1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính thiện trong triết học phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với việc giáo dục con người mới ở việt nam hiện nay

78 1,2K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính thiện trong triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với việc giáo dục con người mới ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại học Khoa học Huế
Chuyên ngành Triết học Phật giáo
Thể loại Luận văn cao học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 444,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ đầu đạoPhật đã nhanh chóng thích nghi với lối sống của người dân Việt Nam, những tư tưởng, triết lý nhân văn của đạo Phật đã dần dần ăn sâu vào văn minh, nếpsống, nếp nghĩ của n

Trang 1

TÍNH THIỆN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC CON NGƯỜI MỚI Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY.

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới có nguồn gốc từ Ấn Độ, rađời ở thế kỷ thứ VI TCN Lịch sử ra đời, sự tồn tại và phát triển của Phậtgiáo, với những triết lý mang tính nhân bản sâu sắc, ngay từ đầu đã có ảnhhưởng mạnh mẽ đến nhiều dân tộc trên thế giới trong đó có Việt Nam ĐạoPhật du nhập vào Việt Nam những năm đầu công nguyên Ngay từ đầu đạoPhật đã nhanh chóng thích nghi với lối sống của người dân Việt Nam, những

tư tưởng, triết lý nhân văn của đạo Phật đã dần dần ăn sâu vào văn minh, nếpsống, nếp nghĩ của người dân Việt Nam một cách tự nhiên và dễ dàng nhưnước thấm vào đất và đã có một vị trí nhất định trong xã hội Việt Nam.Những chuẩn mực đạo đức Phật giáo có tác dụng điều chỉnh hành vi, nhâncách của con người, hướng con người đến với bản tính thiện, đến những giátrị cao đẹp của cuộc sống làm cho cuộc sống cộng đồng tốt đẹp hơn, xã hộicông bằng và nhân ái hơn, đạo Phật thực sự đã trở thành chỗ dựa văn hóa,tinh thần cho nhân dân Việt Nam

Phật giáo đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử dân tộc trong quátrình dựng nước, giữ nước và ngày nay đạo Phật vẫn còn nguyên giá trị đốivới người dân Việt Nam, đặc biệt trong vấn đề giáo dục con người mới - conngười xã hội chủ nghĩa

Nội dung cơ bản của Phật giáo là triết lý nhân sinh sâu sắc về nổi khổcủa con người và cách tu luyện để diệt khổ Phật giáo là một tôn giáo hướngthiện, vì hòa bình nhân sinh, là một lối sống, một lẽ sống, một chân lý hướngcon người đến cuộc sống chân - thiện - mỹ Luân lý của Phật giáo chân chính

đề cao tính thiện, là dòng suối chảy đến với với tu thân, nhập thế, hòa quyệnvào đạo đức và trụ tại tâm của mỗi người, hướng thiện là mục đích cao nhấtcủa Phật giáo

Đề tài: “Tính thiện trong triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với việc giáo dục con người mới ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa cấp

thiết về cả lý luận và thực tiễn trong giai đoạn đất nước hội nhập với thế giới,

Trang 2

với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa

2.Tình hình nghiên cứu đề tài.

Đạo Phật với muôn ngàn hướng đi, đã thực sự mang tính nhân vănnhân đạo cao cả Triết lý của nhà Phật là vì con người, hướng con người đếncái thiện, đến với chân – thiện – mĩ xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn Đâychính là chủ đề được nhiều người quan tâm, nghiên cứu, khai thác Đã cónhiều công trình của các cá nhân tập thể nghiên cứu về Phật giáo với nhiềukhía cạnh và góc độ khác nhau Song, tựu trung lại đều thể hiện tính nhân bảncủa Phật giáo và ảnh hưởng của nó chẳng hạn như:

Bùi Đăng Duy với “Phật giáo với văn hóa Việt Nam” Theo tiến trìnhlịch sử, tác giả đã khái quát sự du nhập và mở rộng Phật giáo ở Việt Nam, ảnhhưởng của Phật giáo đối với văn hóa hữu hình, mà cụ thể là kiến trúc ngôichùa ở nước ta, bên cạnh đó tác giả còn nêu lên ảnh hưởng của Phật giáo đốivới văn hóa tinh thần của người Việt với các khía cạnh như: Phật giáo với sựhỗn dung tín ngưỡng, với quan niệm nhân sinh, với văn hóa chính trị, đạođức, với đời sống tâm linh và các lễ hội, v.v, và cuối cùng tác giả đã nêu lênmối quan hệ giữa Phật giáo với văn học

Tác giả Nguyễn Tài Thư với “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôngiáo đối với con người Việt Nam hiện nay” lại bàn về ảnh hưởng của Phậtgiáo với tư duy cũng như sự hình thành nhân cách của con người Việt Namhiện nay

Ngoài ra đã có một số công trình nghiên cứu cấp trường của cán bộgiảng dạy và sinh viên trường Đại học khoa học Huế, một số luận văn củasinh viên triết học trường Đại học khoa học và sinh viên giáo dục chính trịcủa trường Đại học sư phạm Huế Nhìn chung Phật giáo được nghiên cứudưới nhiều góc độ khác nhau

Đề tài: “Tính thiện trong triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đốivới việc giáo dục con người mới ở Việt Nam hiện nay” chỉ là bước đầu tìmhiểu tính thiện trong triết học Phật giáo chứ không phải là tất cả những gì liênquan đến Phật giáo

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.

Trang 3

Mục đích của đề tài là bước đầu khái quát tính thiện trong triết học Phậtgiáo và tìm hiểu ảnh hưởng của nó đối với việc giáo dục con người mới ởViệt Nam hiện nay.

Nhiệm vụ của đề tài làm rõ tính thiện trong triết học Phật giáo, xemxét sự ảnh hưởng của nó đến việc giáo dục con người mới ở Việt Nam hiệnnay trên một số phương diện cụ thể

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tính thiện trong triết học Phật giáo, ảnh hưởng của nó đối với giáo dụccon người mới ở Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu và cơ sở lí luận.

5.1 Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp chung là phương pháp biện chứng duy vật Các phươngpháp cụ thể là phương pháp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, khái quáthóa và dựa trên cơ sở những hiểu biết các công trình, tài liệu liên quan đểhoàn thành vấn đề đặt ra

5.2 Cơ sở lí luận.

Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và Chínhsách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Cộng hòa Xãhội chủ nghĩa Việt Nam

Triết học nhân sinh Phật giáo

6 Đóng góp của đề tài.

Luận văn chỉ là bước đầu làm rõ tính thiện trong triết học Phật giáo vàảnh hưởng của tính thiện Phật giáo đối với việc giáo dục con người mới ởViệt Nam hiện nay

Luận văn được thực hiện thành công sẽ là một tài liệu tham khảo chosinh viên và cán bộ giảng dạy trong học tập và giảng dạy các môn triết học,chủ nghĩa xã hội khoa học, lý luận tôn giáo trong các trường đại học, caođẳng, trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam

7 Kết cấu đề tài.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo phần nộidung có kết cấu gồm hai chương gồm:

Chương 1: Tính thiện trong triết học Phật giáo

Chương 2: Ảnh hưởng của tính thiện Phật giáo đối với việc giáo dụccon người mới ở Việt Nam hiện nay

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG Chương 1 Tính thiện trong triết học Phật giáo 1.1 Khái lược về lịch sử Phật giáo:

a Tại Ấn Độ :

Buddaha Trung Quốc dịch là Phật, có nghĩa là đấng giác ngộ, sáng suốt

và giác ngộ người khác (giác giả giác tha)

Theo truyền thuyết, Buddaha (tên là Siddharta - Trung Quốc dịch là TấtĐạt Đa, tức nguyện ước đã đạt được) là thái tử, con trai vua Tịnh Phạn.Buddaha sinh ngày 15/04 năm 563 và mất năm 483 tcn, tính theo âm lịch (cósách ghi 623 – 543 tcn, và ngày sinh là 08/04)

Theo truyền thuyết, Phật có tới 547 tiền kiếp trước khi đầu thai làm concủa vua sakya Trong những tiền kiếp trước, dù ông là những con người, hoặc

là những con vật, đều đầy lòng từ - bi - hỷ - xả, sẵn sàng hy sinh vì đồng loại.Kiếp gần nhất của ông là voi trắng 6 ngà

Khi mới sinh ra, Phật có 32 dị tướng (tam thập nhị), 82 đặc điểm phithường (bát thập nhị chủng hảo) và đã được tiên đoán là sẽ thành Hoàng Đếtrị vì thiên hạ, nếu không thì cũng là đức Phật cứu nhân độ thế

Phật được vua cha cưới vợ năm 19 tuổi Năm 29 tuổi, khi đã có mộtcon trai ông đã xuất gia tu hành theo phương pháp khổ hạnh, hành khất vềphương Nam Ông thiền định khổ hạnh trong 6 năm, đến mức thân hình gầyyếu chỉ còn da bọc xương, nhưng vẫn không đắc đạo Ông đã suy nghĩ “ta tukhổ hạnh, ép xác như thế này mà không thấy đạo, thì cách tu ta chưa phải, chibằng ta phải theo trung đạo, tức không say mê việc đời, mà cũng quá khắc

khổ…”.[x;y] Năm đạo sĩ cùng tu hành với Tất Đạt Đa, tưởng ngài thoái chí,

nên bỏ ngài mà đi tu chỗ khác Còn lại một mình, một buổi trưa sau khi tắmrửa xong và uống một cốc sữa của người chăn bò đưa cho, ông cảm thấykhoan khoái, tinh thần tỉnh táo hẳn lên, ông một mình đến ngồi dưới gốc cây

bồ đề (Bobdi – Tấtbatla ) thiền - tịnh trong 49 ngày thì quả nhiên giác ngộ,thấy được căn nguyên sinh - thành - biến - hóa của vạn vật, vũ trụ, nhânsinh, tìm ra nguồn gốc của nỗi khổ và phương pháp trừ nổi khổ cho sinh linh.Ông xuất gia ngày 8/2/595 (535) tcn, giác ngộ thành Phật ngày 8/12/589(529) tcn Ông đã truyền đạo của mình trong 45 năm, và nhập Niết bàn15/2/483 (543) tcn

Từ khi ra đời cho đến nay, Phật giáo đã trải qua 4 lần kết tập (Đai hội):

Trang 5

- Kết tập lần 1 được tổ chức sau khi Phật tịch khoảng 100 ngày (khoảngthế kỷ V tcn), do Ca Diếp triệu tập và làm chủ tọa Đại hội này kéo dài 7tháng, có 500 tỳ kheo tham dự Về nguyên tắc tam tạng của Phật giáo đượckhởi soạn từ đây, nhưng tất cả đều không được ghi bằng văn tự

- Kết tập lần 2, được tiến hành vào thế kỷ thứ IV tcn, kéo dài 8 tháng,với 700 tỳ kheo tham dự Đại hội này đánh dấu việc tách Phật giáo thành 2phái: Thượng tọa bộ và Đại chủng bộ (Tiền thân của tiểu thừa, đại thừa saunày)

- Kết tập lần 3, tiến hành giữa thế kỷ III tcn, do vua Asoka đứng ra triệutập, lần này kéo dài 9 tháng, với 1000 tỳ kheo tham dự Kết tập lần này, tamtạng đã được ghi lại thành văn bản với cả 2 thứ tiếng Sanskrit và Paly Sau kếttập được sự bảo trợ của vua Asoka, các tăng đoàn được thành lập và bắt đầutruyền bá đạo Phật ra nước ngoài

- Kiết tập lần thứ 4, được tiến hành dưới triều vua Kaniska (125 – 150),với 500 tỳ kheo tham dự Kết tập đã hoàn chỉnh “kinh điển” của Phật giáo vàtồn tại cho đến ngày nay Cũng từ lần kết tập này, Phật giáo chính thức chiathành hai phái lớn là Đại thừa và Tiểu thừa

Tiểu thừa có nghĩa là cổ xe nhỏ, phái này chủ trương ai tu thì tự độ lấymình Kinh sách ban đầu chủ yếu viết bằng tiếng Paly, và chủ yếu truyền đạo

về phía Nam Ấn như Xrilanca, Lào, Thái Lan, Cam Pu chia, Miến Điện, nêncòn gọi là Nam tông Phái này “chấp hữu”

Đại thừa có nghĩa là cổ xe lớn, phái này không chỉ tự giác ngộ chomình mà còn giác ngộ cho người Kinh sách thường viết bằng tiếng Sanskrit

và phát triển mạnh về phía Bắc Ấn như NêPan, Tây Tạng, Mông Cổ, TrungQuốc, Nhật, Việt Nam nên còn gọi là Bắc tông Phái này chấp không (khôngluận)

b Phật giáo ở Việt Nam.

Có nhiều ý kiến khác nhau về con đường truyền đạo Phật vào ViệtNam Nói chung đạo Phật đến Việt Nam từ rất sớm và bằng nhiều con đường:

Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Mã Lai, Inđôneexia, v.v Trung Quốc

là con đường muộn nhất nhưng để lại ảnh hưởng lớn và sâu sắc hơn cả

Thế kỷ I, ở Luy Lâu (Hà Bắc) nước ta đã có một trung tâm Phật học rấtphồn thịnh

Trang 6

Ở thế kỷ II, Phật giáo nước ta chịu ảnh hưởng cả Phật giáo Ấn Độ lẫnPhật giáo Trung Quốc.

Ở thế kỷ III, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của Phật giáo

Ở thế kỷ XI, phái Thảo Đường do sư Thảo Đường (Trung Quốc 1069)khai sơn ở Thăng Long – Hà Nội Từ Lý Thánh Tông (1069) đến Phạm NgựPhụng (1205) được năm đời đắc đạo

Thế kỷ XIII, vua Trần Nhân Tông đã kết hợp các phái thiền trên củaTrung Quốc với truyền thống Việt Nam, lập ra trường phái Trúc Lâm ở Yên

Tử (1299) Từ Trần Nhân Tông đến Pháp Loa, Huyền Quang (1314) được 3đòi đắc pháp

Thế kỷ XVI, thời vua Lê Thế Tôn (1573 – 1599) có phái thiền TàoĐộng từ Trung Quốc truyền vào Bắc Việt Nam Người hoằng pháp là thiền sưTrí Giáo Nhất Cú

Thế kỷ XVII – XVIII, thời vua Lê Hy Tôn (1676 – 1705) phái thiềnLâm Tế và phái thiền Liên Tôn do thiền sư Lân Giác hoằng pháp (Có sách nóiphái Liên Tôn là truyền thừa của phái Trức Lâm Yên Tử) ở Đàng Ngoài

Từ 1624 đến 1778, Phật giáo Đàng Trong và Phật giáo Đàng Ngoài hầunhư không liên hệ gì với nhau Tuy nhiên, giai đoạn 1306 đến 1624 ĐàngTrong chắc cũng có các phái Phật giáo khác truyền từ Ấn Độ, Thái Lan, tới

Từ 1665 có phái Lâm Tế do thiền sư Hoán Bích Tạ Nguyên Thiều(Trung Quốc và các đệ tử của ông) hoằng pháp

Trang 7

Từ 1695, Đàng Trong có thêm phái Tào Động do thiền sư Thạch LiêmĐại Sán (Trung Quốc) và các đệ tử của ông hoằng pháp và truyền thừa

1712 Từ Huế đến Phú Yên có thêm thiền phái Liễu Quán, phái này dothiền sư Liễu Quán sáng lập bằng cách kết hợp, kế thừa các tinh hoa của haiphái thiền trên với truyền thống của người Việt Nam ở Đàng Trong

Nhìn chung đến thế kỷ XVIII, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng chủyếu của thiền tông nam phái Trung Quốc Thiền tông Trung Quốc với lục tổ(Bồ Đề Đạt Ma, Tuệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Mẫn, Huệ Năng – ThầnTú), ngũ gia (Từ Huệ Năng chia làm năm nhánh là Lâm Tế, Quy Ngưỡng,Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhẫn) Thất Tông (ngoài năm nhà trên, về sauLâm Tế chia làm hai phái nữa là Dương Kỳ và Hoàng Long)

Thời kỳ Lý – Trần, Phật giáo phát triển mạnh như là quốc đạo ở ViệtNam Thời này có nhiều tu sĩ nổi tiếng góp phần làm rạng rỡ dân tộc nhưthiền sư Khuông Việt, thiền sư Pháp Thuận, Quốc sư Vạn Hạnh, Tuệ TrungThượng Sỹ v.v…

Từ 1858, Pháp xâm lược Việt Nam, đã chèn ép Phật giáo làm cho Phậtgiáo Việt Nam suy yếu

Từ 1920, với ảnh hưởng của chấn hưng Phật giáo Trung Quốc, Phậtgiáo Việt Nam cũng bắt đầu chấn hưng, các hội Phật học và hội tăng già nam– trung – bắc lần lượt ra đời (1930 – 1932 – 1934) Tổng hội Phật giáo ViệtNam ra đời 1951 Ngày 4.1.1964 “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”được thành lập, lãnh đạo sự hoằng pháp của Phật giáo ở miền Nam

Năm 1981 “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” ra đời thống nhất hoằngpháp trong cả nước

1.2 Nội dung cơ bản của tính thiện trong triết học Phật giáo.

1.2.1 Quan niệm về thiện trong triết học Phật giáo.

Theo từ điển Phật học của Đoàn Trung Còn thì thiện là lành, là tốt, phảithế, thuận theo đạo lý có ích có ích cho mình và cho xã hội

Thiện là điều mà xã hội coi là hợp đạo lý đáng noi theo Cái thiện là tất

cả những gì có vai trò tích cực, có tác dụng thuận lợi trong đời sống conngười và toàn xã hội, là tất cả những cái lợi ích đem lại cho con người và toàn

xã hội, đó chính là lòng từ bi yêu thương con người, là sự cảm thông chia sẽ,giúp đỡ của người này đối với người khác nhằm xây dựng cuộc sống an lạc,hạnh phúc

Trang 8

Trong Du già Kinh quyển 5 có giải: Thiện có nghĩa là có sức chiêu cảmcái quả báo vui sướng sẽ tới, lại có nghĩa là trừ tuyệt những mối khổ củaphiền não đã sát sinh, đương sát sinh và sẽ sát sinh

Thiện tức là vô tội, các điều thiện đều do nơi thân thể, lời nói và tâm ý

mà ra trong đó tâm ý là chánh gốc, những điều thiện về thân, khẩu, ý được tậptrung lại và gọi là thập thiện: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm;Không nói dối, không nói hai chiều, không ác khẩu, không thêu dệt; Khôngtham lam, không giận giữ, không tà kiến

Trong Tứ thập nhị chương kinh nói: “Vừa giúp đãi đằng một ngườithiện, cái công đức còn nhiều hơn vừa giúp đãi đằng một kẻ ác”

Tôn chỉ của đạo Phật được gom lại trong 4 câu:

“Chư ác mạc tácChúng thiện phụng hành

Tự tịnh kỳ ýThị chư Phật giáo”(Kinh Pháp Cú, 183)

Nghĩa là: “Không làm các điều ác Hãy làm các hạnh lành Giữ tâm ýthanh tịnh Là lời dạy chư Phật”

Đức Phật định nghĩa rõ ràng những điều gì gọi là lành, và những điều

gì là điều không lành (bất thiện) Ngài nói: “Hành động gì có hại cho mình, cóhại cho người, có hại cho cả hai, bị người trí chỉ trích, nếu chấp nhận và thựchiện sẽ đem lại tâm khổ sở, tâm ưu phiền, hành động như vậy là hành độngbất thiện, và chúng ta phải loại bỏ hành động ấy Hành động gì không có hạicho mình, hành động gì không có hại cho người, không có hại cho cả hai,được người trí tán thán, nếu chấp nhận và thực hiện sẽ đem lại tâm an lạc, tâmhoan hỷ, hành động như vậy là hành động thiện và chúng ta phải thực

hành”[x;y].

Trong xã hội nói chung và Phật giáo nói riêng, đề cao tính thiện, lên áncái ác, Phật có dạy: “Phải đem lòng từ thiện mà xử kỷ tiếp vật, lấy tâm thiện

mà đối đãi với nhau”[x;y] Trong kinh sách của Phật giáo thì tập kinh nào, bài

kinh nào, hay tập luật, tập luận nào, dù ít hay nhiều cũng ngầm chứa về cáithiện Kinh Pháp Cú ghi 423 lời Phật dạy đều đề cao tính thiện Bởi lấy tínhthiện làm căn bản, nên lúc nào các lời giảng của Đức Phật cũng hòa nhã,khiêm nhượng, êm ái và thanh khiết

Trang 9

Thiện của Phật giáo được hiểu như là những gì đem lại lợi ích chongười và cho mình trong hiện tại, tương lai theo hướng ly tham, ly thân, ly si,không ganh ghét, không gây đố kỵ Trên căn bản thiện này, các yêu cầu xãhội như công bằng, nhân đạo, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư được

phát triển tốt đẹp, các hiện tượng tham nhũng, trộm cắp bị dập tắt[x;290] (Phật học khái luận- Phải đưa vào danh mục tài liệu tham khảo, lấy số thứ tự điền vào x) Khía cạnh tích cực của thiện là ban bố lợi ích và an lành

cho tha nhân, tập thể qua tài thí và pháp thí Tại đây chúng ta có thêm bài họckinh nghiệm về hạnh phúc Sống vì hạnh phúc của tha nhân và tập thể là mộtlối sống cao thượng rất hạnh phúc cho chính mình Nền đạo đức luân lý củaPhật giáo không xây dựng trên các tín điều, không xây dựng trên các tư duythuần túy, cũng không ra lệnh, mà được xây dựng trên những giá trị, tiêuchuẩn của an lành, hạnh phúc và giải thoát của con người

Một nền luân lý như vậy là đầy màu sắc tích cực, đầy trí tuệ, đầy tínhngười và rất nhân bản Tính thiện trong Phật giáo hòa quyện vào đạo đức vàtrụ tại tâm của mỗi người Đó chính là tính nhân văn, nhân đạo cao cả màPhật giáo mang lại cho con người vì một cuộc sống an lạc, hạnh phúc, một xãhội bình đẳng nhân ái

1.2.2 Một số tư tưởng cở bản của tính thiện trong triết học Phật giáo.

1.2.2.1 Tính thiện trong thiện luận.

Theo quan niệm của Phật giáo, đạo Phật trước hết là triết lý và luân lý.Triết lý của Phật giáo là triết lý cao minh lấy nhân quả mà suy luận, tìm rõnguyên nhân của tạo hóa, phá tan sự mờ tối che lấp sự sáng tỏ, cắt đứt lướimộng ảo trói buộc con người vào sinh tử khổ não đưa đến chỗ cực lạc, tĩnhmịch, yên vui

Luân lý Phật giáo là luân lý chân chính phổ biến trong thiên hạ, lấy vôlượng từ bi mà yêu người, thương vật, tế độ chúng sinh, không phân biệtngười với ta, không phân chia giai cấp sang hèn, nhìn khắp chúng sinh aicũng chung một thân phận khổ đau vì nghiệp lực

Những gì trong giáo lý của đức Phật được lập ngôn, nhập thế, đã kếtcho đạo đức, mở đường cho tôn giáo, hoặc gieo mầm hương vị siêu thoát chonghệ thuật sống, cho các rung cảm trong thi ca, nhạc họa… Đó là sắc thái củaPhật giáo, tựu trung là thiện đạo, là triết lý

Trang 10

Với 423 bài được truyền ghi ở Pháp Cú kinh của đức Phật, đều lànhững lời Phật dạy chúng sinh sống thiện, từ bi, bác ái tránh xa điều ác.

a Tính thiện trong hành động.

Trong Kinh Pháp Cú, Ngài có dạy rằng:

“Hiếu kinh đạo giả, bất cạnh ư lợi

Hữu lợi vô lợi, vô dục bất hoặc

Thường mẫu hiếu học, chính tam dĩ hành

Ứng hoài bảo tuệ, thị vị vi đạo”(Pháp Cú kinh, 19, 256 – 257)

Nghĩa là: Kẻ thích hành đạo, không tranh lợi chi Có lợi, không lợichẳng ham, chẳng mê Chăm lo học luyện làm việc thẳng ngay Lấy tuệ làmbáu là theo đạo hay

Đối với đức Phật, làm việc thiện không vụ lợi là yêu cầu chung củanhững ai hành đạo Thiện đạo gồm hai mặt: Thiện ở tâm và ở hành động thựctiễn Người có tâm thiện trước những khổ đau của người khác họ thấy xúcđộng, thấy nổi đau của người như nổi đau của chính mình Từ đó người thiệndùng lời an ủi, vỗ về, xoa dịu thương đau cho kẻ khổ Sự xúc động bộc phátmạnh, yếu tùy thuộc theo lương tâm từng hạng Rồi bằng hành động thực tiễn,hoặc cứu chữa chăm sóc, hoặc tặng tiền, góp sức, làm những gì có thể để giúpngười hoạn nạn vượt qua khốn khó

Việc hành thiện này theo phép “Bố thí Bà La Mật” của phép tu Bồ TátThừa, là bố thí với tâm vô cầu, vô vị lợi

Cái đức bố thí của Bồ Tát là của Phật tánh phát huy ra, mà không cònphải của bản ngã “Thấy ai thiếu thì mình thiếu, thấy ai khổ là mình khổ”.Người chân thiện này, theo việc hành thiện là bổn phận đối với nhân loại.Hành thiện vô vị lợi đạt đến độ cao, khi người thọ ân không biết được kẻ ban

ân và người hành thiện không bao giờ cầu mong gặt hái điều thiện Cái tínhcách “vô công” và “vô danh” Những việc làm như vậy mới thuộc hàng chânthiện, đáng tôn phục và đáng noi gương

Thực chất các hình thức bố thí, tự nó không có gì khác nhau nhưng dolòng người mà việc hành thiện mất đi ý nghĩa cao đẹp vốn có Có nhiều người

bố thí do tâm thiện Nhưng có nhiều người bố thí vì một mưu cầu riêng tư nào

đó, hoặc bị chi phối trong khuyến thiện Hành thiện vì tư lợi như vậy, theođức Phật là phi thiện

b Làm điều ác tự gây hại cho mình

Trang 11

Bên cạnh việc chỉ dạy chúng sinh đi theo con đường thiện hạnh, đứcPhật không quên nhắc nhở chúng sinh loại bỏ những điều ác trên con đường

ấy Đức Phật cho rằng: “Làm điều ác sẽ tự gây hại cho mình”

“Ác sinh ư tâm, hoàn tự hoại mình

Như thiếc sinh cấu, phản lực kỳ thân”(Pháp Cú kinh, 18, 240)

Nghĩa là: Lòng sinh ra ác, ác lại hại thân Như sắt sinh rỉ, rỉ bám ăndần

Theo đức Phật, con người làm điều ác do tâm vô minh, tức là tâmkhông sáng suốt, tâm bị quyến rũ bởi danh sắc ngoại giới, từ đó nảy sinh dụcvọng hướng đến đối vật, cố tìm mọi thủ đoạn để chiếm đoạt Từ đó ác nghiệpnảy sinh Nó chẳng những gây hại cho bản thân mà còn gây hại cho kẻ khác

Con người thuở bé vốn tốt, nhờ cha mẹ cung cấp đầy đủ nhu cầu ăn ở.Đến trưởng thành những đòi hỏi nơi con người tự lập tăng dần Thêm vào đócon người chịu ảnh hưởng ở bạn bè, ở những môi trường giao tiếp làm chotâm tư tình cảm biến đổi Lúc này tính tranh hơn về danh lợi có thể trỗi dậymạnh, lấn át thiện ý, khiến con người chạy theo điều ham muốn, mong thỏamãn khát vọng, không còn phân biệt thiện, ác đúng sai ”Ác được sinh tại tâm

Con người cũng thế, tội ác có thể làm hỏng danh dự và cuối cùng cóthể táng mạng vì ác báo Ác báo là lập luật hiển nhiên của người sống màkhông phải là điều huyễn hoặc, kỳ bí Ở đời, tiền tài và danh vị đào được từnhững ổ bất lương sẽ hạ thấp phẩm giá con người Đây là cái nhìn đơn giảnnhất và là một thẩm định giá trị ở bậc thấp nhất

Thế nên, đức Phật muốn con người phải giác ngộ từ bỏ cái ác, để cáithiện từ kết quả đó sẻ hiển bày Con người càng từ bỏ cái ác bao nhiêu thìcàng đi gần đến với cái thiện bấy nhiêu

c Hậu quả của thiện ác.

“Vi sở bất dương vi, nhiên hậu tri uất độc

Trang 12

Hành thiện thương cát thuận, sở thích vô hối hy”(Pháp Cú Kinh, 22,314)

Nghĩa là: Làm việc không nên làm, rồi xảy ra uất hận Làm thiện đượctốt lành, đến đâu không hối hận

Nhìn vào cuộc sống bề ngoài của con người, thì niềm tin hạnh phúc quảđúng chỉ có cảnh đời đầy đủ ấm no Nhưng, nếu hiểu được nội tâm của từng

cá nhân thì điều ngược lại là lẽ thường

Có nhiều người, nhiều gia đình được sống sung túc, đầy đủ mà ta tưởngrằng họ sống tràn đầy hạnh phúc Thực ra, có thể đó chỉ là cái vỏ bọc chứađựng bao đau khổ triền miên Nổi đau khổ hạng người này rất đa dạng Nào lànhững tranh chấp công danh với âm mưu hại người vì cái lợi cho mình.Những thủ đoạn lừa lọc, gian dối, nhằm vun vén tài sản cho mình, đã gây nênbao cơ cực và phế tật cho người khác bằng hành động độc bạo, những tranhthắng từng lời nói, từng việc làm, từng lợi lộc nhỏ nhen, với mọi mánh khóexảo quyệt, để nâng cao dần cuộc sống lên hàng vương giả cho mình, cho giađình, mặc cho ai phải nhận điều khốn khó

Nhưng dòng đời có bao giờ luôn phẳng lặng, bỗng dưng bản thân họ,con cái họ, gặp phải tai nạn bất thường, thế là việc ác họ đã làm tái diễn trongtâm Họ hoảng sợ, họ hối hận, từ đó một chuỗi dài vì ăn năn, vì lo sợ quả báo,kéo dài suốt cuộc đời họ Tội ác ám ảnh nỗi lo sợ tăng dần, khiến họ phải đặttrọn niềm tin vào sự cứu rỗi linh hồn ở đấng tối thiêng Nhưng đó là điều vôích vì “ác giả ác báo”

Chỉ có con đường độc nhất cần phải thực hiện ngay đầu đời để tránhkhỏi khổ đau là: “Làm thiện được tốt lành đến đâu không hối hận”

d Bậc thiện trí tự kiểm soát lấy mình.

“Cung công điều giáo, thủy nhân điều thuyền

Tài lượng điều mộc, trí giả điều thân”(Kinh Pháp Cú, 6, 80)

Nghĩa là: Thợ cung nắn cánh, thợ nước sửa thuyền Thợ mộc uốn cây,bậc trí tu thân

Người đời sa ngã vào đường tội lỗi đến nỗi phải hối hận, vì tiêm nhiệmnhững thói hư tật xấu Thói xấu có nhiều dạng hình thành từ tâm ý, bộc lộbằng lời, hoặc thể hiện qua hành động Theo Phật giáo, đó là ba đường khởisanh từ thân, khẩu, ý của chúng sinh Những sự việc diễn ra hằng ngày màcon người nghe và thấy là những điều có tốt, có xấu Môi trường sinh sống là

Trang 13

nơi gieo mầm thiện, ác, những lời gian dối, thô tục, những âm mưu xảo trá, ácđộc, những hành động độc bạo mả ta thấy ở kẻ ác là do bẩm sinh một ít, cònphần lớn do tập nhiễm ngoài đời Ý xấu dấy lên từ tâm con người không phải

tự nhiên mà có Những câu chuyện, những lời độc ác mà ta nghe được, nhữnghình ảnh bạo ngược mà được mắt thấy mỗi ngày mỗi ít, là nhân tố vô hình kết

tụ tâm thức con người Những điều ấy được nhiễm hóa, theo đức Phật, lànguyên nhân của hành vi ác về sau Do đó, người muốn xứng đáng với danhxưng phải tu thân bằng cách giữ ý, sửa lời và chỉnh thân, xa lánh kẻ xấu rờimôi trường bất thiện

“Trí giả điều thân”, nó chẳng khác gì công việc người thợ làm cung nỏ

lo uốn nắn cung, người sống ở nước lo làm thuyền và người thợ mộc lo gọtđẽo cây, làm đồ dùng Những gì đức Phật đã nói, đó cũng là những việc màngười lớn tuổi cần biết, cần hướng dẫn con cháu thực hiện để mỗi ngày xã hộicàng hoàn thiện hơn

1.2.2.2 Tính thiện trong chính trị.

Phật giáo được ra đời trong một đất nước rộng lớn, là một trong nhữngnơi có nền văn minh sớm nhất và rực rỡ nhất của thế giới, song Ấn Độ cũng

là đất nước có chế độ phân biệt đẳng cấp rất gay gắt (nhất là từ giữa thiên niên

kỷ thứ 3 tcn) Xã hội Ấn Độ lúc này phân chia thành 4 đẳng cấp tăng lữ, quýtộc, bình dân, nô lệ

Sự phân chia đẳng cấp ở Ấn Độ là rất hà khắc, thể hiện trên nhiều mặt,không chỉ về địa vị chính trị, kinh tế, xã hội mà còn cả trong quan hệ giaotiếp, đi lại, ăn mặc, sinh hoạt tôn giáo, v.v Ba đẳng cấp trên là lực lượng bóclột và thống trị xã hội Đẳng cấp Bà La Môn - đẳng cấp được coi là cao quýtrong sạch nhất, sánh ngang với thần thánh, được hưởng mọi đặc quyền, đặclợi Đẳng cấp Thủ Đà La, chiếm đại đa số, ở vị trí tận cùng của xã hội, làm nô

lệ cho đẳng cấp trên họ phải chịu nhiều bất công trong cuộc sống, từ đó họoán ghét chế độ bóc lột Lúc này các trào lưu tư tưởng thuộc các xu hướngkhác nhau xuất hiện, các trào lưu đó hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại

Bà La Môn và chế độ phân biệt đẳng cấp nghiệt ngã

Học thuyết triết học Phật giáo cũng là một trong những trào lưu tưtưởng đó Đạo Phật ra đời bắt nguồn từ những nguyên nhân chính trị, xã hộisâu xa, là chế độ chống lại chế độ đẳng cấp và Bà La Môn, vì vậy tư tưởngtrọng Phật giáo mang tính chính trị sâu sắc

Trang 14

Sự ra đời của Phật giáo cũng có ý nghĩa đóng góp tích cực là tiếng nóitrong làn sóng phủ nhận uy thế có tính truyền thống của Veda, Upanishad vàgiáo lý Bà La Môn, lên án chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội hết sức khắcnghiệt, đòi tự do tư tưởng, bình đẳng xã hội Phật giáo cố gắng tìm cách gópphần cải biến xã hội, xóa bỏ áp bức bất công đè nặng lên đời sống nhân dân

Ấn Độ cổ đại, đưa ra những tư tưởng và phương pháp cải cách xã hội, giáohóa đạo đức con người, khuyên người ta sống từ, bi, hỉ, xả, bác ái Đó là thểhiện ý chí phản kháng của nhân dân lao động chống những bất công trong xãhội Ấn Độ đương thời Do đó triết lý đạo đức nhân sinh của Phật giáo mangtinh thần nhân bản sâu sắc Trong cội rễ sâu xa, Phật giáo đã mang những giátrị nhân bản chung cho nhân loại Đặc trưng cơ bản nhất là tính toàn vũ trụ,toàn diện và tổng hợp Trong đó lòng từ bi – bình đẳng – vô ngã cùng hướngthiện, mà đạo Phật giáo dục con người với mục đích cứu khổ là quan trọngnhất

Dưới con mắt giác ngộ, Đức Phật nhận thấy tất cả chúng sinh đều bìnhđẳng về trí tuệ, đức tướng và con người đều là thân thích với nhau Đã là bìnhđẳng là thân thích tất nhiên không bao giờ phân chia hay sát hại nhau, trái lạiphải yêu thương, giúp đỡ nhau Là người hiểu biết, một cử chỉ, một hànhđộng đều hướng về từ bi, bình đẳng và không xa từ bi, bình đẳng

Từ bi là hành động quả cảm mong đem lại hạnh phúc cho người, chovật mà quên những hành động nhỏ nhen của mình Người vui cũng như mìnhvui, người khổ cũng như mình khổ Thấy người khổ ta tìm đủ phương tiệngiúp đỡ họ bằng của cải, bằng lời hay lẽ phải, bằng sự an ủi hay sự hi sinhtrong tinh thần vô tư và vô úy Thấy người vui ta tán dương khuyên cố gắng

và khuyên đem sự vui đó hướng về lợi ích chung Những hành động tích cựcluôn mang cho chúng ta sức mạnh nội tâm, chúng ta sẽ có thêm niềm tin vàniềm vui trong cuộc sống Phật giáo với long từ bi cao cả đã kêu gọi mọingười nhường cơm sẽ áo, cùng yêu thương giúp đõ nhau vì một cuộc sốngchan hòa hạnh phúc

Một cuộc sống muốn có an lạc, tươi sáng thì trong xã hội đó, tinh thầnbình đẳng giữa mọi người là vô cùng quan trọng

Chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ cổ đại là vô cùng hà khắc Đạo Bà La Mônchủ trương đại sát sinh và hiến tế, nên gia súc bị giết chết rất nhiều Để hiến tếthậm chí hiến tế cả người Đối với phụ nữ chồng chết phải hỏa thiêu và vợ

Trang 15

cũng bị hỏa thiêu theo Trong buổi hoàng hôn tăm tối đó, đức Phật đã nói:

“không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng

mặn”[x;y] Lời tuyên bố của đức Phật là nền tảng hình thành hệ thống giáo

lý, mà trong đó bình đẳng được thể hiện trọn vẹn cả lý thuyết và thực tiễn.Tinh thần từ bi, bình đẳng đó chẳng khác gì lời kêu gọi hòa bình, chống chiếntranh, chống cái ác, cái xấu Hòa bình luôn là một nhu cầu lớn và cần thiếtcho mọi người, là tài sản quý báu nhất của nhân loại Đây là giá trị nhân đạocao cả Suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển, Phật giáo luôn xuất hiện vàthâm nhập vào các dân tộc như sứ giả của hòa bình và an lạc Từ đó Phật giáo

có thái độ lên án gay gắt đối với chiến tranh Chiến tranh là bạo động, là xâmlược lẫn nhau để lại hậu quả nặng nề Đó là sự chết chóc, chia ly đau khổ, dichứng và cả lòng thù hận

“Thắng trận gây thù oánBại trận nếm khổ đau

Ai bỏ thắng bỏ bạiTịch tịnh hưởng an lạc”

[dẫn theo những lời đúc Phật dạy về hòa bình và giá trị con người,

51 Phải là [x;51]]

Giáo lý Phật giáo dạy con người nuôi tâm từ bi, thực hành hạnh yêuthương con người, thực hiện cuộc sống bất bạo động, đạo Phật không chấpnhận hành động bạo động và không chấp nhận chiến tranh

Triết lý Phật giáo hướng con người đến bình an, hạnh phúc Nhưngnhững thứ đó không phải được đánh đổi bằng chiến tranh cướp đoạt nhau.Chiến tranh xảy ra do nhiều nguyên nhân, nhưng điều cốt yếu là do tâm vôminh của kẻ gây chiến Họ không hiểu được luật nhân quả, không hiểu được

“hại nhân, nhân hại” mà đức Phật đã dạy Để giải quyết nguyên nhân đó, Phậtgiáo dạy con người xóa bỏ vô minh bằng sự nỗ lực tu học để nâng cao nhậnthức và tâm từ bi, để con người sống thiện chí với nhau đúng như đức Phậtdạy: “Tâm bình thế giới bình” Phật giáo với tư tưởng bất bạo động, vớiphương châm hòa bình, an lạc là yếu tố cơ bản nhất để không gây chiến tranh.Trong giáo lý của mình đạo Phật luôn nhắc nhở luật nhân quả và hiểu rõ giátrị của cuộc sống hòa bình, an lạc Người hiểu về Phật giáo luôn có tâm lành,xem hạnh phúc của người như hạnh phúc của mình, không bao giờ vì hạnhphúc của mình mà tranh đoạt hay làm hại người

Trang 16

Phật giáo với tâm từ bi, lòng khoan dung, hỉ, xả, trở thành liệu pháphữu hiệu trong việc chữa lành vết thương do xung đột cuộc sống mang lại.Thế giới Phật giáo hướng tới là sự đoàn kết, hữu nghị, gắn bó giữa con ngườivới con người, là thế giới của tình yêu thương trân trọng nhau, giúp đỡ nhaucùng tiến bộ, cùng tiến tới hạnh phúc Phật giáo tiến tới xây dựng một xã hộihòa bình, phát triển với sự nỗ lực lao động tự giác của mỗi người, để gópphần xã hội phát triển vì an lạc, hạnh phúc của mỗi người.

Đạo Phật là tôn giáo của niềm tin, đó là niềm tin ở con người, ở lý trícon người biết phán xét phải trái, ở trái tim con người biết thương yêu đồngloại, ở ý chí con người biết vươn tới chân – thiện – mỹ Những lời Phật dạy

về hòa bình, lòng khoan dung độ lượng và sự hòa hợp có ý nghĩa quan trọngtrong thời đại ngày nay, nhằm xoa dịu nổi hạnh thù, tranh chấp Đánh thứclương tâm trong mỗi cá nhân, để rồi cùng nhau hướng thiện, cùng xây dựngnếp sống hạnh phúc, đem lại cho con người cuộc sống trọn vẹn từ vật chấtđến tinh thần Phật giáo đề cao tư tưởng hòa bình, hữu nghị và hướng conngười tới sự bình yên hạnh phúc để mọi người được sống trong hòa bình, anlạc

“Vui thay chúng ta sốngKhông hận giữa hận thùGiữa những người hận thù

Ta sống, không hận thù”[Kinh Pháp Cú, 15, 197]

Đạo lý của Phật giáo là con đường đưa chúng ta đến đích của chân lý,của xã hội an bình, thiện hảo, giúp chúng ta biết tôn trọng sự sống, quyềnsống, biết thương yêu giúp đở lẫn nhau, cùng vui sống trong đại gia đình nhânloại Chỉ có lòng yêu thương chân thật, đặt trên tư tưởng bình đẳng mới đemlại một nghĩa sống chân thật

Với triết lý sâu sắc ấy, xã hội mà Phật giáo đã và đang góp phần xâydựng, phù hợp với mục tiêu, xây dựng một thế giới mới tiến bộ mà cộng đồngquốc tế đang hướng tới

1.2.2.3 Tính thiện đối với người tu tại gia

Đạo Phật ra đời mở ra cho chúng ta nguồn sống bất tử Giáo lý của đạoPhật hầu như dành trọn vẹn cho con người Những người có nhân duyên, pháttâm đi theo con đường giải thoát Phật vạch ra, đều được coi là đệ tử của Phật.Đức Phật phân ra thành hai hướng đi, một hướng dành cho Phật tử xuất gia,

Trang 17

một hướng dành cho Phật tử tại gia Vì thế đạo Phật phân định rỏ ràng tưcách, vị trí, việc làm của để đệ tử xuất gia và đệ tử tại gia.

Người tu tại gia có tên là Ưu Bà Tắc đối với nam Đối với nữ có tên là

Ưu Bà Di, tên gọi chung là Phật tử, còn gọi là nam cư sỹ và nữ cư sỹ Sau khiquy y tam bảo (gửi thân vào đức Phật, đạo Phật, vào tăng chúng của Phật),người Phật tử tại gia phải sống đúng theo quy luật mà đức Phật đã chế ra đểtiến bước trên đường đạo Quy luật ấy là ngũ giới và thập thiện

a Ngũ giới

Ngũ Giới là năm điều ngăn cấm mà Phật đã chế ra, để ngăn nhữngtưởng niệm ác, nói năng chẳng lành, hành động bất chính Năm điều răn ấy là:Không được giết hại, không được trộm cướp, không được tà dâm, không đượcnói dối, không được uống rượu Việc thực hiện tốt ngũ giới sẽ đem lại trật tự

an vui cho xã hội Năm giới này chính là năm thành trì ngăn chặn cho ta đừng

đi vào đường ác, là năm hàng rào ngăn chặn cho ta khỏi rơi xuống vực sâu

a.1

Không được sát sinh.

Đây là điều răn cấm thứ nhất mà Phật khuyên chúng ta Không sát sinhnghĩa là chúng ta không được giết hại sinh mạng từ loài người cho đến loàivật Sinh mạng có một giá trị quý báu nhất là sinh mạng người Giết hại sinhmạng là điều ác và không hợp đạo lý

* Phật Giáo cấm sát sanh bởi nhiều lý do:

Thứ nhất, là để tôn trọng sự công bằng

Sinh mạng mình là quý, là của báu tuyệt đối Nếu ai mưu hại, là mìnhchống trả triệt để bảo vệ sinh mạng Mình đã biết quý trọng thân mạng mìnhthì cũng phải biết quý trọng sinh mạng người Suy rộng ra, các loài vật cũngbiết quý trọng mạng chúng Theo lẽ công bằng, điều ta không muốn ai làmcho ta, thì cũng đừng làm cho người khác hay loài khác Phật dạy:

“Ai ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng sợ sự chết

Vậy nên lấy lòng mình suy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết !”[KinhPháp Cú, 5, 130]

Thứ hai: Tôn trọng Phật tính bình đẳng

Chúng sinh mỗi loài tùy thân hình khác nhau, mà vẫn đồng một Phậttính Phật tính đã bình đẳng thì không thể viện một lý do gì để nói rằng Phậttính ở người có giá trị hơn ở vật, ở giai cấp này, màu da này có giá trị hơn ởgiai cấp kia, màu da kia Sát hại một sinh vật là sát hại Phật tính

Trang 18

Thứ ba: nuôi dưỡng lòng từ bi.

Lòng từ bi của đức Phật xem mọi loài như con, nên Ngài không đồng ýcho Đệ tử Ngài sát hại sanh vật, bất cứ trong trường hợp nào Bởi vì đem tâmgiết hại sinh mạng là lòng độc ác đã cực thịnh, tâm từ bi bị bóp chết Nhẫntâm vô cớ giết một con vật, tính bạo ác không kém giết một con người Nhẫntâm làm cho kẻ khác hay vật khác phải giẫy giụa, rên siết, quằn quại trongmáu đào, trong lệ nóng trước khi trút hơi thở cuối cùng, là tự giết lòng từ bicủa mình, là bóp chết cái mầm thương yêu rất quý báu trong tâm hồn chúng

ta Như thế, khó mà tu hành để thành chính quả được

Thứ tư: Tránh nhân quả báo ứng oán thù

Khi ta giết một người hay một con vật thì sự oán hận của họ tràn trềkhó dập tắt được Họ vì cô thế, vì yếu sức nên bị ta giết hại Trong khi ấy, họ

ôm lòng căm hận, chờ gặp dịp báo thù lại Cứ thế, mỗi ngày ta đều gieo cămhờn cho người và vật, tích lũy lâu ngày, khối oan gia ấy to hơn sức ta, chừng

ta sẽ bị nó sát hại lại Càng tạo nghiệp sát, càng lao mình vào vòng đau khổ.Phật dạy: “Người thường sanh tâm sát hại, càng tăng trưởng nghiệp khổ, mãixoay vần trong sanh tử, không có ngày ra khỏi” (Kinh Lăng Già) [ dẫn theophật học khái lược, trang58, tập 1]

* Lợi ích của sự không giết hại

Vì những lý do trên, đức Phật cấm Phật tử giết hại Không giết hại, sẽ

có những điều lợi sau đây:

Một là:Về phương diện cá nhân

Một người không tàn nhẫn sát nhân, hại vật, không độc ác làm đổ máu,thì trong lòng không bức rứt, hối hận, thân tâm được nhẹ nhàng, thư thái, giấcngủ được an lành, nét mặt được hiền hòa, trong sáng

Hai là: Về phương diện xã hội Nếu tất cả nhân loại trên thế giới nàyđều giữ đúng giới thứ nhất của Phật dạy đây, thì chiến tranh sẽ không có, màcác nghiệp sanh tử luân hồi cũng được giải thoát

“Cho nên Tổ xưa có dạy:

Nhứt thiết chúng sanh vô sát nghiệp,

Thập phương hà xứ động đao binh,

Gia gia, hộ hộ đồng tu thiện,

Thiên hạ sầu bất thái bình.”

Trang 19

Nghĩa là: Hết thảy chúng sanh không nghiệp giết, Mười phương nào cónổi đao binh, Mỗi nhà, mỗi chốn đều tu thiện, Lo gì thiên hạ chẳng thái bình.

Hạn chế: Vẫn biết giết hại là tạo nhân khổ, nhưng người tại gia còn ănmặn, còn làm công kia việc nọ, thì tránh sao khỏi phạm giới sát Ở đây khôngbắt buộc chúng ta phải giữ triệt để như thế, chỉ cần giữ phần quan trọng làkhông giết người, và các con vật lớn như: trâu, bò, ngựa, chó, heo Tuynhiên người tại gia phải hết sức thận trọng, cố gắng tối đa để tránh việc giếthại sinh vật

Còn nhiều con vật nhỏ, nếu tránh giết được bao nhiêu thì quý bấynhiêu Chúng ta nên đi từ từ thì chắc chắn hơn Nhất là không nên giết hạisinh vật một cách vô lý, giết để thỏa lòng thích giết

Trong khi giữ giới sát, chúng ta nên đề phòng hai điều sau: Một là,không nên để cho ác ý sinh khởi Giết một con vật lớn mà vì vô ý hay vì tự

vệ, thì cái quả của nó còn nhẹ hơn là giết một con chuồn chuồn với cái ác ýmuốn giết cho vui tay Hai là, nên tránh sự huân tập trong hoàn cảnh giết hại:Các bậc cha mẹ không nên để cho con xem những cảnh giết hại, không chochúng bắt những sinh vật nhỏ bé để chơi, để giết… Vì như thế sẽ huân tậpcho tâm thức chúng chứng tử giết hại

a.2

Không được trộm cướp

Trộm cướp là lấy những vật thuộc quyền sở hữu của người, mà không

có sự ưng thuận, hay cưỡng ép người ta ưng thuận bằng võ lực hay quyềnhành Những vật quý giá như nhà cửa, ruộng vườn, tiền bạc, ngọc ngà, chođến vật hèn mọn, người ta không cho mà mình cố lấy đều là trộm cướp.Trộm cướp có nhiều hình thức, như cướp giật của người ta, lén lút lấy củangười ta, áp bức người ta mà lấy của, nhặt của rơi không tìm cách trả lại, đều

Trang 20

Mỗi người đều có Phật tính như nhau Tại sao ta lại muốn làm khổngười khác để ta được sung sướng? Tại sao ta lại muốn hưởng những đặc ânbất chính trong khi ta cũng chỉ là một con người như bao nhiêu con ngườikhác?

Thứ ba: Nuôi dưỡng lòng từ bi

Một khi vô ý đánh mất một vật gì hay một số tiền, ta buồn khổ, ănkhông ngon, ngủ không yên, tại sao ta lại nỡ tâm lấy của người để cho ngườiphải khóc than, đau khổ vì ta? Người ta thường nói: “Tiền tài là huyết mạch”.Như vậy, kẻ cướp đoạt của người tức là cướp đoạt xương máu người, sát hạisinh mạng người vậy Chỉ những người không có lòng thương người, tán tậnlương tâm mới làm những việc đen tối như vậy Còn ta, đã là Phật tử, đang cốgắng nuôi dưỡng lòng từ bi, ta không thể trộm cướp của ai được mà phải bốthí cho kẻ khác

Thứ tư : Tránh nghiệp báo oán thù

Không trộm cướp là không làm cho người khác oán thù Mình trộmcướp không những bị xử tội, bị tù ở hiện tại mà con gây oán thù ở kiếp vị lainữa Tội trộm cướp nếu không bị luật pháp thế gian trừng trị thì cũng khôngthoát khỏi nhân quả nghiệp báo Cho nên thế gian thường nói không có toà ánnào công bằng như tòa án lương tâm Lương tâm là tòa án tối cao và côngbằng nhất

Phật dạy: “Người tham luyến sắc tài không chịu rời bỏ, cũng như đứa

bé luyến tiếc một chút mật dính trên lưỡi dao, thè lưỡi liếm, phải bị một cáihọa đứt lưỡi”(Kinh Tứ Thập Nhị Chương) Chính thế, vì tham tiền của, lắmngười đã tự gieo mình vào khám đường, vào địa ngục

*Lợi ích của sự không trộm cướp

Một là: Về phương diện cá nhân

Người không gian tham thì đời sống hiện tại được an ổn, không bị đòihỏi, giam cầm, tù tội, đi đâu cũng được người khác tin cậy, giao phó cho mìnhnhững địa vị quan trọng Người không gian tham thì đời sau được hưởngphước báu giàu sang, an vui, và con cháu nhiều đời cũng nhờ thừa hưởng âmchất của ông bà, cha mẹ mà được vinh hiển

Hai là: Về phương diện đoàn thể

Nếu một ngày nào trong xã hội không ai có tâm gian tham, trộm cướpthì nhà không cần đóng cửa, của khỏi giữ gìn, vật đánh rơi không mất, thật

Trang 21

không còn gì sung sướng hơn! Người ta khổ bởi không có của, nhưng kẻ cócủa nhiều cũng vẫn khổ, vì phải lo giữ gìn Người không trộm cướp tức là đã

âm thầm ban cho người khác sự an ổn rồi

a.3

Không được tà dâm

Tà dâm tức là muốn nói về sự dâm dục phi lễ, phi pháp Luật dạy ngườixuất gia ly tục phải dứt hẳn dâm dục, còn người tại gia thì không được tà dục.Phải giữ đúng tình nghĩa vợ chồng, không được đứng núi này trông núi nọ

Vợ chồng chính thức mà ăn nằm không phải chỗ, gần gũi nhau không chừngmực thì cũng thuộc về tà dâm cả

*Phật cấm tà dâm vì những lý do sau đây:

Thứ nhất: Tôn trọng sự công bình

Mỗi người ai cũng muốn gia đình đầm ấm yên vui, hạnh phúc nênkhông thể phá hoại hạnh phúc của người khác, không thể tà dâm

Thứ hai: Bảo vệ hạnh phúc gia đình

Không gì đau khổ, đen tối hơn, khi một gia đình mà người chồng hoặc

vợ có dạ riêng tư, tà vạy Hạnh phúc đâu còn, khi chồng vợ không tin nhau.Khi một gia đình lâm vào cảnh ấy, thì con cái sẽ xấu hổ, bê tha, côi cút, bàcon không đoái hoài đến, sự nghiệp tan tành, làng xóm chê bai, danh giá hoen

Điều kiện thiết yếu để giữ vững hạnh phúc gia đình chính là lòng chungthủy của hai vợ chồng Người ta thường bảo: “Thuận vợ thuận chồng, tát bểđông cũng cạn”

Vì sự tà tâm của một trong hai người bạn đường mà trong gia đìnhthường xảy ra những sự ghen tuông, cãi vã, đánh đập có khi đến gây án mạng

Có khi, để trả thù, người ta thường thấy xảy ra cái cảnh “ông ăn chả, bà ănnem” Một người chồng đã tâm dòm ngó vợ con người, thì chính vợ con họcũng lăm le vạch rào sang nhà kẻ khác rồi Họ phá hạnh phúc gia đình người,thì chính hạnh phúc gia đình họ cũng đã tan rã trước

Cho nên cấm tà dâm là một điều kiện cần thiết để xây dựng hạnh phúccho gia đình mình và gia đình người

Thứ ba: Tránh oán thù và quả báo xấu xa

Phật dạy: “Người ôm lòng ái dục cũng như kẻ cầm đuốc đi ngược gió,

sẽ bị nạn cháy tay”[Phật học khái lược tập 1, 62] Thật vậy, người ta có tâmxấu xa đắm mê sắc dục không thể thoát khỏi nạn báo Trong các sự oán thù,

Trang 22

không có sự oán thù nào mãnh liệt bằng sự oán thù do sự lừa dối phụ rẫy vềtình ái gây ra Các cuộc án mạng xảy ra hằng ngày, phần lớn là kết quả của tàdâm.

*Vì thế nên sự giữ giới cấm tà dâm sẽ có những lợi ích sau đây:

Một là: Về phương diện cá nhân Kinh Thập Thiện nói: “Người thếgian không tà hạnh thì được hưởng bốn điều lợi như sau:

- Sáu căn (tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn

- Trọn đời được người kính trọng

- Đoạn trừ hết cả phiền lụy khuấy nhiễu

- Cuộc tình duyên trọn đời không ai dám xâm phạm”

Hai là: Về phương diện đoàn thể Trong xã hội mà ai cũng không tàhạnh, thì gia đình được yên vui hạnh phúc, những sự thương luân bại lý sẽtiêu tan, những cảnh thù hiềm, chém giết không xảy ra nữa; con cái đượcmạnh khỏe, nâng niu, xã hội sẽ cường thịnh

a.4

Không được nói dối.

Nói dối có bốn cách: nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác khẩu

- Nói dối hay nói láo: là nói không thật, chuyện có nói không, chuyệnkhông nói có; việc phải nói trái, việc trái nói phải; điều nghe nói không nghe,điều không nghe nói nghe; hoặc giả trước mặt khen dồi, sau lưng chê mạt;hay khi ưa thì dịu ngọt thơm tho, khi ghét thì lại đắng cay chua chát Tóm lại,

ý nghĩa lời nói việc làm trước sau mâu thuẫn, trên dưới khác nhau, trongngoài bất nhất, đều thuộc về nói dối cả

- Nói thêu dệt: là trau tria lời nói, chuốt ngót giọng hay, lên hơi xuốnggiọng cho êm tai mát dạ để cám dỗ người nghe, làm cho người say mê đắmnhiễm; cũng có khi là nói biếm, nói bâm, nói châm, nói chích làm cho ngườinghe phải khổ sở Tóm lại, bao nhiêu lời nói không đúng nghĩa chân thật,thêm bớt, cho đến văn chương phù phiếm, bóng bẩy làm cho kẻ nghe phảiloạn tâm, sanh phiền não, đều gọi là nói thêu dệt cả

- Nói lưỡi hai chiều hay nôm na hơn, là nói “đòn xóc nhọn hai đầu”,nghĩa là đến chỗ này thì về hùa với bên này để nói xấu bên kia, đến bên kiathì về hùa với bên ấy để nói xấu bên này, làm cho bạn bè đang thân nhau trởlại chống nhau, kẻ ân người nghĩa chống đối, oán thù nhau

- Nói lời hung ác, là nói những tiếng thô tục, cộc cằn, chửi rủa, làm chongười nghe phải đau khổ, buồn rầu, sợ hãi Kinh pháp Cú dạy:

Trang 23

“Chớ nói lời thô ác Khi ngươi dùng lời thô ác nói với người khác,người khác cũng dùng lời thô ác nói với ngươi Thương thay những lời nóithô ác chỉ làm cho các ngươi đau đớn khó chịu như đao gậy mà thôi”[kinhPháp Cú, 5, 133]

*Lý do đức Phật chế giới này

Thứ nhất: Tôn trọng sự thật

Đạo Phật là đạo như thật; người tu theo đạo Phật phải tôn trọng sự thật.Người quen dối trá, không thiết tìm sự thật thì khó có thể chứng quả được.Chúng ta đang sống trong vọng tưởng, công việc chính của người tu hành là

cố gắng phá tan vọng tưởng ấy để thấy được bản nguyện; nếu không làmđược như thế mà trái lại còn chồng chất thêm cái vọng tưởng ấy với những sựdối trá lừa phỉnh nữa, thì thật là vô cùng trái đạo

Thứ hai: Nuôi dưỡng lòng từ bi

Cái động lực chính của sự dối trá là lòng ích kỷ, ác độc, muốn hạingười để thỏa lòng dục vọng đen tối của mình Người bị lừa dối, phỉnh gạtphải đau khổ vì mình, có khi phải mắc thù vương oán, có khi phải tan gia bạisản Người tu hành mà làm như thế là đã tán tận lương tâm, đã bóp chết tìnhthương trong lòng họ rồi Một khi lòng từ bi không có nữa, nghĩa là cái độnglực chính đã mất, thì sự tu hành chỉ còn là giả dối, lừa bịp người, và tất nhiênkhông bao giờ có kết quả tốt

Thứ ba: Bảo tồn sự trung tín trong xã hội

Trong một gia đình, một đoàn thể, một xã hội mà không ai tin ai, thìmọi công cuộc từ nhỏ đến lớn đều thất bại, không nói dối chính là chìa khóa

để người ta tôn trọng mình, trọng dụng mình Hạnh phúc gia đình và xã hộikhông thể có được trong sự dối trá nghi ngờ, đố kỵ

Thứ tư: Tránh nghiệp báo khổ đau

Lời nói tuy không phải là lưỡi kiếm, nhưng nó nguy hiểm hơn lưỡikiếm, vì nó có hai mũi nhọn, một mũi đâm vào người khác và một mũi đâmvào chính người xử dụng nó Do đó, trong kinh Pháp cú, Phật dạy: “Phù sĩ xửthế phủ tại khẩu trung, sở dĩ trảm thân do kỳ ác ngôn”, nghĩa là: Phàm kẻ ởđời, lưỡi búa bén nằm sẵn trong miệng, sở dĩ trảm chém mình là do lời nói ác

Đã đành nói ly gián, nói xuyên tạc là để hại người, nhưng khi đã làm hạingười thì thế nào người cũng hại lại mình “Ác lai ác báo” là thế Để tránh sựthù hằn, tránh nghiệp dữ, chúng ta không nên dối trá, điêu ngoa

Trang 24

*Lợi ích của sự không dối trá

Một là: Về phương diện cá nhân

Được người trọng nể, tin cậy, không ai oán hận thù hiềm; đi đâu cũngđược người chung quanh dành cho một địa vị thân tín, niềm nở đón tiếp.Trong nghề nghiệp làm ăn, người chân thật được nhiều thân chủ, và đượcgiao phó cho nhiều trọng trách quý báu

Hai là: Về phương diện đoàn thể Gia đình và xã hội được đoàn thểtrong sự tin cậy Mọi công cuộc chung được xúc tiến có kết quả tốt Đồng bàothương yêu, thông cảm nhau hơn

Nói dối là một tai họa lớn lao cho mình và xã hội Tuy nhiên, cũng cóvài trường hợp nên nói dối Đó là khi nào vì lòng từ bi mà phải nói dối để cứungười hay vật Nói dối phạm tội là trong trường hợp do lòng tham, sân làmđộng cơ thúc đẩy Ngược lại, nếu do lòng từ bi thúc đẩy mà phải nói dối, thìkhông phạm tội

a.5

Không được uống rượu.

Tất cả những thứ có chất men làm say người, hay chất độc hại ngườiđều không được uống Chính mình không uống đã đành, mà cũng không được

ép nài người khác uống Ép nài, khuyến khích người khác uống, tội lại nặnghơn cả chính mình uống nữa Lúc lâm bệnh nặng, uống các thứ thuốc khônglành, lương y bảo phải dùng rượu hòa vào thuốc, thì tạm được dùng Khi hếtbệnh, không được tiếp tục uống thuốc có hòa rượu ấy nữa

*Lý do đức Phật cấm uống rượu

Thứ nhất: Bảo toàn hạt giống trí tuệ

Việc uống rượu rất có hại cho trí tuệ của mình, khi uống rượu thì khôngcòn sáng suốt để xát đoán mọi vấn đề Không uống rượu chính là bảo tồn hạtgiống trí tuệ của mình

Thứ hai: Ngăn ngừa những nguyên nhân sanh ra tội lỗi

Rượu chính nó không phải là một tội lỗi như sát sanh, trộm cướp, tàdâm, nhưng nó có thể làm nhân cho những tội lỗi kia sanh ra Khi đã uốngrượu vào say sưa, thì tội nào cũng có thể phàm được

Tóm lại rượu gây rất nhiều tội lỗi Sau đây 10 tai hại của rượu mà trongKinh đã nói đến: Của cải rơi mất; Tăng trưởng lòng giết hại; Trí tuệ kém dần;

Sự nghiệp chẳng thành; Thân tâm nhiều khổ; Thân hay tật bệnh; Tâm sân hận

Trang 25

bồng bột, ưa cãi lẫy; Phước đức tiêu mòn; Tuổi thọ giảm bớt; Mạng chungđọa vào địa ngục

*Lợi ích của sự cấm rượu

Một là: Về phương diện cá nhân

Người không uống rượu thì tránh được 10 điều hại vừa kể trên: khôngmất tiền của, thân ít bệnh tật, không sinh lòng ác độc giết hại, bớt nóng giận,trí tuệ tăng trưởng, tuổi thọ càng cao v.v

Hai là: Về phương diện đoàn thể

Gia đình được yên vui, con cái ít bệnh tật, xã hội được hòa mục, nòigiống được hùng cường

Tóm lại trên đây là năm điều răn dạy của đức Phật và được xem là nền

tảng để mang lại hạnh phúc cho con người, xây dựng con người sống đúngnghĩa nhân văn của nhân loại Một dân tộc văn minh là biết tôn trọng sinhmạng của nhau, tôn trọng những quyền lợi căn bản của con người Ngũ giới làđạo đức cơ bản của người Phật tử khi bắt đầu bước chân trên con đường giảithoát Một xã hội mà Phật tử đều giữ năm giới ấy thì đó là một xã hội gươngmãu và văn minh

Người phật tử tại gia trên bước dường đạo của mình không chỉ tuân thủngũ giới mà còn tuân theo thập thiện nữa

b Thập thiện.

Thập thiện là mười điều thiện, điều lành mang lại lợi ích cho chúngsinh trong hiện tại cũng như trong tương lai Mười điều thiện này do thân(việc làm), khẩu (lời nói), ý (ý nghĩ) phát khởi

b.1 Về thân có ba điều lành là: không sát sinh, không trộm cắp, không

ta lòng từ bi và được 10 pháp lành như kinh thập thiện đã nói:

Trang 26

- Tất cả chúng sinh đều kính mến

- Lòng từ bi mở rộng đối với tất cả chúng sinh

- Trừ sạch thói quen giận hờn

- Thân thể thường được khỏe mạnh

- Tuổi thọ được lâu dài

- Thường được Thiên thần hộ trợ

- Ngủ ngon giấc và không chiêm bao giữ

- Trừ hết các mối oán thù

- Khỏi bị đọa vào ba đường ác

- Sau khi chết, được sanh lên cõi Trời

đủ bảo đảm cho đời sống hiện tại và tương lai của mình và con cháu Ngườiđời quý trọng tài sản là vì thế Nếu vì một lý do, bất chính, người ta bị tướtđoạt mất tài sản, thì người ta cũng đau khổ, buồn phiền như chính mình bịmất một phần sanh mạng Tiền của là huyết mạch, cho nên khi bị trộm cắp hếtcủa cải, nhièu người đã thất vọng, buồn phiền đến sinh đau ốm, có khi đếnquyên sinh Như vậy, ai nỡ lòng nào trộm cắp cho đành !

Vả lại, theo lẽ công bình, mình không muốn ai lấy của mình, thì mìnhđừng lấy của ai Việc gì mình không muốn người làm đau khổ cho mình, thìmình cũng đừng làm đau khổ cho người Xã hội chỉ tồn tại được, khi mọingười đều tôn trọng lẽ công bằng

Trái lại, người không trộm cắp, bao giờ lòng dạ cũng được thảnh thơi,không sợ luật pháp truy tầm, chẳng lo ai thù oán Một xã hội không có trộmcắp, thì nhà nhà khỏi đóng cửa, của đánh rơi không mất, cảnh tượng giànhgiựt không diễn ra, xã hội được thái bình an lạc:

Nếu không gian tham trộm cắp, mà lại làm hạnh bố thí thì theo kinhThập Thiện Nghiệp, được những pháp lành như sau:

Trang 27

- Giàu có của cải

- Được nhiều người thương mến

- Không bị lừa dối, gạt gẫm

- Xa gần đều khen ngợi lòng ngay thẳng của mình

- Lòng được an ổn, không lo sợ vì sự tổn hại gì cả

- Tiếng tốt đồn khắp

- Thường sẵn lòng bố thí

- Của cải, tính mạng, hình sắc, sức lực an vui, biện tài đầy đủ

- Khi chết rồi được sanh lên cõi Trời[Thập thiện nghiệp, 90]

b.1.3 Không tà dục

Dâm dật là cái nhân sanh tử luân hồi Nó là ma chướng làm ngăn trởbước đường tu giải thoát Bởi vậy, người xuất gia muốn chứng quả, thànhđạo, phải đoạn trừ dâm dật ở thân cũng như ở tâm Kinh Lăng Nghiêm nói:

“Lòng dâm không trừ, thì không thể ra khỏi trần lao”

Còn người tại gia, Phật chỉ ngăn tà dâm, nghĩa là vợ chồng có cưới hỏichánh thức mới được ăn ở, nhưng phải có tiết độ, không lang chạ, ngoại tình

Trong gia đình, chồng không tà dâm, vợ không lang chạ, thì cuộc sốngchung được đầm ấm, an vui Do đó, gia đình được hạnh phúc, sự làm ăn tấnphát, sự nghiệp vững bền, bà con đôi bên vui vẻ, dòng họ hai phí thơm lây,xóm giềng vừa lòng, làng nước quí chuộng

Kinh Thập Thiện Nghiệp đạo nói: Không tà dục và giữ được tịnh hạnh

sẽ được bốn điều lợi:

- Sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn

- Đoạn trừ hết những sự phiền não, quấy nhiễu

- Không ai dám xâm phạm vợ chồng con cái

- Được tiếng tốt, người đời khen ngợi

[Thập thiện nghiệp, 103]

b.2 Về khẩu.

b.2.1 Không nói dối.

Không nói dối là nghĩ thế nào nói thế ấy, nói đúng sự thật, trong lòng

và lời nói không trái nhau, việc phải thì nói phải, việc quấy thì nói quấy, việc

có thì nói có, chuyện không thì nói không Nói dối là có hại vì nó làm cho ta

Trang 28

quen vói thói xấu và mọi người sẽ không tin ở lời nói của ta nữa, nố dối là cótội chỉ trong trường hợp nói dối để cứu khổ cứu nạn mới không có tội.

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp đạo, người không nói dối mà lại nói lờingay thật, thì được những điều lợi ích như sau:

- Miệng thường thơm sạch

- Được người đời tín phục

- Mở lời thành Phật, trời, người quý mến

- Thường đem lời êm dịu an ủi chúng sinh

- Mở lời tôn trọng nhơn thiên vâng làm

- Lời nói không sai lầm và vui vẻ

- Trí tuệ thù thắng, không ai hơn

- Được hưởng lạc thú như ý nghuyện và ba nghiệp đều sạch[ Thập thiện nghiệp, 113]

b.2.2 Không nói thêu dệt:

Nghĩa là không trau chuốt lời nói, không thêu hoa dệt gấm, không nóilời đường mật ngọt ngào để quyến rũ làm điều sai quấy Những kẻ nói lờithêu dệt là những người bất chính lợi dụng lòng dễ tin để trục lợi, nhữngngười này thường bị người đời chê cười, khinh rẽ.tránh xa nên cần phải nóiđúng nghĩa chân thật không thêm, không bớt có như vậy mới tránh được thùhằn và nghiệp dữ và được mọi người yêu mến

b.2.3 Không nói hai chiều.

Không nói lưỡi hai chiều, hay nói hai lưỡi, nghĩa là không đến bên nầynói xấu bên kia, không đến bên kia nói xấu bên này; không đem chuyện ngườinầy ra dèm pha, mà cũng không khuê chuyện người nọ ra nhạo báng; khônglàm cho đôi bên sân hận đấu tranh, cũng không đứng trung gian gây ác cảmcho hai đàng thù oán

Tóm lại, người không nói hai lưỡi là người không có ác tâm, khôngdùng lời trái ngược để làm cho những kẻ thân thành thù, gần thành xa

Người không nói hai lưỡi, không khi nào có chuyện lôi thôi với bà con,

và cũng không có việc phiền muộn với hàng xóm, nên được thân bằng quyếnthuộc, kẻ xa người gần kính mến Người không nói hai lưỡi mà còn nói nhữnglời êm ái hòa thuận, làm cho bạn bè thêm kính trọng nhau, bà con thêm tinyêu nhau, khiến cho ai ai cũng vui vẻ bằng lòng nhau Những người ấy đi đếnđâu cũng được tiếp đãi tử tế, gặp việc gì khó cũng dàn xếp được dễ dàng

Trang 29

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp đạo, người không nói hai lưỡi, sẽ đượcnhững điều lợi ích sau đây:

- Bà con, dòng họ được luôn luôn sum họp

- Tình bằng hữu của thiện tri thức được vững bền bất hoại

- Đức tin bất hoại

- Pháp hạnh bất hoại

[ Thập thiện nghiệp, 126]

b.2.4 Không nói lời hung ác

Không nói hung ác là không nói những lời hung dữ ác độc, cộc cằn, thôtục làm cho người nghe khó chịu; không mắng nhiếc làm cho người nghe hổthẹn, tủi đau v.v

Người không nói lời hung ác, lời lẽ của họ thốt ra dịu dàng, thanh nhã,hiền hậu, toàn là lời đạo đức, từ bi, lợi lạc cho tất cả chúng sinh, ai nghe cũnghân hoan, kính trọng

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp đạo, người không nói lời hung ác mà lạinói lời ôn hòa, được những công đức như sau:

- Nói lời nào cũng khôn khéo đúng lý và lợi ích

- Nói điều gì, ai cũng nghe theo và tin cậy

- Nói ra lời nào cũng không ai chỉ trích mà còn được mến yêu

b.3 Về ý.

b.3.1 Không tham lam.

Ở đời, có 5 món dục lạc, mà người ta thường tham muốn nhất là: tiềncủa, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ Ngũ trần dục lạc ấy, thật ra, vui ít

mà khổ nhiều Như tham tiền của phải đày đọa thân sống, đôi khi còn dùngnhững phương tiện bất chính, để thâu tóm về mình, và khi mất thì lại vô cùngđau khổ Tham sắc thì tồn tiền nhiều, lại mất sức khỏe và hao tổn tinh thần;nhiều khi lại tìm những mưu chước tồi tệ để thỏa lòng ước muốn; nếu khôngđược, lại đam ra ghen tương, thù hận, giết chóc Tham danh vọng, quyền tướcthì phải vào lòn ra cúi, lao tâm khổ trí, mất ăn bỏ ngủ, đôi khi lại còn làm tròcười cho người chung quanh Tham ăn uống cao lương mỹ vị, thì bị nhiềubịnh khó trị, thân thể mệt nhọc, mạng sống không thọ Tham nghủ nghỉ, ngủsớm dậy trưa, thì trí não hóa đần độn, tối tăm

Ngũ dục lạc chính là những nguyên nhân chính ràng buộc kiếp ngườivào vòng sanh tử, Luân hồi, sa đọa Vì vậy đức Phật dạy con người biết tri túc

Trang 30

tức biết vừa đủ, con người tu phật thấy được tác hại của ngũ dục nên phải lodiệt lòng tham dục để sống lành mạnh, giản dị, trong sáng, an lạc, thanh tịnh.

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp đạo, người không tham muốn thì đượcthành tựu những điều tốt đẹp sau đây:

- Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được tự tại, vì nhân các căn đều đầy đủ

- Của cải không mất mát, hay bị cướp giựt

Giận hờn là một tánh xấu rất tai hại, nó như một ngọn lửa dữ, đót cháy

cả mình lẫn người chung quanh Kinh Phật có câu: “Một niệm giận hờn nổilên, thì trăm, nghìn cửa nghiệp chướng đều mở Lửa tức giận một phen phát

ra, liền đốt tất cả rừng công đức” Người không giận dữ thì tâm không khổnão, đem lại lợi ích cho chúng sinh nên được chúng sinh tôn kính và đượcsống trong tình yêu thương của mọi người

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp đạo, người nào không giận tức, thì đượctám món tâm pháp, vui mừng như sau:

- Không tâm khổ não

- Không tâm giận hờn

- Không tâm tranh giành

- Tâm nhu hòa ngay thẳng

- Tâm từ bi như Phật

- Thường làm lợi ích yên ổn cho các chúng sanh

- Thân tướng trang nghiêm, chúng sinh đều tôn kính

- Có đức nhẫn nhục, được mau sanh lên cõi Phạm Thiên

[Thập thiện nghiệp, 216]

b.3.3 Không si mê

Không si mê là biết phán đoán rành rẽ, nhận định rõ ràng, đúng đắn,không cố chấp theo sự hiểu biết riêng của mình, không tin những thuyếtkhông hợp chơn lý, nhất là không mê tín dị đoan

Trang 31

Người không si mê, tức là người có trí huệ, giản trạch, tin có nhân quảluân hồi, nên không tạo tội mà cứ làm phước, thường tu hạnh Bát nhã, dứ trừ

vô minh, để tiến mãi trên con đường giải thoát

Theo kinh Thập Thiện Nghiệp đạo, người không si mê, thì thành tựuđược 10 pháp công đức sau đây:

- Được ý vui chơn thiện và bạn chơn thiện

- Tin sâu nhân quả, thà bỏ thân mạng chớ không làm ác

- Chỉ quy y Phật, chứ không quy y thiên thần và ngoại đạo

- Tâm sanh ngay thẳng, chánh kiến

- Sanh lên cõi trời, khỏi bị đọa vào ba đường ác

- Phúc huệ không lường, thường tăng lên mãi

- Dứt hẳn đường tà, chăm tu đạo chánh

1.2.2.4 Tính thiện đối với người xuất gia tu hành

Đối với người xuất gia tu hành người nam được gọi là tăng và người nữđược gọi là ni Người xuất gia tu hành từng bước tuân thủ quy định nghiêmngặt của nhà chùa

Khi mới vào chùa chức đầu tiên đạt được là tiểu hoặc điệu Người nàyphải đạt ba điều kiện, một là được người thân tiến cử, hai là không phạm tộisát sinh, ba là không trốn trợ ở đời Vào chùa thì phải có điều kiện thứ tư làphải được các vị sư, tu sĩ đồng thuận trong chùa tiếp nhận Chú tiểu phảichấp nhận xuống tóc dần dần, phải học phật, phải giữ giới theo quy định củanhà chùa hàng năm phải thi, đỗ đạt đến đâu thì tóc cạo trọc đến đấy Chỉ khi

Trang 32

nào xuống tóc toàn phần mới thành tiểu, điệu, trong thời gian thử thách trongchùa ít nhất là 5 năm, nếu không hoàn thành thì được cho trở về.

Chức thứ hai là Sa di được thọ giới từ tiểu lên, đối với nam gọi là Sa di.Đối với nữ gọi là Sa di ni Để đạt chức này thì nam phải giữ được 290 giới,

nữ phải giữ 348 giới, đồng thời hàng năm nam, nữ vào chùa tham gia mùakiết hạ (15/4 đến 15/7 âm lịch) Trong thời gian tu ở chùa họ phải học tập vàphải thi giới, người xuất gia tu tập ở chức Sa di phải mất mười năm mới lênchức tiếp theo

Chức thứ ba là tỳ kheo chức này có 3 cấp bậc là: Đại đức, thượng tọa,hòa thượng Đối với ni thay thượng tọa bằng ni sư, hòa thượng thay bằng sưtrưởng

Để đạt được tỳ kheo, bên cạnh đạt được điều kiện nhà Phật, thì trình độvăn hóa phải là 12/12; chức thượng tọa là bậc đại học và hòa thượng là đạihọc và sau đại học Phật giáo Việt Nam có quy định đối với thượng tọa tuổiđời ít nhất 45 tuổi, tuổi hạ là 25 Hòa thượng ít nhất 60 tuổi đời, 40 tuổi hạ.Đối với ni giảm 5 tuổi

Xuất gia tu hành để đạt Sa di phải tuân theo thập giới: 1) Không sátsinh; 2) Không trộm cắp; 3) Không dâm dục; 4) không nói dối; 5) Khônguống rượu; 6) Không đeo vòng hoa, xức dầu thơm; 7) Không xướng ca, hay

đi xem xướng ca; 8) Không ngồi nằm giường cao, rộng; 9) Không ăn phi thời(nghĩa là ăn đúng bữa); 10) Không nắm giữ sinh tượng bảo vật

Một là không được sát sanh

Trên đến chư Phật, thánh nhân, sư tăng, cha mẹ, dưới đến quyên phinhuyễn động, vi tế côn trùng, hễ có sinh mạng thì không được cố giết, bằngcách hoặc tự mình giết, hoặc bảo người giết, hoặc thấy người giết mà mừngtheo Nói rộng như trong Kinh luật có ghi, mùa đông hay sinh chấy rận, hãybắt bỏ trong ống tre, ủ ấm bằng bông, nuôi sống bằng đồ cáu bẩn, là sợ chúngđói lạnh mà chết đi Cho đến lọc nước, che đèn, không nuôi mèo chồn vânvân, đều là đạo từ bi cả Đối với loài nhỏ mà còn như thế, thì đối với loài lớn

có thể nghiệm biết Con người thời nay đã không thể thi hành từ bi như vậy,

mà lại còn thương tổn, sát hại, như thế được chăng? Nên kinh đã dạy, thi âncứu giúp, cho chúng được yên, nếu thấy bị giết, nên sinh từ tâm

Hai là không được trộm cướp.

Trang 33

Từ vật quí trọng như vàng bạc, cho đến một cây kim một ngọn cỏ,không được không cho mà lấy Vật của thường trú, vật của tín thí, vật củatăng chúng, vật của quan, vật của dân, vật của tất cả, mà lấy bằng cách chiếmđoạt, lấy bằng cách trộm cắp, lấy bằng cách lừa gạt, cho đến trốn thuế, gạt đòvân vân, đều là trộm cướp Kinh ghi, một sa di trộm trái của thường trú bảyquả, một sa di trộm bánh của chúng tăng vài cái, một sa di trộm đường phèncủa chúng tăng chút ít, đều rơi vào địa ngục cả Nên kinh đã dạy, thà là chặttay, không lấy phi tài

Ba là không được dâm dục

Năm giới tại gia chỉ hạn chế tà dâm, còn mười giới xuất gia thì cấm hẳndâm dục Hễ can phạm đến hết thảy nam nữ trong thế gian thì gọi là phá giới

cả Trong kinh Lăng nghiêm ghi, tỷ kheo ni Bảo liên hương lén làm việc dâmdục, rồi chính mình tuyên ngôn, rằng dâm dục không phải giết thân ai, khôngphải trộm của ai, nên không có tội báo, do đó cảm ra thân xuất lửa dữ, đangsống mà vùi xuống địa ngục Thế nhân vì dâm dục mà giết thân, mất nhà, xuấtgia làm tăng sĩ há lại còn phạm? Căn bản sinh tử, dục là thứ nhất Nên kinh đãdạy, dẫu dâm dật mà sống, không bằng trinh khiết mà chết Vì vậy người xuấtgia cung phải giữ giới này

Chương 16 của kinh Tứ Thập Nhị Chương đức Phật có dạy:

“Người ôm tâm ái dục thì không thể thấy đạo; ví như nước đang lắngyên mà lấy tay khuấy lên, mọi người đến soi thì chẳng ai thấy được ảnh mình.Người thường dính dáng tới sắc dục thì tâm bị vẩn đục, cho nên không thểthấy được đạo Các thầy Sa môn! Hãy dứt bỏ ái dục! Chừng nào những cáubẩn của ái dục tuyệt sạch, chừng đó quí thầy mới thấy được đạo”

Bốn là không được nói dối

Nói dối có bốn Một, nói dối trá, là phải bảo trái, trái bảo phải, thấy nóikhông, không nói thấy, dối trá không thật vân vân Hai, nói thêu dệt, là trauchuốt lời nói phù phiếm, từ ngữ hoa mỹ khúc nhạc diễm lệ, lời ca tình tứ, dắtdẫn dục vọng, tăng thêm sầu bi, làm đãng tâm chí của người vân vân Ba, nóithô ác, là nói thô tục, độc ác, mắng chửi người vân vân Bốn, nói hai lưỡi, làđến người này nói người kia, đến người kia nói người này, ly gián ân nghĩa,khêu chọc và xúi bảo cho họ đấu nhau, tranh nhau vân vân Cho đến trướckhen sau chê, mặt phải lưng trái, chứng vào tội người, rêu rao lỗi người, đềuthuộc loại vọng ngữ Nếu phàm phu tự nói chứng được thánh quả, như nói đã

Trang 34

được quả Tu đà hoàn, được quả Tư đà hàm vân vân, thì gọi là đại vọng ngữ,tội ấy rất nặng Ngoài ra, vọng ngữ vì cứu hoạn nạn cấp bách cho kẻ khác,phương tiện quyền biến, từ bi mà ích lợi, cứu giúp, thì không phạm Cổ nhân

có nói, điều thiết yếu của việc sửa mình là bắt đầu từ sự không nói dối, huốngchi người học đạo xuất thế? Kinh ghi, một sa di khinh cười một vị tỷ kheo giàđọc kinh, rằng tiếng như chó sủa Vị tỷ kheo ấy là bậc A la hán, nên dạy sa dicấp tốc sám hối, nhưng chỉ khỏi địa ngục, vẫn còn đọa làm thân chó Một câunói thô ác mà làm hại đến như thế đó! Nên kinh đã dạy, con người ở đời, búanằm trong miệng, vì vậy chém mình, bởi lời nói ác Nên cũng phải răn giữ lờinói của mình

Năm là không được uống rượu

Uống rượu là uống tất cả thứ rượu có khả năng làm say con người.Rượu có nhiều thứ: mía, nho, cùng với trăm hoa đều có thể làm rượu Địaphương này chỉ có rượu làm bằng gạo Tất cả đều không được uống Trừ lúc

có bịnh nặng, phi rượu không chữa được, thì phải tác bạch tăng chúng mớiuống Vô cớ thì một giọt cũng không được thấm môi Cho đến không đượcngửi rượu, không được dừng ở quán rượu, không được đem rượu cho ngườiuống Kẻ ham uống rượu thì chết rồi phải đọa vào địa ngục Phân sôi, đời đờingu si, mất giống trí tuệ, nên rượu là thuốc cuồng làm mê loạn tâm hồn còn

dữ hơn cả đá tì, chim chẫm Nên kinh đã dạy, thà uống nước đồng nấu chảy,thận trọng đừng phạm vào sự uống rượu Uống rượu vô cùng có hại nên làngười tu hành cũng phải tuyệt đối giữ giới này

Sáu là không được mang vòng hoa thơm hay dùng hương thơm xoa mình

Vòng hoa là người Tây vức xâu hoa làm vòng để trang sức đầu họ, cònquốc độ này là cái loại dùng lụa, nhung, vàng và các thứ quí báu mà chế tạohay trang sức khăn mão Dùng hương thơm xoa mình là kẻ sang ở Tây vứcdùng danh hương làm bột, bảo thanh y xát vào mình, còn quốc độ này là cáiloại đeo hương, xông hương, sáp và phấn Người xuất gia đâu có nên dùngnhững thứ đó Phật qui định ba pháp y đều dùng toàn vải gai thô sơ, còn lôngthú miêÍng tằm thì hại sinh vật, tổn từ bi, không phải những thứ thích hợp vớingười xuất gia

Nước hoa, phấn sáp thoa thân, đức Phật chẳng những không cho ngườixuất gia dùng, mà cả những người phát tâm tu học đời xuất gia cũng không

Trang 35

được dùng, bởi vì những thứ này là những ngoại duyên có sức xúc phạm đếngiới pháp Nên cũng phải giữ giới này.

Bảy là không được ca, vũ, hòa tấu, biểu diễn, hay đi xem nghe.

Ca là miệng hát các khúc ca, vũ là thân múa các điệu vũ, hòa tấu biểudiễn là cái loại đàn cầm đàn sắt ống tiêu ống quản Không được chính mình tựlàm những việc này, mà khi người khác làm, mình cũng không được cố đixem và nghe Xưa có tiên nhân vì nghe con gái hát, âm thanh tuyệt diệu, màthốt nhiên mất liền thần túc Cái hại xem nghe còn như thế, huống chi tự làm?Ngày nay, những kẻ ngu muội nhân kinh Pháp hoa có câu tì bà nao bạt nên tự

ý phóng túng mà học âm nhạc Nhưng trong kinh Pháp hoa nói, là để hiếncúng chư Phật, không phải tự vui Do đó, những am viện ứng phó làm đạotràng pháp sự trong nhân gian thì hoặc có thể làm được, còn nay vì vấn đềsanh tử mà thoát tục xuất gia, thì đâu có thể không tu tập việc chính, lại cầuhọc tập cho khéo về kỹ nhạc Cho đến những việc đánh vi kỳ, lục bác, đầutrịch, xu bồ, vân vân, đều rối loạn đạo tâm, thêm lớn tội ác Như thế khôngrăn giữ được sao?

Ca múa xem nghe thuộc về cảnh giới mắt thấy tai nghe của hai trần Sắc

và Thanh Ca múa có tánh cách bảo thủ của ngày xưa mà đức Phật còn cấm,huống hồ loại ca múa có tánh chất đồi trụy của ngày nay Những thứ làm vuitai, vui mắt này, thoạt nhìn thì không thấy nguy hại, nhưng nếu thường tiếpxúc chẳng những đạo nghiệp của ta phải hủy phế, còn từ từ phát sanh dụcniệm, khiến bao chí hướng trong sáng không còn an trụ nơi Phật pháp nữa,lâu dần bị chuyển, lìa xa Phật pháp đến chốn sa đọa, đắm trong ca múa khôngthoát ra được Cho nên bất luận xuất gia rồi hay đang tập xuất gia tự mìnhkhông được ca múa, và không được cố ý đến ca lâu, vũ sảnh xem nghe

Tám là không được ngồi giường cao và rộng lớn

Theo đức Phật giấc ngủ chỉ để khôi phục sức khỏe nên chỉ cần ngủ saocho ngon giấc, còn giường chiếu chỉ là phương tiện phụ thuộc Như thế nhânchú trọng giường nằm: nệm dầy, trướng rủ, mềm mại thư thích đã ngược lạikhiến họ điên đảo mộng tưởng, không thể được giấc ngủ ngon lành Như vậyđâu còn đúng như ý nghĩa chính yếu của giấc ngủ nữa Ðức Phật biết điều này

có ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của thân thể nên đặc biệt chế giới “khôngnằm ngồi giường cao rộng” để khiến hành giả ngay đến lúc ngủ nghỉ cũngniệm chánh đạo

Trang 36

Phật qui định giường giây cao không quá tám ngón tay của Ngài Quá

cỡ ấy thì phạm Cho đến cái loại sơn vẽ chạm trổ và màn nệm bằng sa lụacũng không nên dùng Phật mà dùng cỏ làm đồ ngồi, đêm nghỉ dưới cây; nay

ta có giường có chõng cũng đã hơn rồi, sao lại phải cao rộng để phóng túngxác huyễn Hiếp tôn giả một đời hông không dính chiếu, Cao phong Nguyêndiểu thiền sư ba năm lập nguyện không dính giường ghế, Ngộ đạt quốc sưnhận pháp tọa trầm hương còn tổn phước mà rước họa

Giường nằm cao thấp to nhỏ, chẳng phải chỉ về mặt đo lường mà cả vềmặt chất liệu nữa Như các nhà giàu có ngày xưa ở Trung Quốc, giường nằmcũng được điêu khắc chạm trổ tinh chí, còn đính ngọc lát vàng, cho đến cácngọa cụ như màn, mền, đều toàn bằng gấm vóc tế nhuyễn, hoa lệ cực kỳ Nhưthế, tuy về mặt đo lường không quá sự quy định của đức Phật, nhưng về mặtchất liệu lại cao xa, hoa lệ thái quá, nên cũng không phải là chỗ dùng của Phật

tử Nếu thọ dụng những thứ trân quý như vậy, không những thành thói quen

mê nhiễm những món xa xỉ, quên cả tu Thánh Ðạo, mà còn tăng trưởng tínhkiêu mạn, cao ngạo, thành thử đức Phật không cho hàng đệ tử hưởng thụ nhưvậy Chư vị ngày nay học tập đời xuất gia nên tập các thói quen như vậy

Chín là không được ăn phi thời

Phi thời là quá giờ ngọ thì không phải giờ ăn của tăng sĩ Kinh Tỳ LaTam Muội nói: “Sáng sớm giờ chư Thiên ăn, giữa trưa giờ chư Phật ăn, buổichiều giờ súc sanh ăn, buổi tối giờ ngạ quỷ ăn Như Lai muốn (chúng sanh)dứt trừ lục thú khiến được nhập đạo, nên chế định (thọ trai) giờ (ăn) của chưPhật” Tăng nên học Phật, không ăn quá giờ ngọ Ngạ quỉ nghe tiếng chén bátthì trong cổ họng lửa nổi lên, nên ăn đúng giờ ngọ mà còn phải yên tịnh,huống quá giờ ngọ ấy Xưa có vị cao tăng nghe vị tăng sĩ ở phòng bên cạnh,sau giờ ngọ mà thổi bếp, bất giác rơi lụy khóc thầm, buồn nỗi suy tàn củaPhật pháp Con người thời nay, có kẻ mình yếu, nhiều bịnh, muốn ăn luônluôn, hoặc không thể giữ giới này, nên cổ nhân gọi bữa ăn chiều là thuốc, làlấy cái ý chữa bịnh Nhưng quyết định phải biết trái với sự qui định của Phật

mà phát sanh sự hổ thẹn to lớn, nghĩ nhớ nỗi thống khổ của ngạ quỉ màthường hành từ bi, không ăn nhiều, không ăn ngon, không ăn một cách yên

dạ, mới có thể tạm được Nếu không thì đắc tội càng nặng

Giới “không ăn phi thời” chẳng riêng tỳ kheo nên giữ mà là giới chungcho hàng ngũ chúng xuất gia, và ngay đến hàng tại gia thọ Bát Quan Trai

Trang 37

Giới, đức Phật cũng chế định phải giữ giới này Như vậy, giới này rất quantrọng đối với Phật Giáo Nên người xuất gia cũng phải giữ giới này.

Mười là không được nắm giữ sinh tượng (vàng bạc) bảo vật

Sinh là vàng Tượng là tương tự; tương tự với vàng là bạc Nghĩa là sắccủa vàng sinh ra vốn tự vàng, còn bạc có thể nhuộm sắc vàng nên tương tựvới vàng Bảo là cái loại bảy thứ quí báu Tất cả đều tăng trưởng tham tâm,trở ngại và phế bỏ đạo nghiệp Nên khi Phật tại thế, tăng sĩ đều khất thực,không lập bếp núc, áo cơm phòng thất đều tùy ngoại duyên, đặt vàng bạc vào

vị trí vô dụng Nắm giữ mà còn cấm thì sự thanh bạch có thể biết được Bừanhằm vàng mà không ngoái lại để ngắm, nho sĩ thế gian còn như thế, Thích tử

tự xưng bần đạo thì chứa của làm gì ? Người xuất gia thời nay không phải aicũng khất thực, mà hoặc nhập tòng lâm, hoặc ở am viện, hoặc đi phương xa,cũng không khỏi cần đến tiền bạc Nhưng quyết định phải biết trái với sự quiđịnh của Phật mà phát sanh sự hổ thẹn to lớn, nghĩ nhớ nỗi nghèo thiếu củangười khác mà thường hành bố thí, không mưu cầu, không dồn chứa, khôngbuôn bán, không dùng bảy thứ quí báu trang sức những vật y phục, đồ dùng,vân vân, mới có thể tạm được Nếu không thì đắc tội càng nặng

Tóm lại mục đích của người tu hành là hướng đến giải thoát và giácngộ, mà muốn làm được điều đó thì người tu hành phải tuân thủ các nguyêntắc và giới luật của nhà Phật trong đó có thập giới Việc giữ giới trong sạchnghĩa là nghĩa là tác ý thiện tâm giữ gìn bảo vệ giới của mình không bị ônhiễm bởi phiền não Người có tác ý thiện tâm giữ gìn giới của mình đượctrong sạch và trọn vẹn, có nghĩa là giữ gìn, bảo vệ nhân cách trong sạch củamình, tôn trọng nhân phẩm con người của mình Người có giới trong sạchhưởng được quả báu tốt lành trong kiếp hiện tại lẫn nhiều kiếp vị lai, ngượclại, người phạm giới thì phải chịu quả xấu cả hiện tại lẫn nhiều kiếp vị lai

Nếu hạnh phúc là đối tượng mà nhân loại mãi đi tìm thì việc giữ đúnggiới là những gì nhân loại cần nắm giữ trên đường đi đến hạnh phúc Đối vớingười xuất gia tu hành thì việc tuân thủ giới luật và giữ giới lại có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng trên con đường đi đến giải thoát và giác ngộ Trong kinh TứThập Nhị Chương có ghi: “Người theo Đạo để tu tập như một người phảichiến đấu với vạn người Khi mặc áo ra cửa sẽ có thái độ sợ hãi, hoặc nữachừng trở lui hoặc chiến đấu đến chết, hoặc chiến thắng trở về Sa – môn họcĐạo cũng vậy, phải có ý chí kiên trì, dõng mãnh tiến lên, không sợ những

Trang 38

hiện tượng trước mắt gây trở ngại, phá tan các loài Ma để chứng đắc các Đạoquả” Như vậy giới luật trong đó có thập giới là nền tảng của các bậc xuất gia

tu hành trên con đường tu tập để chứng đạo quả

Chương 2: Một số ảnh hưởng của tính thiện Phật giáo đối với việc giáo dục con người mới ở Việt Nam hiện nay

2.1 Quan niệm về con người mới:

2.1.1 Quan niệm về con người:

Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, con người vừa là thực thể tự nhiên,vừa là thực thể xã hội, đồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh Con người làmột thực thể “song trùng” tự nhiên và xã hội, là sự kết hợp cái tự nhiên (sinhhọc) và cái xã hội Hai yếu tố này gắn kết với nhau, đan quyện vào nhau,trong cái tự nhiên chứa đựng tính xã hội và cũng không có cái xã hội tách rờicái tự nhiên

Con người trong quá trình tồn tại không chỉ tác động vào tự nhiên, làmbiến đổi thế giới tự nhiên mà con người còn quan hệ với nhau tạo nên bảnchất người, làm cho con người khác với con vật “Bản chất con người khôngphải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thựccủa nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”.Con người không thể tồn tại được một khi tách khỏi xã hội Chỉ trong xã hộicon người mới có thể trao đổi lao động, thông qua đó mà thoả mãn những nhucầu trong cuộc sống, như ăn, ở, đi lại v.v Trong xã hội thông qua quan hệvới người khác mà mỗi người nhận thức về mình một cách đầy đủ hơn, trên

cơ sở đó mà rèn luyện, phấn đấu vươn lên về mọi mặt, từng bước hoàn thiệnnhân cách

2.1.2 Quan niệm về con người xã hội chủ nghĩa:

Con người xã hội chủ nghĩa bao gồm cả những con người từ xã hội cũ

để lại và cả những con người sinh ra trong xã hội mới Con người sống dướichế độ xã hội chủ nghĩa mang những nét đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, songvẫn còn chịu ảnh hưởng không ít những tư tưởng, tác phong, thói quen của xãhội cũ Cho nên, quá trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là quátrình diễn ra cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa cái cũ và cái mới, cái tiến

bộ và cái lạc hậu

Con người xã hội chủ nghĩa vừa là chủ thể trong quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội, vừa là sản phẩm của quá trình đó Một mặt, trong lao động

Trang 39

sản xuất, đấu tranh xã hội, con người tạo ra những điều kiện cơ sở vật chấtngày một tốt hơn, phục vụ con người ngày một chu đáo hơn, cuộc sống củacon người ngày càng đầy đủ hơn, môi trường xã hội ngày càng trong sạch,ngày càng nhân văn hơn, do vậy, càng có những điều kiện để xây dựng nênnhững phẩm chất của con người xã hội chủ nghĩa Mặt khác, cũng chínhtrong quá trình lao động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội mà con người cải tạochính bản thân mình, tự rèn luyện khắc phục những hạn chế, thiếu sót của bảnthân.

Mỗi thời kỳ lịch sử, trên cơ sở của sự phát triển lực lượng sản xuất, của trình độ phát triển xã hội, cần phải xác định mô hình con người cần xâydựng Toàn bộ mọi hoạt động của xã hội, hệ thống luật pháp, những chínhsách kinh tế - xã hội, mục tiêu của giáo dục - đào tạo phải hướng vào mục tiêu

đó, hình thành những phẩm chất con người theo bản chất, mục tiêu xã hội chủnghĩa Một khi con người đã hình thành với những phẩm chất tốt đẹp đó lạitrở thành chủ thể tự giác để phát triển xã hội theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa

Dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu những giá trị truyềnthống của dân tộc, căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, những đặctrưng con người xã hội chủ nghĩa mà chúng ta phấn đấu xây dựng là:

+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người có ý thức, trình độ và nănglực làm chủ Đồng thời xã hội tạo ra những điều kiện về kinh tế, chính trị, xãhội, v.v để con người thực hiện được quyền làm chủ đó

+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người lao động mới, có tri thứcsâu sắc về công việc mà mình đang đảm nhận, lao động có ý thức kỷ luật, cótinh thần hợp tác với đồng nghiệp, biết đánh giá chất lượng lao động, hiệu quảlao động của bản thân

+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người sống có văn hoá, có tìnhnghĩa với anh em, bạn bè, mọi người xung quanh, biết được vị trí của mìnhtrong từng mối quan hệ xã hội và giải quyết đúng đắn được những mối quan

hệ đó; thường xuyên có ý thức nâng cao trình độ tri thức về mọi mặt, ra sứcrèn luyện sức khoẻ, bảo đảm phát triển toàn diện cá nhân

+ Con người xã hội chủ nghĩa là con người giàu lòng yêu nước,thương dân, có tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng loại, sống nhânvăn, nhân đạo, có ý thức và kiên quyết đấu tranh bảo vệ chế độ xã hội chủ

Ngày đăng: 06/01/2014, 14:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thích Minh Châu: Năm giới, một nếp sống an lành, an lạc hạnh phúc. Giáo hội phật giáo Việt Nam, 1993 Khác
2. Thích Minh Châu: Những lời đức Phật dạy về hòa bình và giá trị con người. Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, ấn hành 1995 Khác
3. Thích Minh Châu: Đạo đức phật giáo và hạnh phúc con người. NXB tôn giáo, 2002 Khác
4. Thích Minh Châu: Đức Phật nhà đại giáo dục. NXB tôn giáo, 2005 Khác
5. Dalailama: Tấm lòng rộng mở. Nhà xuất bản tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2003 Khác
6. Nguyễn Đăng Duy: Giá trị nhân bản của Phật giáo trong truyền thống và hiện đại. NXB Hà Nội, 1999 Khác
7. Nguyễn Đăng Duy: Phật giáo với văn hóa Việt Nam. NXB Hà Nội, 1999 Khác
8. Phạm Thế Duyệt: Tạp chí nghiên cứu phật học số 4, (23) – 2006 Khác
9. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới ( Đại hội VI, VII, VIII, IX). NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Khác
10. Đảng cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
11. Trần Thạc Đức: Phật giáo hướng đi nhân bản đích thực.NXB Lá Bối, in lần thứ nhất 1967 Khác
12. Thiền sư Đinh Lực và cư sĩ Nhất Tâm: Tôn giáo và lịch sử văn minh nhân loại. NXB văn hóa thông tin Khác
13. Bộ giáo dục và đào tạo: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh.NXB chính trị quốc gia Hà Nội, 2006 Khác
14. Nguyễn Duy Hinh: Tư tưởng Phật giáo Việt Nam. NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 1999 Khác
15. Thích Quang Nhuận: Phật học khái lược, tập 1. NXB tôn giáo, 2005 Khác
16. Thích Quang Nhuận: Phật học khái lược, tập 2. NXB tôn giáo, 2005 Khác
17. Nguyễn Thu Phong : Tính thiện trong tư tưởng Phương Đông. NXB đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh, 2000 Khác
18. Thích Minh Quang: Chân dung người phật tử. NXB tôn giáo, Phật lịch 2545 – Dương lịch 2001 Khác
19. Thích Thiện Siêu: Kinh Pháp Cú. NXB Thuận Hóa, Huế,1996 Khác
20. Thích Thiện Siêu: Giáo dục phật giáo trong thời kỳ hiện đại. NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2002 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w