1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ tài DOLLAR hóa nền KINH tế

40 281 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dollar hóa nền kinh tế
Tác giả Dương Thị Thùy Dung, Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Vũ Thân, Phan Trần Minh Hưng, Nguyễn Quang Trung, Hoàng Thị Hải Yến, Trương Thị Kim Yến
Người hướng dẫn GVHD: Lê Phan Thị Diệu Thảo
Trường học Đại Học Quốc Gia TP HCM
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP HCM
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 448,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn tạiViệt Nam Đô la hóa bắt đầu xuất hiện vào năm 1988 khi đó với chính sách quản lýngoại hối được nới lỏng, cho phép dân chúng gởi ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng đã làm xuất hiện hiệ

Trang 1

KHOA KINH TẾ ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM

TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

ĐỀ TÀI: DOLLAR HÓA NỀN KINH TẾ

GVHD: LÊ PHAN THỊ DIỆU THẢO

DSHV : 1 DƯƠNG THỊ THÙY DUNG

2 NGUYỄN THỊ HUỆ

3 NGUYỄN VŨ THÂN

4 PHAN TRẦN MINH HƯNG

5 NGUYỄN QUANG TRUNG

6 HOÀNG THỊ HẢI YẾN

7 TRƯƠNG THỊ KIM YẾN

TPHCM tháng 06/2010

Trang 2

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC NHÓM 7

1 Soạn đề cương, phân công Hải Yến

2 Tổng hợp file, in ấn Hải Yến, Hưng

5 Trả lời câu hỏi Trung, Thân, Huệ, Hải Yến, Hưng

6 Nội dung đề tài:

+Phần mở đầu +Phần 1: Tổng quan về hiện

tượng đô la hóa

Trang 3

MỤC LỤC

Phần 2 13

3.3 CÁC GIẢI PHÁP: 33 3.3.1Giảm dần thói quen sử dụng tiền mặt bằng ngoại tệ trong dân chúng 33

- Giải pháp cơ bản là nâng cao sức mạnh kinh tế, kiến tạo lòng tin đối với đồng nội

tệ Củng cố lòng tin của dân chúng vào VND từ đó chuyển từ tiền gửi bằng ngoại tệ sang VNĐ và giảm dần thói quen sử dụng tiền mặt bằng ngoại tệ Việc tạo lòng tin

về một mức lạm phát ổn định và một tỷ giá ngoại hối linh hoạt là điều vô cùng quan trọng Nếu không, với những biến động của lạm phát, sự kiểm soát tỷ giá tạo ra khoảng cách giữa thị trường chính thức và thị trường chợ đen sẽ làm cho công chúng luôn lo sở rủi ro về tỷ giá và lạm phát cao .33

PHẦN MỞ ĐẦU

Tiền tệ phát triển qua các hình thái khác nhau và điểm bắt nguồn của tiền tệ

là hàng hóa nhưng những hàng hóa này phải được ưa chuộng, dễ dàng chuyển đổi;sau đó, với sự phát triển không ngừng thì hình thái tiền tệ là bạc, vàng lần lượt rađời

Do kinh tế phát triển nhanh vượt ra khỏi quốc gia thì đòi hỏi cần có mộtđồng tiền mạnh để làm công cụ thanh toán trong xuất nhập khẩu Cùng với quátrình toàn cầu hóa nền kinh tế và cùng với quá trình toàn cầu hóa hệ thống tài chínhquốc tế đã làm cho hiện tượng Đô la hóa xuất hiện ngày càng sâu rộng tại các nước

có nền kinh tế chuyển đổi

Đô la hóa cũng giống như những hiện tượng khác trong nền kinh tế vẫn cómặt tích cực như thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế, tài chính quốc tế… và mặttiêu cực của nó của nó được thể hiện là trong chủ quyền tiền tệ quốc gia Còn tạiViệt Nam Đô la hóa bắt đầu xuất hiện vào năm 1988 khi đó với chính sách quản lýngoại hối được nới lỏng, cho phép dân chúng gởi ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng

đã làm xuất hiện hiện tượng Đô la hóa, ngoài ra trong thời kỳ này thì chính sách

mở cửa của nhà nước và kèm theo đó là chính sách tỷ giá và chính chính sách tỷgiá được tự do hóa kết hợp với tình hình kinh tế, tài chính thế giới có nhiều biếnđộng cũng là một phần tất yếu của sự xuất hiện hiện tượng Đô la hóa

Năm 2007, Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức Thương MạiThế giới và đây là cơ hội cho Việt Nam hội nhập nhanh và sâu rộng vào nền kinh

tế thế giới, điều này cũng nói lên rằng Việt Nam cũng phải chịu nhiều ảnh hưởngcủa tình hình kinh tế thế giới và minh chứng rõ ràng nhất là ảnh hưởng của ViệtNam trong khủng hoảng tài chính toàn cầu đã nói lên được điều đó

Trang 4

Như đã đề cập ở trên hiện tượng Đô la hóa có những mặt tiêu cực, tích cựcriêng của nó vì vậy việc nhận định tác động của Đô la hóa đến nền kinh tế là vấn

đề thiết thực và cần tìm ra những phương hướng để phát huy những mặt tiêu cực

và hạn chế những mặt tiêu cực của nó Vì thế nhóm đã chọn đề tài “Đô la hóa trongnền kinh tế”

Phần 1 :

TỔNG QUAN VỀ HIỆN TƯỢNG ĐÔ-LA HÓA

1.1 KHÁI NIỆM

Đô-la hóa (dollarization) là việc sử dụng một ngoại tệ để thực hiện một số hay

tất cả các chức năng của tiền tệ, quá trình một nước bỏ hoàn toàn đồng nội tệ vàthay vào đó sử dụng đồng tiền của nước khác ổn định hơn làm phương tiện thanhtoán Nói cách khác, đô-la hóa xảy ra khi dân chúng trong một nước sử dụng rộngrãi ngoại tệ, song song hoặc thay thế cho đồng tiền nội tệ của mình Tuy khái niệmnày được gắn liền với đồng đô-la Mỹ, việc chuyển đổi ra bất kỳ ngoại tệ có tính ổnđịnh nào khác, ví dụ như đồng Euro Châu Âu, đồng Yên Nhật, đồng Mác Đức -đều thường được gọi là đô-la hóa

1.2 CÁC HÌNH THỨC ĐÔ-LA HÓA:

Ngày nay, đô-la hóa là hiện tượng khá phổ biến, đặc biệt là ở các nước đangphát triển Theo tiêu chí của IMF đưa ra, một nền kinh tế được coi là có tình trạngđô-la hóa cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên trongtổng khối tiền tệ mở rộng (M2); bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không

kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, và tiền gửi ngoại tệ Theo đánh giá của IMF năm 1998trường hợp đô-la hóa cao có 19 nước, trường hợp đô-la hóa cao vừa phải với tỷ lệtiền gửi ngoại tệ/M2 khoảng 16,4% có 35 nước; trong số đó có Việt Nam Tính đếnđầu năm 2000 đã có trên 60 nước thực hiện đô-la hóa (chính thức hoặc khôngchính thức) dù mức độ của mỗi nước là có khác nhau

Tùy theo mục tiêu cách nhìn nhận khác nhau, thông thường các nhà phân tíchthường phân loại đô la hóa theo các tiêu chí sau:

Trang 5

a)Tiêu chí về tính hợp pháp:

Căn cứ vào hình thức và mức độ đô-la hóa, người ta chia ra làm ba loại : đô la

hoá không chính thức (unofficial Dollarization), đô la hoá bán chính thức(semiofficial dollarization), và đô la hoá chính thức (official dollarization)

1 Đô-la hóa không chính thức (đồng tiền thay thế) :

Đô-la hóa không chính thức xảy ra khi giá trị của đồng nội tệ dao động quánhiều vì vậy đồng đô-la được sử dụng để giao dịch mua bán, tiết kiệm cá nhân vàkhi vay tiền vì nó đáng tin hơn Do đó người dân cất trữ phần lớn tài sản của mìnhbằng ngoại tệ ngay cả khi ngoại tệ đó không phải là đồng tiền pháp định của nướcmình Trên thực tế, ở rất nhiều nước, đô-la hóa không chính thức mặc nhiên tồn tạidưới nhiều hình thức khác nhau bất chấp các quy định của luật pháp Ở một sốnước thì việc cất trữ tài sản nước ngoài là hợp pháp nhưng một số nước khác thìkhông cho phép dân chúng nắm giữ các tài sản nước ngoài, chẳng hạn cấm mở tàikhoản bằng ngoại tệ ở nước ngoài Thuật ngữ đô-la hóa không chính thức đượcdùng bao gồm cho cả hai trường hợp, hợp pháp lẫn bất hợp pháp

Hình thức đơn giản nhất của đô-la hóa không chính thức là việc dân chúng cóthể gửi tiền ở ngân hàng bằng ngoại tệ hoặc cất trữ đô-la tiền mặt nhưng vẫn tiếptục dùng đồng tiền nội tệ trong hoạt động mua bán hàng ngày Giai đoạn này

thường được gọi là “thay thế tài sản” bởi vì hành động này của dân chúng là

nhắm đến việc bảo đảm an toàn tài sản của mình khi có lạm phát xảy ra với đồngtiền trong nước Ở giai đoạn cao hơn, thường được gọi là “thay thế tiền tệ” đó làlúc người ta dùng đô-la trong các giao dịch có giá trị lớn như mua xe, mua nhà và

sử dụng đô-la mặt như một phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ Chỉnhững giao dịch thông dụng, có giá trị nhỏ như tiền điện, nước, mua sắm các vậtdụng hàng ngày hoặc những giao dịch mà chính phủ bắt buộc như nộp thuế, chi trảtiền lương mới sử dụng bằng nội tệ Giai đoạn cuối của tiến trình đô-la hóa khôngchính thức là lúc dân chúng thường suy nghĩ và tính toán theo đô-la, giá của đồngtiền trong nước luôn được quy ra theo đô-la

Như vậy, nhìn chung đô-la hóa không chính thức là việc dân chúng cất giữ cáctài sản dưới những hình thức sau :

 Chứng khóan nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào khác (không phải là tiền tệ)của nước ngoài

 Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài

 Tiền gửi bằng ngoại tệ ở ngân hàng trong nước

 Ngoại tệ mặt

Việc đo lường mức độ đô-la hóa không chính thức rất khó khăn vì người takhông thể thống kê chính xác được lượng đô-la mặt mà dân chúng nắm giữ, số dưtiền gửi bằng ngoại tệ ở trong nước và nước ngoài, giá trị của các tài sản nướcngoài do dân chúng nắm giữ do đó người ta chỉ có thể ước đoán mức độ lưu hànhcủa đồng đô-la Mỹ và một số tiền tệ khác để đưa ra hình ảnh sơ bộ về sự phổ biếncủa việc đô-la hóa không chính thức Theo tính toán của Cục dự trữ liên bang Mỹ

Trang 6

thì người nước ngoài hiện đang nắm giữ khoảng 300 tỉ đô-la mặt tức là chiếmkhoảng 55%-70% trong tổng số hơn 480 tỉ đô-la giấy đang được lưu hành

Hầu hết các nghiên cứu về đô-la hóa được tập trung vào đô-la hóa khôngchính thức bởi vì lợi ích và thiệt hại từ việc đô-la hóa không chính thức là không rõràng, rất khó tính toán và rất khác nhau tùy thuộc vào đặc thù của từng nước

Về ưu điểm, đô-la hóa không chính thức sẽ giúp chống được hiện tượng lạm

phát đối với đồng nội tệ đồng thời góp phần làm cho hệ thống ngân hàng hoạt độngbền vững hơn Khi chính phủ cho phép ngân hàng trong nước nhận tiền gửi bằngngoại tệ sẽ góp phần hạn chế được hiện tượng dân chúng đem tiền gửi ở nướcngoài và do vậy sẽ ít có nguy cơ dân chúng đổ xô đến ngân hàng rút tiền khi đồngnội tệ mất giá

Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn đến bất lợi là rất dễ tạo nên tình trạng đồng nội tệ

mất giá đột ngột khi dân chúng đồng loạt quay sang dùng ngoại tệ và điều nàycũng sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc điều hành chính sáchtiền tệ của mình

2 Đô-la hóa bán chính thức

Đô-la hóa bán chính thức xảy ra khi một nước sử dụng đồng ngoại tệ như làđồng tiền pháp định nhưng đóng vai trò thứ hai sau đồng nội tệ trong việc chi trảtiền lương, thuế và các chi tiêu hàng ngày như tiền đi chợ, tiền điện, nước v.v.v.Không giống như các nước thực hiện đô-la hóa chính thức, những nước có đô-lahóa bán chính thức vẫn giữ một ngân hàng trung ương trong nước hoặc một hệthống tiền tệ khác và có một khu vực riêng để thực hiện chính sách tiền tệ củamình Có hơn 12 quốc gia có hiện tượng này, tiêu biểu như: Brunei, Tajikistan,Liberia, Lào, Campuchia

3 Đô-la hóa chính thức:

Đô-la hóa chính thức (hay còn gọi là đô-la hóa hoàn toàn) xảy ra khi đồngngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành Quá trình này diễn ra khichính phủ của một nước không phát hành nội tệ mà thay vào đó sử dụng đô-la Mỹhoặc một ngoại tệ khác như một tiền tệ chính thức (một số ít các nước đô-la hóachính thức có phát hành tiền xu nhưng vì tiền xu có mệnh giá thấp và thường làmột phần phụ trong cung tiền tệ nên có không ảnh hưởng đến đô-la hóa) Như vậy,

ở những nước này, ngoại tệ không chỉ sử dụng trong trao đổi mua bán giữa các cánhân mà còn là phương tiện thanh toán của chính phủ Thông thường các nước chỉ

áp dụng đô-la hóa chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chươngtrình ổn định kinh tế

Khi một nước thực hiện đô-la hóa chính thức thì mặc nhiên nó sẽ trở thành một

bộ phận trong khu vực tiền tệ thống nhất cùng với nước có đồng tiền mà nó đang

sử dụng Và như vậy, nước đô-la hóa chính thức sẽ từ bỏ chính sách tiền tệ độc lậpcủa mình và áp dụng những chính sách tiền tệ của nước mà nó đang sử dụng đồngtiền Vì vậy, nước thực hiện đô-la hóa chính thức sẽ không thể phản ứng lại những

cú sốc kinh tế bằng cách thay đổi chính sách tỉ giá hối đoái của nước mình Tuy

Trang 7

nhiên, nước này vẫn có thể sử dụng những phương cách khác như điều chỉnh dòngvốn vào/ra, thay đổi chính sách giá, chính sách kinh tế

Các quốc gia bị đô-la hóa đồng tiền đều không phát hành đồng nội tệ, trongkhi đó cũng có một số nước, chẳng hạn như Panama, phát hành đồng nội tệ như là

sự lựa chọn thứ 2 của mình

Các nước bị đô-la hóa không hoàn toàn và bán đô-la hóa, năm 2002

Đô-la hóa không chính thức (đồng đô-la Mỹ): hầu hết các nước Mỹ Latin và

Caribe, trong đó có : Argentina, Bolivia, Mexico, Peru, and Trung Mỹ; các nướcthuộc Liên Xô cũ, như : Armenia, Azerbaijan, Georgia, Russia, and Ukraine; 1 vài

nước khác, bao gồm : Mongolia, Mozambique, Romania, Turkey, and Vietnam Bán đô-la hóa (đồng đô-la Mỹ): Bahamas, Cambodia, Haiti, Laos (cũng có đồng

Thai baht), Liberia

Đô-la hóa không chính thức (các đồng tiền khác) : franc Pháp – vài thuộc địa cũ

của Pháp ở châu Phi; mark Đức – các nước vùng Balkan; đôla Hong Kong Macau và miền Nam Trung Quốc; rúp Nga - Belarus

-Bán đô-la hóa (các đồng tiền khác) : Bhutan (rupee Ấn Độ); Bosnia (German

mark, Croatian kuna, Yugoslav dinar); Brunei (dollar Singapore); Channel Islands,Isle of Man (bảng Anh); Lesotho (đồng rand Nam Phi); Luxembourg (franc Bỉ);Montenegro (German mark, Yugoslav dinar); Namibia (rand Nam Phi); Tajikistan(ruble Nga)

b)Tiêu chí về qui mô sử dụng ngoại tệ:

Đô la hóa toàn phần (đô la hóa chính thức), đô la hóa một phần và khôngchính thức thường phản ánh mong ước của người dân muốn đa dạng hóa tài sản đểđảm bảo tài sản của họ không bị mất giá khi có ảnh hưởng của nền kinh tế bất ổnđịnh, trì trệ, lạm phát cao

c)Dựa vào chức năng tiền tệ:

Đô la hóa thay thế tài sản là hình thức đồng đô la thay thế đồng ngoại tệ thực hiện một trong những chức năng cơ bản của tiền tệ là chức năng dự trữ giá trị, khi

đó không chỉ người dân mà còn cả doanh nghiệp cũng thực hiện chức năng này bằng cách mở tài khoản bằng ngoại tệ tại hệ thống ngân hàng

Khi một đồng tiền được dùng làm chức năng cất trữ thì yêu cầu đầu tiên thìđồng tiền đó phải ổn định về giá trị, ít có sự biến động các yếu tố bên ngoài Khi

đó thì tài sản tài chính bằng ngoại tệ được đảm bảo Do vậy các chủ thể trong nềnkinh tế thường qui đổi tài sản của mình theo đô la hóa khi có sự bất ổn kinh tế,biến động về kinh tế thì đồng nội tệ mất giá trị và sẽ ảnh hưởng đến giá trị của chủthể nắm giữ đồng nội tệ

Ngoài ra khi thực hiện đô la hóa thay thế tài sản thì các chủ thể này tín tưởngvào chính sách tiền tệ, chính sách phát triển kinh tế, ngân hàng trung ương, chínhphủ của nước in tiền

Đô la hóa thay thế thanh toán:

Trang 8

Điều dễ thấy là Đô la hóa thay thế thanh toán có nguồn gốc từ đô la hóa thaythế tài sản, căn cứ vào điều kiện tiên quyết trong thời đại hiện đại ngày nay thìmuốn thanh toán thông thường thì các chủ thể mở tài khoản thanh toán bằng ngoại

tệ và lúc này đây thì ngoại tệ đang thay thế đồng nội tệ thực hiện chức năng củatiền tệ

Điều kiện để đồng ngoại tệ thực hiện chức năng thay thế đồng ngoại tệ trongchức năng thanh toán thì đồng này thuộc quốc gia sản xuất nhiều hàng hóa có giátrị được người dân quốc gia đó ưa chuộng và nhiều quốc gia ưu dùng Ngoài ra còn

có những trường hợp đồng tiền của quốc gia không phải mạnh, lãi suất không caonhưng lại được các chủ thể trong nền kinh tế nắm giữ vì một lý do duy nhất là họ

có thể thanh toán hàng hóa mà họ cần như khi thanh toán hàng hóa bằng đồngngoại tệ tại các biên giới với các nước như Lào, Thái thì được gọi là Bath hóa; khithanh toán hàng hóa bằng ngoại tệ tại biên giới trung quốc gọi là Nhân dân tệ hóa.1.3 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HIỆN TƯỢNG ĐÔ-LA HÓA:

Thứ nhất, một số quốc gia quyết định đô-la hóa một phần là do đất nước

đang phải đối đầu với tỉ lệ lạm phát không thể kiểm soát nổi và phá giá đồng nội tệ

sẽ đe doạ toàn bộ nền kinh tế Những người đang có trong tay đồng nội tệ sẽ đòimột lãi suất rất cao để bù vào khoản trượt giá Ngân hàng trung ương sẽ tăng lãisuất để bảo vệ đồng nội tệ khỏi bị trượt giá quá nhanh Trong hoàn cảnh nghiêmtrọng như vậy, rất nhiều nhà kinh doanh sẽ vay bằng ngoại tệ để được lãi suất thấp.Việc người dân mất niềm tin vào đồng nội tệ và đổ xô mua đô-la sẽ làm cho đồngnội tệ càng mất giá hơn Bất chấp lãi suất cao, người dân vẫn giảm gửi tiền tiếtkiệm bằng nội tệ và nhiều nhà kinh doanh sẽ chuyển vốn của họ ra nước ngoài

Thứ hai, trong điều kiện của thế giới ngày nay, hầu hết các nước đều thực thi

cơ chế kinh tế thị trường mở cửa; quá trình quốc tế hóa giao lưu thương mại, đầu

tư và hợp tác kinh tế ngày càng tác động trực tiếp vào nền kinh tế và tiền tệ củamỗi nước, nên trong từng nước xuất hiện nhu cầu khách quan sử dụng đơn vị tiền

tệ thế giới để thực hiện một số chức năng của tiền tệ Đô-la hóa ở đây có khi là nhucầu, trở thành thói quen thông lệ ở các nước

Thứ ba, mức độ đô-la hóa ở mỗi nước khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát

triển nền kinh tế, trình độ dân trí và tâm lý người dân, trình độ phát triển của hệthống ngân hàng, chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý ngoại hối, khả năng chuyểnđổi của đồng tiền quốc gia Những yếu tố nói trên ở mức độ càng thấp thì quốc gia

đó sẽ có mức độ đô-la hóa càng cao

Ngoài ra, nguyên nhân gây gia tăng hiện tượng đô la hóa còn do các yếu tốchủ quan như: Điều hành chính sách tiền tệ thiếu đồng bộ; Chính sách quản lýngoại hối kém ; Điều hành chính sách kinh tế kém của chính phủ; Hệ thống thanhtoán yếu kém…

Nhìn chung, nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng đô-la hóa là do ngân hàng

trung ương đã không hoạt động có hiệu quả, do đó đô-la hóa dường như là phươngcách hiệu quả để giữ cho tiền tệ ổn định Thực tế cho thấy, ở những nước có đô-la

Trang 9

hóa hay đô-la hóa ở mức độ cao thì nhìn chung là ngân hàng trung ương hoạt độngkém hiệu quả hơn so với ngân hàng trung ương ở những nước không có đô-la hóahoặc đô-la hóa mức thấp: lạm phát cao hơn, quản lý ngoại hối chặt chẽ hơn, phágiá đồng tiền hơn và quốc hữu hóa tài sản của dân chúng nhiều hơn Có thể nóirằng, bất kỳ một nước nào có đồng tiền ít nhất là không hoạt động mạnh bằng đô-la

Mỹ thì có khả năng xảy ra đô-la hóa và đô-la hóa càng dễ dàng xuất hiện ở mộtnước khi lạm phát ở nước đó cao liên tục trong nhiều năm hoặc thực hiện chínhsách quản lý ngoại hối quá chặt chẽ

1.4 TÁC ĐỘNG CỦA HIỆN TƯỢNG ĐÔ-LA HÓA

1.4.1 Tác động tích cực

- Tạo một cái van giảm áp lực đối với nền kinh tế trong những thời kỳ lạmphát cao, bị mất cân đối và các điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định Do có mộtlượng lớn đô-la Mỹ trong hệ thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ chốnglại lạm phát và là phương tiện để mua hàng hóa ở thị trường phi chính thức

Ở các nước đô-la hóa chính thức, bằng việc sử dụng đồng ngoại tệ, sẽ giúp duytrì được tỷ lệ lạm phát gần với mức lạm phát thấp, làm tăng sự an toàn đối với tàisản tư nhân, khuyến khích tiết kiệm và cho vay dài hạn Hơn nữa, ở những nướcnày ngân hàng trung ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ralạm phát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ vào nguồn pháthành này để trang trải thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắtchặt Do vậy, các chương trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn

Lợi ích thứ hai đến từ việc hạ thấp lạm phát hiện hành và hạ thấp rủi ro của lạmphát trong tương lai Bằng việc sử dụng ngoại tệ, một nước đô-la hóa chính thứcbảo đảm tỷ lệ lạm phát của nó gần hơn tỷ lệ lạm phát của nước phát hành Sử dụngđô-la, euro, yên sẽ giảm lạm phát xuống một con số từ hai con số, mức mà nhữngnước đang phát triển hiện đang gặp phải Lạm phát ở mức thấp gia tăng sự an toàncủa sở hữu tư nhân Tiền là loại sở hữu phổ biến nhất Lạm phát là một loại thuếđánh vào tiền, lạm phát càng thấp và càng ít thay đổi, quyền sở hữu tiền càng bảođảm hơn Bởi vì những tài sản thuộc về tài chính khác được gọi bằng tiền (đơn vịtiền tệ), lạm phát ở mức thấp cũng gia tăng sự an toàn của chúng,khuyến khích tiếtkiệm và cho vay dài hạn Panama là quốc gia Mỹ Latin độc lập duy nhất hiện có tỷ

lệ thế chấp cho vay cố định trong 30 năm mà không có trợ cấp chính phủ bởi vì đó

là quốc gia duy nhất không chịu lạm phát cao và sự mất giá tiền tệ trong 15 nămcuối Lạm phát ỏ mức thấp cũng giúp những người nghỉ hưu, người có thu nhập cốđịnh,và những người quá nghèo có tài khoản ngân hàng bằng việc bảo đảm rằngtiền tiết kiệm của họ giữ được giá trị

- Tăng cường khả năng cho vay của ngân hàng và khả năng hội nhập quốc

tế Với một lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tại ngân hàng, các ngân hàng sẽ

có điều kiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việc phải vay nợnước ngoài, và tăng cường khả năng kiểm soát của ngân hàng trung ương đối vớiluồng ngoại tệ Đồng thời, các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động

Trang 10

đối ngoại, thúc đẩy quá trình hội nhập của thị trường trong nước với thị trườngquốc tế Đô-la hóa sẽ giúp cho một nước có lạm phát thấp và ít biến động và từ đó

sẽ giúp giảm được lãi suất thực do vậy sẽ góp phần thúc đẩy phát triển tín dụngtrung và dài hạn

- Hạ thấp chi phí giao dịch Ở những nước đô-la hóa chính thức, các chi phínhư chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiềnkhác được xoá bỏ Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết, cácngân hàng có thể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí kinh doanh Mộtnghiên cứu chỉ ra rằng ở Panama, đô-la hóa chính thức cho phép dự trữ ngân hàng

là 5% GDP,thấp hơn lượng dự trữ nếu Panama có nội tệ riêng

Đô-la hóa sẽ có thể giúp tạo ra đồng tiền có thể chuyển đổi hoàn toàn ởnhững nước mà tiền tệ chưa có khả năng chuyển đổi Khi đô-la hóa kết hợp vớimột hệ thống ngân hàng quốc tế hóa tức là hoà nhập vào thị trường tài chính thếgiới thì đô-la hóa sẽ giúp các nước chỉ cần dự trữ ngoại tệ thấp hơn các hệ thốngtiền tệ khác Không có rủi ro ngoại hối cũng sẽ giúp cho các ngân hàng hiện đangthiếu dự trữ có thể vay quỹ của thế giới với cùng một mức phí hoặc thấp hơn

- Thúc đẩy thương mại và đầu tư Các nước thực hiện đô-la hóa chính thức

có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ, khuyếnkhích tự do thương mại và đầu tư quốc tế Các nền kinh tế đô-la hóa có thể được,chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách giảm xuống

và thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư Đô-la hóa sẽ giúp thu hút đầu tư nước ngoài,một khi họ biết là giá trị tài sản quy ra tiền của họ sẽ không thay đổi, những điềunày sẽ đưa đến tốc độ phát triển nhanh và đầu tư tăng Về mặt tâm lý, đô-la hóa sẽlàm giảm các nỗi lo về nền kinh tế

- Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phi chính thức Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ để chuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị trường chính thức (thị trường hợp pháp)

1.4.2 Tác động tiêu cực

Đô-la hóa có thể gây ra hàng loạt các bất lợi và những hệ lụy phức tạp màcác nước có đô-la hóa sẽ phải đối mặt Đô-la hóa dù là không chính thức sẽ làmsuy giảm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về tiền tệ, gây khó khăn cho ngân hàngtrung ương trong việc điều hành và thực thi chính sách tiền tệ của mình thông quaviệc hạn chế và có thể “vô hiệu hóa” vai trò của lãi suất đồng nội tệ, tỉ giá hối đoái,đặc quyền phát hành tiền của ngân hàng trung ương đồng thời cũng sẽ khiến chongân hàng trung ương “đánh mất” vai trò là người cho vay sau cùng Ở phươngdiện này có thể coi đô-la hóa là một cuộc tấn công tiền tệ

- Đô-la hóa ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô.Trong một nền kinh tế có tỷ trọng ngoại tệ lớn, việc hoạch định các chính sáchkinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ sẽ bị mất tính độc lập mà chịu nhiều

Trang 11

ảnh hưởng bởi diễn biến kinh tế quốc tế, nhất là khi xẩy ra các cuộc khủng hoảngkinh tế.

- Làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ :

• Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán,

do đó dẫn đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền tronglưu thông kém chính xác và kịp thời

• Làm cho đồng nội tệ nhậy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do

đó những cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tếthông qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả

• Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá Đô-la hóa cóthể thực thi chính sách tỷ giá Đô-la hóa có thể làm cho cầu tiền trong nước không

ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đô-la Mỹ, làm chocầu của đồng đô-la Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá Khi các đối thủ cạnhtranh trên thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền, thì quốc gia bị đô la hóa

sẽ không còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu thông quaviệc điều chỉnh lại tỷ giá hối đoái

• Ở trong các nước đô-la hóa không chính thức, nhu cầu về nội tệ không

ổn định Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ

có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát Khi người dângiữ một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trongnước hay nước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồngtiền khác (hoạt động đầu cơ tỷ giá) Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho ngânhàng trung ương trong việc đặt mục tiêu cung tiền trong nước và có thể gây ranhững bất ổn định trong hệ thống ngân hàng

• Trường hợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu khi có biến độnglàm cho người dân đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi số ngoại tệ này đã được ngânhàng cho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn, khi đó ngân hàng nhà nước của nước bịđô-la hóa cũng không thể hỗ trợ được vì không có chức năng phát hành đô-la Mỹ

- Chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước Mỹ Trong trường hợpđô-la hóa chính thức, chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất của đồng tiền khi đó

sẽ do nước Mỹ quyết định Trong khi các nước đang phát triển và một nước pháttriển như Mỹ không có chu kỳ tăng trưởng kinh tế giống nhau, sự khác biệt về chu

kỳ tăng trưởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế khác nhau đòi hỏi phải có nhữngchính sách tiền tệ khác nhau Khi và nếu đồng đô-la dao động so với các đồng tiềnkhác trên thế giới đôi lúc khá mạnh, thì sẽ không có cách nào để đối phó với nhữngcuộc khủng hoảng Vì nước thực hiện đô-la hóa hoàn toàn trao quyền kiểm soát vàquyền đưa ra một chính sách tiền tệ tập trung và độc lập cho ngân hàng trung ươngcủa nước phát hành tiền Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sẽ chỉ đưa ra những quyết định

có lợi cho Mỹ và không quan tâm mấy đến tình hình ở các nước thực hiện đô-lahóa Cũng từ nguyên nhân trên, nước thực hiện đô-la hóa sẽ không thể đối phó vớicác cú sốc kinh tế; ví dụ như dao động của giá dầu trên thị trường thế giới, bằng

Trang 12

cách thay đổi tỉ giá hối đoái Đô-la hóa sẽ vô hiệu hóa phương thức sử dụng chínhsách tỉ giá hối đoái Các cú sốc ngoại biên, dao động của đồng đô-la chỉ là mộttrong số đó, sẽ không thể được đồng nội tệ hấp thụ bớt mà sẽ được truyền thẳngvào các hoạt động kinh tế

- Đô-la hóa chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương

là người cho vay cuối cùng của các ngân hàng Trong các nước đang phát triểnchưa bị đô-la hóa hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, song ngườidân vẫn tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại các ngânhàng Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với các khoảntiền này Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chứ không thể ápdụng được đối với đô-la Mỹ Đối với vác nước đô-la hóa hoàn toàn, khu vực ngânhàng sẽ trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng thương mại bị phá sản và

sẽ phải đóng cửa khi chức năng người cho vay cuối cùng của ngân hàng trungương đã bị mất

Bên cạnh đó, xét về khía cạnh chi phí thì khi xảy ra đô-la hóa, chính phủ sẽ

mất đi chênh lệch giá phí tức là khoản chênh lệch giữa chi phí khi đưa đồng tiền

vào lưu thông và giá trị hàng hóa mà đồng tiền đó mua được (ở đây, khái niệm

chênh lệch giá phí áp dụng cho toàn bộ cơ số tiền đang lưu hành cộng với dự trữngân hàng) Nghiên cứu của Stanley Fischer, Phó giám đốc điều hành của IMF vàonăm 1982 đã chia chênh lệch giá phí từ đô-la hóa ra làm hai phần là “stock cost” và

“flow cost” Theo Fischer, “stock cost” là chi phí một lần ban đầu khi đưa một

lượng tiền giấy, tiền xu đô-la cần thiết để thay cho đồng nội tệ đang lưu hành vàFischer ước tính chi phí này chiếm khoảng 8% GNP với nhận định rằng càng nhiềungười thích sử dụng tiền giấy và tiền xu nhiều hơn séc và thẻ tín dụng thì “stock

cost” càng cao Còn “flow cost” là chi phí liên tục mất đi do tiền giấy và tiền xu

không sinh lãi và tỉ lệ lạm phát càng cao thì “flow cost” càng cao với ước tínhkhoảng 0,75% đến 1% GNP mỗi năm Ngoài ra, nước thực hiện đô-la hóa còn phảichịu các chi phí khác như chi phí cho một lần chuyển đổi giá cả, thay đổi chươngtrình máy tính, thay thế hệ thống máy bán hàng tự động, máy rút tiền và cả nhữngchi phí do đánh mất sự độc lập và linh động trong chính sách tiền tệ khi phải bóbuộc với chính sách tiền tệ của nước có đồng tiền sử dụng trong thời kỳ giá cả tăngvọt

Ngoài việc đánh mất khả năng in tiền, là một trong những biện pháp tài chínhcực kỳ quan trọng, nước thực hiện đô-la hóa sẽ mất ưu quyền tiền tệ Về cơ bản ưuquyền tiền tệ là lợi nhuận thu được từ việc phát hành tiền Đây là một hình thứckinh doanh rất có lãi, vì giá in tiền và phát hành tiền (thật ra chỉ là một mảnh giấykhông có giá trị) thấp hơn rất nhiều so với giá trị những mặt hàng mà mảnh giấynày sẽ mua được Chính phủ Mỹ thu được khoảng 25 tỉ USD/năm từ ưu quyền tiền

tệ, và khi người dân các nước khác giữ tờ đô-la Mỹ trong tay- họ đã góp phần làmgiàu cho Bộ Tài chính Mỹ

Trang 13

Một nhược điểm nữa của đô-la hóa là lo sợ tiền giả Rủi ro về chính trị cũng

có thể xảy ra Khi El Salvador tiến hành đô-la hóa, Đảng đối lập gọi đó là hànhđộng bán mình cho đế quốc Thuyết phục người dân bản xứ sử dụng một loại tiềnkhông quen thuộc cũng không phải dễ Một trong những khó khăn Argentina gặpphải khi quyết định đô-la hóa sẽ là văn hóa: đô-la hóa có thể được coi là thua chủnghĩa thực dân, là dâng nộp biểu tượng niềm tự hào của đất nước

Phần 2

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VỀ TÌNH TRẠNG ĐÔ-LA

HÓA Ở VIỆT NAM

Do đặc thù của cơ chế quản lý và biến động của kinh tế thế giới có ảnh hưởngđến Việt Nam, việc đánh giá tính chuyển đổi của VND và mức độ Đô-la hóa sẽchia thành ba giai đoạn

2.1 GIAI ĐOẠN TRƯỚC KHI MỞ CỬA (1988)

Việt Nam thực hiện cơ chế quản lý tập trung bao cấp Nhà nước nắm độc quyền

về ngoại thương, ngoại hối Quy mô nền kinh tế nhỏ, khả năng cạnh tranh của hànghóa, dịch vụ rất thấp, kinh tế đối ngoại kém phát triển, hệ thống ngân hàng còn sơkhai Điều lệ quản lý ngoại hối ban hành kèm theo Nghị định số 102/CP ngày 06tháng 7 năm 1963 của Chính phủ nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân sở hữu, sửdụng ngoại tệ trong nước (kể cả việc cất trữ, mang theo người), mọi giao dịchtrong nước phải thực hiện bằng VND Việc chuyển đổi VND sang ngoại tệ đượcthực hiện theo kế hoạch với cơ chế đa tỷ giá (tỷ giá mậu dịch, tỷ giá phi mậu dịch)

do Nhà nước công bố Xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế chủ yếu theo các Hiệpđịnh song biên - đa biên, đồng tiền sử dụng trong quan hệ thanh toán đối ngoạithường là đồng Rúp chuyển nhượng và đồng Nhân dân tệ mậu dịch Vì vậy, khảnăng chuyển đổi của VND rất hạn chế Về cuối giai đoạn xuất hiện dấu hiệu củakhủng hoảng kinh tế, VND suy yếu mạnh sau thất bại của chính sách giá - lương -tiền, lạm phát tới 3 con số và liên tục có các đợt tăng giá vàng Trong dân cư xuấthiện việc mua vàng, ngoại tệ để tích trữ, đầu cơ giá và sử dụng làm phương tiện

Trang 14

thanh toán Tuy nhiên mức độ ĐLH là không đáng kể do độ mở của nền kinh tếcòn rất nhỏ.

2.2 GIAI ĐOẠN BẮT ĐẦU MỞ CỬA ĐẾN TRƯỚC KHỦNG HOÀNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ KHU VỰC (1988 - 1997)

2.2.1 Tính chuyển đổi của VND

Tính chuyển đổi của VND đã được nâng cao đáng kể so với giai đoạn trước do

vị thế của VND được phục hồi, chính sách quản lý ngoại hối có sự nới lỏng hơn vàkhả năng đáp ứng ngoại tệ được cải thiện một bước

Việt Nam chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Nhà nước dần xoá bỏ chế độ độc quyền ngoại thương, đồng thời ban hànhnhiều chính sách để thúc đẩy kinh tế phát triển và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.Kinh tế tăng trưởng cao và khá ổn định, trung bình gần 8%/năm, lạm phát đượckiểm soát ở mức trên dưới 10%, kinh tế đối ngoại phát triển mạnh ở cả xuất nhậpkhẩu, đầu tư và vay nợ nước ngoài Cùng với thắng lợi trong việc kiềm chế lạmphát, sự phát triển của hệ thống ngân hàng hai cấp đã khôi phục dần vị thế củaVND Hình thành Trung tâm giao dịch ngoại tệ và sau đó là Thị trường ngoại tệliên ngân hàng Hệ thống thanh toán bắt đầu phát triển, VND được hỗ trợ bởi cácngân phiếu thanh toán có mệnh giá lớn làm cho việc sử dụng thuận tiện hơn Trongđiều kiện tỷ giá tương đối ổn định, lạm phát đã được kiềm chế nên mức lãi suất caolàm cho VND trở nên khá hấp dẫn

Trong giai đoạn này, Nghị định số 161-HĐBT ngày 18 tháng 10 năm 1988 củaHội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ quản lý ngoại hối của nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam được ban hành thay thế Nghị định số 102/CP ngày 06 tháng

07 năm 1963 của Chính phủ về Điều lệ quản lý ngoại hối với nội dung mọi hoạtđộng liên quan đến ngoại hối phải được quản lý bởi NHNN và Ngân hàng Ngoạithương Việt Nam là ngân hàng được phép kinh doanh ngoại hối; những Ngân hàngchuyên doanh, liên doanh với nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, và tất

cả các tổ chức kinh tế khác muốn kinh doanh ngoại hối và thực hiện thu đổi ngoại

tệ phải được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngày 14/01/1991 NHNNban hành quyết định số 08/NH/QĐ cho phép mọi thành phần trong nền kinh tế cóthể gửi tiết kiệm tại bất cứ các tổ chức tín dụng nào được phép kinh doanh ngoại tệ

mà không cần biết nguồn gốc của ngoại tệ Ngày 16/08/1991 NHNN ra quyết định

số 107/NH/QĐ về việc ban hành quy chế tổ chức cách thức hoạt động của trungtâm giao dịch ngoại tệ, NHNN đã ra quyết định này nhằm mục đích thể hiện đượcvai trò của thị trường ngoại hối trong nền kinh tế, sự quản lý của Ngân hàng Nhànước trong quản lý ngoại hối và từng bước hình thành thị trường ngoại tệ liên ngânhàng và quyết định số 48/QĐ-NH7 cho phép mọi thành phần kinh tế được gửi tiếtkiệm bằng ngoại tệ và có thể rút ra bằng ngoại tệ hoặc VND

- Giao dịch vãng lai: tổ chức được mua ngoại tệ để thanh toán nhập khẩu, trả lãikhoản vay nước ngoài hoặc chuyển lợi nhuận về nước của Nhà đầu tư nước ngoàitheo tỷ giá giao dịch của Ngân hàng Kiều hối được khuyến khích chuyển ngoại tệ

Trang 15

về, được gửi vào ngân hàng và được rút ra bằng ngoại tệ Công dân Việt Nam khi

có nhu cầu về ngoại tệ để đi công tác, học tập, lao động, du lịch chữa bệnh ở nướcngoài được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xem xét cấp phép cho mua số ngoại tệcần thiết

- Giao dịch vốn: tổ chức kinh tế được vay nước ngoài và mua ngoại tệ để trả nợnước ngoài Nhà đầu tư nước ngoài được phép mua ngoại tệ trong một số trườnghợp đặc biệt (xây dựng hạ tầng hoặc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu) Tuy nhiên,còn nhiều hạn chế như: nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện chế độ tự cân đốingoại tệ, việc tiếp cận ngoại tệ phải có giấy phép của NHNN, vay nợ nước ngoàiphải được sự chấp thuận của NHNN, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không đượcvay ngoại tệ của ngân hàng

- Khả năng đáp ứng ngoại tệ: khả năng đáp ứng ngoại tệ của Hệ thống Ngânhàng được cải thiện hơn do xuất khẩu tăng và nguồn vốn dài hạn nước ngoài vàonhiều qua vay nợ và đầu tư trực tiếp Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bắt đầuphát huy tác dụng Tỷ giá chính thức vẫn do NHNN công bố nhưng linh hoạt hơn

do đã áp dụng biên độ tỷ giá Về cuối giai đoạn, khi khu vực bị khủng hoảng, vay

nợ và đầu tư nước ngoài giảm mạnh thì cung - cầu ngoại tệ mất cân đối nghiêmtrọng Mặt khác, do cơ chế tỷ giá còn thiếu linh hoạt, thị trường ngoại tệ kém pháttriển, công cụ thị trường còn hạn chế làm chu chuyển ngoại tệ trong nền kinh tế bịách tắc, khó mua được ngoại tệ nên các tổ chức kinh tế và ngân hàng cũng có xuhướng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ

2.2.2 Mức độ đô-la hóa

Nhìn chung mức độ ĐLH có xu hướng giảm mạnh Năm 1991, tỷ lệ FCD/M2lên đến 41,2%, việc thanh toán bằng ngoại tệ hợp pháp và bất hợp pháp tương đốinhiều, việc định giá bằng ngoại tệ và vàng (kể cả đối với các giao dịch nhỏ) trongdân cư khá phổ biến Nguyên nhân do ảnh hưởng của lạm phát phi mã giai đoạntrước (đến năm 1991 lạm phát vẫn còn tới 67,5 %) Người dân ưa thích sử dụngngoại tệ còn do lợi ích thực tế của việc sử dụng trong cất trữ, vận chuyển, thanhtoán vì mệnh giá VND quá nhỏ, hệ thống thanh toán lại kém phát triển Đến giaiđoạn 1993 -1996, khi lạm phát chỉ ở mức trên dưới 10%, tỷ giá biến động ít, việcnắm giữ VND đã tỏ ra có lợi hơn nên mức độ ĐLH giảm mạnh, tỷ lệ FCD/M2 năm

1997 còn 22,9% Đồng thời, Chính phủ cũng bắt đầu hạn chế việc thanh toán bằngngoại tệ, xoá bỏ các điểm bán hàng thu ngoại tệ, tăng cường các bàn đổi ngoại tệ.Tuy nhiên, thị trường ngoại tệ tự do, yết giá và thanh toán ngoại tệ trong dân cưvẫn chưa kiểm soát được do thói quen và các hoạt động kinh tế ngầm, do sự bấttiện khi sử dụng VND vẫn chưa được giải quyết cơ bản Các hoạt động ngoại hốitrái phép tồn tại chủ yếu bởi chưa được xử lý một cách kiên quyết do thiếu chế tài,thiếu sự phối hợp của các cơ quan quản lý

Bảng 2.2.2.1 : Tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng lượng tiền gửi vào các ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 1989-1997

Đơn vị tính : %

Trang 16

Năm 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997

Tỷ lệ

FCD/M2

28,2 32,4 41,2 30,6 22,9 22,1 21 20,3 22,9

‘Nguồn : IMF : Staff Country Report No.00/116’

Bảng 2.2.2.2: Cơ cấu tiền gửi trong tổng huy động vốn của hệ thống ngân hàng từ 1991-1997

Đơn vị tính: %

Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997Ngoại

tệ

61,8 50,3 41,1 38,9 33 31,4 33,1

VND 38,2 49,7 58,9 61,1 67 68,6 66,9 ‘Nguồn : IMF : Staff Country Report No.00/116’

2.3 GIAI ĐOẠN TỪ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ KHU VỰC ĐẾN NAY

Việc đánh giá khả năng chuyển đổi của VND và mức độ ĐLH trong giai đoạnnày được chia thành 2 giai đoạn nhỏ hơn, đó là thời gian nền kinh tế chịu ảnhhưởng của khủng hoảng và thời gian phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng

2.3.1 Từ 1998 đến 2001

a) Tính chuyển đổi của VND

Vị thế của VND tiếp tục được cải thiện tuy có bị ảnh hưởng của khủng hoảngkhu vực Xét theo quy định về quản lý ngoại hối và cơ chế tỷ giá thì khả năngchuyển đổi của VND có bước nâng cao so với giai đoạn trước Tuy nhiên, khảnăng đáp ứng ngoại tệ trên thực tế có những hạn chế nhất định do cơ chế tỷ giá vẫncòn thiếu linh hoạt, khó dự đoán, do chu chuyển ngoại tệ trong nền kinh tế còn bịách tắc

Do khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực, mức tăng GDP của Việt Nam giảmmạnh, trung bình chỉ còn 6%/năm Năm 1998, lạm phát lên đến 9,2% (so với mức3,6% năm 1997), sau đó rơi vào giảm phát mà thấp nhất vào năm 2000 (-0,6%).Trong giai đoạn này, tăng trưởng xuất nhập khẩu cũng biến động với mức độ lớn,đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) suy giảm mạnh và vay nợ nước ngoài gặp khókhăn

Nhà nước đã áp dụng một số biện pháp tích cực như đẩy mạnh tự do hóa thươngmại, cải tổ chính sách thuế, ban hành các Luật quan trọng như Luật Doanh nghiệp,Luật Thương mại Chính phủ đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tạo mọi điềukiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển, đồng thời thực hiện việc đổi mới,

cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh đểnâng cao năng lực cạnh tranh sau khi ký Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ Hệthống ngân hàng tiếp tục được củng cố sau khi ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước

Trang 17

và Luật Các Tổ chức tín dụng Tiến hành việc sắp xếp, cơ cấu lại các NHTM cổphần và chuẩn bị các phương án củng cố NHTM Nhà nước Hình thành thị trườngchứng khóan với quy định cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường.

Để hạn chế tác động tiêu cực của khủng hoảng và tiếp tục mở rộng hội nhậpkinh tế quốc tế, ngày 17 tháng 8 năm 1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số63/1998/NĐ-CP về quản lý ngoại hối cùng với một loạt các văn bản quy phạmpháp luật khác có liên quan đến quản lý ngoại hối Các chính sách mới được banhành là một tiến bộ về cơ chế quản lý ngoại hối theo hướng chuyên nghiệp và phùhợp hơn với thông lệ quốc tế

- Giao dịch vãng lai: hình thành cơ bản xu hướng tự do hóa các giao dịch vãnglai so với quy định của IMF Chỉ còn một số hạn chế liên quan đến thuế chuyển lợinhuận ra nước ngoài của doanh nghiệp FDI, hạn chế chuyển ngoại tệ ra nước ngoàicủa các cá nhân

- Giao dịch vốn: có một số nới lỏng hơn về kiểm soát vay ngắn hạn nước ngoài

và điều kiện vay nợ nước ngoài, các doanh nghiệp được quyền tự chủ trong việcthoả thuận, ký kết hợp đồng vay vốn nước ngoài, sau đó phải thực hiện đăng kýkhoản vay với NHNN (trừ trường hợp là doanh nghiệp nhà nước) Xoá bỏ chế độ

tự cân đối ngoại tệ đối với doanh nghiệp FDI

- Khả năng đáp ứng ngoại tệ: do ảnh hưởng của khủng hoảng và tình trạng đầu

cơ, găm giữ ngoại tệ nên khả năng đáp ứng ngoại tệ của hệ thống ngân hàng gặpkhó khăn Để điều hoà cung - cầu, Chính phủ đã phải áp dụng chế độ kết hối ngoại

tệ với tỷ lệ rất cao, đồng thời phải áp dụng một số hình thức ưu tiên bán ngoại tệ,giấy phép mua ngoại tệ đối với doanh nghiệp FDI Trong thời gian này, tỷ giá hốiđoái của VND có biến động do ảnh hưởng của khủng hoảng

b) Mức độ Đô-la hóa

Sau một thời gian giữ ổn định ở mức tương đối thấp khoảng trên 20%, tỷ lệFCD/M2 lại có dấu hiệu tăng lên trong giai đoạn này và đến năm 2000 - 2001 đãtăng cao trở lại đến gần 30% Nguyên nhân là trong suốt một thời gian dài, kinh tế

Mỹ tăng trưởng cao và ổn định làm cho đồng USD hấp dẫn hơn các ngoại tệ khác.Mặt khác, các chính sách mới ban hành đã tạo sự tin tưởng của người dân, thu hútđược một lượng lớn ngoại tệ từ thị trường tự do vào hệ thống ngân hàng Tâm lýĐLH trong giai đoạn này cũng một phần do tác động của khủng hoảng và kỳ vọngcủa thị trường vào sự phá giá của VND

2.3.2 Từ 2002 đến nay :

a) Tính chuyển đổi của VND

Vị thế của VND được cải thiện mạnh mẽ qua sự đổi mới về mệnh giá, hìnhthức của đồng tiền, sự phát triển của hệ thống Tổ chức tín dụng (TCTD) với nhiềutiện ích và hệ thống thanh toán hiện đại Điều hành Chính sách tiền tệ đã có sự thayđổi về chất và quy định quản lý ngoại hối tiếp tục được nới lỏng Về cơ bản, cácgiao dịch vãng lai và một phần giao dịch vốn đã tự do hóa Khả năng đáp ứng

Trang 18

ngoại tệ tiếp tục được cải thiện, nhìn chung đã đáp ứng tương đối đầy đủ các giaodịch được phép

Kinh tế phục hồi và bắt đầu lấy lại đà tăng trưởng với tốc độ trên 7%/năm,kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên đạt gần 60 tỷ USD vào năm 2004 Đầu tư

và vay nợ nước ngoài cũng tăng mạnh do sự nỗ lực của Chính phủ trong việc cảithiện môi trường đầu tư Tuy nhiên, lạm phát đột ngột tăng cao trở lại với mức9,5% năm 2004 do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là thiên tai, dịch cúm gia cầm vàgiá nguyên, nhiên liệu trên thế giới tăng

Đây là thời kỳ Nhà nước đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và thựchiện lộ trình hội nhập quốc tế, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quantrọng như Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi, Luật Cạnh tranh, xây dựng Luật Đầu tưchung để chuẩn bị cho việc gia nhập WTO

Với sự biến đổi nhanh của nền kinh tế, Nghị định số 63/1998/NĐ-CP cũngnhư các văn bản khác liên quan đến quản lý ngoại hối đã tỏ ra bất cập cần phải bổsung, sửa đổi Đồng thời, để tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý ngoại hối theomột định hướng dài hạn hơn, Quốc hội đã chỉ đạo xây dựng và ban hành Pháp lệnhngoại hối Bên cạnh đó một số văn bản điều chỉnh chính sách quản lý ngoại hối đãđược bổ sung nhằm phát triển thị trường ngoại hối qua việc hoàn thiện các công cụphái sinh để tạo điều kiện tiến đến một cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn

- Giao dịch vãng lai: để thực hiện kế hoạch gia nhập WTO, Việt Nam đã thựchiện tự do hóa giao dịch vãng lai và điều này đã được IMF công nhận

- Giao dịch vốn: đã bỏ quy định về thời hạn chuyển ngoại tệ sau 01 năm đối vớiđầu tư chứng khóan Giao dịch vốn còn những hạn chế sau:

+ Doanh nghiệp nhà nước vay nước ngoài phải có ý kiến của NHNN trước khi

ký Hợp đồng vay

+ Doanh nghiệp FDI vẫn còn danh mục ưu tiên cân đối ngoại tệ

+ Còn hạn chế tỷ lệ góp vốn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài + Chưa có quy định về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài

+ Đầu tư của nước ngoài vào thị trường chứng khóan còn bị hạn chế về tỷ lệmua và tỷ lệ nắm giữ

+ Góp vốn mua cổ phần của Nhà đầu tư nước ngoài còn bị hạn chế

+ Còn hạn chế các hình thức vay nước ngoài

- Khả năng đáp ứng ngoại tệ: quan hệ cung cầu ngoại tệ có sự cải thiện đáng kể

do cơ chế tỷ giá đã có sự thay đổi cơ bản Tuy NHNN vẫn công bố tỷ giá bìnhquân thị trường ngoại tệ liên ngân hàng nhưng biên độ đã nới rộng ra +/- 0,5%.Đồng thời đã mở rộng thời gian của giao dịch kỳ hạn (từ 3 ngày đến 365 ngày), bỏcác trần kỳ hạn cố định để xác định tỷ giá kỳ hạn theo mức chênh lệch lãi suất giữahai đồng tiền Đặc biệt, NHNN đã cho áp dụng thí điểm giao dịch quyền chọn vớimức phí theo thoả thuận Với những quy định hiện hành, tỷ giá đã phản ánh tươngđối sát với quan hệ cung - cầu ngoại tệ trên thị trường cũng như kỳ vọng về giá trịđối ngoại của VND Tuy đến nay chưa có một khiếu nại nào đối với việc không

Trang 19

mua được ngoại tệ để đáp ứng các giao dịch vãng lai và giao dịch vốn theo quyđịnh nhưng thực tế khả năng đáp ứng ngoại tệ của các NHTM không cao qua việcnhiều Dự án FDI vẫn yêu cầu được Chính phủ đảm bảo cân đối ngoại tệ, vẫn tồntại chế độ ưu tiên bán ngoại tệ để nhập khẩu xăng dầu Hơn nữa, lạm phát cao vànhập siêu gia tăng trong khi Dự trữ ngoại hối Nhà nước còn hạn chế là những vấn

đề đang và tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến tính chuyển đổi của VND

b) Mức độ Đô la hóa

Tỷ lệ FCD/M2 liên tục giảm trong những năm gần đây, đến năm 2003 còn23,6% Thanh toán và kinh doanh ngoại tệ vẫn tiếp tục phát triển Theo kết quảkhảo sát năm 2002 của Đề tài nghiên cứu khoa học ngành Ngân hàng, hoạt độngcủa thị trường ngoại tệ tự do có quy mô từ 4 - 6 tỷ USD/năm, tương đương 1/3 kimngạch nhập khẩu năm đó; theo nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, số ngoại tệ trôinổi ngoài thị trường tự do ước khoảng 5 tỷ USD Đô-la hóa trong niêm yết, địnhgiá bằng ngoại tệ còn phổ biến Đến năm 2004 khi lạm phát ở mức 9,5% và lãi suấtUSD trên thế giới tăng, chênh lệch lãi suất giữa VND và ngoại tệ trong nước giảmthì tỷ lệ FCD/M2 đang có biểu hiện gia tăng trở lại, đạt gần 24%

Bảng 2 Các nước giao thương chính của Việt Nam

Trang 20

Biểu đồ 1 Tỉ lệ lạm phát hàng năm của VN

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÍNH CHUYỂN ĐỔI CỦA VND VÀ MỨC ĐỘ ĐÔ-LA HÓA

2.4.1 Tính chuyển đổi của VND

So sánh với các giai đoạn trước, tính chuyển đổi trong nước của VND đã tăngrất nhiều do vị thế của VND liên tục được nâng lên, chính sách quản lý ngoại hối

đã thực hiện tự do hóa các giao dịch vãng lai và tiếp tục tự do hóa có chọn lọc cácgiao dịch vốn Khả năng đáp ứng ngoại tệ của hệ thống ngân hàng cũng liên tụcđược cải thiện qua việc đổi mới cơ chế tỷ giá và sự phát triển, hoàn thiện các công

cụ phái sinh trên thị trường ngoại tệ Tuy nhiên, căn cứ vào trình độ phát triển củanền kinh tế, mức độ ĐLH, trình độ của Hệ thống Ngân hàng, dịch vụ thanh toán,quy mô và hiệu quả hoạt động của các thị trường tài chính, sự bất tiện trong sửdụng, và đặc biệt sự gia tăng của chỉ số lạm phát thì có thể nói rằng, vị thế củaVND chưa cao, chưa được thị trường thực sự tin tưởng và ưa thích; về tính chuyểnđổi quốc tế thì VND hầu như vẫn chưa có khả năng chuyển đổi ở nước ngoài Bêncạnh đó, chính sách quản lý ngoại hối vẫn còn nhiều hạn chế, cơ chế tỷ giá cònthiếu linh hoạt, thị trường ngoại tệ (nhất là thị trường ngoại tệ liên ngân hàng) cònkém phát triển, chu chuyển ngoại tệ chưa thông suốt làm giảm khả năng đáp ứngngoại tệ Các yếu tố trên đã hạn chế tính chuyển đổi của VND

Ngày đăng: 30/12/2013, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Lê Văn Hải (2005), “Tình trạng Đô la hóa ở Việt Nam và những biện pháp cần khắc phục”, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng số tháng 03/2005, tr.36-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng Đô la hóa ở Việt Nam và những biệnpháp cần khắc phục
Tác giả: Lê Văn Hải
Năm: 2005
9. Hoàng Công Gia Khánh (2008) , “Đô la hóa và các vấn đề liên quan”, cập nhật ngày 09/05/2008, tại http://sinhviennganhang.com/diendan/archive/index.php /t-7879.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô la hóa và các vấn đề liên quan
10. Thủy Triều (2009), “Xu hướng tiền gửi ngoại tệ mạnh”, cập nhật ngày 19/01/2009, tại http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/ ngan hang/14530 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng tiền gửi ngoại tệ mạnh
Tác giả: Thủy Triều
Năm: 2009
1. Pháp lệnh Quản lý ngoại hối số 28/2005/PLUBTVQH11 ban hành ngày 13/12/2005 Khác
2. Chính Phủ, Nghị định số 63/1998/NĐ-CP về Quản lý ngoại hối ban hành ngày 7/8/1999 Khác
3. Chính phủ, Nghị định số 131/NĐ-CP về Quản lý ngoại hối ban hành ngày 18/10/2005 Khác
4. Hội đồng Chính phủ, Nghị định số 102/CP về Quản lý ngoại hối nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành ngày 6/7/1963 Khác
5. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 37/1998/QĐ-TTg về một số biện pháp quản lý ngoại tệ ban hμnh ngμy 14/02/1998 Khác
6. Hội đồng Bộ trưởng, Nghị dịnh số 161/HĐBT về quản lý ngoại hối ban hành ngày 18/10/1988 Khác
7. Lê Phan Thị Diệu Thảo (2002), Biện pháp góp phần nâng cao và hiệu quả quản lý ngoại hối ở Việt Nam, luận án tiến sĩ Khác
11.Tổng hợp tài liệu từ Website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:Sbv.gov.vn Khác
12.Tài liệu tổng hợp từ Website Tổng cục Thống kê: Gso.gov.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN CễNG CễNG VIỆC NHểM 7BẢNG PHÂN CễNG CễNG VIỆC NHểM 7 - ĐỀ tài DOLLAR hóa nền KINH tế
7 BẢNG PHÂN CễNG CễNG VIỆC NHểM 7 (Trang 2)
Bảng 2.2.2.2: Cơ cấu tiền gửi trong tổng huy động vốn của hệ thống ngân hàng từ 1991-1997 - ĐỀ tài DOLLAR hóa nền KINH tế
Bảng 2.2.2.2 Cơ cấu tiền gửi trong tổng huy động vốn của hệ thống ngân hàng từ 1991-1997 (Trang 16)
Bảng 2  Các nước giao thương chính của Việt Nam - ĐỀ tài DOLLAR hóa nền KINH tế
Bảng 2 Các nước giao thương chính của Việt Nam (Trang 19)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w