới tự nhiên là sản phẩm sáng tạo của

Thượng đế Bằng trực giác nghệ thuật, con người chỉ có thể nhận biết một cách

mơ hồ về Thượng đế - cái tuyệt đối Khi không tin tưởng vào trí tuệ lý trí mà cũng không hài lòng với trực giác ngoại (phi) lý, Senlinh đặt niềm tin vào ý chí Sự đề cao ý chí này của ông đã được Soopenhauơ phát triển

+ Heeghen: Tôn giáo là phương thức mà ý niệm tuyệt đối sử dụng để tự

khám phá ra chính mình, để rũ bỏ mọi dấu vết vật chất bám vào mình nơi trần gian

mà quay về với mình, quay về với cái khởi đầu trong tính toàn vẹn và đầy đủ của nó

Trang 10

Chương 2:

QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO TRONG TRIẾT HỌC CỦA LUDWIG FEUERBACH

Xuất phát từ quan điểm coi triết học mới phải là triết học về con người, Feuerbach lấy con người làm đối tượng nghiên cứu của mình Trên cơ sở đó, ông xây dựng hệ thống quan điểm về đạo đức và tôn giáo của mình

2.1 Quan điểm của Ludwig Feuerbach về đạo đức

Trong triết học của ông Quan điểm đạo đức đề cập rải rác trong một số tác phẩm nên nếu cố gắng đào sâu phân tích chúng ta có thể tìm thấy nhiều nét đặc trưng

2.1.1 Lý luận về đạo đức (Tính quy luật của đạo đức.???)

Đạo đức học của Feuerbach giả định rằng những phương tiện và những vật

để thoả mãn yêu cầu đó thì hiển nhiên mọi người đều có, hoặc là nó chỉ mang lại cho con người nhiều lời dạy bảo tốt nhưng không áp dụng được; và như vậy thì đạo đức học đó không đáng giá một xu đối với những người thiếu những phương tiện nói trên Và đó là điều mà chính Feuerbach cũng đã giải thích bằng lời lẽ thẳng thắn: “Trong một cung điện người ta suy nghĩ khác trong một túp lều tranh Nếu như vì đói, vì nghèo, mà trong cơ thể anh không có chất dinh dưỡng, thì trong đầu óc anh, trong tình cảm của anh và trong trái tim anh cũng không có chất nuôi đạo đức”

Theo học thuyết của Feuerbach về đạo đức thì sở giao dịch chứng khoán là ngôi đền cao nhất của đạo đức, nếu như ở đó người ta luôn luôn đầu cơ một cách

có trí tuệ Nếu như lòng mong muốn hạnh phúc của tôi dẫn tôi đến sở giao dịch và nếu như ở đó, tôi biết cân nhắc thật đúng đắn những hậu quả của hành động của tôi sao cho những hành động đó chỉ đem lại cho tôi những điều lợi, chứ không đem lại một sự bất lợi nào, nghĩa là nếu tôi luôn luôn có lợi thì điều căn dặn của Feuerbach đã được hoàn thành Và đồng thời, tôi hoàn toàn không làm hại đến lòng mong muốn hạnh phúc của người khác, vì người ấy cũng đi tới sở giao dịch một cách tự nguyện như tôi, và khi người đó giao dịch đầu cơ với tôi, thì cũng như

Ngày đăng: 25/12/2013, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w