1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng

90 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng
Tác giả Ngô Thị Diễm Phúc
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Vân
Trường học Trường Đại Học Luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tác giả trên đã khá thành công khi nghiên cứu pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng dưới góc độ hợp đồng bảo hiểm cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nhưng dường như

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình do tôi tự nghiên cứu và hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Văn Vân

Tác giả luận văn

Ngô Thị Diễm Phúc

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được sửa đổi bổ

sung năm 2010

Luật KDBH

2010 Luật Xây dựng năm 2003, được sửa đổi bổ sung năm

2009

Luật XD 2003

Trang 5

MỤC ỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 C C VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 6

1.1 Khái quát về hoạt động xây dựng 6

1.1.1 Khái niệm hoạt động xây dựng 6

1.1.2 Các đặc trưng của hoạt động xây dựng 8

1.1.3 Các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng 12

1.1.4 Các rủi ro và sự cần thiết phải phòng ngừa và phân tán rủi ro trong hoạt động xây dựng 13

1.2 Khái quát về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng 17

1.2.1 Khái niệm bảo hiểm trong hoạt động xây dựng 17

1.2.2 Đặc trưng của bảo hiểm trong hoạt động xây dựng 19

1.2.3 Vai trò của bảo hiểm trong hoạt động xây dựng 23

1.3 Các loại hình bảo hiểm trong hoạt động xây dựng 24

1.3.1 Loại hình bảo hiểm tài sản trong hoạt động xây dựng 24

1.3.2 Loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự 27

1.3.3 Loại hình bảo hiểm con người - phi nhân thọ trong hoạt động xây dựng 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN 31

2.1 Qui định pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng 31

2.1.1 Chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm 31

2.1.2 Đơn bảo hiểm và mức phí bảo hiểm 39

2.1.3 Phạm vi, điều kiện, điều khoản bảo hiểm và điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm 42

2.1.4 Nghĩa vụ cung cấp thông tin 44

2.1.5 Thời hạn bảo hiểm và nguyên tắc bồi thường 46

2.1.6 Giám định tổn thất và trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường 47

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật và những bất cập 50

Trang 6

2.2.1 Bất cập về qui định mua bảo hiểm trong hoạt động xây dựng 50

2.2.2 Về mức phí, đơn bảo hiểm và quy tắc bảo hiểm hoặc các điều khoản bảo hiểm mẫu 53

2.2.3 Bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin 62

2.2.4 Bất cập trong công việc giám định tổn thất 67

2.3 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật 71

2.3.1 Thống nhất các quy định pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng 71

2.3.2 Tái ban hành các quy định pháp luật về biểu phí sàn, đơn bảo hiểm và các Quy tắc bảo hiểm hoặc điều khoản bảo mẫu đối với bảo hiểm xây dựng và lắp đặt 72

2.3.3 Hoàn thiện quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin 73

2.3.4 Sửa đổi quy định pháp luật về giám định tổn thất và trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường, bổ sung thời hạn doanh nghiệp bảo hiểm trả lời về yêu cầu bổ sung hồ sơ và lý do từ chối bồi thường 75

ẾT UẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Trong đời sống xã hội hàng ngày con người thường xuyên đối mặt với những rủi ro không lường trước được Khi các rủi ro xảy này ra sẽ làm cho con người hứng chịu những tổn thất nhất định trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, thiệt hại tài sản, đình trệ sản xuất kinh doanh làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội nói chung Để đối phó với các rủi ro, con người đã sử dụng những biện pháp nhằm đề phòng, ngăn chặn và hạn chế các rủi ro xảy ra hoặc giải quyết hậu quả của rủi ro nếu có xảy ra Ch nh các biện pháp đó đã hình thành nên một loại hình giao dịch mới trong xã hội với tên gọi là bảo hiểm Bảo hiểm ra đời và phát triển xuất phát t nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế - xã hội Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra một cách hiệu quả nhất

Ngày nay, trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội đều có các sản phẩm bảo hiểm thích hợp theo nhu cầu của khách hàng Ở nước ta, kể t khi chuyển t nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, việc hội nhập vào kinh tế thế giới đã là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình bảo hiểm

Là một bộ phận của pháp luật kinh doanh bảo hiểm, pháp luật bảo hiểm trong hoạt động xây dựng ngày nay có một vị trí rất quan trọng và được sự quan tâm tìm hiểu của nhiều người trong xã hội Tuy nhiên cũng phải th a nhận rằng, kiến thức

về bảo hiểm nói chung và bảo hiểm trong hoạt động xây dựng nói riêng của các chủ thể tham gia vào quan hệ bảo hiểm trong hoạt động xây dựng còn rất mơ hồ, việc hiểu và áp dụng các quy định của pháp luật về bảo hiểm trong lĩnh vực này còn nhiều hạn chế Hơn nữa, hoạt động xây dựng là lĩnh vực rộng, chuyên biệt và có liên quan tới nhiều vấn đề như tài sản, con người, trách nhiệm nghề nghiệp… mà quy định của pháp luật về hoạt động này còn khá chung chung, chưa đầy đủ, trong quá trình áp dụng các doanh nghiệp và chủ thể liên quan còn gặp nhiều lúng túng và trở ngại Ngoài ra, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng còn thiếu thống nhất với các chế tài xử lý khi xảy ra vi phạm Nói chung, các chủ thể tham gia trong hoạt động xây dựng dường như chưa hiểu hết vai trò, nghĩa và tầm quan trọng của bảo hiểm trong hoạt động xây dựng

Bên cạnh đó, pháp luật điều chỉnh quan hệ bảo hiểm trong lĩnh vực xây dựng vẫn còn tồn tại dưới hình thức là văn bản dưới luật, đơn lẻ và sơ sài Nhiều nội dung

Trang 8

hướng dẫn chưa đồng bộ và phù hợp với bản thân các quy định pháp luật về bảo hiểm, pháp luật xây dựng đã ban hành…Mặt khác, các chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm này, đặc biệt bên mua bảo hiểm còn lúng túng trong áp dụng pháp luật, cụ thể là không biết sẽ mua những loại hình bảo hiểm nào, yêu cầu bồi thường ra sao khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, tất cả đã ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức và tâm lý của bên tham gia bảo hiểm Ngoài ra, công tác xét xử, giải quyết tranh chấp phát sinh t các loại hợp đồng bảo hiểm trong lĩnh vực xây dựng hiện vẫn chưa nhất quán trong nhiều nội dung do có sự khác biệt trong cách hiểu các quy định pháp luật

Trên các diễn dàn khoa học pháp lý, vấn đề điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ bảo hiểm trong hoạt động xây dựng chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm khảo sát cụ thể và có những kết luận cuối cùng Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động lập pháp, thực thi pháp luật và xét xử những tranh chấp phát sinh t hoạt động bảo hiểm trong xây dựng

Xuất phát t những lý do trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Quy định

pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dự g” làm đề tài nghiên cứu của

mình Thông qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn cung cấp các chủ thể tham gia hoạt động và những người quan tâm có một cái nhìn tổng quan về sự cần thiết của loại bảo hiểm này trên thực tế cũng như định hướng chỉnh sửa các quy định hiện hành cho phù hợp với nhu cầu và thực tế áp dụng

trường đại học như: Giáo trình Nguyên lý bảo hiểm (2009) của Phan Thị Cúc, Giáo

trình Quản lý hoạt động xây dựng (2009) của Lương Xuân Hùng, Giáo trình Quản trị kinh doanh Bảo hiểm (2003) và Giáo trình Bảo hiểm (2012) của Nguyễn Văn

Định, tác giả nhận thấy các tác giả này có viết về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng nhưng ở góc độ giới thiệu chung chung, khái quát chứ chưa chuyên sâu, mang tính bao quát

Trang 9

- Trong nghiên cứu khoa học pháp l tuy đã có một số công trình nghiên cứu

đề cập về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng, song cũng chỉ d ng ở việc tiếp cận ở một hoặc một vài khía cạnh gián tiếp liên quan đến đề tài này, như:

 “Xây dựng và phát triển pháp luật bảo hiểm tài sản tại Việt Nam" của

tác giả Nguyễn Thị Thủy, Luận án tiến sĩ luật học năm 2010

 "Quy định pháp luật về bồi thường trong bảo hiểm tài sản ở Việt

Nam" của tác giả Đỗ Khắc Dũng, Luận văn thạc sĩ luật học năm 2012

 “Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp” của tác

giả Huỳnh Thế Nhân, Luận văn thạc sĩ luật học năm 2012

 “Pháp luật về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tại Việt Nam –

Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng” của tác giả Hồ Thị Ngọc

Ánh, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật năm 2011

 “Pháp luật bảo hiểm tài sản - Thực trạng áp dụng và hướng hoàn

thiện” của tác giả L Minh Triết, Luận văn thạc sĩ luật học năm 2006

Các tác giả trên đã khá thành công khi nghiên cứu pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng dưới góc độ hợp đồng bảo hiểm cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nhưng dường như người đọc vẫn cảm thấy chưa được cung cấp đầy đủ thông tin hơn nếu như muốn tìm hiểu sâu về loại hình bảo hiểm khá đặc biệt này

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu nêu trên đã nêu lên những nội dung cơ bản về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng Đây là nguồn tài liệu tham khảo rất hữu ích trong quá trình tác giả thực hiện luận văn của mình

Mục đ ch nghiên cứu của đề tài là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về mặt lý luận, thực tiễn ban hành các quy định pháp luật về bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật bảo hiểm trong hoạt động xây dựng thời gian v a qua T đó xác định đâu là những điểm còn hạn chế, bất cập của luật thực định để bước đầu đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này

Xuất phát t mục đ ch nghiên cứu của đề tài, tác giả đã cụ thể hóa cho mình các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:

Trang 10

Một là, nghiên cứu những vấn đề chung mang tính lý luận về bảo hiểm trong

hoạt động xây dựng, sự cần thiết và những đặc trưng cơ bản của loại bảo hiểm này, qua đó khái quát được các chủ thể nào tham gia trong quan hệ bảo hiểm, đâu là đối tượng của bảo hiểm và hiện nay đang tồn tại những loại hình bảo hiểm nào trong hoạt động xây dựng

Hai là, khảo sát, phân t ch, so sánh các quy định pháp luật về bảo hiểm trong

hoạt động xây dựng (Luật, nghị định, thông tư, ) để đưa ra nhận định, bình luận về nội dung luật thực định

Ba là, khảo sát việc áp dụng các quy định pháp luật về bảo hiểm trong hoạt

động xây dựng trong thực tiễn cuộc sống Tìm hiểu thực trạng triển khai, chỉ đạo, giám sát việc thực hiện các quy định này của các cơ quan quản l nhà nước Nghiên cứu, đánh giá công tác tổ chức, thiết kế, xây dựng các bộ quy tắc bảo hiểm cho t ng sản phẩm bảo hiểm cũng như nhận xét về thực tiễn ký kết, thực hiện các hợp đồng bảo hiểm trong hoạt động xây dựng thời gian v a qua tại Việt Nam Để làm được điều này, tác giả phải đầu tư công sức tìm hiểu, sưu tầm, chọn lọc các bộ quy tắc bảo hiểm xây dựng và lắp đặt; nghiên cứu hồ sơ một số vụ việc cụ thể; tìm kiếm các bản án và số liệu báo cáo tổng kết t các công ty bảo hiểm, công ty xây dựng và các

cơ quan chức năng

Bốn là, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, tác giả sẽ đưa ra nhận định, kết luận

về những ưu điểm cũng như một số khiếm khuyết của pháp luật thực định, cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật, t đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp trong phần kiến nghị của mình

Nhằm đạt được mục đ ch nghiên cứu trên, đề tài tập trung nghiên cứu những đặc trưng của bảo hiểm trong hoạt động xây dựng, cơ sở lý luận làm nền tảng cho các quy định pháp luật có liên quan T đó, đề tài tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này trong hoạt động xây dựng tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong các quy định pháp luật về bảo hiểm xây dựng và lắp đặt được quy định trong Luật Xây dựng 2003 và Luật Xây dựng 2014, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010 và các văn bản hướng dẫn có liên quan

Trang 11

5- P ư g g i u

Đề tài vận dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến hiện nay,

đó là phương pháp nghi n cứu tài liệu bao gồm các phương pháp thu thập, phân

t ch và tổng hợp tài liệu); phương pháp hảo sát và đánh giá thực tiễn; phương

pháp suy diễn logic và đặc biệt là các phương pháp nghi n cứu chuyên ngành khoa học pháp lý (cụ thể là phương pháp logic pháp l và phương pháp lịch sử) để giải

quyết các vấn đề về mặt cơ sở lý luận liên quan đến các quy định pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng

Ở Việt Nam hiện nay, bảo hiểm trong hoạt động xây dựng vẫn còn là một loại hình mới mẻ và chưa phổ biến, chưa được quan tâm đúng mức và hiểu đúng về tầm quan trọng của loại bảo hiểm này Việc nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần trong việc nghiên cứu, phân tích nhằm xây dựng và hoàn thiện những qui định pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng, đồng thời đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập về mặt pháp luật còn tồn tại trong lĩnh vực này

Bên cạnh đó, luận văn còn là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các chủ thể tham gia trong hoạt động xây dựng, giúp họ có được những kiến thức pháp luật cơ bản về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng, những qui định pháp luật hiện hành và tiếp cận một số hợp đồng bảo hiểm tiêu biểu trong hoạt động xây dựng

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

luận văn gồm hai chương:

Chương 1: Các vấn đề chung về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng và

định hướng hoàn thiện

Trang 12

CHƯƠNG 1 C C VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM TRONG HOẠT

ĐỘNG XÂY DỰNG

1.1 Khái quát về hoạt động xây dựng

1.1.1 Khái niệm hoạt động xây dựng

Rủi ro được bảo hiểm trong hoạt động xây dựng có những điểm khác biệt lớn

so với các rủi ro được bảo hiểm trong các hoạt động kinh doanh khác Sự khác biệt này có nguồn gốc t những đặc thù của hoạt động xây dựng Do vậy, tìm hiểu nội dung của hoạt động xây dựng, như là đối tượng của quan hệ bảo hiểm, là một trong những nhiệm vụ cơ sở để nghiên cứu toàn diện về hoạt động bảo hiểm trong hoạt động xây dựng

Theo khoản 21, Điều 3 Luật Xây dựng 2014 định nghĩa “Hoạt động xây dựng

gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào hai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động hác có li n quan đến xây dựng công trình”

Theo đó, hoạt động xây dựng bao gồm các công tác cơ bản sau:

-Lập quy hoạch xây dựng: là việc tổ chức không gian đô thị và và điểm dân cư

nông thôn, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia với lợi ích cộng đồng, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh, bảo vệ môi trường

-Lập dự án đầu tư xây dựng: thông thường có thể hiểu là bước tập hợp tài liệu

nghiên cứu các điều kiện kinh tế, kỹ thuật, xã hội… để nhà đầu tư có cơ sở bỏ vốn vào xây dựng một công trình và khai thác công trình đó nhằm đạt đến những hiệu quả kinh tế nhất định cho bản thân họ và cho xã hội

-Khảo sát xây dựng: là hoạt động thị sát, đo vẽ, thăm dò, thu thập và tổng hợp

những tài liệu và số liệu về điều kiện tự nhiên của vùng, địa điểm xây dựng đề phục

1 Bùi Ngọc Toàn (2008), Quản lý dự án xây dựng thiết kế, đấu thầu và các thủ tục trước xây dựng, NXB Xây

dựng, tr.92

Trang 13

-Thiết kế xây dựng công trình: Thiết kế là một hoạt động nhằm mô tả hình

dáng kiến trúc, nội dung kỹ thuật và tính kinh tế của công trình xây dựng trong tương

-Thi công xây dựng công trình: bao gồm các công việc: xây dựng và lắp đặt

thiết bị đối với công trình xây dựng mới; sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình

-Giám sát thi công xây dựng công trình: bao gồm việc giám sát tác giả và

giám sát quá trình thi công của nhà thầu

+ Giám sát tác giả là hoạt động giám sát của người thiết kế trong quá trình thi công xây dựng công trình nhằm đảm bảo việc thi công xây dựng theo đúng thiết

kế

+ Giám sát thi công xây dựng công trình là việc theo dõi kiểm tra về chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn lao động và vệ sinh môi trường trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình

Trên đây là khái niệm hoạt động xây dựng theo nghĩa rộng Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả xin giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình ở

phạm vi tương đối hẹp, thể hiện cụ thể ở công tác thiết kế và thi công xây dựng công trình, vì hoạt động xây dựng thể hiện thông qua các công tác này luôn tiềm ẩn

nhiều nguy cơ rủi ro gây ảnh hưởng không chỉ đối với các chủ thể trực tiếp tham gia trong hoạt động xây dựng mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng, xã hội và sự phát triển của nền kinh tế

Hơn nữa, nếu tiếp cận khái niệm và phạm vi hoạt động xây dựng dưới khía cạnh pháp luật hợp đồng, tức căn cứ hình thức pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa

vụ của các bên tham gia hoạt động xây dựng, thì hoạt động xây dựng chỉ bao gồm các hoạt động cụ thể sau:

 Hoạt động tư vấn thiết kế xây dựng công trình;

 Hoạt động thi công xây dựng công trình: theo đó nhà thầu thực hiện việc

thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình hoặc phần việc xây dựng theo thiết kế xây dựng công trình;

 Hoạt động cung cấp thiết bị công nghệ cho công trình: bao gồm việc cung

cấp thiết bị để lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ

2 Bùi Ngọc Toàn, tlđd 1, tr.106

Trang 14

Trong thực tiễn, một trong ba hoạt động nói trên có thể kết hợp với một, một

số hoạt động còn lại để tạo thành một chuỗi hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, ví dụ:

với thuật ngữ "gói thầu thiết kế, thi công EC" - Engineering and

Construction) bao gồm việc thiết kế và thi công xây dựng công trình, hạng

mục công trình;

với thuật ngữ "gói thầu thiết kế, lắp đặt EP" - Engineering and

Procurement) bao gồm việc thiết kế và cung cấp thiết bị để lắp đặt vào công

trình xây dựng theo thiết kế công nghệ;

thường được biết đến với thuật ngữ "gói thầu lắp đặt, thi công PC" -

Procurement and Construction) bao gồm việc cung cấp thiết bị công nghệ

và thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình;

trình thường được biết đến với thuật ngữ "gói tổng thầu xây dựng EPC" -

Engineering, Procurement and Construction) thực hiện các công việc t

thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ đến thi công xây dựng công trình, hạng

Đây ch nh là khái niệm hoạt động xây dựng nếu hiểu theo nghĩa hẹp

Như vậy, hoạt động xây dựng gồm tập hợp rất nhiều hoạt động của con người t khâu lên tưởng, lập dự án, thiết kế qui hoạch tổng thể, thiết kế chi tiết thi công đến khâu thi công, giám sát, nghiệm thu, bàn giao Quá trình này trải qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn và kéo dài do đó các rủi ro - bao gồm rủi ro chủ quan và khách quan - trong toàn bộ quá trình này là rất lớn Nhu cầu bảo hiểm cho các rủi ro nói trên là tất yếu

1.1.2 Các đặc trưng của hoạt động xây dựng

Không như các loại hình bảo hiểm rủi ro trong các hoạt động kinh doanh khác thường đơn giản như ch nh tên gọi của nó (ví dụ như bảo hiểm rủi ro về cháy nổ; bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cơ giới ), những rủi ro trong bảo hiểm xây dựng thường khá phức tạp và có thể bao

3 Theo khoản 23, Điều 3 Luật XD 2014

Trang 15

gồm nhiều nghiệp vụ bảo hiểm4 trong cùng một loại hình bảo hiểm (ví dụ như loại hình "bảo hiểm công trình xây dựng" có thể v a bao gồm nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại, lại v a bao gồm nghiệp vụ bảo hiểm cháy, nổ) Có thể nói, sự phức tạp của các rủi ro trong hoạt động xây dựng bắt nguồn t chính những đặc trưng của hoạt động này

Hoạt động xây dựng có những đặc trưng sau:

Thứ nhất, đối tượng của hoạt động xây dựng hết sức đa dạng, bao gồm mọi

công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp phục vụ cho con người T nhà ở, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, rạp hát, rạp chiếu phim, các công trình văn hóa khác cho đến nhà máy, xí nghiệp, các công trình phục vụ sản xuất, đường sá (bao gồm cả đường bộ và đường sắt), cầu cống, đê đập, công trình thủy điện, nhà ga, bến cảng, đường băng sân bay v.v Mỗi công trình lại bao gồm rất nhiều hạng mục, công trình phụ cận riêng biệt kèm theo công tác lắp đặt tiện nghi, đồ dùng, máy móc, trang thiết bị hết sức lỉnh kỉnh, phức tạp Rủi ro về tài sản, do đó, là rất lớn Chính t đặc trưng về t nh đa dạng của hoạt động xây dựng v a nêu đã quyết định t nh đa dạng của loại hình bảo hiểm rủi ro trong hoạt động xây dựng Nói cách khác, rủi ro được bảo hiểm trong hoạt động xây dựng có những điểm khác biệt lớn so với các rủi ro được bảo hiểm trong các hoạt động kinh doanh khác bởi tính chất đa dạng của nó Có thể kể tên một số loại hình bảo hiểm trong hoạt động xây dựng tiêu biểu như: i) loại hình bảo hiểm tài sản trong hoạt động xây dựng (bao gồm "bảo hiểm công trình xây dựng" và "bảo hiểm máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động xây dựng"); (ii) loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự trong hoạt động xây dựng được chia làm hai loại nghiệp vụ bảo hiểm đó là "bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong xây dựng" và

"bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba"); và (iii) loại hình bảo hiểm con người trong hoạt động xây dựng (bảo hiểm tai nạn lao động trên công trường xây dựng)

Thứ hai, hoạt động xây dựng là hoạt động thương mại, kết hợp giữa thương

mại hàng hóa (cung ứng, lắp đặt vật tư, thiết bị) và thương mại dịch vụ thi công, tư vấn xây dựng) Những hoạt động xây dựng khác nhau sẽ có những nhóm rủi ro khác

4 Khoản 2 Điều 7 Luật KDBH 2010 qui định "bảo hiểm phi nhân thọ" bao gồm 10 loại nghiệp vụ bảo hiểm

cụ thể sau đây: a) Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;b) Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ,

đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không;c) Bảo hiểm hàng không;d) Bảo hiểm xe cơ giới;đ) Bảo hiểm cháy, nổ;e) Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu;g) Bảo hiểm trách nhiệm;h) Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;i) Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;k) Bảo hiểm nông nghiệp."

Trang 16

nhau Các rủi ro về công trình xây dựng nhà ở dân dụng sẽ rất khác các rủi ro trong xây dựng hạ tầng công nghiệp; Những sự cố gây thiệt hại trong công tác xây dựng cơ bản hoàn toàn không giống với những sự cố không thể lường trước trong công tác xây dựng cầu đường, bến bãi Do hoạt động xây dựng v a mang t nh thương mại hàng hóa, v a mang t nh thương mại dịch vụ nên phạm vi các đối tượng được bảo hiểm trong hoạt động xây dựng, tính trên một sản phẩm bảo hiểm, đương nhiên cũng

có thể sẽ rất rộng Ví dụ như đối với sản phẩm "bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng"

ta thấy nó có thể v a bao gồm bảo hiểm tài sản, v a bao gồm bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bao gồm cả bảo hiểm con người không thuộc bảo hiểm nhân thọ

Thứ ba, khác với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, sản phẩm trong hoạt

động xây dựng cho dù là sản phẩm t hoạt động tư vấn xây dựng hay sản phẩm t

Mỗi công trình xây dựng đều mang t nh đơn lẻ; cụ thể là đều có những yêu cầu riêng

về mặt thiết kế, thi công cụ thể (về mỹ thuật, kết cấu, màu sắc, diện t ch, công năng, địa điểm xây dựng) và không có sản phẩm nào giống sản phẩm nào Ở mỗi sản phẩm, giá trị của chúng thường rất lớn Mặt khác, công năng sử dụng của hai sản phẩm tuy giống hệt nhau nhưng có thể sẽ rất khác nhau (ví dụ hai khu nhà cao tầng có cùng thiết kế nhưng một khu sẽ là căn hộ cao cấp trong khi khu kia chỉ là văn phòng cho thuê) Do vậy, bảo hiểm cho hoạt động xây dựng cho dù vận hành theo những chuẩn chung nhưng chúng không đồng nhất trong phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm Trong khi đó, như trong bảo hiểm hàng hóa, đối tượng bảo hiểm dễ dàng xác định và lượng hóa

Thứ tư, hoạt động xây dựng thường được tiến hành ngoài trời, do đó nó luôn

phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu, thời tiết và các tác động t thiên nhiên, môi trường xung quanh Do thời gian thi công công trình kéo dài t tháng này qua năm khác nên sự tác động của việc thay đổi thời tiết: t khô hạn chuyển sang mưa lũ; hay việc chuyển đổi khí hậu: t khí hậu nóng ẩm chuyển sang khô lạnh là điều không thể tránh khỏi Sự biến động này làm thay đổi cấu trúc địa chất, gây biến dạng

5 Trong pháp luật dân sự, vật được chia thành vật đặc định và vật cùng loại Điều 179 BLDS quy định về vật cùng loại và vật đặc định như sau:

"1 Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những

đơn vị đo lường.Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau

2 Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí"

Trang 17

bề mặt công trình - nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các rủi ro khách quan mà con người không thể lường trước được Điều này giải thích vì sao những thiệt hại gây ra bởi các yếu tố bất ngờ của thời tiết như lũ lụt, mưa bão, xói mòn, sóng thần, sét đánh, lún sụt, lở đất, động đất, núi lửa ) trong hoạt động xây dựng luôn là điều khó tránh khỏi, và khi nó xảy ra, những rủi ro này rất cần được các doanh nghiệp bảo hiểm chia sẻ theo nguyên tắc "lấy số đông bù số ít" nhằm làm giảm bớt những thiệt hại không mong muốn cho con người

Thứ năm, chất lượng của hoạt động xây dựng luôn quyết định mức độ bảo

đảm an toàn tính mạng và tài sản của những người sử dụng, khai thác công năng của công trình đó, do vậy các hoạt động xây dựng luôn phải tuân thủ theo các quy chuẩn

và tiêu chuẩn hết sức nghiêm ngặt Một sự cố nhỏ trong công tác thi công cũng có thể làm ảnh hưởng đến toàn bộ tiến độ và chất lượng của dự án Vì vậy, mỗi khi phát sinh sự cố dù nhỏ dù lớn thì toàn bộ dự án đều buộc phải tạm d ng, chờ khắc phục xong sự cố thì dự án mới có thể được tiếp tục trở lại Nhưng việc khắc phục sự cố rủi

ro công trình thường đòi hỏi phải có một khoản chi phí khá lớn nằm ngoài dự toán công trình mà không phải chủ đầu tư hay nhà thầu nào cũng có khả năng xoay sở trong một thời gian ngắn Vì vậy, để đảm bảo công trình không bị gián đoạn do thiếu kinh phí khắc phục sự cố thì công trình cần có một khoản tiền dự phòng để giải quyết rủi ro t bên thứ ba - doanh nghiệp bảo hiểm

Thứ sáu, đây là hoạt động thu hút nguồn nhân lực dồi dào về số lượng và đa

dạng về tay nghề cũng như trình độ chuyên môn Với một lĩnh vực hoạt động v a mang tính phức tạp v a mang nhiều tính rủi ro cao như xây dựng thì việc đảm bảo ngăn ng a và xử lý kịp thời mọi rủi ro có yếu tố chủ quan t ph a con người là điều hết sức cần thiết Rủi ro chủ quan t ph a con người có thể phát sinh t hạn chế về trình độ chuyên môn của người kỹ sư, kiến trúc sư trong quá trình tư vấn thiết kế; nhưng cũng có thể phát sinh t yếu tố chủ quan, bất cẩn của người công nhân trong quá trình thi công Tất cả đều dẫn đến thiệt hại về tài sản và con người không chỉ cho các bên trong hợp đồng xây dựng mà còn cho bên thứ ba Do đó, để hạn chế các rủi

ro này thì việc lựa chọn cơ chế bảo hiểm trách nhiệm dân sự phù hợp ở t ng giai đoạn (chẳng hạn như "bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp" ở giai đoạn tư vấn thiết kế, hay "bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba" ở giai đoạn thi công xây dựng, lắp đặt) là thật sự cần thiết

Trang 18

1.1.3 Các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng

Các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng chính là các cá nhân, tổ chức trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia hoạt động xây dựng Mặc dù các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng không đồng nhất với chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm trong hoạt động xây dựng Tuy nhiên để nhận diện và tìm hiểu các rủi ro trong hoạt động xây dựng là đối tượng của bảo hiểm trong xây dựng) thiết nghĩ cần xem xét sơ bộ các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng

Chủ thể tham gia trong hoạt động xây dựng gồm 2 nhóm đối tượng cơ bản đó là: (i) chủ đầu tư xây dựng công trình - nhà thầu xây dựng; và ii) cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng

-Chủ đầu tư xây dựng công trình: là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu vốn hoặc là

người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư, xây dựng công trình Chủ đầu tư

là người phải chịu trách nhiệm toàn diện trước người quyết định đầu tư và pháp luật

về các mặt chất lượng, tiến độ, chi phí vốn đầu tư và các quy định khác của pháp

+ Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì chủ đầu tư xây dựng công trình do người có thẩm quyền quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước;

+ Đối với các dự án sử dụng vốn tín dụng thì người vay vốn là chủ đầu tư; + Đối với các dự án sử dụng vốn khác thì chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại diện theo quy định của pháp luật;

+ Đối với các dự án sử dụng vốn hỗn hợp thì chủ đầu tư do các thành viên góp vốn thoả thuận cử ra hoặc là người có tỷ lệ góp vốn cao nhất

- Nhà thầu xây dựng: Nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng sau đây gọi

là nhà thầu) là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư xây

dựng công trình, nhà thầu khảo sát xây dựng, nhà thầu thiết kế, nhà thầu thi công, nhà thầu cung cấp thiết bị công nghệ…

6 Theo khoản 9, Điều 3 Luật XD 2014 thì Chủ đầu tư xây dựng sau đây gọi là chủ đầu tư) là cơ quan, tổ

chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu

Trang 19

Ngoài nhóm chủ thể trên còn có nhóm chủ thể gồm các cơ quan quản lý nhà

nước trong hoạt động xây dựng, bao gồm: Chính phủ, Bộ Xây dựng, Các Bộ và cơ

quan ngang Bộ có liên quan, Ủy ban nhân dân các cấp

+ Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất có trách nhiệm và quyền hạn tổ chức thống nhất quản l nhà nước về xây dựng trong phạm vi cả nước

+ Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất nhà nước về hoạt động xây dựng

+ Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, phối hợp với Bộ Xây dựng để thực hiện quản l nhà nước về xây dựng

+ Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản l nhà nước về xây dựng trên địa bàn phân cấp của Chính phủ

1.1.4 Các rủi ro và sự cần thiết phải phòng ngừa và phân tán rủi ro trong hoạt

động xây dựng

Những năm qua, đầu tư xây dựng ở nước ta không ng ng tăng nhanh cả về quy mô, lĩnh vực với sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội Tuy nhiên, tình hình biến động về chính trị, kinh tế của thế giới đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế nước

ta, làm cho giá cả một số loại vật tư xây dựng thay đổi ảnh hưởng đến kinh phí xây dựng các công trình Bên cạnh đó, trình độ nhân công, trình độ quản lý của nhân lực trong ngành xây dựng hiện nay cũng hạn chế, vẫn còn theo lề lối thủ công, không có tác phong làm việc và quản lý chuyên nghiệp dẫn đến việc quản lý và kiểm soát rủi

ro còn nhiều bất cập và bị động Đó ch nh là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại rủi ro đối với quá trình thi công xây dựng Các rủi ro thường gây ra những tổn thất đòi hỏi phải tốn kém những khoản chi phí lớn để khắc phục

Hiện nay đã có khá nhiều tài liệu trong nước và nước ngoài nghiên cứu về vấn đề rủi ro Tuy nhiên các tài liệu này chỉ đề cập đến những rủi ro nói chung và các rủi ro trong một số ngành kinh doanh mang tính chất đặc biệt như kinh doanh tiền tệ, kinh doanh kim loại quý, kinh doanh bảo hiểm Trong lĩnh vực thi công xây dựng, về vấn đề rủi ro cho đến nay hầu như chưa có những nghiên cứu đầy đủ mang tính hệ thống để có thể đưa ra những nhận xét, đánh giá và đặc biệt là đưa ra các phương pháp, biện pháp quản trị rủi ro, đảm bảo an toàn trong đầu tư xây dựng

8 Viện Kinh tế Xây dựng - Bộ Xây dựng (2006), Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước về

"Nghiên cứu rủi ro khi đánh giá về hiệu quả tài chính của dự án đầu tư", tr.2

Trang 20

Theo tác giả, các sự cố rủi ro trong hoạt động xây dựng có thể được chia làm hai nhóm: (i) những sự cố rủi ro có thể xảy ra trong khi triển khai thi công; và (ii) những sự cố rủi ro có thể xảy ra trong khâu kiểm tra giám sát, nghiệm thu, bàn giao công trình

1.1.4.1 Những sự cố rủi ro có thể xảy ra trong khi triển khai thi công

Ở đây chúng ta có thể tạm chia thành hai nhóm rủi ro cơ bản: Nhóm rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên tác động t bên ngoài và nhóm rủi ro do các nguyên nhân kỹ thuật liên quan đến việc đầu tư, trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình thi công xây dựng và việc sử dụng các máy móc thiết bị đó

a) Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên tác động t bên ngoài:

Những sự cố rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên tác động t bên ngoài có thể kể đến như:

Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhi n như môi trường, khí hậu: Do đặc điểm của

ngành xây dựng chủ yếu là sản xuất ngoài trời trong thời gian dài nên các yếu tố thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian thực hiện dự án, chất lượng và chi phí của dự án

Rủi ro do những biến động bất ngờ của thị trường: Xây dựng là một trong

những ngành kinh tế quan trọng và chiếm một lượng vốn đầu tư rất lớn của nền kinh tế quốc dân Ví dụ: Theo số liệu thống kê của Bộ xây dựng năm 2012, tỷ trọng công nghiệp – xây dựng chiếm 41% GDP, trong đó riêng lĩnh vực xây dựng chiếm 10,3% đến 15% GDP Doanh nghiệp xây dựng là lực lượng chủ đạo tạo ra tài sản cố định phục vụ sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp quốc kế dân sinh quan trọng Tỷ trọng đầu tư của ngành Xây dựng đối với xã hội hàng năm chiếm khoảng 40% GDP Đồng thời hàng năm có hàng chục ngàn công trình xây dựng được triển khai trên mọi miền tổ quốc, trong đó có các công trình trọng điểm quốc gia quan

ngờ của thị trường trong và ngoài nước ảnh hưởng rất lớn đến các dự án xây dựng Các biến động này đem theo các rủi ro về mặt tài ch nh đối với dự án, đồng thời ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án, kể cả đến chất lượng công trình thuộc dự án đó

9 Truy cập tại cổng thông tin điện tử - Bộ xây dựng tại địa chỉ: http://www.xaydung.gov.vn/en/web/guest/;

truy cập ngày 11/02/2014

Trang 21

b) Rủi ro do các nguyên nhân kỹ thuật liên quan đến việc đầu tư, trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình thi công xây dựng và việc sử dụng các máy móc, thiết bị đó:

Đối với những sự cố rủi ro thuộc nhóm này, chúng có thể bao gồm:

-Rủi ro trong đầu tư mua sắm máy móc thiết bị: Khả năng thu hồi vốn đầu tư

thấp dẫn đến việc các nhà thầu không chú trọng đầu tư các máy móc thiết bị mới, công nghệ hiện đại, tiên tiến, đảm bảo độ chuẩn xác và an toàn cần thiết khi thi công

-Rủi ro do đầu tư mua sắm thiết bị hông đồng bộ: Dẫn đến việc làm chậm

quá trình đưa máy móc thiết bị mới vào sử dụng, gây ứ đọng vốn đầu tư và kéo theo các ảnh hưởng lớn khác đến dự án

-Rủi ro do thiếu thông tin, kinh nghiệm trong việc đầu tư mua sắm trang thiết

bị, dẫn đến buộc phải sử dụng những công nghệ cũ, lạc hậu

-Rủi ro trong việc khai thác, sử dụng máy móc thiết bị: (i) Rủi ro do không

có sự phù hợp giữa trình độ của người sử dụng và máy móc công nghệ mới; máy móc thiết bị hiện đại trong khi người công nhân chưa được đào tạo, chưa biết cách thao tác hoặc chưa thành thạo, các điều kiện bảo trì chưa đảm bảo; (ii) Rủi ro phát sinh t khả năng thực tế của máy móc thiết bị và khả năng vận hành, điều khiển của người sử dụng còn chưa được tính toán hợp lý; công suất hoạt động của các máy móc thiết bị mới nhiều khi chưa thể được xác định một cách chính xác ngay t đầu; năng suất lao động của người công nhân hay kỹ thuật viên điều khiển các máy móc thiết bị mới đó chưa đạt yêu cầu trong thời gian đầu sử dụng; (iii) Rủi ro đến t những người công nhân còn thiếu kinh nghiệm khi vận hành, sử dụng các thiết bị mới, công nghệ hiện đại; (iv) Rủi ro do ý thức kỷ luật của người công nhân khi sử dụng các máy móc, thiết bị này còn kém hoặc bị hạn chế; v) Điều kiện khí hậu ở Việt Nam có thể đem đến các rủi ro làm cho máy móc thiết bị dễ hư hỏng nên

1.1.4.2 Những sự cố rủi ro trong khâu kiểm tra giám sát, nghiệm thu, bàn giao

Ở nhóm này, nổi bật hơn cả là hai loại rủi ro hết sức phổ biến gồm: (i) Sự cố rủi ro do khâu kiểm tra giám sát thường xuyên không được coi trọng theo đúng quy

10 Phạm Thị Trang (2010), "Nghiên cứu giải pháp quản trị rủi ro trong dự án thi công xây dựng", Tạp chí

Khoa học và công nghệ số 1/2010, Đại học Đà Nẵng

Trang 22

chế; (ii) Sự cố rủi ro do các hiện tượng tiêu cực giữa giám sát thi công của chủ đầu

tư và điều hành thi công của tổ chức xây dựng

a) Rủi ro do khâu kiểm tra giám sát thường xuyên không được coi trọng theo đúng quy chế:

Đối với những sự cố rủi ro do khâu kiểm tra giám sát thường xuyên không được coi trọng theo đúng quy chế Có thể nhận thấy nguyên nhân sâu xa của vấn đề này bắt nguồn t việc ngân sách chủ đầu tư dành cho công tác tư vấn giám sát chất lượng thi công công trình ở nước ta thường quá eo hẹp, dẫn đến việc những người

có trách nhiệm kiểm tra giám sát tại công trường thường chỉ thực hiện qua loa, tượng trưng mà không chú tâm đến các quy chuẩn, quy định hết sức ngặt nghèo về

vị tư vấn giám sát hoặc là không có khả năng, hoặc chưa làm hết khả năng để phát hiện sớm tình trạng chất lượng xây dựng kém, không đáp ứng yêu cầu; tình trạng sử dụng vật liệu kém chất lượng, thậm chí là bớt xén về khối lượng; tình trạng hồ sơ thi công không đầy đủ; bỏ qua các lỗi kỹ thuật thông thường như rỗ bê tông, rỉ thép, cấp phối không đạt v.v

b) Rủi ro do các hiện tượng tiêu cực giữa giám sát thi công của chủ đầu tư và điều hành thi công của tổ chức xây dựng:

Những sự cố rủi ro là hậu quả của hiện tượng tiêu cực giữa giám sát thi công của chủ đầu tư và điều hành thi công của tổ chức xây dựng thường rất khó phòng

nhiệm của các bên khi giao kết hợp đồng do hoàn toàn phụ thuộc vào phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của những người có chức trách, phận sự khi thực thi nhiệm vụ Nhưng đôi khi ch nh sự lỏng lẻo, sơ hở trong công tác quản lý, phối hợp giữa các bên, nếu có, cũng vô tình tạo điều kiện hoặc tiếp tay cho những tiêu cực dạng này phát sinh hoặc diễn biến ở mức độ trầm trọng hơn

Trong điều kiện nền kinh tế đang gặp khủng hoảng và bị bao vây bởi muôn vàn khó khăn như hiện nay, các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế đó luôn phải đối mặt với rất nhiều rủi ro đến t nhiều phía, trong số đó có cả các cá nhân và

11 Trịnh Thùy Anh (2006), "Quản lý rủi ro trong dự án xây dựng công trình giao thông ở Việt Nam", Tạp chí

Khoa học kỹ thuật Giao thông vận tải số đặc biệt

12

Đoàn Thế Tường (2008), "Sự cố công trình có nguyên nhân nền móng dưới góc nhìn quản lý", Tuyển tập

báo cáo khoa học tại Hội nghị khoa học toàn quốc lần 3 về "Sự cố công trình và các nguyên nhân", Hà Nội,

tr.7

Trang 23

doanh nghiệp hiện đang thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng

và công nghiệp Như mọi chủ thể kinh doanh khác, các đối tượng này luôn có nhu cầu được bảo đảm an toàn hơn bao giờ hết, do đó lợi ích của bảo hiểm đối với họ cũng được khẳng định một cách rõ ràng, thuyết phục hơn Mặt khác, Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền tảng cơ sở hạ tầng đang

t ng bước được xây dựng một cách tích cực và khẩn trương Rất nhiều công trình cầu đường, hạ tầng khu công nghiệp, nhà ở, văn phòng, cơ quan, x nghiệp đang được đầu tư xây dựng mới Gói kích cầu hơn một tỷ USD của chính phủ tập trung vào công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, cũng là một tín hiệu rất tốt và lạc quan cho thấy Việt Nam "vẫn là một điểm đầu tư hấp dẫn" Do đó, nhu cầu về phòng ng a và phân tán rủi ro trong hoạt động xây dựng đối với các nhà đầu tư càng trở nên vấn đề nóng bỏng và cấp thiết hơn bao giờ hết Những năm trở lại đây, trước việc một số công trình xây dựng trọng điểm liên tiếp gặp rủi ro, sập đổ như các vụ sập cầu Cần Thơ, sập cầu Trung Lương; dự án gây sụt lún khuôn viên Tòa kinh tế - lao động - hành chính thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tại Quận 1; hay mới đây nhất là vụ sập dàn cần cẩu công trình tòa tháp đôi tại "khu đất vàng" gây sập đổ tường rào Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố ) tất cả đã dấy lên rất nhiều mối lo ngại về rủi ro cho các nhà đầu tư; bởi chúng không những gây ra những thiệt hại không nhỏ về người và tài sản cho chính các nhà đầu tư mà còn làm thiệt hại uy t n các nhà nước, cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm quản l nhà nước về xây dựng Qua đó, và vì thế, cho phép chúng ta, một lần nữa, càng thấy rõ hơn về vai trò và sự cần thiết của việc phòng ng a và phân tán rủi

ro trong hoạt động xây dựng

Tóm lại, trong phần khái quát về hoạt động xây dựng, tác giả đã đề cập đến một số khái niệm trong hoạt động xây dựng có liên quan đến vấn đề bảo hiểm rủi ro trong xây dựng và lắp đặt, các đặc trưng và những rủi ro đặc thù của công tác này Qua đó cho thấy sự cần thiết phải phòng ng a và dự liệu phương án khắc phục rủi ro thông qua các cơ chế bảo hiểm rủi ro trong hoạt động xây dựng như sẽ trình bày tiếp

ở các phần tiếp theo

1.2.1 Khái niệm bảo hiểm trong hoạt động xây dựng

Trang 24

Ngành bảo hiểm ra đời do nhu cầu khách quan của đời sống kinh tế - xã hội đòi hỏi Đó là nhu cầu được bảo vệ, được giúp đỡ, được chia sẻ rủi ro khi tổn thất

Xuất phát t nhu cầu khách quan của cuộc sống, của sản xuất kinh doanh mà hoạt động bảo hiểm ra đời và ngày càng phát triển theo mức sống ngày càng cao của con người, theo đà phát triển của sản xuất kinh doanh và sự mở rộng của giao lưu kinh tế giữa các nước, các khu vực

Có rất nhiều khái niệm về bảo hiểm được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau:

Dưới góc độ tài chính, bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm

phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi

Dưới góc độ pháp lý, bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó, một bên là người

được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (phí bảo hiểm) cho bên bảo hiểm để bảo hiểm cho chính mình hoặc cho người thứ ba, trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản tiền bồi thường t bên bảo hiểm

Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, đây là hoạt động của doanh nghiệp bảo

hiểm nhằm mục đ ch sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng ph bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người

Theo các tài liệu chuyên ngành thì BHXD là một phận của bảo hiểm kỹ

của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Bảo hiểm kỹ thuật có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế, xã hội trên toàn thế giới T việc bảo hiểm cho các máy móc sản xuất, các thiết bị dụng cụ tinh vi trong y tế, phòng thí nghiệm cho tới việc bảo hiểm cho các công trình xây dựng khổng lồ như bến cảng, sân bay, hay lắp đặt các dàn khoan trên biển, các con tàu vũ trụ

Tuy nhiên, về bản chất, BHXD cũng là một loại hình kinh doanh bảo hiểm như bao loại hình bảo hiểm khác Đối tượng được bảo hiểm trong BHXD cũng có

thể là tài sản (tài sản của chủ đầu tư và nhà thầu thi công); có thể là trách nhiệm

dân sự (trách nhiệm nghề nghiệp của nhà thầu thiết kế - thi công - giám sát, trách

13 Nguyễn Văn Định (2012), Giáo trình Bảo hiểm, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr.9-10

14 Khoản 1, Điều 3 Luật KDBH 2010

15

Nguyễn Văn Định, tlđd 13, tr.219

Trang 25

nhiệm dân sự đối với bên thứ ba); hoặc cũng có thể là con người (công nhân xây

dựng)

Do BHXD có đối tượng bảo hiểm v a là giá trị tài sản hữu hình v a là giá trị

vô hình khác cho nên doanh nghiệp bảo hiểm tính phí bảo hiểm v a căn cứ vào đối tượng bảo hiểm v a căn cứ vào phạm vi bảo hiểm

Đối tượng bảo hiểm có thể là tài sản, có thể là trách nhiệm dân sự, trách

nhiệm nghề nghiệp, hoặc là tập hợp của các đối tượng này

Người được bảo hiểm trong BHXD khá đa dạng, có thể gồm: Chủ đầu tư

hoặc chủ công trình (Bên A trong hợp đồng xây dựng); Nhà thầu chính (Bên B trong hợp đồng xây dựng); Các nhà thầu phụ; Các kiến trúc sư, kỹ sư tư vấn, giám sát, cố vấn chuyên môn; Công nhân trực tiếp thi công; Người thứ ba

Sự kiện bảo hiểm trong BHXD là những rủi ro xảy ra trong hoạt động xây

dựng đã được liệt kê trong phạm vi được bảo hiểm

Ngoài ra, do có rất nhiều bên được bảo hiểm trong BHXD nên sẽ nảy sinh vấn đề "đơn bảo hiểm ghi tên ai" hay "ai là người được ghi tên đầu tiên" Thông thường người đứng ra ký kết hợp đồng bảo hiểm và đóng ph sẽ là người đại diện cho các bên trong hợp đồng bảo hiểm Vì vậy trên hợp đồng sẽ ghi tên người đứng

ra đại diện kèm theo danh sách những người có quyền lợi liên quan đến công trình

Tóm lại, có thể đưa ra khái niệm về BHXD như sau: Bảo hiểm trong hoạt

động xây dựng là một loại hình kinh doanh bảo hiểm được qui định trong pháp luật

về bảo hiểm mà theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận các rủi ro trong hoạt động xây dựng của người được bảo hiểm nếu những rủi ro này nằm trong phạm vi bảo hiểm, tr n cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

1.2.2 Đặc trưng của bảo hiểm trong hoạt động xây dựng

Căn cứ Điều 7 Luật Kinh doanh bảo hiểm thì bảo hiểm bao gồm: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe con người và các loại hình bảo hiểm khác Như vậy, theo tiêu chí phân loại này thì BHXD là loại hình bảo hiểm thuộc nhóm bảo hiểm phi nhân thọ

Trong nhóm bảo hiểm phi nhân thọ được qui định tại khoản 18 Điều 3 Luật KDBH 2010 ta thấy bao gồm: bảo hiểm tài sản (BHTS); bảo hiểm trách nhiệm dân

sự (BHTNDS); và các nghiệp vụ bảo hiểm khác về con người không thuộc bảo

Trang 26

hiểm nhân thọ Như vậy, ta có thể thấy rằng, đối với BHXD thì có thể sẽ có những hình thức sau:

- Bảo hiểm công trình, bảo hiểm thiết bị máy móc xây dựng: là loại hình

BHTS trong hoạt động xây dựng tồn tại dưới dạng bảo hiểm cho các tổn thất, thiệt hại đối với công trình xây dựng hoặc thiết bị, máy móc xây dựng Bảo hiểm công trình xây dựng thông thường sẽ do chủ đầu tư, hoặc bên mời thầu, là người có trách nhiệm mua; còn đối với bảo hiểm thiết bị, máy móc xây dựng thì sẽ do bên nhận thầu có trách nhiệm mua

- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp (BHTNNN) là loại BHTNDS của

người được bảo hiểm, phát sinh do việc vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp của người được bảo hiểm Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp thông thường sẽ do nhà thầu tư

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba là loại bảo hiểm trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của doanh nghiệp xây dựng (nhà thầu thi công) phát sinh do gây thiệt hại về tài sản và tính mạng, sức khỏe của người thứ ba liên đới BHTNDS đối với bên thứ ba do nhà thầu thi công xây dựng mua

- Bảo hiểm con người không thuộc bảo hiểm nhân thọ là loại bảo hiểm bồi

thường tai nạn lao động cho tất cả những người lao động đang làm việc trên các công trình xây dựng Bảo hiểm tai nạn lao động cũng do nhà thầu thi công xây dựng mua

Mặt khác, theo Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm, “Hợp đồng bảo hiểm là

sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng ph bảo hiểm, doanh nghiệp phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” Như vậy hợp đồng bảo hiểm chịu sự điều chỉnh của Luật Kinh doanh bảo hiểm

được phân thành ba loại là: (i) hợp đồng bảo hiểm con người; (ii) hợp đồng bảo

hiểm tài sản; và (iii) hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự Sự khác biệt căn bản

nhất giữa các hợp đồng bảo hiểm này là đối tượng được bảo hiểm và quyền lợi có thể được bảo hiểm

Đối tượng được bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và sự an toàn của con người Đối tượng được bảo hiểm của hợp

16 Khoản 2, Điều 9, Luật XD 2014

Trang 27

đồng bảo hiểm tài sản là tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng

tiền và các quyền tài sản Đối tượng được bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm trách

nhiệm dân sự, cho dù là loại hình BHTNNN hay BHTNDS đối với người thứ ba, thì

cũng đều là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba

Do BHXD bao hàm cả BHTS, BHTNDS và bảo hiểm con người không thuộc bảo hiểm nhân thọ nên nếu xét về đặc trưng, nó v a có những đặc trưng của BHTS,

v a có những đặc trưng của BHTNDS, lại v a có đặc trưng của bảo hiểm con người Cụ thể như sau:

Một là, như trên đã phân t ch, BHXD là một tập hợp của nhiều loại hình bảo

hiểm gồm: BHTS, BHTNDS và bảo hiểm con người Đối tượng của BHXD có thể

là BHTS (bảo hiểm công trình xây dựng; bảo hiểm thiết bị, máy móc xây dựng); có thể là BHTNDS (bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; BHTNDS đối với bên thứ ba); nhưng cũng có thể là bảo hiểm con người không thuộc bảo hiểm nhân thọ (bảo hiểm tai nạn lao động trong xây dựng) Đặc biệt, loại hình BHXD khá phổ biến hiện nay

đó là bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng là một loại hình bảo hiểm phi nhân thọ 2 trong 1: nó v a bao gồm "bảo hiểm tài sản" (bảo hiểm công trình và thiết bị xây dựng) và "bảo hiểm trách nhiệm dân sự" (bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với bên

Hai là, đối tượng của BHXD v a mang tính hữu hình v a mang tính tr u

tượng Tính hữu hình thể hiện ở chỗ đối tượng được bảo hiểm có thể là tài sản, công trình, máy móc, thiết bị dùng trong lĩnh vực xây dựng Về nguyên tắc, tài sản chỉ có thể được bảo hiểm khi xác định được giá trị của chúng Giá trị tài sản bảo hiểm là yếu tố quyết định đến việc thỏa thuận về số tiền bảo hiểm tức giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận bảo hiểm một phần hoặc toàn bộ giá trị tài sản Ngoài ra, giá trị tài sản bảo hiểm cũng là căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm tính phí bảo hiểm Phí bảo hiểm trong BHTS đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định số tiền bồi thường Cụ thể, trong một số trường hợp, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ vận dụng quy tắc tỷ lệ để xác định số tiền bồi thường

17

Hiện nay, gói bảo hiểm "mọi rủi ro trong xây dựng" do các doanh nghiệp bảo hiểm bán ra thường không

bao gồm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp Ví dụ “Đơn bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng và lắp đặt” của Tổng

Công ty Bảo hiểm Bảo Việt và “Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng” của Công ty Cổ phần Bảo Hiểm Hàng Không (Xem phụ lục)

Trang 28

Nếu như loại hình BHTS trong hoạt động xây dựng có đối tượng rõ ràng, mang tính chất hữu hình thì ngược lại, những loại hình BHTNDS và bảo hiểm con người trong BHXD lại mang tính chất tr u tượng

Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm trách nhiệm là thứ không thể nhìn thấy được tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm Nói cách khác, đối tượng bảo hiểm trách nhiệm chính là trách nhiệm vật chất mà bên được bảo hiểm phải bồi thường cho người thứ ba Tuy nhiên mức bồi thường cụ thể và bồi thường cho ai thì các bên chưa thể xác định chính xác tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm Cũng tương

tự như vậy đối với bảo hiểm tai nạn lao động trên công trường xây dựng (bảo hiểm con người không thuộc bảo hiểm nhân thọ)

Ba là, BHXD đa phần là bảo hiểm bắt buộc Thông thường bảo hiểm thương

mại là bảo hiểm tự nguyện Việc có tham gia vào quan hệ bảo hiểm hay không tùy thuộc vào nhận thức của bên mua bảo hiểm Tuy nhiên, do nhận thấy tiềm ẩn nguy

cơ thiệt hại xảy ra đối với ngành xây dựng không chỉ ảnh hưởng đến một đối tượng

cụ thể mà còn ảnh hưởng đến lợi ích chung của toàn xã hội nên pháp luật Việt Nam

đã quy định BHXD, trong một số trường hợp cụ thể, là bắt buộc

Bốn là, như đã giới thiệu ở phần khái niệm, do có rất nhiều bên được bảo

hiểm trong BHXD nên tất yếu sẽ nảy sinh vấn đề "đơn bảo hiểm ghi tên ai" hay "ai

là người được ghi tên đầu tiên" Thông thường người đứng ra ký kết hợp đồng bảo hiểm và đóng ph sẽ là người đại diện cho các bên trong hợp đồng bảo hiểm Do vậy, trên một hợp đồng BHXD người ta sẽ luôn luôn ghi tên người đứng ra đại diện, kèm theo đó là danh sách những người có quyền lợi liên quan đến công trình

Năm là, số tiền bảo hiểm trong BHXD và lắp đặt thường là rất lớn, có khi lên

đến hàng trăm triệu USD Và hầu hết các trường hợp thì số tiền bảo hiểm bằng giá

Tóm lại, BHXD là một loại nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ hết sức đa dạng

về loại hình, phong phú về các sản phẩm bảo hiểm Hầu hết các loại hình BHXD là

18 Quy tắc bảo hiểm xây dựng ban hành kèm theo Quyết định số 33/2004/QĐ-BTC ngày 12 tháng 04 năm

2004 của Bộ trưởng Bộ Tài ch nh quy định:

"a) Đối với các công trình xây dựng quy định tại khoản 1, Điều 1 của Quy tắc bảo hiểm này: Số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm bao gồm toàn bộ vật liệu, tiền lương, cước phí vận chuyển, thuế hải quan, các loại thuế khác, nguyên vật liệu hay các hạng mục do chủ công trình cung cấp và hông được thấp hơn tổng giá trị hợp đồng xây dựng

b) Đối với trang thiết bị xây dựng, máy móc xây dựng phục vụ quá trình xây dựng hạng mục quy định tại khoản 2 và 3, Điều 1 của Quy tắc bảo hiểm này: Số tiền bảo hiểm ghi trong hợp đồng bảo hiểm không được thấp hơn giá trị thay thế (giá thị trường) của trang thiết bị xây dựng và máy móc xây dựng, tức là chi phí thay thế các hạng mục được bảo hiểm bằng các hạng mục mới cùng loại và cùng tính năng"

Trang 29

bảo hiểm bắt buộc Về tính chất, đối tượng của BHXD v a mang tính hữu hình v a mang tính tr u tượng Về phạm vi bảo hiểm, BHXD bao hàm cả BHTS, BHTNDS

và bảo hiểm con người không thuộc bảo hiểm nhân thọ.Về mặt chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm, ngoài người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm còn có danh sách rất dài những người có quyền lợi liên quan đến công trình Ngoài ra phương thức mua BHXD cũng khá đa dạng, nếu như BHTNNN, bảo hiểm con người (bảo hiểm tai nạn lao động trên công trường) thường được mua theo t ng năm thì các loại hình bảo hiểm còn lại (bảo hiểm công trình xây dựng; bảo hiểm máy móc, thiết

bị dùng trong hoạt động xây dựng; BHTNDS đối với bên thứ ba) bắt buộc phải được mua cho t ng công trình

1.2.3 Vai trò của bảo hiểm trong hoạt động xây dựng

Sự bùng nổ về khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đưa nền kinh tế thế giới phát triển vượt bậc, nâng cao chất lượng đời sống của con người Khi đó, nhu cầu

về bảo hiểm rủi ro tăng lên rất nhanh trên nhiều lĩnh vực, trong đó phải kể đến sự tăng trưởng của loại hình bảo hiểm phi nhân thọ nói chung và nghiệp vụ bảo hiểm trong hoạt động xây dựng nói riêng Các dự án và các công trình xây dựng ngày nay đòi hỏi phải có sự đảm bảo về mặt tài chính nhằm tiến triển một cách liên tục, nhanh chóng và có hiệu quả

Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật thiết kế xây dựng dân dụng, do yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao, giá trị công trình ngày càng lớn, và cùng với nó là sự phát sinh của rất nhiều rủi ro kỹ thuật, kinh tế trong quá trình thi công xây dựng nên đã đặt ra đòi hỏi cấp thiết về việc phát triển và mở rộng các loại hình bảo hiểm xây dựng

Mặt khác, trong giá đưa ra đấu thầu, các công ty hay các nhà thầu không thể

t nh được đầy đủ khoản tiền dự trữ để đề phòng cho các tổn thất xảy ra khi tiến hành thi công xây dựng công trình Trong khi đó những nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm

có thể tính toán ch nh xác hơn nhiều số phí bảo hiểm của công trình so với việc lập

dự kiến số tiền đề phòng tổn thất của các nhà thầu Hơn nữa, quy luật của bảo hiểm

là "lấy số đông bù số ít" nên phí bảo hiểm tính trên một công trình sẽ không cao Như vậy, bảo hiểm trong hoạt động xây dựng và lắp đặt ngoài vai trò quan trọng là giữ để giá thành không bị đội lên khi phát sinh chi phí khắc phục giải quyết rủi ro, đóng góp đáng kể vào việc hạ giá thành công trình, thì còn có nghĩa đảm bảo về

Trang 30

mặt tài chính cho các bên liên quan trong suốt thời gian công trình được triển khai thi công, thường là kéo dài t nhiều tháng đến nhiều năm

Các rủi ro trong hoạt động xây dựng rất đa dạng, t các rủi ro do thiên tai như: mưa bão, lũ lụt, động đất, sóng thần cho đến các rủi ro do ch nh con người gây ra như: sai lầm trong thiết kế, chất lượng kém hay khuyết tật của nguyên vật liệu, hành động cẩu thả thiếu trách nhiệm trong nội bộ tập thể thi công, hành động phá hoại vô ý hoặc có chủ đ ch của người khác tất cả đều có thể xảy ra và không thể lường trước được Chỉ cần một sai sót nhỏ cũng có thể dẫn đến những hậu quả

to lớn khôn lường Do đó, một sản phẩm bảo hiểm phù hợp có khả năng đảm bảo an toàn cho chủ đầu tư cũng như nhà thầu thi công trong suốt quá trình xây dựng và lắp đặt đôi khi sẽ là giải pháp cứu cánh, cho phép các bên giải được bài toán kinh phí cần phải có để giải quyết, khắc phục sự cố rủi ro ngoài ý muốn và không thể lường trước này

Ngoài ra, khi tiến hành bảo hiểm cho các hoạt động xây dựng và lắp đặt, các công ty bảo hiểm sẽ cùng với các ngành, các cơ quan hữu quan phối hợp tiến hành một loạt công tác đề phòng sự cố, hạn chế tổn thất một cách đồng bộ và bài bản nhằm ngăn chặn có hiệu quả các rủi ro có thể gây thiệt hại đối với tài sản và con người của các bên, giảm thiểu các rủi ro làm phát sinh trách nhiệm dân sự đối bên thứ ba Trong bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, theo thông lệ, trước khi tiến hành bảo hiểm, Người bảo hiểm phải theo dõi, kiểm tra và đánh giá trước mức độ rủi ro của các đối tượng được yêu cầu bảo hiểm, trên cơ sở đó sẽ tư vấn kịp thời cho Người được bảo hiểm những biện pháp cần thiết để đề phòng, hạn chế tối đa khả năng xảy

ra rủi ro, và như vậy, vô hình trung đã đem lại hiệu quả chung cho toàn xã hội

Hiên nay tại Việt Nam cũng như một số nước đã có quy định BHXD là một loại bảo hiểm bắt buộc trong một số trường hợp Các công ty bảo hiểm tại những quốc gia này đã chú trọng nghiên cứu và phát triển khá nhiều sản phẩm bảo hiểm trong xây dựng và lắp đặt, nhưng cho đến nay phổ biến nhất vẫn là 3 loại hình bảo hiểm ch nh sau đây:

1.3.1 Loại hình bảo hiểm tài sản trong hoạt động xây dựng

Trang 31

BHTS là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tài sản, là những yếu tố

thường thấy nhất là bảo hiểm công trình xây dựng và bảo hiểm máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động xây dựng

1.3.1.1 Bảo hiểm công trình xây dựng:

Bảo hiểm công trình xây dựng nhằm mục đ ch là đề phòng khi có rủi ro xảy

ra trong quá trình xây dựng gây thiệt hại cho công trình Thông thường bảo hiểm công trình xây dựng sẽ do chủ đầu tư hoặc ban quản lý dự án) mua, nhưng cũng có trường hợp nhà thầu xây dựng sẽ thực hiện việc mua bảo hiểm trường hợp phí bảo hiểm đã được tính vào giá trúng thầu) nhưng trong mọi trường hợp thì người được hưởng quyền lợi bảo hiểm người được bảo hiểm) cuối cùng vẫn là chủ đầu tư công trình

Nếu không may có rủi ro được bảo hiểm (ví dụ như rủi ro về động đất; rủi ro

về lún sụt, sạt lở đất trong quá trình thi công) xảy ra, thì người được bảo hiểm sẽ nhận được khoản tiền bồi thường do doanh nghiệp bảo hiểm chi trả để họ có thể nhanh chóng khắc phục hậu quả

Nếu như chủ đầu tư không mua bảo hiểm công trình, nếu rủi ro xảy ra thì cả chủ đầu tư lẫn nhà thầu đôi khi sẽ không thể chuẩn bị kịp một khoản chi phí phát sinh thường là rất lớn) để khắc phục, xử lý sự cố, dẫn đến dự án có khả năng bị tạm

d ng Vì vậy, đây được xem là một trong các yếu tố quản lý rủi ro dự án của chủ đầu tư

Về nguyên lý, mọi chi ph liên quan đến dự án là do chủ đầu tư phải chi trả Riêng đối với bảo hiểm công trình xây dựng, cần phân biệt 4 nội dung cơ bản sau:

- Người mua bảo hiểm: là người ký hợp đồng bảo hiểm và trả phí bảo hiểm

Trong hoạt động xây dựng, người mua bảo hiểm có thể là chủ đầu tư, bên mời thầu hoặc cũng có thể là các nhà thầu;

- Người được bảo hiểm: là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự

được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm Như vậy, tất cả các bên liên quan tới công việc xây dựng, có quyền lợi trong công trình xây dựng và được nêu tên hay chỉ định trong bản phụ lục bảo hiểm đều có thể là người được bảo hiểm trong hoạt động xây

19 Nguyễn Thị Thủy (2012), Pháp luật Bảo hiểm tài sản tại Việt Nam, Sách chuyên khảo NXB Thanh Niên,

tr.39

Trang 32

dựng Người được bảo hiểm có thể là: chủ đầu tư hoặc chủ công trình, nhà thầu chính, các nhà thầu phụ, các kiến trúc sư, kỹ sư tư vấn

- Trường hợp được bảo hiểm: các trường hợp cụ thể được bảo hiểm, và

những trường hợp không được bảo hiểm (các rủi ro loại tr ); và

- Giá trị bảo hiểm: là giá trị bảo hiểm tối đa cho mỗi trường hợp rủi ro được

Trường hợp i) và ii) là các trường hợp thường được áp dụng phổ biến nhất

và gần như tuyệt đại đa số các nhà thầu sẽ lựa chọn phương án thứ nhất Tại Việt Nam, trước đây Bộ Tài ch nh quy định cụ thể mức phí bảo hiểm Nhưng với cơ chế thị trường, nhất là t khi thực hiện cam kết WTO, hiện nay Bộ Tài ch nh đã bãi bỏ qui định này Như vậy, mức phí bảo hiểm công trình xây dựng là do thị trường điều chỉnh và trên cơ sở sự thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng bảo hiểm

1.3.1.2 Bảo hiểm máy móc thiết bị dùng trong hoạt động xây dựng:

Đây sản phẩm dành cho các tổ chức nhận thầu xây dựng lắp đặt, chủ đầu tư

dự án Bảo hiểm máy móc và thiết bị xây dựng của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cho phép nhà thầu thi công hoàn toàn yên tâm khi rủi ro xảy ra làm thiệt hại hay phá huỷ các thiết bị và máy móc thi công trong thời gian công trình đang thi công

Đối tượng tham gia bảo hiểm là các chủ đầu tư, các nhà thầu, người cho thuê máy móc thiết bị, người đi thuê máy móc thiết bị Đối tượng được bảo hiểm của hình thức bảo hiểm này là toàn bộ máy móc và trang thiết bị xây dựng, lắp đặt thuộc quyền sở hữu của chủ thầu, do chủ thầu thuê mướn như: máy ủi, máy xúc, máy nghiền, xe lu, cần cẩu, thiết bị cần trục, thiết bị nâng, máy đóng cọc, máy đầm, máy trộn xi măng…

Khi có sự cố rủi ro xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho khách hàng căn cứ theo tổn thất thực tế của máy móc thiết bị được bảo hiểm trong phạm vi bảo hiểm, có thể là:

Trang 33

- Rủi ro từ thiên nhiên: lũ lụt, mưa bão, gió lốc, sóng thần, sét đánh, lún, sụt

lở, động đất, núi lửa phun…;

- Rủi ro từ hoạt động của con người (tr n công trường): cháy, nổ, thiếu kinh

nghiệm, bất cẩn, trộm cắp toàn bộ…;

- Rủi ro khác: rơi, lật, đổ, đâm va và các sự cố bất ngờ khác không lường

trước được khi thi công hoặc di chuyển công trường;

- Thiệt hại phát sinh khi đang hoạt động hay ng ng hoạt động, khi tháo dỡ,

lắp ráp nhằm mục đ ch lau chùi, bảo dưỡng hoặc sữa chữa (sau khi máy móc chạy thử thành công)

Ngoài ra, một số doanh nghiệp bảo hiểm còn mở rộng phạm vi bảo hiểm cho khách hàng khỏi rủi ro trong quá trình vận chuyển máy móc đến nơi thi công, hoặc

t nơi thi công đến kho cất giữ sau khi dự án đã được hoàn thành

1.3.2 Loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự

BHTNDS là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự

hoạt động xây dựng, loại hình BHTNDS thường thấy nhất là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba

1.3.2.1 Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp:

BHTNNN là loại BHTNDS của người được bảo hiểm, phát sinh do việc người đó vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp của mình gây thiệt hại Việc vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp thường thể hiện qua việc họ không làm hoặc không làm hết trách nhiệm lẽ ra họ bắt buộc phải làm vì lợi ích của người đã bỏ tiền ra thuê mình Nếu có thiệt hại xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thay thế người vi phạm nhận trách nhiệm dân sự trong việc bồi thường, khắc phục hậu quả hoặc bù đắp tổn thất

Những người hành nghề chuyên môn thông thường phải có tay nghề phù hợp, được yêu cầu khi thao tác nghề nghiệp phải đảm bảo đúng và đầy đủ các yêu cầu chuyên môn đặt ra với một sự cẩn trọng cần thiết Tuy nhiên trên thực tế, vì nhiều lý do khách quan họ vẫn có thể gây thiệt hại cho chủ đầu tư hoặc bên thứ ba

dù bản thân không mong muốn Với việc mua BHTNNN cho các kỹ sư, kiến trúc sư của mình, nhà thầu khảo sát xây dựng, nhà thầu thiết kế xây dựng công trình hoặc

20 Nguyễn Thị Thủy, tlđd 19, tr.42

Trang 34

nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình dưới đây gọi chung là nhà thầu tư vấn) sẽ được bồi thường số tiền mà người được bảo hiểm (nhà thầu tư vấn) có trách nhiệm thanh toán đối với các khiếu nại được lập để chống lại người được bảo hiểm trong thời hạn ghi trong phụ lục là hậu quả trực tiếp của các hành động bất cẩn, sai sót hoặc thiếu sót khi người được bảo hiểm, hoặc người làm thuê cho họ, thực hiện các công việc chuyên môn được xác định trong phụ lục hợp đồng bảo hiểm Giới hạn bồi thường sẽ là mức trách nhiệm gộp cho tất cả các khiếu nại của bên thứ ba chống lại người được bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm, bao gồm cả phí tổn và chi phí bào chữa do người được bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải chi trả Trường hợp khiếu nại hàng loạt: Khi hai hay nhiều khiếu nại phát sinh t một hành vi bất cẩn (ví dụ t cùng một lỗi khảo sát, tính toán thiết kế hoặc giám sát thi công xây dựng) thì bất kể số người bị thiệt hại, tất cả các khiếu nại này được coi là một khiếu nại và ngày xảy ra tổn thất là ngày mà khiếu nại đầu tiên trong một loạt khiếu nại được phát ra bằng văn bản chống lại người được bảo hiểm

1.3.2.2 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba:

BHTNDS đối với bên thứ ba là loại bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của doanh nghiệp xây dựng (nhà thầu thi công) phát sinh do gây thiệt hại về tài sản và tính mạng, sức khỏe của người thứ ba liên đới người lao động của các nhà thầu phụ hoặc của bên thứ ba đang làm việc tại công trình; người dân đang sinh sống, làm việc trong khu vực tiếp giáp với công trường xây dựng; người bên ngoài có nhu cầu liên hệ và được phép đi vào phạm vi công trường; khách vãng lai đi qua khu vực hành lang an toàn đang thi công ) trong quá trình thực hiện các công việc xây dựng, lắp đặt

Trách nhiệm của nhà thầu thi công xây dựng trong các trường hợp này có thể được bảo hiểm bằng một hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm riêng biệt, nhưng thông thường được bảo hiểm cùng với bảo hiểm tổn thất vật chất của công trình xây dựng trong cùng một hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng, lắp đặt sẽ được tác giả đề cập sau phần này

Thông thường, nhà thầu thi công xây dựng có thể mua bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba đi cùng bảo hiểm tổn thất vật chất với hạn mức trách nhiệm không vượt quá 50% giá trị công trình được bảo hiểm ở phần thiệt hại vật chất và tối đa không quá 3 triệu USD Phí bảo hiểm của phần trách nhiệm đối với người thứ

ba được tính bằng 5% phí bảo hiểm của phần bảo hiểm thiệt hại vật chất Tỷ lệ phí bảo hiểm này chỉ áp dụng với điều kiện bên mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm thiệt

Trang 35

hại vật chất và trách nhiệm đối với người thứ ba trong cùng một hợp đồng bảo

Trong trường hợp muốn được bảo hiểm với hạn mức trách nhiệm vượt quá giới hạn trên thì bên mua bảo hiểm có thể tham gia bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba bằng một hợp đồng bảo hiểm riêng biệt

1.3.3 Loại hình bảo hiểm con người - phi nhân thọ trong hoạt động xây dựng

Bảo hiểm con người là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tính

người đó là bảo hiểm con người thuộc bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm con người thuộc bảo hiểm phi nhân thọ Trong hoạt động xây dựng thì bảo hiểm con người là hình thức bảo hiểm thứ hai Tại Việt Nam và một số nước, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, lắp đặt thường bắt buộc phải mua bảo hiểm bồi thường tai nạn lao động cho tất cả người lao động của mình làm việc trên các công

Như vậy, xây dựng và lắp đặt là một trong những lĩnh vực sản xuất kinh doanh đầu tiên mà người sử dụng lao động phải tiến hành mua bảo hiểm bắt buộc cho người lao động của mình Điều này xuất phát t tình hình tai nạn lao động chưa t nh bệnh nghề nghiệp) trong lĩnh vực xây dựng, lắp đặt tại các quốc gia đang phát triển luôn có xu hướng gia tăng, lượng người chết và bị thương trong các hoạt động xây dựng hàng năm tại các quốc gia này luôn ở mức cao Tai nạn phổ biến nhất thường xảy ra đối với người lao động làm việc trên cao, trên các công trình nhiệt điện thuỷ điện, bị điện giật, nổ bình ôxy, lũ cuốn Thông thường việc bắt buộc các chủ lao động trong các doanh nghiệp xây dựng, lắp đặt mua bảo hiểm sẽ cho phép hỗ trợ bồi thường kịp thời trong những trường hợp người lao động bị chết hoặc suy giảm khả năng lao động t 81% trở lên do tai nạn lao động, hoặc bị bệnh nghề nghiệp Nếu người lao động bị suy giảm khả năng lao động dưới 81% thì sẽ được bồi thường theo tỷ lệ quy định trong quy tắc bảo hiểm nhân thọ Ngoài ra, người lao động bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp còn được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường tiền phụ cấp nghỉ việc trong thời gian điều trị và các chi phí y tế cần thiết khác

21 Mục 2 (Phí bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ 3), Phụ lục III (Biểu phí bảo hiểm xây dựng), Quy tắc

Bảo hiểm xây dựng ban hành kèm theo Quyết định số 33/2004/QĐ-BTC ngày 12/4/2004 của Bộ trưởng Bộ

Trang 36

Kết luậ C ư g 1

Như vậy, ở chương này, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng khi nhu cầu về xây dựng dân dụng và công nghiệp ở các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển ngày càng tăng; những đòi hỏi về kỹ thuật và an toàn thi công ngày càng được nâng cao và qui định ngày một nghiêm ngặt hơn, thì con người càng có nhu cầu được bảo đảm trước các rủi ro không thể lường trước trong khi tiến hành hàng loạt những hoạt động hết sức đa dạng và mang nhiều t nh đặc thù này Những rủi ro

t thiên nhiên như bão lũ, động đất, sóng thần, lốc xoáy xảy ra ngày càng nhiều và trở nên hết sức phức tạp, rất khó dự báo do môi trường sống tự nhiên đang biến đổi theo chiều hướng xấu đi Những rủi ro t con người như chiến tranh, xung đột, khủng bố, đình công không những không giảm mà ngày càng diễn tiến phức tạp hơn

ở nhiều nơi trên thế giới Trong tình hình như vậy, bảo hiểm trong hoạt động xây dựng chính là một giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm lý an tâm trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, giúp đẩy mạnh và phát triển các hoạt động kinh doanh bất động sản, phục vụ tốt hơn cuộc sống của con người Khi có tổn thất bất ngờ t rủi

ro xảy đến với các đối tượng được bảo hiểm thì sẽ có ngay một khoản chi phí cần thiết để khắc phục hậu quả, đảm bảo tiến độ thi công công trình và hiệu quả sản xuất kinh doanh của chủ đầu tư cũng như các nhà thầu Bảo hiểm trong hoạt động xây dựng gồm: (i) bảo hiểm tài sản (bảo hiểm công trình xây dựng; bảo hiểm máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động xây dựng); (ii) bảo hiểm trách nhiệm dân sự (bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp kiến trúc sư, kỹ sư tư vấn xây dựng; bảo hiểm trách nhiệm dân sự về tính mạng, sức khỏe và tài sản đối với người thứ ba trong hoạt động xây dựng); và (iii) bảo hiểm con người phi nhân thọ (bảo hiểm tai nạn lao

động trên công trường xây dựng)

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TRONG

HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN

2.1 Qui định pháp luật về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng

2.1.1 Chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm

2.1.1.1 Chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm

Chủ thể tham gia quan hệ BHXD có thể tạm chia thành hai nhóm: i) nhóm các chủ thể của hợp đồng bảo hiểm - tức các bên tham gia trực tiếp quan hệ hợp đồng bảo hiểm; ii) nhóm các chủ thể chỉ tham gia quan hệ bảo hiểm nói chung một cách gián tiếp như cơ quan quản l nhà nước về bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, tổ chức giám định tổn thất, doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm, người thụ hưởng … Khác với các chủ thể của hợp đồng bảo hiểm, những chủ thể này không tham gia ký kết, không bị ràng buộc thực hiện các nghĩa vụ phát sinh

t hợp đồng bảo hiểm

a) Nhóm các chủ thể của hợp đồng bảo hiểm xây dựng:

Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm gồm có Người mua bảo hiểm (cá nhân/

doanh nghiệp đứng tên trên hợp đồng bảo hiểm với tư cách là bên mua bảo hiểm, có

nghĩa vụ đóng ph bảo hiểm và có quyền lợi được bảo hiểm) và Người bảo hiểm

(doanh nghiệp bảo hiểm)

 Người mua bảo hiểm

Người mua bảo hiểm - còn gọi là người người yêu cầu bảo hiểm; tức là người

phải nộp phí bảo hiểm khi ký hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm

Người mua bảo hiểm được coi là người đối lập về quyền và nghĩa vụ với doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm Trong mọi trường hợp, người mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản hoặc quyền, nghĩa vụ dân sự đối với đối tượng được bảo hiểm

Người mua bảo hiểm là cá nhân, tổ chức cần có các điều kiện sau: có năng lực hành vi dân sự; nếu là loại hình bảo hiểm tài sản thì phải có mối quan hệ sở hữu đối với tài sản được bảo hiểm; có sự thỏa thuận về việc nộp phí bảo hiểm

Trường hợp người mua bảo hiểm là pháp nhân, trước hết phải là một pháp nhân theo quy định của pháp luật để hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực Ngoài ra, pháp

Trang 38

nhân cũng phải có quan hệ sở hữu đối với tài sản được bảo hiểm (trong bảo hiểm tài sản) và có sự thỏa thuận về việc nộp phí bảo hiểm

Căn cứ vào Luật Xây dựng và Nghị định số 48/2010/NĐ-CP do chính phủ ban hành ngày 7/5/2010 hướng dẫn về hợp đồng trong hoạt động xây dựng thì người mua bảo hiểm người được bảo hiểm) gồm có:

hữu nhà nước) bắt buộc phải mua bảo hiểm tài sản, cụ thể là bảo hiểm công trình

xây dựng trong quá trình xây lắp để đối phó với những thiệt hại do những rủi ro bất

ngờ như cháy, lũ lụt, động đất (phí bảo hiểm là một phần của giá dự toán công trình

thi công, nhà thầu cung cấp thiết bị công nghệ đều bắt buộc phải mua bảo hiểm Những nhà thầu này phải mua các loại bảo hiểm sau:

o Nhà thầu khảo sát xây dựng có trách nhiệm phải mua bảo hiểm trách nhiệm

o Nhà thầu thiết kế có trách nhiệm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề

o Nhà thầu thi công có trách nhiệm phải mua các loại bảo hiểm theo quy định

của mình như máy móc, thiết bị thi công, nhà xưởng phục vụ thi công…) trong quá trình khai thác sử dụng; quá trình vận chuyển t nơi tập kết đến công trình; các thiết bị đang bảo quản trong kho (phí bảo hiểm được tính

24 Bảo hiểm bắt buộc theo quy định tại điểm (i), khoản 2, Điều 9 Luật XD 2014; điểm (a), khoản 1, Điều 45 Nghị định 48/2010/NĐ-CP ngày 07/05/2010

25 Bảo hiểm bắt buộc theo khoản 2, Điều 9 Luật XD 2014

26 Bảo hiểm bắt buộc theo khoản 2, Điều 9 Luật XD 2014

27

Khoản 2, Điều 9 Luật XD 2014

28 Điểm (b), khoản 1, Điều 45 Nghị định 48/2010/NĐ-CP ngày 07/05/2010

29 Mục 3.3, Phần II, Thông tư 76/2003/TT-BTC ngày 04/08/2003

30

Điểm (b), khoản 1, Điều 45 Nghị định 48/2010/NĐ-CP ngày 07/05/2010

Trang 39

o Nhà thầu tư vấn giám sát có trách nhiệm phải mua bảo hiểm trách nhiệm

bảo hiểm công trình xây dựng32

Người mua bảo hiểm, trong nhiều trường hợp, cũng là người được bảo hiểm

Ví dụ: chủ đầu tư mua BHTS cho công trình của mình (bảo hiểm công trình xây dựng); chủ thầu tư vấn thiết kế mua BHTNNN cho kiến trúc sư, kỹ sư thiết kế của

mình; chủ thầu thi công mua BHTNDS đối với bên thứ ba v.v Riêng đối với bảo

hiểm tài sản trong hoạt động xây dựng, cần phân biệt người được bảo hiểm trong

hợp đồng bảo hiểm "tài sản là công trình xây dựng" với người được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm "tài sản là máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động xây dựng" Thông thường đối với BHTS là công trình xây dựng thì người được bảo hiểm là chủ đầu tư công trình đó chủ sở hữu công trình) Còn đối với BHTS là máy móc, thiết

bị dùng trong hoạt động xây dựng thì người được bảo hiểm có thể là nhà thầu chính (tổng thầu) nhưng cũng có thể là nhà thầu phụ (nhà thầu thi công) tùy thuộc vào việc máy móc, thiết bị - tức tài sản được bảo hiểm - thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu hay thuộc quyền quản lý của người không phải là chủ sở hữu trong trường hợp người đó đã được chủ sở hữu tài sản ủy quyền, cho phép được chiếm hữu và định đoạt tài sản

Đối với các loại hình BHXD còn lại là bảo hiểm trách nhiệm dân sự (bao

gồm: bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với bên

thứ ba) và bảo hiểm con người trong hoạt động xây dựng (bảo hiểm tai nạn lao

động trên công trường xây dựng) thì người được bảo hiểm người mua bảo hiểm) luôn là các doanh nghiệp xây dựng các đơn vị tư vấn thiết kế, giám sát hoặc thi công)

Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật KDBH 2010 thì "Người được bảo

hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng" Ví dụ trong trường hợp bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng và lắp đặt

thông thường người được bảo hiểm người thụ hưởng) có thể là chủ đầu tư hay bên thứ ba, còn nhà thầu xây dựng mới là bên mua bảo hiểm

Trang 40

Như vậy, người được bảo hiểm phải có những điều kiện cơ bản sau đây:

- Là người bị tổn thất về tài sản, thiệt hại về thân thể (bị thương, chết) khi sự kiện bảo hiểm xảy ra

- Người được bảo hiểm là người có quyền lợi bảo hiểm

 Người bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm)

Doanh nghiệp bảo hiểm là bên có quyền thu phí bảo hiểm khi ký kết hợp đồng bảo hiểm và phải có trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm theo sự thỏa thuận khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm là người kinh doanh bảo hiểm để thu lợi nhuận

Vì trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm rất quan trọng nên luật pháp có nhiều hạn chế về hình thức tổ chức các doanh nghiệp bảo hiểm Nhiều nước trên thế giới quy định rằng chỉ có loại hình công ty cổ phần mới có thể kinh doanh bảo hiểm bởi vì loại hình công ty cổ phẩn có nguồn vốn lớn mạnh và cơ cấu chặt chẽ Ở một vài nước, đặc biệt do truyền thống lịch sử, có thể cho cá nhân kinh doanh bảo hiểm nhưng có sự hạn chế nghiêm ngặt về tư cách của cá nhân khi kinh doanh bảo

Theo Điều 59 Luật KDBH 2010 thì ở Việt Nam có các loại hình tổ chức kinh doanh bảo hiểm sau đây:

1) Công ty cổ phần bảo hiểm;

2) Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm;

3) Hợp tác xã bảo hiểm;

4) Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

Ngoài hai chủ thể của hợp đồng bảo hiểm là người được bảo hiểm người mua bảo hiểm) và người bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm) còn có một hoặc một số chủ thể khác được liệt kê trong hợp đồng bảo hiểm với tư cách là chủ thể được

hưởng quyền lợi bảo hiểm Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm còn được gọi là

người nhận tiền bảo hiểm hay người thụ hưởng Theo quy định tại khoản 8 Điều 3

Luật KDBH 2010 thì "Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo

hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người" Lưu là

33 Bộ Tài chính (1999), Luật Bảo hiểm một số nước, NXB Tài Chính, Hà Nội, tr.3

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w