Từ năm 1986, nền kinh tế nước ta bắtđầu đổi mới, với đường lối chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấpsang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XH
Trang 1Đề tài Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định
hướng Xã hội chủ nghĩa
Trang 2Mục Lục
Trang 3Đây là một đề tài với nguồn kiến thức khá lớn, giúp chúng em có thể nắmbắt được những thông tin bổ ích về phát triển kinh tế thị trường của nước ta.Nâng cao được tầm hiểu biết hạn hẹp của chúng em Đối với những sinh viênnhư chúng em thì tiểu luận là một bài nghiên cứu thực sự to lớn giúp rèn luyệntính cần cù, ham học hỏi và cả sự sáng tạo Nó sẽ là tài liệu hữu ích cho quátrình học tập cũng như làm việc sau này không chỉ của bản thân em mà còn cảbạn bè, đồng nghiệp mỗi khi cần thiết.
Chúng em xin chân thành cảm ơn chân thành đến thầy Đổ Minh Nhật viên
tổ lí luận chính trị Trường CĐSP Sóc Trăng, Người đã trực tiếp tạo điều kiện tốtnhất để chúng em có thể hoàn thành tốt nội dung của đề tài Đồng thời qua đóchúng em cũng rút ra được bài học kinh nghiệm để hoàn thiện hơn các đề tàitiếp theo
Trong bài tiểu luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, chúng emmong nhận được sự đóng góp ý kiến của Thầy để giúp chúng em hoàn thiện kiếnthức về đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn !
Trang 4PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề “Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở ViệtNam” là một vấn đề đang được quan tâm Từ năm 1986, nền kinh tế nước ta bắtđầu đổi mới, với đường lối chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấpsang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (tháng 2-1986) đã đề ra đường lối đổimới toàn diện cho đất nước, đặt viên gạch đầu tiên cho sự phát triển Trong đóvai trò chủ đạo, dẫn dắt, điều tiết nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần củakinh tế Nhà nước luôn được Đảng quan tâm, coi trọng và đã đạt được nhữngthành tựu bước đầu rất khả quan cả trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, cảđường lối đối nội và đối ngoại của đất nước Đến Đại hội VII (tháng 6-1991),Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây
là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên CNXH của Việt Nam Cương lĩnhxây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH của Đảng khẳng định:
“Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” Để phát triển nền kinh
tế theo định hướng XHCN trong Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã khẳng định chủtrương nhất phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinhdoanh theo pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh lành mạnhtrong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng kinh tếtập thể trở thành cơ sở vững chắc của nền kinh tế quốc dân và một lần nữa nhấnmạnh nhiệm kinh tế Nhà nước để thực hiện tốt vai trò chủ đạo nền kinh tế Cónhư thế mới phát huy được đặc điểm của kinh tế thị trường XHCN ở Việt Nam
Nước ta sau nhiều năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bằng sự nổlực sáng tạo của quần chúng, các ngành các cấp chúng ta đã vượt qua cuộckhủng hoảng, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng trong hoạt độngthực tiễn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế tăng trưởng nhanh,chính trị ổn định mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế tận dụng nguồn vốn của công nghệ, phát huy nội lực của đất nước,đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bộ mặt kinh tế xã hội thay da đổi thịthằng ngày; đời sống đại bộ phận nhân dân được thay đổi rõ rệt
Trong quá trình đổi mới, một trong những vấn đề tư duy lý luận cốt lõithuộc về đường lối là sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấpsang sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Để tìm hiểu rõ nhữngquan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát triển nền kinh tế như thếnào? Nhóm em đã chọn tiểu luận “xây dựng nền kinh tế thị trường theo địnhhướng XHCN ở Việt Nam”
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.
1 Các khái niệm:
1.1 Khái niệm kinh tế:
Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và
xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng cácloại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao củacon người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn
Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người,các mỗi quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Nói đến kinh tếsuy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích
Theo nghĩa hẹp thì kinh tế nghĩa là các hoạt động sản xuất và làm ăn của cánhân hay hộ gia đình Còn nghĩa rộng là nhằm chỉ "toàn bộ các hoạt động sảnxuất, trao đổi, phân phối, lưu thông" của cả một cộng đồng dân cư, một quốc giatrong một khoảng thời gian
1.2 Khái niệm kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế phát triển cao của kinh
tế hàng hoá trong đó quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng đềuđược thực hiện thông qua thị trường Trong đó quan hệ hàng hóa - tiền tệ trởthành phổ biến và bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế
1.3 Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN:
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN: là một kiểu tổ chức kinh tế vừadựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường vừa trên cơ sởđược dẫn dắt và chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất CNXH thể hiện trên 3mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối
- Đại hội IX nêu lên: nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sựquản lý của nhà nước, được gọi tắt là kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trang 62 Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước
2.1 Bối cảnh kinh tế thế giới
Thế kỷ XIX và thế kỷ XX hai thế kỷ nhân loại có những bước tiến nhảyvọt trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội so với nhiều thế kỷ trước Mặt dù trongthế kỷ XX nhân loại đã phải chịu hai cuộc chiến tranh thế giới vô cùng khóc liệt
và có những tổn thất lớn về con người và tài sản Chỉ riêng cuộc chiến tranh thếgiới lần thứ hai (1941-1945) đã làm chết 5,6 triệu người, chi phí cho cuộc chiếntranh này đã vượt xa tổng chi phí trong các cuộc chiến tranh của nhân loại cộnglại, chiến tranh thế giới I đã làm tốn kém 20 000 USD, còn chiến tranh thế giới
II là 200 000 USD Tổn thất chiến tranh không sao tính hết được, và nó đã làmchậm lại sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng tới đời sống con người Thế kỷ chúng
ta đang sống cũng phải trả giá không ít cho gần ba thập kỷ “chiến tranh lạnh”
Nửa cuối của thế kỷ 20, cũng có nhiều năm tháng của các cuộc chiếntranh giành độc lập dân tộc và những cuộc chiến tranh khu vực và có không ítcác cuộc nội chiến do các vấn đề sắc tộc tôn giáo Nửa cuối của thế kỷ này, cũng
là nữa cuối của cả thế giới đã ngăn chặn để không xảy ra cuộc chiến tranh thếgiới III, ngăn chặn từng bước cuộc chiến tranh hạt nhân, dặp tắt ngọn lửa chiếntranh và từ cuối thập kỷ 80 là kết thúc chiến tranh lạnh, để tiến tới các dân tộccùng sống dưới mái nhà chung là hành tinh của chúng ta cho dù mỗi quốc gia cóchế độ chí trị khác nhau, bên cạnh những quốc gia giàu đã phát triển là nhữngquốc gia nghèo chậm phát triển
Những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế thế giới luôn luôn pháttriển, nhưng không đều, có thể chia thành 3 thời kỳ: Thời kỳ phục hồi và pháttriển kinh tế từ những năm 50 – 60; thời kỳ suy thoái với khủng hoảng dầu mỏnhững năm 70, để rồi lại tăng trưởng những năm sau, nhưng đến những nămcuối thập kỷ 80 đầu 90 nhịp độ tăng chặm lại (ở các nước phát triển) và bắt đầuphục hồi trong những năm gần đây và theo những nhận định lạc quan sự tăngtrưởng sẽ ổn định
Quá trình phát triển kinh tế trong những năm gần đây đã thoát dần bứctường ảm đạm, GDP bình quân đầu người từ: 3780 USD năm 1988, lên trên
4500 USD năm 1994 Nền kinh tế thế giới tiếp tục phát triển, với sự phục hồikinh tế của các nước phát triển, đặc biệt là các nước thuộc OECD và Đông Âuđược gọi là khu vực chuyển đổi – đã qua giai đoạn giảm sút và bắt đầu tăngtrưởng hoặc chí ít đã giảm dần mức độ giảm sút Vai trò của nước Mỹ đã giảm,
sự nổi lên của các nhóm nước trên thế giới hình thành các vùng kinh tế thế giớivới Bắc Mỹ - Tây Âu - Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) nhưng mỗitrung tâm này cũng gặp nhiều khó khăn
Những năm 1991, khi chiến tranh lạnh chắm dứt, sự phát triển khôngđồng đều lại tiếp tục diễn ra nhưng theo hướng mới (như sự giảm sút nghiêm
Trang 7triển kinh tế của nước Mỹ đã theo hướng ngược lại với sự tăng trưởng liên tục,đều đặn mỗi năm xấp xỉ 3% là do đầu tư cao kể cả nước ngoài đầu tư trên lãnhthổ Mỹ), mức tiêu thụ nhanh, xuất khẩu tăng mạnh đã làm giảm mức thâm hụtngân sách cũng như giảm bớt mức nhập siêu, năng suất lao động tăng Tuynhiên, cũng như các giai đoạn trước đây, bước vào thế kỷ XXI nền kinh tế Mỹđang trải qua những biến động lớn lao Một làn sóng đổi mới công nghệ trongtin học, truyền thông và sinh học đã tác động sâu sắc đến cách thức làm việc vànghỉ ngơi của người Mỹ Cùng lúc đó, sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên
Xô và Đông Âu, sự gia tăng tiềm lực kinh tế của Tây Âu, sự nổi lên của các nềnkinh tế đầy tiềm năng ở châu Á, sự mở rộng các cơ hội phát triển kinh tế ở MỹLatinh và châu Phi và sự hội nhập toàn cầu đang tăng lên về kinh tế và tài chính
đã tạo ra những cơ hội cũng như thách thức mới Tất cả những thay đổi đó dẫnngười Mỹ đến việc phải kiểm tra lại toàn bộ từ cách thức bố trí nơi làm việc chođến vai trò của chính phủ Có lẽ do vậy, nhiều người lao động, trong khi bằnglòng với hiện trạng của mình, đã nhìn về tương lai với một tâm trạng không chắcchắn
2.2 Bối cảnh kinh tế trong nước
2.2.1 Trước thời kì đổi mới
- Nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế hàng hoá kémphát triển mang nặng tính tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá phát triển
từ thấp đến cao Biểu hiện của nền kinh tế hàng hoá kém phát triển: Kết cấu hạtầng vật chất và xã hội ở nước ta còn ở trình độ thấp Trình độ công nghệ lạc
hậu, máy móc cũ kỹ, quy mô sản xuất nhỏ bé Cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và
kém hiệu quả Cơ cấu kinh tế nước ta còn mang nặng đặc trưng của một cơ cấu
kinh tế nông nghiệp Chưa có thị trường theo đúng nghĩa của nó Thu nhập quốc
dân và thu nhập bình quân đầu người còn thấp, do đó sức mua hàng hoá còn
thấp, tỷ suất hàng hoá chưa cao Còn chịu ảnh hưởng lớn của mô hình kinh tế
chỉ huy với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
Hình thức thể hiện của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp là:
+ Bao cấp giá với các yếu tố đầu vào sản xuất Nhà nước quyết định giátrị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn giá trị thực của chúng nhiều lần sovới thị trường Điều này đã biến hạch toán kinh doanh trở thành hình thức Cácdoanh nghiệp hoạt động trên cơ sở quyết định hành chính của các cơ quan nhànước có thẩm quyền Sản phẩm làm ra phải nộp cho nhà nước, Nhà nước chịutrách nhiệm lưu thông, phân phối Lãi Nhà nước hưởng, lỗ Nhà nước chịu
+ Bao cấp chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối vậtphẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức temphiếu/sổ gạo đói với 6 mặt hàng thiết yếu: gạo, thịt lợn, nước mắm, đường, chấtđốt (củi hoặc than, cám hoặc dầu hỏa), xà phòng giặt, có thời kì còn bổ sung
Trang 8thêm mì chính Nó đã thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡnguyên tắc phân phối theo lao động
+ Bao cấp theo chế độ phát vốn của ngân sách đối với các đơn vị kinh tế
cơ sở nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vịcấp vốn; nó làm tăng gánh nặng ngân sách, sử dụng vốn kém hiệu quả
Kết quả của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp mang lại:
Tình trạng thiếu hụt kinh niên làm gia tăng các căng thẳng trong đời sống
xã hội
Thành phần kinh tế quốc dân và kinh tế tập thể luôn bị thua lỗ, không pháthuy được vai trò tác dụng
Nền kinh tế quốc dân mất cân đối ngày càng nghiêm trọng
Thu thập quốc dân và năng suất lao động thấp, không đảm bảo được nhucầu tiêu dùng của xã hội trong khi dân số tăng nhanh
Lương thực, vải và các hàng tiêu dùng thiết yếu đều thiếu
Thị trường, vật giá tài chính không ổn định
Sản xuất nông nghiệp bị đình đốn
Lưu thông phân phối ác tắc
Lạm phát ở mức ba con số
Đời sống của tầng lớp nhân dân bị sa sút chưa từng thấy
Ví dụ: Ăn gạo “mậu dịch” (gạo từ kho các của hàng lương thực nhà nước)hôi đủ các thứ mùi: gián, mốc và có khi là xăng dầu , có khi lẫn những hạt sạn
to như hạt ngô Mỗi tháng được nhận thịt heo theo chỉ tiêu nhất định Mỗi tổphải tự bốc thăm Ai trúng thì lĩnh trước không trúng thì chờ đợt sau Tất cả cácmặt hàng đều cần phải mua qua tem phiếu: phụ tùng xe đạp, phụ tùng xe máy,vải, xăng
Để giải quyết những điều này, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống kinh
tế trong đó: Công nghiệp nặng được ưu tiên phát triển, Các thành phần kinh tếphi xã hội chủ nghĩa được cải tạo, kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trongnền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên, nông dân ở Nam Trung Bộ vàNam Bộ được khuyến khích tham gia sản xuất tập thể, Nhà nước lãnh đạo nềnkinh tế quốc dân theo kế hoạch thống nhất Hội nhập kinh tế thông qua triểnkhai các hiệp định hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trongkhuôn khổ Hội đồng Tương trợ Kinh tế từ năm 1978 Do sản xuất kém pháttriển, hàng hóa không đủ, nên việc phân phối bị kiểm soát bằng chế độ temphiếu Chế độ phân phối này chấm dứt vào năm 1994 khi chính sách tiền tệ hóađược hoàn tất
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân trong đó có cả “do khuyết điểm, sai lầmcủa các cơ quan Đảng và Nhà nước ta từ trung ương đến cơ sở về lãnh đạo vàquản lý kinh tế, quản lý xã hội” dẫn tới "chủ quan, nóng vội, đề ra những nhiệm
Trang 9trương sản xuất, xây dựng, phân phối, lưu thông thiếu căn cứ xác đáng, dẫn đếnlãng phí lớn về sức người, sức của rất bảo thủ, trì trệ trong việc chấp hànhđường lối của Đảng và nhiều nghị quyết của Trung ương, trong việc đánh giá vàvận dụng những khả năng về nhiều mặt của đất nước kéo dài cơ chế quản lýquan liêu bao cấp với cách kế hoạch hóa gò bó, cứng nhắc, không đề cao tráchnhiệm và mở rộng quyền chủ động cho cơ sở, địa phương và ngành, và cũngkhông tập trung thích đáng những vấn đề mà Trung ương cần và phải quản lý duy trì quá lâu một số chính sách kinh tế không còn thích hợp, cản trở sản xuất
và không phát huy nhiệt tình cách mạng và sức lao động sáng tạo của nhữngngười lao động chưa nhạy bén trước những chuyển biến của tình hình, thiếunhững biện pháp có hiệu quả," Hậu quả nghiêm trọng phải kể hai cuộc đổi tiềnnăm 1975 (do Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thực hiện) và đổi tiền năm 1978
trên toàn quốc để thực thi "đánh tư sản mại bản", tiêu diệt tiết kiệm vốn liếngcủa người dân và làm xáo trộn kinh tế trầm trọng Có thể khái quát kinh tế nước
ta trước đổi mới bằng công thức: công hữu, kế hoạch hóa, phi thị trường, haycòn gọi đó là thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp của nền kinh tế
- Các tư liệu sản xuất chủ yếu được công hữu hóa, với sự xác lập hai hìnhthức sở hữu là toàn dân và tập thể, tương ứng với chúng là hai thành phần kinh
tế quốc doanh và tập thể
- Kế hoạch hóa tập trung toàn bộ nền kinh tế quốc dân, Nhà nước trực tiếpđiều hành nền kinh tế thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh theo hiện vật được áp đặt
từ trên xuống các đơn vị kinh tế cơ sở, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
- Không thừa nhận quan hệ thị trường, quan hệ hàng hóa - tiền tệ chỉ tồntại về mặt danh nghĩa, mà thực chất đó là nền kinh tế hiện vật có trao đổi thôngqua các hợp đồng kinh tế giữa Nhà nước với các đơn vị sản xuất dưới hình thứccấp phát - giao nộp
Với nền kinh tế đó, Nhà nước nắm trực tiếp mọi khâu từ sản xuất, lưuthông đến phân phối Vì vậy gọi đó là cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp Đểđảm bảo sự vận hành của chế độ kinh tế hiện vật và bao cấp qua giá, trong bộmáy nhà nước đã hình thành một hệ thống cơ quan chuyên trách quản lí vật tư,giá cả và cả guồng máy cơ quan hành chính nhà nước rất bận rộn với việc đánhgiá, nhất là trước sức ép khi giá thị trường tự do tăng lên nhanh chống
Thể chế kinh tế nêu trên hình thành ở nước ta có cả nguyên nhân bêntrong và bên ngoài Nguyên nhân bên trong: Miền Bắc đi lên CNXH từ một nềnkinh tế hiện vật, tự cung tự cấp còn phổ biến, kinh tế hàng hóa phát triển còn sơkhai, lại trải qua 9 năm kháng chiến chống Pháp đã hình thành một hệ thốngphân phối bằng hiện vật cho cán bộ Nguyên nhân bên ngoài: Đó là sự du nhập
cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp vốn được hình thành ở Liên Xô trướcđây, rồi sau đó được hệ thống trong toàn bộ XHCN Nguyên nhân bên trong vàbên ngoài nêu trên đã tác động lẫn nhau, lại gặp bối cảnh đất nước có chiến
Trang 10tranh, không ít mặt của cơ chế đó phù hợp với yêu cầu chỉ đạo kinh tế thờichiến, từ sản xuất lưu thông đến phân phối Sau ngày miền Nam được giảiphóng, đất nước thống nhất, việc duy trì quá lâu mô hình kinh tế kế hoạch hóatập trung bao cấp đã dẫn đến nhiều hệ lụy:
- Chế độ công hữu được thiết lập một cách nóng vội không những khôngtạo được động lực, mà còn kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Sở hữu tưnhân không được thừa nhận đã làm cho các mặt tích cực của các thành phầnkinh tế gắn với sở hữu tư nhân không được phát huy trong quá trình xây dựngCNXH
- Cơ chế kế hoạch tập trung hóa bao cấp duy trì quá lâu đã tạo ra nhiều
lực cản đối với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Các cơ quan quản lí
hành chính nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh củađơn vị sản xuất nhưng lại không chịu trách nhiệm trước các quyết định củamình, vừa gây ra tình trạng thiếu trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, vưađẩy các đơn vị kinh tế cơ sở vào tình trạng thụ động, mất quyền tự chủ đối với
hoạt động sản xuất-kinh doanh Cơ chế đó không ràng buộc trách nhiệm của
doanh nghiệp đối với hiệu quả sử dụng vốn, tài sản, vật tư lao động, tách rờiviệc trả công với năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Điều đó gây nêntình trạng lãng phí, thất thoát tài sản của nhà nước: tạo tư tưởng ỷ lại, dựa dẫm,lười biếng của các đơn vị kinh tế cơ sở, triệt tiêu động lực sáng tạo của ngườilao động
- Không chú ý đầy đủ quan hệ hàng hóa - tiền tệ, vô hình chung đẩy đấtnước vào nền kinh tế hiện vật (có trao đổi không khai thác vai trò, sức mạnh củaquan hệ hàng hóa - tiền tệ để phát triển đất nước)
- Chế độ bình quân và bao cấp đã không gắn được kết quả sản xuất vớinăng suất và hiệu quả lao động, triệt tiêu động lực của lao động Chủ đích đặt racủa phân phối bình quân qua bao cấp là nhằm đảm bảo công bằng trong khâuphân phối kết quả sản xuất, nhưng việc tạo nên một hệ thống thương nghiệp nhànước độc quyền mua và bán, vô hình chung đã tạo nên những đặc quyền đặc lợigắn liền với những người nắm giữ hệ thống “thị trường có tổ chức”, gây bất bìnhđẳng trong khâu phân phối Phân phối hiện vật và bao cấp cũng tạo nên nhữngnghịch lí trong xã hội: người có nhu cầu chưa hẳn được phân phối, còn ngườiđược phân phối chưa hẳn đã có nhu cầu, tự nhiên thúc đẩy hình thành “thịtrường tự do” để cân đối lại quan hệ cung cầu
Khủng hoảng kinh tế - xã hội vào cuối thập niên 70, đặc biệt đầu thậpniên 80 của thế hệ trước là hệ lụy của việc duy trì quá lâu mô hình kinh tế nêutrên Do đó, đổi mới kinh tế trở thành mệnh lệnh của cuộc sống, xuất phát từ cảnhu cầu hoàn thiện mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa lẫn đòi hỏi thúc bách củaquần chúng
Trang 112.2.2 Sau khi đổi mới
Khi chuyển sang kinh tế thị trường chúng ta đứng trước thực trạng là đấtnước đã và đang từng bước quá độ lên CNXH, từ một xã hội vốn là thuộc địanửa phong kiến, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội thấp Khôngnhững thế, đất nước ta lại trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại
vô cùng nặng nề, những tàn dư thực dân phong kiến còn nhiều, lại chịu ảnhhưởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
Từ những đặc điểm trên ta có thể nhận xét rằng: nền kinh tế nước takhông còn hoàn toàn là nền kinh tế tự cung tự cấp nhưng cũng chưa phải là nềnkinh tế hàng hoá theo ý nghĩa đầy đủ Mặt khác do có sự đổi mới về mặt kinh
tế nền kinh tế nước ta khi chuyển sang kinh tế thị trường là nền kinh tế hànghoá kém phát triển, còn mang nặng tính chất tự cấp là ảnh hưởng nặng nề của
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Thực trạng đó được thể hiện ở các mặt sau:
- Thứ nhất, kinh tế hàng hóa kém phát triển, nền kinh tế còn mang nặngtính tự cung tự cấp, cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kém hiệu quả, chưa cóthị trường theo đúng nghĩa của nó và năng suất lao động xã hội và thu nhậpquốc dân tính theo đầu người còn thấp
- Thứ hai về thực trạng của nền kinh tế nước ta khi chuyển sang nền kinh
tế thị trường là ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trungquan liêu bao cấp Hai cơ chế kinh tế cũ và mới (cơ chế tập trung quan liêubao cấp và thị trường) có nhiều đặc điểm khác nhau, điểm khác nhau cơ bảnnhất là: cơ chế cũ hình thành trên cơ sở thu hẹp hoặc gần như xoá bỏ quan hệhàng và tiền tệ, làm cho nền kinh tế bị “ hiện vật hoá” còn cơ chế mới hìnhthành trên cơ sở mở rộng quan hệ hàng hoá tiền tệ
Quy luật tồn tại trong cơ chế giao nộp và cấp phát chỉ là hình thức, việc
mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá là một tất yếu lịch sử cho nên hạnchế quuan hệ hàng hoá tiền tệ và quy luật giá trị trở thành sự cản trở tiến bộkinh tế, kìm hãm nhân tố mới Do đó làm cho nhà nước không thể làm chủnhững quá trình kinh tế khách quan mặc dù trong tay nhà nước có thực lực kinh
tế to lớn Vì vậy, đại hội lần thứ VII Đảng ta đã khẳng định: Xoá bỏ triệt để cơchế quản lý tập trung quan liêu bao cấp hình thành cơ chế thị trờng có sự quản
lý của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch chính sách và các công cụ khác Xâydựng và phát triển đồng bộ hàng tiêu dùng, vật tư, dịch vụ sức lao động… thựchiện kinh tế thông suốt trong cả nước và với thị trường thế giới
Xuất phát từ nhiệm vụ bao trùm về chính sách đối ngoại và quan điểm:
“Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấnđấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, chính sách knh tế đối ngoại của nềnkinh tế hàng hoá nước ta hiện nay được thực hiện theo những định hướngsau: Đa dạng hoá, đa phương hoá kinh tế với mọi quố gia, mọi tổ chức kinh tế
Trang 12không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc tôn trong độc lập chủ quyềnbình đẳng và cùng có lợi Củng cố và tăng cường vị trí của Việt Nam ở các thịtrường quen thuộc và với bạn hàng truyền thống, tích cực thâm nhập và tạochỗ đứng ở thị trường mới, phát triển các mối quan hệ dưới mọi hình thức.Kinh tế đối ngoại là một trong các công cụ kinh tế bảo đảm cho việc thựchiện các mục tiêu kinh tế – xã hội đề ra cho từng giai đoạn lịch sử cụ thể vàphục vụ đắc lực mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiệncông nghiệp hoá hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tăng cường hội nhập vào nền kinh tế thế giới, phát huy ý chí tự lực tựcường; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dựa vào nguồn lựctrong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực ở bên ngoài Theonhững định hướng trên, mấy năm qua, hoạt động kinh tế đối ngoại ở nước
ta đã lập lại quan hệ bình thường với các quan hệ tài chính, tiền tệ quốc tế,bước đầu đã thu đựoc những thành tựu quan trọng về kinh tế đối ngoại
Ngoài ra nền kinh tế thị trưòng phát triển theo định hướng xã hội chủnghĩa cần có sự quản lý vĩ mô của nhà nước Đây là đặc điểm cơ bản nhất củakinh tế thị trường ở nước ta khác với nền sản xuất hàng hoá giản đơn trứoc đây,cũng như khác với nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa Đặcđiểm này cũng chính là mô hình kinh tế khái quát trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở nước ta Mô hình kinh tế đó có những đặc trưng riêng , làmcho nó khác với kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa
3 Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lí kinh tế của Đảng.
Thực tế tình hình đặt ra một yêu cầu khách quan có tính sống còn đối với
sự nghiệp cách mạng là phải xoay chuyển được tình thế, tạo ra sự chuyển biến
có ý nghĩa quyết định trên con đường đi lên và như vậy phải đổi mới tư duy Cơchế quản lí tập trung quan liêu, bao cấp đã không tạo được động lực phát triển,làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, gây rối loạn và đẻ ra nhiều tiêu cực trong
xã hội Do đó, việc đổi mới cơ chế quản lí kinh tế trở thành nhu cầu cấp bách Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thực, nói rõ sự thật, Đạihội đã đánh giá đúng mức những thành tựu đạt được sau 10 năm xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, đi sâu phân tích những tồn tại và nghiêm khắc tự phê bìnhnhững sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng trong 10 năm(1976-1986)
Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theotinh thần cách mạng và khoa học và đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinhhoạt chính trị của Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đạihội
Đại hội đã đánh giá những thành tựu, những khó khăn của đất nước docuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo ra, những sai lầm kéo dài của Đảng vềchủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện khuynh
Trang 13hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm đó, đặc biệt là sai lầm về kinh tế làbệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạytheo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế,
xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng đó là
tư tưởng vừa tả khuynh vừa hữu khuynh Báo cáo chính trị tổng kết thành bốnbài học kinh nghiệm lớn:
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng
Mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội cho những năm còn lại của chặngđường đầu tiên là:
- Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ
- Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó đặc biệt chú trọng
ba ch-ương trình kinh tế lớn là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàngxuất khẩu, coi đó là sự cụ thể hóa nội dung công nghiệp hoá trong chặng đườngđầu của thời kỳ quá độ Làm cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa giữ vai tròchi phối, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liênkết chặt chẽ, dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa Tiến hànhcải tạo xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quảkinh tế và tăng thu nhập cho người lao động
- Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp vớitính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Tạo ra chuyển biến về mặt xã hội, việc làm, công bằng xã hội, chốngtiêu cực, mở rộng dân chủ, giữ kỷ cương phép nước
- Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh
- Nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chúng ta đã có những
bước cải tiến nền kinh tế theo định hướng thị trường Ví dụ: Khoán sản phẩmtrong nông nghiệp theo chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư TW khóa IV; bùgiá và lương ở Long An; Nghị quyết TW8 khóa 5, Nghị định 25 và 26-CP lànhững căn cứ thực tế để Đảng đi đến quyết định thay đổi cơ chế quản lí kinh tế
Trang 14- Cơ chế quản lí tập trung quan liêu, bao cấp đã không tạo được động lựcphát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, gây rối loạn và đẻ ra nhiều tiêucực trong xã hội Do đó, việc đổi mới cơ chế quản lí kinh tế trở thành nhu cầucấp bách.
4 Nguyên nhân Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triểnnhất định của văn minh nhân loại Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủyếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chủnghĩa tư bản Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thịtrường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm kiếm lợinhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội pháttriển mạnh mẽ Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giaiđoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển
Tuy nhiên, kinh tế thị trường TBCN không phải là vạn năng Bên cạnhmặt tích cực nó còn có mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất của nó do chế độ
sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chi phối Cùng với sự phát triển của lực lượngsản xuất, càng ngày mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản càng bộc lộ sâu sắc, khônggiải quyết được các vấn đề xã hội, làm tăng thêm tính bất công và bất ổn của xãhội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo Hơn thế nữa,trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nó còn ràng buộc các nước kém phát triểntrong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ “trung tâm – ngoại vi” Cóthể nói, nền kinh tế thị trường TBCN toàn cầu ngày nay là sự thống trị của một
số ít nước lớn hay một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với đa số các nướcnghèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và các nước nghèo
Chính vì thế mà, C.Mác đã phân tích và dự báo, CNTB tất yếu phảinhường chỗ cho một phương thức sản xuất và chế độ mới văn minh hơn, nhânđạo hơn Chủ nghĩa tư bản mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tự điều chỉnh, tựthích nghi bằng cách phát triển “nền kinh tế thị trường hiện đại”, “nền kinh tế thịtrường xã hội”, tạo ra “chủ nghĩa tư bản xã hội”, “chủ nghĩa tư bản nhân dân”,
“nhà nước phúc lợi chung”…, tức là phải có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước
và cũng phải chăm lo vấn đề xã hội nhiều hơn, nhưng do mâu thuẫn từ trong bảnchất của nó, CNTB không thể tự giải quyết được, có chăng nó chỉ tạm thời xoadịu được chừng nào mâu thuẫn mà thôi Nền kinh tế thị trường TBCN hiện đạiđang ngày càng thể hiện xu hướng tự phủ định và tự tiến hóa để chuẩn bị chuyểnsang giai đoạn hậu công nghiệp, theo xu hướng xã hội hóa Đây là tất yếu kháchquan, là quy luật phát triển của xã hội Nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốnphát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trường TBCN
Mô hình CNXH kiểu Xô - Viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chức kinh tếmuốn sớm khắc phục những khuyết tật của CNTB, muốn nhanh chóng xây dựng
Trang 15một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức sản xuất văn minh, hiện đại hơnCNTB Đó là một ý tưởng tốt đẹp, và trên thực tế suốt hơn 70 năm tồn tại,CNXH hiện thực ở Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn
bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân Liên Xô Nhưng có lẽ do nônnóng, làm trái quy luật (muốn xóa bỏ ngay kinh tế hàng hóa, áp dụng ngay cơchế kinh tế phi thị trường), không năng động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiếtcho nên rút cuộc đã không thành công Vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX,những hạn chế, khuyết tật của mô hình kinh tế Xô - Viết bộc lộ ra rất rõ cộngvới sự yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý lúc bấy giờ đã làm cho côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu rơi vào tìnhtrạng trì trệ, khủng hoảng Một số người lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhànước Liên Xô lúc đó muốn thay đổi tình hình bằng công cuộc cải cách, cải tổ,nhưng với một “tư duy chính trị mới”, họ đã phạm sai lầm nghiêm trọng cựcđoan, phiến diện dẫn tới sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của hệ thống XHCNthế giới Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN khác ở Đông Âu vào cuốinhững năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã làm lộ rõ những khuyết tậtcủa mô hình kinh tế cứng nhắc phi thị trường, mặc dù những khuyết tật đókhông phải là nguyên nhân tất yếu dẫn đến sự sụp đổ
Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hộicòn thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu
lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngànđời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam Suốt một thời gian dài, Việt Namcũng như nhiều nước khác, đã áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô - Viết,
mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp Mô hình này đã thu đượcnhững kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước cóchiến tranh Nhưng về sau mô hình này bộc lộ những khuyết điểm; và trongcông tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa củanhững sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hànhđộng đơn giản, nóng vội, không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức vềCNXH không đúng với thực tế Việt Nam
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về CNXH và conđường đi lên CNXH ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam(tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện
có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội đưa ra nhữngquan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng CNXH, đặc biệt là quanniệm về công nghiệp hóa XHCN trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừanhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường, phê phán triệt
để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toánkinh doanh Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vớinhững hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tậpthể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thứcmới về chính sách xã hội Đại hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyểnquan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNXH và con
Trang 16đường đi lên CNXH ở Việt Nam Đó là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, thửnghiệm, suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức củatoàn Đảng, toàn dân trong nhiều năm.
Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI, phát triển thêm mộtbước, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiềuthành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần có
ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xãhội”
Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõhơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đilên CNXH của Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đilên CNXH của Đảng khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước”
Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết luận mới rất quantrọng: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH mà là thành tựu phát triểncủa nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xâydựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng” Nhưng lúc đó cũng mới nóinền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm “kinh tế thịtrường”
Phải đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) mới chính thức đưa ra kháiniệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” Đại hội khẳng định: Phát triểnkinh tế thị trường định hướng XHCN là đường lối chiến lược nhất quán, là môhình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam Đây
là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước pháttriển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam
II CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1 Các thành phần kinh tế, chủ trương và vai trò của nó
1.1 Kinh tế nhà nước
a Khái niệm kinh tế nhà nước
Kinh tế nhà nước là loại hình kinh tế do nhà nước nắm giữ bao gồmquyền sở hữu, quyền tổ chức, chi phối hoạt động theo những hướng đã định.Kinh tế nhà nước được thể hiện dưới những hình thức nhất định: doanh nghiệpnhà nước, ngân hàng nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia, hệ thống bảo hiểm Nhưvậy kinh tế nhà nước có nhiều bộ phận hợp thành, và tất cả các bộ phận đềuthuộc quyền sở hữu của nhà nước
Trang 17b Hình thức tồn tại
Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước (kinh tế quốcdoanh), các tài sản thuộc sở hữu nhà nước (đất đai, tài nguyên, ngân hàng, tàichính, dự trữ quốc gia )
- Kinh tế nhà nước trước hết là các doanh nghiệp nhà nước và doanhnghiệp cổ phần được hình thành trên cơ sở: Nhà nước đầu tư xây dựng, Quốchữu hóa các doanh nghiệp tư bản tư nhân Góp cổ phần khống chế các doanhnghiệp tư nhân
- Với bản chất nhà nước XHCN, nhà nước xác định đất đai, tài nguyênthiên nhiên, tài chính ngân hàng…do nhà nước nắm giữ chi phối để điều tiết,định hướng sự phát triển kinh tế xã hội
c Thực trạng và xu thế phát triển
Theo số liệu 1976-1990, đầu tư cho kinh tế quốc doanh mỗi năm chiếmtới 20% tổng chi ngân sách nhà nước nên kinh tế quốc doanh được tăng thêmnăng lực mới: 1127 nghìn KW điện, 4,8 triệu tấn than, 1184 nghìn ha gieo trồngđược tưới và 581,6 nghìn ha được tiêu, 831 nghìn ha được khai hoang Các côngtrình quan trọng như thủy điện Hòa Bình, thủy điện Trị An, xi măng HoàngThạch, Bỉm Sơn, giấy Bãi Bằng, cầu Thăng long, cầu Chương Dương, BếnThủy đã đưa vào hoạt động và phát huy tác dụng tích cực
Do nhiều năm xây dựng nên nền kinh tế quốc doanh đã có năng lực đáng
kể Trong nông nghiệp, cả nước có 654 hồ, đập vừa và lớn, hơn 1000 cống tướitiêu lớn với 10 nghìn máy bơm các loại, trên 2000 máy biến thế và gần 600 kmđường dây điện cao thế với tổng công suất lắp đặt 20 vạn KW phục vụ tưới và
23 van KW phục vụ tiêu, 315 nông trường với trên 8000 máy kéo và 478 trạinhân giống Trong công nghiệp, đã có 3020 xí nghiệp quốc doanh, công suấtđiện 2700 MW, công suất dệt trên 400 triệu m, công suất giấy 16 vạn tấn, côngsuất xi măng 4,2 triệu tấn Trong GTVT có 105500 km đường bộ, 10732 chiếccầu và 177 bến phà Đường thủy có 19500 km nội địa và 7 cảng chính Hàngkhông có 2 sân bay quốc tế và một số sân bay trong nước Thương nghiệp quốcdoanh có 17757 điểm bán hàng Ngoài ra, còn có 753 cơ sở thuộc các ngành tàichính, ngân hàng và các hoạt động dịch vụ khác
Tính chung kinh tế quốc doanh cho tới cuối năm 1989 có trên 12 nghìn cơ
sở với 27817 tỉ đồng giá trị tài sản cố định theo nguyên giá Do có tiềm lực nhưvậy nên hàng năm kinh tế quốc doanh đã tạo ra 30 - 40% tổng sản phẩm xã hội(1981: 35,2%, 1985: 35,7%, 1990: 38,8%) và 20- 30% thu nhập quốc dân (1981:22,9%, 1985: 24,4%, 1990: 30%) Nếu năm 94 số doanh nghiệp nhà nước cóvốn dưới 1 tỷ đồng chiếm tới 50% tổng số doanh nghiệp nhà nước thì đến năm
2000 số đó chỉ còn 25% Số doanh nghiệp có vốn 1 tỷ đồng tăng từ 10% lên20% Phần đóng góp của doanh nghiệp nhà nước chiếm gần 40% tổng nộp ngân
Trang 18sách và trên 50% kim ngạch xuất khẩu của cả nước Tỉ lệ đóng góp của doanhnghiệp nhà nước trong GDP tăng tương ứng từ 36,5% lên 40,2% Tỉ suất lợinhuận trên vốn nhà nước tăng từ 6,8% (1993) lên 12% năm 2000
d.Vai trò
Kinh tế nhà nước đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, nó là chỗdựa kinh tế cho nhà nước điều tiết vĩ mô, đảm bảo những cân đối chủ yếu chotoàn bộ nền kinh tế quốc dân Vai trò của nó trước hết thể hiện ở chỗ: Kinh tếquốc doanh nắm gần như toàn bộ ngành công nghiệp năng lượng (điện lực, khaithác than và dầu khí, khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo, sản xuất xi măng,phân bón thuốc trừ sâu và công nghiệp quốc phòng:
- Trong sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp quốc doanh giữ vai tròchính trong một số sản phẩm quan trọng: 70% vải mặc, 85% giấy, 70% xe đạp,60% xà phòng, 100% thuốc tân dược
- Trong xây dựng cơ bản, kinh tế quốc doanh đảm nhận hầu hết các côngtrình trên hạn ngạch và các công trình quan trọng quyết định triển vọng tăngtrưởng của nền kinh tế quốc dân
- Trong giao thông vận tải, kinh tế quốc dân đảm nhận từng cung độ dàinhư vận tải Bắc Nam, vận tải ngoài nước
- Trong nông nghiệp, kinh tế quốc doanh là nơi cung cấp chủ yếu kĩ thuậtnuôi trồng và các giống cây con cho năng suất cao Nó đảm nhận nhiệm vụ tướitiêu chính ở hệ thống kênh cấp I
- Trong lâm nghiệp khai thác được 25-30% sản lượng gỗ toàn ngành trong
1 năm
- Trong lưu thông phân phối, thương nghiệp quốc doanh có vai trò to lớntrong việc cung cấp và ổn định giá cả thị trường đối với những vật tư hàng hóathiết yếu như xăng dầu, sắt thép, phân bón thuốc trừ sâu, xi măng, gạo và là lựclượng chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ xuất nhập khẩu
Kinh tế quốc doanh nước ta cũng là lực lượng chủ yếu cung cấp tài chínhcho ngân sách nhà nước Tỉ lệ thu từ kinh tế quốc doanh thường chiếm 60-80%tổng thu ngân sách Thu nhập thuần túy từ thu nhập quốc doanh hàng năm gấpnhiều lần so với thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh Kinh tế quốcdoanh thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước nghiêm chỉnh hơn các thành phầnkinh tế khác Vai trò của kinh tế quốc doanh nếu chỉ đánh giá các mặt lượng trênthì chưa đủ vì nó còn có những mặt không thể lượng hóa được Trong một sốtrường hợp kinh tế quốc doanh phải chịu thô lỗ để cho toàn bộ nền kinh tế quốcdân phát triển, nhất là trong khi điều kiện phát triển kinh tế từ một cơ cấu lạchậu nông nghiệp là phổ biến Nhiều sản phẩm hoặc dịch vụ do kinh tế quốc
Trang 19doanh đảm nhận thường là đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh của cácthành phần kinh tế khác Trách nhiệm xã hội của kinh tế quốc doanh còn thểhiện ở các mặt khác nữa như tạo việc làm, phân phối lại thu nhập quốc dân, đàotạo cán bộ quản lí và công nhân lành nghề, giảm bớt sự mất cân đối giữa các dântộc, giữa các vung kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế.
Bên cạnh đó kinh tế quốc doanh của ta trong thời gian qua đã bộc lọ một
số điểm yếu , cần khắc phục Đó là: Do chủ quan, duy ý chí và nóng vội đi lênCNXH nên chúng ta đã mở rộng kinh tế quốc doanh quá mức chịu đựng của nềnvật tư, tài lực hiện có và quá khả năng quản lí ở các cấp các ngành Việc thànhlập các cơ sở kinh tế quốc doanh lại không được chuẩn bị kĩ về cơ cấu ngành,điều kiện kinh tế kĩ thuật, thiếu các căn cứ cần thiết Những cơ sở kinh tế quốcdoanh nhỏ là bộ phận chịu thua lỗ lớn nhất
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta sở dĩ thànhphần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo bởi vì những lý do chính sau:
Thứ nhất, chúng ta đều biết “chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế”.Nền chính trị của Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo với mục tiêudưa nước ta tiến lên CNXH, thực hiện “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằngdân chủ văn minh” Thành phần kinh tế nhà nước của nước ta mà trước hết làcác doanh nghiệp Nhà nước cũng phải phục vụ cho nhiệm vụ này
Trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta do hạn chế của trình độlực lượng sản xuất phát triển còn thấp, các quan hệ sở hữu còn tồn tại dưới nhiềuhình thức, do đó nền kinh tế nước ta ở giai đoạn này là một nền kinh tế hỗn hợpnhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, nhưng cơ chế thị trườngkhông phải là hiện thân của sự hoàn hảo Bên cạnh những ưu điểm của nó không
ai có thể phủ nhận thì nó cũng tồn tại những khuyết tật như: gây ra sự phân hoágiàu nghèo trong xã hội, khủng hoảng kinh tế, các tệ nạn xã hội…điều đó đòihỏi cơ chế thị trường phải có bàn tay quản lý, điều tiết của nhà nước là công cụhữu hiệu nhất mà thông qua nó nhà nước thể hiện vai trò điều tiết của mình đó làthành phân kinh tế nhà nước Chỉ có kinh tế nhà nước mới có thể bảo đảm vữngchắc định hướng XHCN, đảm bảo cho lợi ích của người lao động, khắc phụcnhững tiêu cực, khuyết tật và hạn chế của cơ chế thị trường, phân phối lại thunhập quốc dân một cách công bằng là động lực thúc đẩy phát triển và tăngtrưởng kinh tế, gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và côngbăng xã hội
Thứ hai, là kinh tế nhà nước luôn nắm giữ những vị trí then chốt, trọngyếu trong nền kinh tế quốc dân do đó chỉ có kinh tế nhà nước mới có khả năngchi phối, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác, đảm bảo được các mục tiêu pháttriển kinh tế xã hội, thực hiện CNH - HĐH trong điều kiện thị trường vẫn chưahoàn thiện, người dân có thu nhập thấp, tích luỹ không đủ tạo nguồn đầu tư cơbản, kinh tế tư nhân còn nhỏ bé thì doanh nghiệp nhà nước có vai trò huy động
Trang 20vốn đầu tư xây dựng những công trình lớn, hiện đại Mặt khác với sự phát triểnngày càng cao của nền kinh tế đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng tốt để bảo đảmcho nền kinh tế phát triển nhanh, mạnh và bền vững Nhưng thường thì nhữngngành này đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm hoặc có lãisuất thấp như các ngành: giao thông vận tải, giáo dục, y tế, năng lượng…Đểthực hiện được điều đó đòi hỏi Nhà nước phải đầu tư trực tiếp vào các lĩnh vựcnày nhằm củng cố thêm nội lực cho thành phần kinh tế nhà nước để đạt đượccác mục đích: dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, đảm bảocho nền kinh tế phát triển một cách toàn diện, vững chắc, chống khủng hoảngkinh tế, ngăn ngừa những đột biến xấu trong nền kinh tế Ngoài ra doanh nghiệpnhà nước là lực lượng vật chất chủ lực để nhà nước can thiệp, bình ổn thịtrường, hạn chế ảnh hưởng xấu của ngành nghề độc quyền tự nhiên có tác hạilớn cho nền kinh tế.
Thứ ba, trong xu thế toàn cầu hoá hội nhập kinh tế quốc tế, chỉ có doanhnghiệp nhà nước là những đơn vị tổ chức kinh tế lớn của quốc gia là có đủ khảnăng hợp tác liên doanh với các công ty lớn quốc tế đồng thời làm đối trọng với
họ trên thị trường trong nước và vươn ra thị trường quốc tế, góp phần quan trọngxây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ của đất nước
Từ những lý do trên ta có thể khẳng định kinh tế nhà nước có vai trò chủđạo và sự tồn tại của kinh tế nhà nước là một tất yếu khách quan và chỉ có pháthuy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thì chúng ta mới có một nền kinh tếđộc lập tự chủ
e Chủ trương của Đảng
- Đại hội Đảng lần thứ VII, đồng thời với nhận thức về chế độ đa dạnghóa các loại hình sở hữu đã rõ nét hơn, Đảng đã chuyển sang quan điểm cônghữu giữ vai trò chủ đạo, nhưng chưa phân biệt rõ doanh nghiệp nhà nước vàkinh tế nhà nước, nên còn gọi chung sở hữu nhà nước dưới thuật ngữ “kinh tếquốc doanh” Cùng với đổi mới quan điểm về chế độ sở hữu, Đại hội Đảng lầnthứ VII cũng đưa ra quan điểm rõ ràng hơn về kinh tế thị trường: "Đổi mới vềkinh tế, chuyển nền kinh tế mang nặng tính tự cấp, tự túc với cơ chế quản lý tậptrung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận độngtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”; “Cơ chế vận hành nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN là cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụkhác”; và phân định rõ phạm vi quản lý của Nhà nước và phạm vi tác động của
cơ chế thị trường
- Đại hội VIII (6-1996) xác định vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế khôngchỉ đặt vào các doanh nghiệp nhà nước mà dựa vào toàn bộ kinh tế nhà nước baogồm đẩy đủ các nguồn lực nêu trên Quan điểm này điều chỉnh sự đánh giá quámức về vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy mạnh hơn công