Nền kinh tế Việt Nam ngày càng ¬¬¬¬¬hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, chính vì vậy chúng ta cần có những thay đổi lớn trong công tác quản lý cũng như điều hành kinh tế.Tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn ưu ái qua nhiều cho một số nghành đã dẫn tới độc quyền tạo ra những tồn tại không nhỏ cho xã hội. Chính sự độc quyền này đã góp không nhỏ trong việc làm chậm quá trình tăng trưởng cũng như sự phát triển của Việt Nam.Chúng không tạo ra động lực thúc đẩy cho sự phát triển của ngành đó điển hình ở Việt Nam đại diện cho ngành điện là tập đoàn điện lực Việt Nam EVN.Có thể nói EVN tuy đã một mình một chợ nhưng vẫn khóc. Trong thời gian gần đây, càng lúc càng nghe nhiều hơn về tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) không ngừng than thiếu vốn, bị lỗ và luân phiên cúp điện nhiều nơi như là giải pháp không thể tránh khỏi. Vậy tại sao lại có tình trạng này xảy ra?Và khi EVN luân phiên cúp điện như vậy thì có ảnh hưởng gì đến sinh hoạt và sản xuất?Đâu là lối đi cho ngành điện Việt Nam?Để tìm hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã quyết định chọn đề tài “Độc quyền điện Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, chính vì vậy chúng ta cần có những thay đổi lớn trong công tác quản lý cũng như điều hành kinh tế.Tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn ưu ái qua nhiều cho một số nghành đã dẫn tới độc quyền tạo ra những tồn tại không nhỏ cho xã hội Chính
sự độc quyền này đã góp không nhỏ trong việc làm chậm quá trình tăng trưởng cũng như sự phát triển của Việt Nam
Chúng không tạo ra động lực thúc đẩy cho sự phát triển của ngành đó điển hình ở Việt Nam đại diện cho ngành điện là tập đoàn điện lực Việt Nam EVN.Có thể nói EVN tuy đã một mình một chợ nhưng vẫn khóc Trong thời gian gần đây, càng lúc càng nghe nhiều hơn về tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) không ngừng than thiếu vốn, bị lỗ và luân phiên cúp điện nhiều nơi như là giải pháp không thể tránh khỏi Vậy tại sao lại có tình trạng này xảy ra?Và khi EVN luân phiên cúp điện như vậy thì có ảnh hưởng gì đến sinh hoạt và sản xuất?Đâu là lối
đi cho nghành điện Việt Nam?
Để tìm hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã quyết định
chọn đề tài “Độc quyền điện Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”.
Trang 3CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Thế nào là độc quyền?
Độc quyền là một tình huống trong đó một công ty hoặc một tập đoàn, một nhóm hoặc một nhóm các công ty chiếm lĩnh gần như toàn bộ thị trường đối với các loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó Thị trường độc quyền được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chiếm lĩnh thị trường của một công ty Thị trường độc quyền là thị trường không có sự cạnh tranh, do đó dẫn đến hệ quả tất yếu là mức giá cao
1.3.1 Đối với độc quyền thường
Do tối đa hoá lợi nhuận nên doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất hàng hoá ở mức sản lượng mà tại đó chi phí biên bằng với doanh thu biên thay vì sản xuất ở mức sản lượng mà ở đó giá sản phẩm bằng chi phí biên như trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo (cân bằng cung cầu)
Doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất ở lượng sản phẩm thấp hơn và bán với giá cao hơn so với thị trường cạnh tranh Tổn thất mà xã hội phải gánh chịu do sản lượng giảm sút trừ đi tổng chi phí biên để sản xuất ra sản lượng đáng lẽ sản xuất thêm đó chính là tổn thất do độc quyền
Trang 41.3.2 Đối với độc quyền tự nhiên
Chi phí sản xuất ra một đơn vị sản phẩm dần theo quy mô nên thị trường chi phí biên của doanh nghiệp độc quyền tự nhiên có xu hướng giảm và luôn thấp hơn chi phí sản xuất trung bình Mặt khác để tối đa hoá lợi nhuận, doanh nghiệp độc quyền sẽ cung ứng sản phẩm sao cho doanh thu biên bằng chi phí biên Khi
đó sản lượng sẽ thấp hơn và giá cao hơn so với trạng thái cân bằng của thị trường cạnh tranh khi mà giá bán hay lợi ích biên bằng chi phí biên Sự giảm sút sản lượng cũng gây ra tổn thất do độc quyền giống như độc quyền thường
Nhưng điểm khác của nó so với độc quyền thường, dó là khi điều tiết để sản xuất ở mức sản xuất hiệu quả, doanh nghiệp độc quyền thường vẫn có lợi nhuận thì trong trường hợp độc quyền tự nhiên, nếu sản xuất ở mức sản lượng hiệu quả, doanh nghiệp độc quyền sẽ bị lỗ vì giá bán sản phẩm thấp hơn chi phí trung bình
1.4 Liệu cần có sự can thiệp của chính phủ khi có độc quyền hay không?
Từ việc phân tích ảnh hưởng của độc quyền kể trên ta có thể thấy rằng sự dẫn dắt nền kinh tế đi đến hiệu quả của bàn tay vô hình trong điều kiện có độc quyền là không thể xảy ra Chính vì vậy cần có sự can thiệp của chính phủ trong việc điều tiết các doanh nghiệp độc quyền Chính phủ có thể sử dụng các công cụ của mình như thuế hay các biện pháp hành chính để đưa thị trường về điểm hiểu quả hơn
Trang 5CHƯƠNG II - TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC
VIỆT NAM2.1 Lịch sử hình thành
Tổng Công ty Điện lực Việt Nam được chuyển đổi thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam – EVN từ năm 2006 theo Quyết định sôd 48/2006/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ
EVN kinh doanh đa ngành.Trong đó, sản xuất, kinh doanh điện năng viễn thông công cộng và cơ khí điện lực là ngành nghề kinh doanh chính; gắn kết chặc chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học công nghệ, nghiên cứu triển khai, đào tạo Ngày 25/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết Định số 975/QĐTTg về vận chuyển Công ty mẹ Tập đoàn Điện lực Việt Nam thành công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước Mục tiêu hoạt động của EVN thể hiện rõ qua 3 tiêu chí: Kinh doanh có lãi, bảo toàn phát triển vốn chủ sở hữu nhà nước đầu tư tại EVN và vốn của EVN đầu tư vào các doanh nghiệp khác; giữ vai trò trung tâm để phát triển một tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam đa sở hữu, trong đó sỡ hữu nhà nước là chi phối; Tối đa hoá hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam
2.2 Các lĩnh vực hoạt động
Trang 6Tập đoàn điện lực Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam kinh doanh đa ngành, trong đó sản xuất và kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng, cơ khí điện lực là ngành kinh doanh chính; gắn kết chặc chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu, đào tạo; làm nòng cốt để ngành công nghiệp điện lực Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, cạnh tranh
và hội nhập kinh tế có hiệu quả
Hiện nay, trong lĩnh vực chính là kinh doanh điện năng, EVN có 5 Tổng Công ty điện lực chính và 5 công ty truyền tải điện là:
• 5 công ty điện lực chính
• Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc
• Tổng Công ty Điện lực Miền Nam
• Tổng Công ty Điện lực Miền Trung
• Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội
• Tổng Công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh
• 5 công ty truyền tải điện
• Công ty Truyền tải 1
• Công ty Truyền tải 2
• Công ty Truyền tải 3
• Công ty Truyền tải 4
Ngoài lĩnh vực chính kể trên, cũng không ngừng phát huy thế mạnh của mình trên các lĩnh vực như:
Giáo dục: Trường đại học Điện lực, Cao đẳng Điện lực TPHCM, Cao đẳng điện lực Miền trung
Viễn thông: Công ty Viễn thông Điện lực hoạt động trong lĩnh vực phát triển mạng lưới dịch vụ điện thoại cố định nội tỉnh và đường dài trong nước, cùng mạng điện thoại di động, dịch vụ internet
Tài chính ngân hàng: tập đoàn là cổ đông thể chế của ngân hàng thương mại
cổ phần An Bình
Viện Năng lượng Việt Nam: cơ quan nghiên cứu trong lĩnh vực điện năng trực thuộc tập đoàn
Quy mô vốn
Trang 7Tổng tài sản EVN tính đến 31/12/2007 là 185.180 tỷ đồng, tương đương 11.492 triệu USD (tỷ giá USD/VNĐ: 16.114), trong đó Tổng tài sản (nguồn vốn) của Công ty mẹ là 118.242 tỷ đồng So với năm 2006, Công ty mẹ huy động nguồn vốn vào hoạt động SXKD tăng thêm 37.442 tỷ đồng (31,71%), chủ yếu là tăng vốn đầu tư của chủ sở hữu (21.352 tỷ đồng) do đó đã làm vốn chủ sở hữu từ 42,60% năm 2006 tăng thành 46,07% tại thời điểm 31/12/2007.
Xét toàn bộ EVN, tổng số vốn huy động trong năm tăng lên 47.398 tỷ đồng (34,40%) do cả ba nguồn đều tăng: nợ phải trả tăng 23.737 tỷ đồng (28,48%) Vốn chủ sở hữu tăng 22 017 tỷ đồng (42,02%), lợi ích cổ dông thiểu số tăng 1.642 tỷ đồng (80,20%) Khả năng thnah toán nợ của EVN tại thời điểm 31/12/2007 cơ bản đảm bảo Khả năng thanh toán hiện hành (Tổng tài sản/Tổng
nợ phải trả) của công ty mẹ là 1,85 lần, của EVN là 1,73 lần Tỷ lệ nợ phải trả/ vốn chủ sở hữu khá lành mạnh, tại Công ty mẹ là 1,17 lần, EVN là 1,14 lần, cho thấy EVN và Công ty mẹ hoạt động chủ yếu bằng vốn tự có Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn/ Tổng nợ ngắn hạn) tại Công ty mẹ là 1,6 lần, EVN là 1,94 lần
Vật tồn kho tại một số đơn vị còn lớn, trong đó có vật tư chậm luân chuyển gây ứ đọng trong khi phải huy động vốn vay làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh (Công ty Điện lực 1 hơn 915 tỷ đồng bằng 17,31% vốn chủ sở hữu; Công
ty Điện lực TP Hồ Chí Minh hơn 902 tỷ đồng bằng 40, 28% vốn chủ sở hữu, trong đó có lượng điện kế điện tử tồn kho từ lâu 127,4 tỷ đồng là tang vật của vụ án) Quản lý tài sản cố định và đầu tư dài hạn: Tổng giá trị TSCĐ ròng là 80.861
tỷ đồng Tuy vốn chủ sở hữu lớn như đã nêu ở trên nhưng đủ tài trợ cho TSCĐ
CHƯƠNG III - THỰC TRẠNG ĐỘC QUYỀN CỦA TẬP ĐOÀN
ĐIỆN LỰC VIỆT NAM3.1 Thực trạng
Trang 8Sự độc quyền của ngành điện, cụ thể ở Việt Nam là sự độc quyền của EVN
là một dạng độc quyền tự nhiên Từ trước tới nay, việc sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng; xuất nhập khẩu điện năng; đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện; quản lý, vận hành, sữa chữa, bảo hành, cải tu, cải tạo, nâng cấp thiết bị điện, công trình điện; thí nghiệm điện… đều do EVN thực hiện
Hoạt động của ngành điện vận hành theo mô hình liên kết dọc đã quá lỗi thời EVN sở hữu phần lớn các nguồn điện, nắm giữ toàn bộ hệ thống điều độ điện quốc gia, hệ thống truyền tải điện, phân phối và kinh doanh, kể cả điện buôn bán, bán lẽ, điện cho khách hàng trong cả nước EVN là tổ chức duy nhất kinh doanh điện trên toàn quốc, chưa có sự cạnh tranh mang tính chất thị trường ở bất
cứ hoạt động nào trong ngành điện
Hình 2: Tỷ trọng cơ cấu nguồn điện từ các đơn vị
Nếu như ở những lĩnh vực kinh doanh khác, có nhiều doanh nghiệp trên cùng một “sân chơi”, doanh nghiệp nào có chất lượng sản phẩm tốt, phục vụ chu đáo, giá cả hợp lí sẽ được khách hàng lựa chọn, khách hàng thực sự là các
“thượng đế” Nhưng, điều này không xảy ra ở ngành điện khi người dân và các doanh nghiệp buộc phải mua điện với mức giá do EVN “định sẵn”, trong khi
Trang 9chất lượng dịch vụ, cung ứng còn rất thấp và bất cập Sự độc quyền đã khiến phần thiệt thòi luôn thuộc về phía người tiêu dùng.
Hơn nữa, điện lại là loại hàng hoá đặc biệt, có tác động rộng lớn tới đời sống và nền kinh tế, nhưng ngành điện luôn chậm khắc phục những bất cập Điều đáng nói là do tình trạng quản lý kém, gây ra nhiều thất thoát trong việc cung ứng điện, nhưng những thất thoát này EVN lại tính vào chi phí và đương nhiên là sẽ tăng giá bán để bù đắp lại các chi phí đó
Theo EVN – ông trùm của ngành điện Việt Nam – thì việc thiếu điện là do tốc độ tăng trưởng tiêu dùng điện quá nhiều Điều này không khác nào EVN đổ hết lỗi cho người tiêu dùng chứ không phải do lỗi của EVN Thực chất ngành điện không hề thiếu vốn và lợi nhuận không hề thấp
Bằng chứng là EVN vẫn có khả năng đầu tư mạnh vào những ngành thâm, dùng vốn mà đặc biệt kinh doanh thêm viễn thông., là ngành có chi phí rất lớn và
có môi trường cạnh tranh cao tại sao ngnàh điện không dùng khoản vốn này để đầu tư vào việc thực hiện các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng hay cho đường dây truyền tải điện vốn đã xuống cấp nghiêm trọng?
Chúng ta đã quen thuộc với những quản cáo của EVN Telecom với những chi phí mà người sử dụng nó thì gần như được cho không với chi phí cực rẻ, cho không thiết bị đầu cuối, chứng tỏ Viễn thông điện lực có tài chính rất lớn, vậy
Trang 10EVN tại sao luôn kêu ca là thiếu vốn Ngành điện vừa ở vào thế độc quyền, vừa chưa có những báo cáo minh bạch về tình hình tài chính nội bộ, nên việc tăng giá điện có thể bắt nguồn chủ yếu từ sức mạnh độc quyền giá, thnah vì những khó khăn thật sự về tài chính như vẫn được nêu ra.
Việc sản lượng không tăng đủ nhanh để đáp ứng kịp nhu cầu cũng như tốc
độ mở rộng sản xuất có thể bắt nguồn từ hiệu quả tổ chức – quản lý do thiếu cạnh tranh trong nội bộ ngành, chứ không phải vì giá điện thấp Việc đẩy giá điện trong nước lên ngnang bằng khu vực là chưa hợp lý vì trong cấu trúc chi phí của ngành, có nhiều loại chi phí thấp hơn các nước khác trong khu vực (như giá công nhân, nguyên liệu)
Có thể nói EVN là tập đoàn có độc quyền kinh doanh điện Nó sở hữu hệ thống đường dây tải điện trên cả nước, hệ thống các công ty bán lẻ như Công ty Điện lực Hà Nội hay Công ty Điện lực TPHCM EVN cũng sở hữu khoảng 85% năng lực sản xuất điện toàn quốc (số còn lại do các nhà sản xuất điện độc lập cung cấp).EVN mua điện của các nhà sản xuất điện độc lập cung cấp này qua các
Trang 11hợp đồng dài hạn.Nó có ưu thế có thể ép giá các nhà cung ứng độc lập vì nó là người mua duy nhất.Nó cũng không gặp tổn hại gì nếu hoạt động không hiệu quả.Trên thực tế, nó ít có động cơ phải hoạt động hiệu quả hơn trừ phi Chính phủ
ép buộc nó làm Một ví dụ về phí hiệu quả là thất thoát trên đường truyền và trong phân phối của ngành điện là 12,2% năm 2004 (theo số liệu của World Bank), 11,02% năm 2006 - ở mức cao so với các nước trong khu vực Con số giảm khiêm tốn từ năm 2004 đến năm 2006 là do sức ép của thủ tướng CP yêu cầu ngành điện phải cắt giảm thất thoát xuống dưới mức 8% Tuy nhiên, EVN cũng khẳng định là khó lòng có thể giảm xuống thấp hơn
Gần như độc quyền trên thị trường bán buôn, độc quyền bán lẽ và đường dây tải, EVN không có lí do gì phải làm hài lòng khách hàng.Người dùng điện hoặc phải tìm đến nó, hoặc tự sản xuất điện.Là một nhà độc quyền EVN có quyền xác định phải cung cấp là bao nhiêu, tối thiểu cũng tới mức làm cung – cầu cân bằng Nói cách khác, nếu nó sản xuất được 10 MW, nó sẽ tăng giá tới mức mà nhu cầu điện chỉ còn đúng 10MW Thậm chí nó có thể đóng cửa một số nhà máy điện không hiểu quả để tiếp tục giảm nguồn điện xuống và gây sức ép tăng giá lên hơn nữa
Việc tăng giá bán điện chủ yếu do EVN xây dựng, trình Chính phủ (cụ thể
là Bộ Công Thương) phê duyệt Nhưng, hầu như phương ánnào đưa trình cũng được chấp thuận Việc Bộ Công Thương trao quyền cho EVN tự tính toán yếu tố đầu vào để làm căn cứ điều chỉnh giá bán điện càng khiến cho Tập đoàn này tăng cấp độ độc quyền Mới đây nhất, ngày 31/7, với sự chấp thuận của Bộ Công Thương, EVN đã công bố tăng 5% giá điện và áp dụng ngay ngày 1/8 khiến dư luận bất ngờ không kịp chuẩn bị tâm lý Chi phí, giá cả do EVN đưa ra, công bố đều mang tính áp đặt một chiều Giá điện qua các kì điều chỉnh còn mang nặng
cơ chế hành chính, thiếu cơ sở khoa học, thiếu minh bạch, nên khó thuyết phục được sự đồng thuận của khách hàng sử dụng điện.Giá điện có tăng, nhưng lại không bao giờ giảm Ngay cả khi hội tụ đầy đủ các yếu tố có thẻ giảm giá điện,
Trang 12như: thời kỳ tăng công suất của các nhà máy thuỷ điện trong mùa mưa; giảm tổn thất; giảm giá thành khi vận hành thị trường phát điện cạnh tranh, thì không bao giờ được tính đến Đây là điều không thể chấp nhận nếu áp dụng cơ chế thị trường, thì giá phải có lúc tăng, lúc giảm.Hơn nữa, việc dùng càng nhiều điện không giảm giá, mà lại bị tăng giá cho thấy, khả năng yếu kém trong cấp điện của EVN đang đổ gánh nặng vào người tiêu dùng.
Hình 3: Giá điện bình quân từ năm 2007 đến nay (chưa bao gồm VAT)
Nguồn : Bộ Công Thương
Hoạt động thiếu hiệu quả và liên tục đòi tăng giá này không phải là sản phẩm tất yếu của độc quyền Một nhà độc quyền thường bòn rút khách hàng tới tận xương trừ khi anh ta bị ngăn cấm làm điều đó.Nhưng ngay cả khi bị cấm, một nhà độc quyền vẫn có thể tìm ra cách để tư lợi cho mình Phương pháp cổ truyền là đẩy chi phí lên cao bằng nhiều cách, trong đó có việc tăng lương cho nhân viên lên cao hơn hẳn chung hoặc thường xuyên bỏ tiền vào các khoảng chi không phục vụ cho việc sản xuất
Lỗi thiếu điện hiện nay phải nhìn từ phía quản lý điều hành ngành điện của chính phủ.Việc thiếu điện hiện nay gợi nhớ chúng ta thời kỳ thiếu gạo, cũng như bây giờ chúng ta không thiếu khả năng sản xuất điện.Vấn đề là động cơ để sản xuất.Động cơ chỉ tồn tại trong những cơ chế thích hợp.Chính phủ đã không tạo
ra một cơ chế thích hợp để ngành điện phát triển mới chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng độc quyền như hiện nay
Trang 13Có thể thấy, sự độc quyền khiến ngành điện phát triển chậm chạp, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế.Vấn đề phá vỡ thế độc quyền của ngành điện trở nên cấp thiết.Bởi, có như vậy, chúng ta mới có thể hy vọng được cung cấp dịch vụ điện tốt hơn cho nhu cầu người dân và phát triển đất nước Đồng thời, người dân sẽ không còn phải chịu cảnh giá điện chỉ có tăng mà không thấy giảm!
Việc xây dựng một thị trường cạnh tranh trong ngành điện, cùng với tái cơ cấu lại EVN thu hút sự quan tâm lớn của xã hội,.Mục đích không chỉ để người dân được cung cấp điện với giá phù hợp, chất lượng ngày càng cao, mà còn để đảm bảo đủ điện phục vụ cho tăng trưởng kinh tế bền vững của Việt Nam
Những tác động từ hành vi độc quyền ngành điện tới kinh tế xã hội Thiếu điện như hiện nay là kết quả của tình trạng độc quyền của ngành điện, còn hành
vi của độc quyền được biểu hiện là việc cúp điện cũng như tăng giá điện ngày càng nhiều điều này khiến cả xã hội lần kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng và càng lúc càng hỗn loạn Vậy nó ảnh hưởng như thế nào tới người tiêu dùng và tới các doanh nghiệp khi mà EVN thực hiện việc tăng giá điện? Tổn thất
mà xã hội phải gánh chịu ở đây là gì?
3.2 Tác động
Trong kinh tế học.Chúng ta có thể đánh giá ảnh hưởng của độc quyền tới phúc lợi xã hội thông qua mức sản lượng mà doanh nghiệp độc quyền sản xuất với mức sản lượng trong thị trường cạnh tranh Khi độc quyền, doanh nghiệp sẽ cung cấp mức sản lượng mà tại đó đường thu nhập biên tiếp giáp với đường thu nhập biên tiếp giáp với đường chi phí biên Còn doanh nghiệp cạnh tranh sẽ cung cấp mức sản lượng mà tại đó giá bằng chi phí biên.(Hình 1)
Hình 1: Tính không hiệu quả của độc quyền so với cạnh tranh