1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

quy định pháp luật về bảo hiểm y tế

27 983 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu qui định pháp luật hiện nay đối với bảo hiểm y tế tại Việt Nam và kết quả đạt được
Tác giả Nhóm 8
Chuyên ngành Tài Chính Công
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 43,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc sống cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh hằng ngày dù luôn chú ý ngăn ngừa và để ý phòng ngừa nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra. Có người có thể vượt qua nhưng có những người không thể vượt qua khỏi, chính vì vậy bảo hiểm ra đời. Do nhu cầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và không thể thiếu đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Ngày nay, sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia ngày càng phát triển thì bảo hiểm cũng ngày càng mỡ rộng. BHYT là một chính sách xã hội quan trọng trong hệ thống các chính sách an sinh xã hội của nước ta, vì vậy luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, được triển khai sâu rộng trên phạm vi cả nước. Với mức đóng góp không cao nhưng khi không may mắc bệnh, kể cả bệnh hiểm nghèo, phải tốn chi phí lớn, người tham gia BHYT sẽ được KCB chu đáo, không phân biệt giàu nghèo. Trong những năm qua thì nhà nước ta đã ban hành và sửa đổi nhiều chính sách quan trọng về hệ thống BHYT. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì việc thực hiện lô trình BHYT toàn dân vào năm 2014 đang gặp phải không ít trở ngại.Từ thực tế trên chúng ta thấy được sự quan trọng của BHYT đối với sự phát triển của xã hội, do đó nhóm chúng em xin chọn đề tài: “ Nghiên cứu qui định pháp luật hiện nay đối với bảo hiểm y tế tại Việt Nam và kết quả đạt được”•Chương 1: Lý luận chung về BHYT•Chương 2: Những quy định mới về luật Bảo Hiểm•Chương 3: Thực trạng về việc thực hiện BHYT(2008-2012)

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHYT 3

1.1 Khái niệm BHYT 3

1.2 Ý nghĩa va vai trò của BHYT 3

Chương II: NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ BHYT 6

2.1 Sơ lược về sự ra đời và phát triển của BHYT Việt Nam 6

2.2 Quy định mới về BHYT 7

2.2.1 Mức phí mới khi đóng BHYT 7

2.2.2 Mức hưởng BHYT theo quy định mới 9

Chương III : THỰC TRẠNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN BHYT (2008-2012) 3.1 Việc ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật bảo hiểm y tế .10

3.2 Về việc mở rộng đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế 11

3.3 Về cơ chế tài chính để mở rộng diện bao phủ và thực hiện chinh sách Bảo hiểm y tế 12

3.4 Về việc quản lý, sử dụng quỹ và cấp, đổi thẻ Bảo hiểm y tế 14

3.5 Về cung ứng dịch vụ y tế cho người tham gia Bảo hiểm y tế 18

3.6 Về công tác quản lý nhà nước về Bảo hiểm y tế 21 KẾT LUẬN

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong cuộc sống cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh hằngngày dù luôn chú ý ngăn ngừa và để ý phòng ngừa nhưng con người vẫn cónguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra Có người có thể vượt qua nhưng

có những người không thể vượt qua khỏi, chính vì vậy bảo hiểm ra đời Do nhucầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và không thể thiếuđối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia Ngày nay, sự giao lưukinh tế, văn hóa giữa các quốc gia ngày càng phát triển thì bảo hiểm cũng ngàycàng mỡ rộng BHYT là một chính sách xã hội quan trọng trong hệ thống cácchính sách an sinh xã hội của nước ta, vì vậy luôn được Đảng và Nhà nướcquan tâm, được triển khai sâu rộng trên phạm vi cả nước Với mức đóng gópkhông cao nhưng khi không may mắc bệnh, kể cả bệnh hiểm nghèo, phải tốnchi phí lớn, người tham gia BHYT sẽ được KCB chu đáo, không phân biệt giàunghèo Trong những năm qua thì nhà nước ta đã ban hành và sửa đổi nhiềuchính sách quan trọng về hệ thống BHYT Tuy nhiên, bên cạnh những thànhtựu đạt được thì việc thực hiện lô trình BHYT toàn dân vào năm 2014 đang gặpphải không ít trở ngại

Từ thực tế trên chúng ta thấy được sự quan trọng của BHYT đối với sự

phát triển của xã hội, do đó nhóm chúng em xin chọn đề tài: “ Nghiên cứu qui định pháp luật hiện nay đối với bảo hiểm y tế tại Việt Nam và kết quả đạt được”

 Chương 1: Lý luận chung về BHYT

 Chương 2: Những quy định mới về luật Bảo Hiểm

 Chương 3: Thực trạng về việc thực hiện BHYT(2008-2012)

Trang 3

Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHYT

1.1 Khái niệm về BHYT

Theo luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 thì BHYT là hìnhthức bảo hiểm được áp trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đíchlợi nhuận, do nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm thamgia theo quy định của luật BHYT

1.2 Ý nghĩa, vai trò của BHYT

BHYT có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, đòisống của con người Vai trò của BHYT thể hiện ở những điểm sau:

Một là, BHYT thực hiện chính sách an sinh, góp phần nâng cao chấtlượng hiệu quả và công bằng xã hội chăm sóc sức khỏe

BHYT có vai trò nhất định cho phục vụ chăm sóc sức khỏe của ngườidân Với những đặc thù của mình, BHYT đã bảo đảm cho mọi người, nhất lànhững đối tượng “yếu thế” trong xã hội, ai cũng được tiếp cận các dịch vụchăm sóc sức khỏe cơ bản, có chất lượng tốt; bảo vệ nhân dân khỏi gánh nặngquá sức về tài chính do chi phí của các dịch vụ y tế mà họ cần sử dụng gây nên.Khi tham gia BHYT, những người có điều kiện kinh tế khó khăn, hay họ mắcbệnh hiểm nghèo thì họ sẽ được BHYT gánh khó khăn về chi phí KCB Đồngthời, BHYT cũng đảm bảo cho những người bệnh có cùng nhu cầu được tiếpcận như nhau đến các dịch vụ y tế hiện có; người bệnh có nhu cầu nhiều hơnđược chăm sóc được chăm sóc nhiều hơn Trong cuộc sống, con người có điềukiện chăm sóc sức cho chính mình và cho người than của mình Có thể nói khi

có BHYT thì mỗi con người có điều kiện chăm sóc sức khỏe trung bình trong

xã hội bất kể là họ giàu nghèo hay ở bất kì địa vị nào BHYT cùng với sự pháttriển của con người cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp

Trang 4

Từ khi ra đời, BHYT huy động được và sử dụng nhiều nguồn lực để chia

sẽ rủi ro; góp phần đắc lực giảm tỷ lệ mắc bệnh tật và tử vong; nâng cao sứckhỏe, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi và góp phần nâng cao chấtlượng cuộc sống

Hai là, BHYT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và thúc đẩy tiến

bộ xã hội

Ngoài tính xã hội của mình BHYT còn thể hiện tính kinh tế của mình.BHYT góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế, thúc đẩy tiến bộ xãhội Một xã hội dù phát triển đến đâu thì cũng chỉ được coi là một xã hội tiến

bộ khi có mạng lưới y tế tốt và mọi người dân khỏe mạnh Sức khỏe là tài sảnquý nhất của mỗi người Khi bị ốm đau hay mắc bệnh, con người không chỉ bịsuy giảm về sức khỏe, giảm khả năng lao động mà còn ảnh hưởng đến tinhthần của họ và những người thân Tham gia BHYT, người lao động và thànhviên gia đình họ, ai cũng đượi chăm sóc sức khỏe, giảm ốm đau, khỏi bệnh tật.Khi có BHYT, người tham gia được chăm sóc sức khỏe Với thể chất và tinhthần khỏe mạnh, người lao động mới có thể đạt được kết quả cao nhất trongcông việc, năng suất lao động tăng, thu lợi về cho bản thân, gia đình, cho tổchức và ch cả nền kinh tế quốc dân Mặt khác, đối với các nước đang phát triểnnhư Việt Nam, nhờ có BHYT mà nhà nước giảm tải được gánh nặng đối với sựnghiệp chăm sóc sức khỏe toàn dân, ngân sách quốc gia được tập trung hơncho phát triển kinh tế Ngoài ra, với tư cách là một quỹ tiền tệ, quỹ BHYTđược nhiều nước cho phép sử dụng nguồn tài chính nhàn rỗi để đầu tư sinh lời,tăng thêm nguồn thu của quỹ, từ đó quay lại phục vụ cho các hoạt động củaBHYT Qua quá trình tồn tại và phát triển, BHYT ngày nay có nhiều đóng gópquan trọng vào sự ổn định và tiến bộ xã hội

Ba là, BHYT mang tính nhân văn, xã hội sâu sắc

Trang 5

Rủi ro về sức khỏe thường đến bất ngờ và không loai trừ ai Đối với đa sốcác thành viên trong xã hội, chi phí thực sự là một gánh nặng mà nhiều khikhông thể trả nổi Vì vậy đã có không ít các trường hợp do hoàn cảnh kinh tế

mà phải “sống chung với bệnh tât” trong khi y học hoàn toàn có khả năng chữatrị được BHYT ra đời không nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuân mà xuấtphát từ nhu cầu khách quan của cuộc sống con người Nhờ tham gia BHYT,người nghèo không phải đơn phương chống đỡ với những khó khăn gây ra bởirủi ro sức khỏe Bởi lẽ, khi đó họ nhận được sự chia sẽ, giúp đỡ của cả cộngđồng – của người có thu nhập cao đối với người có thu nhập thấp, của ngườikhông ốm hoặc chưa ốm với người đang ốm, của người bệnh nhẹ với ngườibệnh nặng Như vậy, khi tham gia BHYT mọi người thể hiện trách nhiệm củamình trước hết là đối với bản thân, sau đó là trách nhiêm đối với xã hội, BHYT

đã gốp phần phát huy tinh thần đoàn kết, “tương thân tương ái”, “lá lành đùm

lá rách” giữa các thành viên trong xã hội Đó là những truyền thống tốt đẹp củadân tộc Việt Nam từ ngàn xưa

Ngoài ý nghĩa trên, BHYT còn góp phần trong việc điều tiết thu nhập củacác tầng lớp dân cư trong xã hội, là một trong những nguồn cung cấp tài chính

ổn định cho các sở y tế

Trang 6

NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ

2.1 Sơ lược về sự ra đời và phát triển của BHYT Việt Nam

Tại phiên họp ngày 15/4/1992, kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa VIII đãthông qua Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, BHYTđược quy định tại điều 39 của Hiến pháp: “Thực hiện BHYT tạo điều kiện đểmọi người dân được chăm sóc sức khỏe” Đây là cơ sở pháp lý quan trọng choviệc triển khai thực hiện chính sách BHYT sau này

Ngày 18/8/1992 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số299/HĐBT ban hành Điều lệ BHYT, khai sinh ra chính sách BHYT ở nước ta.Với mục đích huy động nguồn lực của các cá nhân trong các đơn vị trên địabàn cả nước thực hiện định hướng chiến lược công tác bảo vệ sức khỏe nhândân với mục tiêu từng bước xã hội hóa sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏecho nhân dân, đảm bảo sự công bằng trong công tác chăm sóc sức khỏe củamọi người dân, phù hợp với khả năng kinh tế xã hội

Trong 5 năm đầu 1992 – 1997, BHYT Việt Nam đã quán triệt thực hiệnnghiêm túc chính sách, chế độ BHYT, điều lệ BHYT khắc phục khó khăn cốgắng dành được những kết quả ban đầu với hơn 20% dân số cả nước tham giaBHYT

Ngày 13/8/1998, Chính phủ ban hành Nghị định 58/CP thay cho Nghịđịnh 299/HĐBT nhằm sửa đổi bổ sung một số điều trong điều lệ cũ cho phùhợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội Nhờ đó mà BHYT Việt Nam đãkhắc phục được những khó khăn, ổn định công tác thu BHYT, quyền lợi củangười tham gia BHYT được đảm bảo

Trang 7

Đặc biệt, Luật BHYT có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 đã hướng đến mụctiêu BHYT toàn dân vào năm 2014, làm tăng nhanh đối tượng tham gia BHYT,nâng cao quyền lợi cho người tham gia BHYT.

2.2 Quy định mới về Luật BHYT

Quy định mới về Luật Bảo hiểm y tế kể từ ngày 1/1/2010, mức đóngBHYT của các đối tượng tham gia bảo hiểm là 4,5% tiền lương, tiền công, tiềnlương hưu, trợ cấp mất sức lao động và bằng 3% mức lương tối thiểu đối vớihọc sinh, sinh viên

Chính Phủ vừa ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) Nghị định này có hiệu lựcthi hành từ ngày 1/10/2009 thay thế cho Nghị định số 63/2005/NĐ-CP và điều

18 Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ

Các đối tượng thực hiện BHYT từ ngày 1/7/2009 là công nhân cao suđang hưởng trợ cấp hằng tháng; thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiếnchống Pháp

Thực hiện BHYT từ ngày 1/1/2010 đối với người lao động được hưởngchế độ ốm đau theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội do mắc bệnhthuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành; người hoạtđộng không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật vềcán bộ, công chức

2.2.1 Mức phí mới khi đóng BHYT

Kể từ ngày 1/7/2009 đến ngày 31/12/2009, mức đóng BHYT hằng thángcủa các đối tượng tham gia BHYT là 3% mức tiền lương, tiền công hàng tháng

Trang 8

Kể từ ngày 1/1/2010, mức đóng BHYT của các đối tượng trên là 4,5%của mức tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, trợ cấp mất sức lao động vàbằng 3% mức lương tối thiểu đối với học sinh, sinh viên.

Nghị định cũng quy định rõ, từ ngày 1/1/2012, người thuộc hộ gia đìnhlàm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức đóng gópbằng 4,5% mức lương tối thiểu

Từ ngày 1/1/2014, mức đóng BHYT của thân nhân người lao động cóhưởng lương là 3% mức lương tối thiểu; 4,5% mức lương tối thiểu được ápdụng cho xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể

Ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% mức đóng cho người thuộc hộ gia đìnhcận nghèo từ ngày 1/7/2009 Hỗ trợ tối thiểu bằng 50% mức đóng đối với họcsinh, sinh viên mà thuộc hộ cận nghèo và hỗ trợ tối thiểu 30% mức đóng đối vớihọc sinh, sinh viên mà không thuộc hộ cận nghèo, chính sách này được thựchiện từ ngày 1/1/2010

Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp vàdiêm nghiệp có mức sống trung bình được nhà nước hỗ trợ tối thiểu bằng 30%mức đóng BHYT từ ngày 1/1/2012

Người thuộc hộ gia đình cận nghèo và người thuộc hộ gia đình làm nôngnghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có từ 2 thân nhân trở lên thamgia BHYT thì người thứ nhất đóng bằng mức quy định; người thứ 2,3,4 đónglần lượt bằng 90%, 80%, 70% mức đóng của người thứ nhất, từ người thứ 5 trở

đi đóng bằng 60% mức đóng của người thứ nhất

Nghị định quy định rõ, từ ngày 1/7/2009, học sinh, sinh viên đóng60.000đồng/người (khu vực thành thị) và 50.000 đồng/người (khu vực nôngthôn, miền núi)

Trang 9

Mức đóng 6 tháng đối với 5 đối tượng: Người hưởng lương hưu, trợ cấp mấtsức lao động hằng tháng; người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng

do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người thuộc hộ gia đình làm nôngnghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp; thân nhân của người lao độnghưởng lương mà người lao động có trách nhiệm nuôi dưỡng và sống trong cùng

hộ gia đình; xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể là 160.000 đồng/tháng(khu vực thành thị) và 120.000 đồng/tháng (khu vực nông thôn, miền núi)

Từ ngày 1/1/2010, mức đóng góp hằng tháng đối với đối tượng tự nguyện thamgia BHYT bằng 4,5% mức lương tối thiểu và do đối tượng đóng

2.2.2 Mức hưởng BHYT theo quy định mới

Đối với người tham gia BHYT khi đi khám, chữa bệnh theo quy định thìđược quỹ BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh thì được hưởng:100% chi phí khám Chữa bệnh đối với các đối tượng là sĩ quan, hạ sĩ quanđang công tác trong lực lượng Công an nhân dân, người có công với cách mạng

và trẻ em dưới 6 tuổi; 100% chi phí khám chữa bệnh tại tuyến xã; 100% chi phíkhám chữa bệnh trong trường hợp tổng chi phí 1 lần khám, chữa bệnh thấp hơn15% mức lương tối thiểu

95% chi phí khám, chữa bệnh đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sứclao động hàng tháng, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng thángtheo quy định của pháp luật và người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộcthiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệtkhó khăn Nếu là khám chữa bệnh có dùng đến dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớnthì chi phí cho 1 lần sử dụng không vượt quá 40 tháng lương tối thiểu

Người tham gia BHYT có sử dụng các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớnthì được quỹ BHYT thanh toán 100% chi phí đối với trẻ em dưới 6 tuổi, ngườihoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng ; 100%

Trang 10

chi phí đối với sĩ quan, hạ sĩ quan đang công tác trong lực lượng Công an nhândân và người có công với cách mạng nhưng không vượt quá 40 tháng lương tốithiểu cho 1 lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật đó.

Trang 11

Chương III

THỰC TRẠNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN BHYT (2008 -2012)

Chính sách bảo hiểm y tế là một trong những trụ cột của an sinh xã hội, là

cơ chế tài chính y tế quan trọng và là cơ chế chi trả trước được đa số các quốcgia trên thế giới áp dụng giúp người dân khi bị ốm đau không rơi vào cảnhnghèo đói; là định hướng phát triển trong chăm sóc sức khỏe người dân Với ýnghĩa đó, thực hiện Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2013,

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện chínhsách, pháp luật về bảo hiểm y tế giai đoạn 2009-2012” Đoàn giám sát của Ủyban Thường vụ Quốc hội đã nghe báo cáo của Chính phủ và một số bộ, ngànhliên quan; tổ chức giám sát tại 09 tỉnh/thành phố Kết quả cụ thể là:

3.1 Về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật bảo hiểm y tế

Đến nay, Chính phủ, Bộ Y tế và bộ ngành liên quan đã hướng dẫn thihành 15 điều tại 2 nghị định của Chính phủ, 2 quyết định của Thủ tướng Chínhphủ, 14 thông tư Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam đã ban hành 06 quyếtđịnh và khoảng 150 văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ; Ủy ban nhândân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) đã ban hành các văn bảnhướng dẫn để tổ chức triển khai thực hiện tại địa phương Về cơ bản, nội dungcác văn bản này phù hợp với pháp luật, được triển khai tương đối kịp thời, đápứng yêu cầu của cuộc sống

Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa ban hành Hướng dẫn về khám bệnh để sànglọc, chẩn đoán sớm một số bệnh được quỹ Bảo hiểm y tế chi trả; chưa hướngdẫn danh mục một số bệnh cần chữa trị dài ngày và sửa đổi quy định về xácđịnh dịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn được Bảo hiểm y tế chi trả; chưa xác địnhtiêu chí hộ gia đình làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình

Trang 12

làm cơ sở để Nhà nước hỗ trợ mua Bảo hiểm y tế; còn vướng mắc trong các vấn

đề thanh toán đối với người bị tai nạn giao thông, hợp đồng khám chữa bệnhBảo hiểm y tế, phân hạng bệnh viện tư nhân, phân công trách nhiệm trong tuyêntruyền, phổ biến chính sách pháp luật về Bảo hiểm y tế

3.2 Về việc mở rộng đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế

Sau 4 năm thực hiện (2009-2012), tỷ lệ dân số tham gia Bảo hiểm y tếtăng từ 58,2% (2009) lên 66,8% (2012) (tăng thêm 8,6% dân số tham gia Bảohiểm y tế, tương đương 9,24 triệu người, bình quân tăng 2,8%/năm) Có 21 tỉnh

có tỷ lệ dân số tham gia Bảo hiểm y tế tăng trên 15% Nhiều tỉnh cơ bản đã đạtBảo hiểm y tế toàn dân do mở rộng số đối tượng được ngân sách cấp mua Bảohiểm y tế Nhóm cán bộ công chức trong khu vực công, đồng bào dân tộc thiểu

số, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, nhóm hưu trí, mất sức lao động, đối tượngbảo trợ xã hội do ngân sách nhà nước hoặc quỹ Bảo hiểm y tế đóng tiền muaBảo hiểm y tế đều đạt ở mức rất cao (gần 100%) Tỷ lệ nhóm tự nguyện, hộ cậnnghèo tham gia Bảo hiểm y tế đã tăng dần từ việc điều chỉnh chính sách nhưngcòn ở mức thấp Có khoảng 20 tỉnh hỗ trợ thêm kinh phí từ ngân sách địaphương cho các đối tượng thuộc diện cận nghèo tham gia Bảo hiểm y tế

Tuy nhiên, đến cuối năm 2012, vẫn còn 18 tỉnh có tỷ lệ tham gia Bảohiểm y tế dưới 60%, trong đó có 4 tỉnh dưới 50% dân số tham gia Bảo hiểm y

tế Giai đoạn 2009-2012, có 14 tỉnh tỷ lệ tham gia Bảo hiểm y tế tăng chậm(dưới 5%) và có 6 tỉnh tỷ lệ tham gia Bảo hiểm y tế giảm từ 1-7% Một số đốitượng bắt buộc phải tham gia Bảo hiểm y tế nhưng tỷ lệ đạt thấp đó là người laođộng, học sinh, sinh viên, người thuộc hộ cận nghèo, nhóm người thuộc hộ giađình làm nông, lâm, ngư và diêm nghiệp có mức sống trung bình Nhóm tựnguyện tham gia Bảo hiểm y tế không tăng nhiều, đạt 28% (năm 2012) Còn tồntại sự phân biệt trong khám chữa bệnh giữa bệnh nhân Bảo hiểm y tế và bệnh

Trang 13

nhân theo yêu cầu, tình trạng này cùng với y đức chưa được cải thiện đã gópphần làm cho Bảo hiểm y tế gặp khó khăn trong việc mở rộng độ bảo phủ.

Nguyên nhân là do hiệu quả công tác chỉ đạo, phối hợp trong tuyêntruyền, vận động người dân tham gia Bảo hiểm y tế của ngành y tế và Bảo hiểm

xã hội còn hạn chế; giá dịch vụ y tế ở mức thấp trong nhiều năm, đầu tư củaNhà nước cho bệnh viện còn hạn chế cùng với quá trình thực hiện chủ trương xãhội hóa đã phát sinh một số yếu tố tiêu cực làm ảnh hưởng đến Bảo hiểm y tế

Đa số tỉnh có tỷ lệ tham gia Bảo hiểm y tế giảm hoặc ở mức thấp là các tỉnhthuần nông, có điều kiện kinh tế - xã hội ở mức trung bình, ít đối tượng đượcngân sách hỗ trợ tham gia Bảo hiểm y tế Một số quy định của Luật bảo hiểm y

tế còn thiếu, chưa cụ thể hoặc chưa đồng bộ như: Chưa quy định cụ thể tráchnhiệm của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, chính quyền địa phương,ngành giáo dục và nhà trường đối với vấn đề cấp thẻ Bảo hiểm y tế; chưa gắnviệc triển khai chính sách Bảo hiểm y tế với hộ gia đình nên còn phổ biến tìnhtrạng chỉ khi ốm nặng hay phát hiện mắc bệnh nan y, mãn tính mới mua Bảohiểm y tế tự nguyện để đi khám chữa bệnh; quy định trẻ em dưới 6 tuổi có thểdùng giấy khai sinh đi khám chữa bệnh làm chậm quá trình cấp thẻ Bảo hiểm y

tế, gây khó khăn trong việc thanh toán, quản lý đối tượng này

3 3 Về cơ chế tài chính để mở rộng diện bao phủ và thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế

Từ năm 2009-2012, ngân sách nhà nước hỗ trợ cho khoảng 70% số đốitượng tham gia Bảo hiểm y tế, chủ yếu hỗ trợ cho người có công, người nghèo,cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, học sinh, sinh viên,đối tượng bảo trợ xã hội Số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ tăng nhanh từ 4.537

tỷ đồng (2009) lên 10.372 tỷ đồng (2010) và 16.937 tỷ đồng (2012), với tỷ lệtương ứng so với tổng số thu Bảo hiểm y tế các năm là 35%, 42% và 43%

Ngày đăng: 03/01/2014, 13:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w