BÀI 1:HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA CÁC MÁC VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI1Câu 1:Lý luận giá trị của Các Mác? Ý nghĩa thực tiễn?1Câu 2: Nội dung, tác động của quy luật giá trị? Vận dung trong điều kiện Việt Nam?9Câu 3: Lý luận hàng hóa sức lao động của Các Mác? Liên hệ thực tiễn với Việt Nam?12Câu 4: Lý luận của C.Mác về các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư? Ý nghĩa vận dụng gắn liền với điều kiện Viêt Nam?18Câu 5:Lý luận lợi nhuận của Các Mác? Ý nghĩa đối với thúc đẩy sản xuất kinh doanh ở Việt Nam?20Câu 6: Lý luận về địa tô của C.Mác? Ý nghĩa thực tiễn đối với việc giải quyết quan hệ đất đai ở Việt Nam?24Câu 7: Lý luận của C.Mác về tích lũy tư bản? Ý nghĩa đối với thúc đẩy sản xuất kinh doanh ở Việt Nam?27Câu 8: Ý nghĩa thời đại của học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác? Liên hệ thực tiễn?31BÀI 2SỞ HỮU VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM35Câu 1: Thể chế về sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam? Nội dung hoàn thiện thể chế sở hữu ở Việt Nam?35Câu 2: Vai trò của thể chế sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Những nguyên tắc hoàn thiện thể chế sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Giải pháp hoàn thiện?39Câu 3: Các loại hình và đặc trưng của quan hệ lợi ích kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Những nguyên tắc đảm bảo hài hòa các quan hệ lợi ích; Liên hệ thực tiễn và vận dụng?44Câu 4: Đặc trưng của quan hệ lợi ích trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đề xuất những phương thức nhằm bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam?50Bài 3KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM55Câu 1: Tính chất quy luật trong sự hình thành, phát triển của kinh tế thị trường; điều kiện hình thành kinh tế thị trường và vai trò của nhà nước nền kinh tế thị trường? Ý nghĩa của việc nghiên cứu?55Câu 2: Bản chất và những đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; giải pháp hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường ở Việt Nam?58Câu 3: Điều kiện để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam? Giải pháp hoàn thiện thể chế các loại thị trường ở Việt nam61Câu 4: Những giải pháp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; Liên hệ thực tiễn để thực hiện các giải pháp63BÀI 4: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM68Câu 1: Tính quy luật của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các mô hình, chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên thế giới? Ý nghĩa vận dụng đối với Việt Nam?68Câu 2: Sự cần thiết đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam?Liên hệ đề xuất giải pháp?73Câu 3: Nội dung lựa chọn và phát triển công nghệ tiên tiến, hiện đại dựa vào tri thức trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam? Liên hệ thực tiễn?82Câu 4: Quan điểm lựa chọn công nghệ tiên tiến, hiện đại trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức? Liên hệ thực tiễn?86Câu 5: Nội dung xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, dựa vào tri thức trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam? Liên hệ thực tiễn?88Câu 6: Xây dựng và phát triển nguồn tài nguyên trí lực trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam? Đề xuất giải pháp?94Câu 7: Điều kiện và giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam; Liên hệ giải pháp thực hiện?98Câu 8: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ứng với bối cảnh tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) ở Việt Nam; Liên hệ giải pháp thực hiện?105
Trang 1Câu 1:Lý luận giá trị của Các Mác? Ý nghĩa thực tiễn? 1Câu 2: Nội dung, tác động của quy luật giá trị? Vận dung trong điều kiện Việt Nam? 9Câu 3: Lý luận hàng hóa sức lao động của Các Mác? Liên hệ thực tiễn với Việt Nam? 12Câu 4: Lý luận của C.Mác về các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư? Ý nghĩa vận dụng gắnliền với điều kiện Viêt Nam? 18Câu 5:Lý luận lợi nhuận của Các Mác? Ý nghĩa đối với thúc đẩy sản xuất kinh doanh ở Việt Nam? 20Câu 6: Lý luận về địa tô của C.Mác? Ý nghĩa thực tiễn đối với việc giải quyết quan hệ đất đai ở Việt Nam? 24Câu 7: Lý luận của C.Mác về tích lũy tư bản? Ý nghĩa đối với thúc đẩy sản xuất kinh doanh ở Việt Nam? 27Câu 8: Ý nghĩa thời đại của học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác? Liên hệ thực tiễn? 31BÀI 2SỞ HỮU VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃHỘI Ở VIỆT NAM 35Câu 1: Thể chế về sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam? Nội dung hoàn thiện thể chế sở hữu ở Việt Nam? 35Câu 2: Vai trò của thể chế sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Những nguyên tắc hoàn thiện thể chế sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Giải pháp hoàn thiện? 39Câu 3: Các loại hình và đặc trưng của quan hệ lợi ích kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Những nguyên tắc đảm bảo hài hòa các quan hệ lợi ích; Liên hệ thực tiễn và vận dụng? 44Câu 4: Đặc trưng của quan hệ lợi ích trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đề xuất những phương thức nhằm bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi ích trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? 50
Trang 2Câu 1: Tính chất quy luật trong sự hình thành, phát triển của kinh tế thị trường; điều kiện hình thành kinh tế thị trường và vai trò của nhà nước nền kinh tế thị trường? Ý nghĩa của việc nghiêncứu? 55Câu 2: Bản chất và những đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; giải pháp hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường ở Việt Nam? 58Câu 3: Điều kiện để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam? Giảipháp hoàn thiện thể chế các loại thị trường ở Việt nam 61Câu 4: Những giải pháp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; Liên hệ thực tiễn để thực hiện các giải pháp 63BÀI 4: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM 68Câu 1: Tính quy luật của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các mô hình, chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên thế giới? Ý nghĩa vận dụng đối với Việt Nam? 68Câu 2: Sự cần thiết đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ởViệt Nam?Liên hệ đề xuất giải pháp? 73Câu 3: Nội dung lựa chọn và phát triển công nghệ tiên tiến, hiện đại dựa vào tri thức trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam? Liên hệ thực tiễn? 82Câu 4: Quan điểm lựa chọn công nghệ tiên tiến, hiện đại trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức? Liên hệ thực tiễn? 86Câu 5: Nội dung xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, dựa vào tri thức trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam? Liên hệ thực tiễn? 88Câu 6: Xây dựng và phát triển nguồn tài nguyên trí lực trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam? Đề xuất giải pháp? 94Câu 7: Điều kiện và giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh
tế tri thức ở Việt Nam; Liên hệ giải pháp thực hiện? 98Câu 8: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ứng với bối cảnh tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) ở Việt Nam; Liên hệ giải pháp thực hiện? 105
Trang 3ĐỀ CƯƠNG KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
BÀI 1:HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA CÁC MÁC VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI Câu 1:Lý luận giá trị của Các Mác? Ý nghĩa thực tiễn?
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỌC THUYẾT
Học thuyết giá trị thặng dư là phát kiến vĩ đại của C.Mác,"hòn đá tảng" trong lý luânkinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin Nhờ phát hiên này, cuộc cách mạng của kinh tế chính trị họcmới được hình thành Tính khoa học của lý luân giá trị thặng đc phát triển trên cơ sở lý luân giátrị lao động, trong đó phát kiến có tính mấu chốt từ tính chất hai mặt của lao động sản xuất hànghoá
Hàng hóa và thuộc tính của hàng hóa
1.1.1. Khái niệm hàng hóa
Trong những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối thì của cải biểuhiện ra là một “đống hàng hóa khổng lồ”1, còn từng hàng hóa một thì biểu hiện ra là hình tháinguyên tố của của cải ấy; mặt khác, sự nhận thức về phạm trù hàng hóa trên các thuộc tính của
nó chính là cơ sở, nền tảng cho việc nhận thức các phạm trù khác trong nghiên cứu kinh tếchính trị Vì vậy, công cuộc nghiên cứu của chúng ta bắt đầu bằng việc phân tích hàng hóa
Với cách tiếp cận đi từ cụ thể đến trừu tượng, C.Mác đã chỉ ra rằng, hàng hóa là sảnphẩm của lao động mà, một là, nó có thể thoả mãn được nhu cầu nào đó của con người; hai là,
nó được sản xuất ra không phải để người sản xuất ra nó tiêu dùng, mà để bán
1.1.2. Hai thuộc tính của hàng hóa
* Giá trị sử dụng
Chính tính chất có ích hay công dụng của một vật là khả năng có thể thỏa mãn nhu cầunào đó của con người, làm cho vật thể đó có giá trị sử dụng Giá trị sử dụng của một vật do cácthuộc tính thuộc tính tự nhiên (cơ học, lý hóa, điện từ ) quyết định, là nội dung vật chất tạo nêntính có ích của vật phẩm Vì thế, bản thân vật thể hàng hóa như sắt, lúa mì, kim cương, v.v., làmột giá trị sử dụng, hay của cải
Giá trị sử dụng của hàng hóa là những công dụng có ích có thể thỏa mãn một nhu cầunào đó của con người
- Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên của vật chất quyết định Khi xét đến các giá trị
sử dụng, bao giờ người ta cũng giả định một số lượng nhất định của các giá trị sử dụng đó, nhưmột tá đồng hồ, một vuông vải, một tấn sắt, v.v
- Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêu dùng Giá trị sử dụngcấu thành cái nội dung vật chất của của cải, chẳng kể hình thái xã hội của của cải đó là như thếnào Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn
Kinh tế chính trị nghiên cứu giá trị sử dụng của hàng hóa với tư cách là vật mang giá trịtrao đổi
* Giá trị
Giá trị là một phạm trù trừu tượng, vì vậy không thể nghiên cứu một cách trực tiếp màphải gián tiếp thông qua giá trị trao đổi để tìm ra vết tích của giá trị
* Giá trị trao đổi Giá trị trao đổi trước hết biểu hiện ra như là một quan hệ về số lượng,
là một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại
Trang 4khác 2.
Từ đó ta thấy rằng sản phẩm muốn trao đổi được thì phải có hai điều kiện:
+ Hai sản phẩm muốn trao đổi với nhau phải có giá trị sử dụng khác nhau (bởi vì người
ta không bao giờ trao đổi hai sản phẩm giống nhau, đó là việc làm vô nghĩa)
+ Các hàng hoá trao đổi với nhau theo 1 tỷ lệ nhất định về lượng giá trị
Sở dĩ hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau và số lượng của chúng khác nhau, nhưngchúng có thể trao đổi được với nhau là vì giữa chúng có một cái chung Cái chung này là gì? đó
là do chúng đều là sản phẩm của lao động, đều có lao động kết tinh ở trong đó Nhưng cáichung đó phải bằng nhau về lượng, nghĩa là để có thể trao đổi được thì thời gian hao phí laođộng để tạo ra các hàng hóa đó là như nhau Như vậy, cơ sở cho sự trao đổi giữa các hàng hóa
với nhau là lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó Và việc người ta trao đổi sản
phẩm cho nhau chẳng qua là trao đổi hao phí lao động ẩn dấu đằng sau hàng hoá đó Chính haophí lao động để tạo ra hàng hóa là cơ sở chung cho sự trao đổi, chính hao phí lao động đó tạo ragiá trị hàng hóa
Giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
Về bản chất: giá trị là một quan hệ xã hội biểu hiện mối quan hệ giữa những người sảnxuất hàng hoá
Về đặc điểm: giá trị là một phạm trù lịch sử vì nó chỉ tồn tại trong nền sản xuất hàng hoá,
nó sẽ mất đi khi nền sản xuất hàng hoá không còn
- Giá trị do lao động của con người tạo ra nên sản phẩm nào không chứa đựng lao độngcủa con người thì không có giá trị Chỉ có những mối quan hệ trao đổi người ta mới quy về mặtgiá trị
- Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó; do
đó, nó là nội dung bên trong và đóng vai trò quyết định, còn giá trị trao đổi là hình thức biểuhiện bên ngoài và phụ thuộc vào giá trị
Khi những người sản xuất trao đổi hàng hoá với nhau thì điều đó có nghĩa là họ cho rằnglao động hao phí để sản xuất hàng hoá của người này bằng của người kia Thực chất của hoạt
động trao đổi là sự so sánh lao động giữa những người sản xuất với nhau Vì vậy, giá trị biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá Quan hệ giữa người với người
không còn là quan hệ "thuần tuý", mà nó đã được thay thế bằng quan hệ giữa vật với vật
* Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
Giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính của hàng hoá Hàng hoá được thể hiện như là
sự thống nhất chặt chẽ, nhưng lại mâu thuẫn giữa hai thuộc tính này
1.1.3. Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Chất của giá trị là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hànghoá
Lượng giá trị hàng hoá do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định
Đo lượng lao động bằng thời gian diễn ra quá trình lao động như: một giờ lao động, một ngàylao động, Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian lao động quyết định Để hiểuđược lượng giá trị hàng hoá được xác định như thế nào thì trước hết ta xem xét đến hai kháiniệm là thời gian hao phí lao động cá biệt và thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết
* Thời gian hao phí cá biệt của hàng hoá
- Thời gian hao phí lao động cá biệt là độ dài thời gian để sản xuất ra sản phẩm của từngđơn vị kinh tế, từng hộ gia đình, từng xí nghiệp Thời gian hao phí lao động cá biệt phụ thuộc2
Trang 5vào các yếu tố sau:
+ Mức độ trang bị kỹ thuật của từng đơn vị
+ Trình độ tổ chức quản lý của từng đơn vị
+ Trình độ tay nghề của người lao động trong đơn vị đó
+ Cường độ lao động của đơn vị đó
Trong thực tế, mọi người đều biết rằng điều kiện làm việc của những người sản xuấthàng hóa không giống nhau nên thời gian mà họ hao phí để sản xuất ra cùng 1 thứ hàng hóa làkhông giống nhau, điều này có nghĩa là có nhiều người cùng sản xuất ra một loại sản phẩm nhưnhau, nhưng thời gian hao phí lao động lại không bằng nhau
Nếu giá trị của một hàng hóa là do lượng lao động đã chi phí trong khoảng thời gian sảnxuất ra hàng hóa đó quyết định, thì người ta có thể tưởng rằng người sản xuất ra hàng hóa cànlười biếng hay càng vụng về bao nhiêu thì giá trị hàng hóa của anh ta lại càng lớn bấy nhiêu
Như vậy cái gì quyết định lượng giá trị hàng hóa? Nói cách khác thước đo lượng giá trịhàng hóa là gì? Lượng giá trị của hàng hóa không phải được quyết định bởi thời gian lao động
cá biệt, mà được quyết định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó
* Thời gian lao động xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị
sử dụng nào đó, trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội, với một trình độ thànhthạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó
Tóm lại, thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị và làm cơ sởtrao đổi trên thị trường nhưng thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết không phải là cố định
mà luôn luôn biến đổi
Thông thường, thời gian lao động xã hội cần thiết được quyết định bởi thời gian lao động
cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận hàng hóa đó trên thị trường
* Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết Nhưngthời gian lao động xã hội cần thiết là một đại lượng luôn thay đổi do đó, lượng giá trị của hànghóa cũng luôn thay đổi Sự thay đổi lượng giá trị hàng hóa phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếusau đây: năng suất lao động, cường độ lao động và tính chất phức tạp hay giản đơn của laođộng
Một là, năng suất lao động là hiệu quả có ích của lao động cụ thể được tính bằng số
lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc thời gian cần thiết để sản xuất ramột đơn vị sản phẩm
C.Mác viết: “Sức sản xuất của lao động được quyết định bởi rất nhiều tình hình trong đócó: trình độ khéo léo trung bình của người công nhân, mức độ phát triển khoa học và trình độ
áp dụng khoa học vào quy trình công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô vàhiệu suất của tư liệu sản xuất và các điều kiện thiên nhiên Như vậy là đại lượng giá trị củamột hàng hóa thay đổi theo tỷ lệ thuận với lượng lao động thể hiện trong hàng hóa đó và tỷ lệnghịch với sức sản xuất của lao đông đó” (59)
Năng suất lao động tăng thì trong cùng một đơn vị thời gian số lượng sản phẩm tăng lên,nhưng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm xuống, do đó giá trị của mộtđơn vị sản phẩm giảm xuống
Hai là, cường độ lao động là mức độ khẩn trương, hay mật độ lao động trong một đơn vị
thời gian
Cường độ lao động tăng lên thì số lượng sản phẩm trên một đơn vị thời gian tăng lên,đồng thời tổng số giá trị hàng hóa tạo ra trong một đơn vị thời gian cũng tăng lên Nhưng lượng
Trang 6dài ngày lao động.
Ba là, lao động giản đơn và lao động phức tạp
Lao động giản đơn là lao động mà bất cứ một người bình thường nào cũng có thể thựchiện được Lao động phức tạp là lao động phải qua học tập, đào tạo, rèn luyện, tích lũy kinhnghiệm mới có được Trong cùng một đơn vị thời gian thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trịhơn so với lao động giản đơn và khi trao đổi người ta quy lao động phức tạp thành lao độnggiản được lũy thừa lên
Như vậy, đến đây chúng ta có một định nghĩa về giá trị của hàng hóa là thời gian hao phílao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra hàng hóa đó
* Cấu thành lượng giá trị hàng hóa
Để sản xuất hàng hóa, không những chỉ cần lao động sống hao phí trong quá trình chếbiến tư liệu sản xuất thành sản phẩm mới (lao động đang diễn ra) mà còn cần cả các yếu tố sảnxuất khác như công cụ, nguyên nhiên vật liệu (lao động vật hóa)
Do đó, lượng giá trị hàng hóa bao gồm cả giá trị cũ (tức là giá trị những tư liệu sản xuấtđược dùng để sản xuất hàng hóa) và giá trị mới (tức là hao phí lao động sống của người sảnxuất hàng hóa trong quá trình tạo ra sản phẩm)
Giá trị hàng hóa = giá trị cũ + giá trị mới = c +( V + m)
1.2 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Hàng hóa có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị vì lao động sản xuất hàng hóa cótính hai mặt, đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng
C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động biểu hiện trong sản xuấthàng hóa
1.2.1. Lao động cụ thể
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của một nghề nghiệp
chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích, đối tượng, phương pháp, phương tiện
và kết quả riêng
Mỗi lao động cụ thể đó có đối tượng lao động, mục đích, phương pháp và kết quả cụ thểkhác nhau Chính cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau
Lao động cụ thể có đặc điểm:
Một là, tất cả các loại lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội
ngày càng chi tiết
Hai là, là những lao động cụ thể khác nhau sẽ tạo ra các giá trị sử dụng của hàng hóa
khác nhau Do đó, lao động cụ thể càng nhiều loại thì giá trị sử dụng của hàng hóa cũng càngnhiều
Ba là, lao động cụ thể khác nhau về chất.
Bốn là, lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, tồn tại cùng với sản xuất và tái sản
xuất xã hội trong mọi chế độ xã hội Bởi lẽ, bất cứ giá trị sử dụng nào nếu không phải do thiênnhiên trực tiếp ban cho thì đều do một loại lao động cụ thể nào đó tạo ra
1.2.2. Lao động trừu tượng
Lao động của người sản xuất hàng hóa nếu coi là sự hao phí sức lực của con người nóichung, không kể hình thức cụ thể của nó như thế nào thì gọi là lao động trừu tượng
Lao động bao giờ cũng là sự hao phí sức óc, sức thần kinh và sức cơ bắp của con người,nhưng bản thân sự hao phí sức lao động về mặt sinh lý đó chưa phải là lao động trừu tượng Chỉtrong xã hội có sản xuất hàng hóa mới có sự cần thiết khách quan phải quy các loại lao động cụthể khác nhau vốn không thể so sánh với nhau được thành một thứ lao động đồng nhất, có thể
Trang 7so sánh với nhau tức là phải quy lao động cụ thể thành lao động trừu tượng.
Lao động trừu tượng có đặc điểm:
Một là, lao động trừu tượng giống nhau về chất Bởi lẽ, chúng đều thuần túy là sự hao
phí sức lực của con người nói chung
Như vậy, xét về mặt lao động cụ thể thì quá trình đó tiến hành như thế nào, sản xuất racái gì; còn xét về mặt lao động trừu tượng thì quá trình đó tốn bao nhiêu sức lực, hao phí baonhiêu thời gian lao động
Hai là, lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử, riêng có của sản xuất sản xuất hàng
hóa Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hóa thì chừng đó còn phải quy lao động cụ thểthành lao động trừu tượng
Ba là, lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa Chất của giá trị hàng hóa là laođộng trừu tượng
Nói cách khác: giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóakết tinh trong hàng hóa
Lao động cụ thể và lao động trừu tượng vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau
Tính thống nhất thể hiện ở chỗ: đây là hai mặt của cùng một lao động của người sản xuất
hàng hóa Một mặt là lao động cụ thể, và mặt khác là lao động trừu tượng Bất cứ một lao động sản xuất hàng hóa nào, một mặt được tiến hành dưới một hình thức cụ thể của nghề nghiệp chuyên môn nào đó, mặt khác đều là sự hao phí sức lao động nói chung của con người.
Mâu thuẫn giữa lao động trừu tượng và lao động cụ thể biểu hiện ở chỗ: lao động củangười sản xuất hàng hóa, nếu xét về mặt hao phí sức lực nói chung thì luôn luôn là một bộ phậncủa lao động xã hội Nhưng cũng lao động đó, nếu xét về sự hao phí sức lao động dưới mộthình thức cụ thể nhất định thì người sản xuất lại không thể biết trước xã hội cần hình thức laođộng cụ thể nào, với số lượng bao nhiêu Do vậy, có hiện tượng là một bộ phận lao động xã hội
có thể bị sử dụng vào những việc không cần thiết cho xã hội, không được xã hội thừa nhận Chỉ
có thông qua thị trường mới biết được những lao động cụ thể nào được xã hội thừa nhận, nhữnglao động cụ thể nào không được xã hội thừa nhận Mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao độngtrừu tượng được biểu hiện thành mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị Chúng là những hìnhthức biểu hiện của mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa - mâu thuẫn giữa lao động tư nhân
và lao động xã hội Nó biểu hiện ra ở chỗ:
- Lượng sản phẩm sản xuất ra và nhu cầu xã hội có thể không ăn khớp cả về quy mô lẫn
cơ cấu, chủng loại các giá trị sử dụng
- Hao phí lao động để sản xuất một loại sản phẩm có thể không phù hợp với mức độ xãhội có thể chấp nhận
- Mâu thuẫn này là sự biểu hiện tập trung của tất cả các mâu thuẫn khác trong sản xuấthàng hóa Nó chi phối toàn bộ sự vận động của sản xuất hàng hóa
Ý thứ 2 của câu hỏi:
Ý NGHĨA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG THỜI ĐẠINGÀY NAY
2.1.1Ý nghĩa của lý luận đối với xã hội tư bản:
Lý luận đã vạch rõ quy luật vận động kinh tế của xã hội tư bản, đó là quy luật giá trị thặngdư.Từ đó đã vạch ra bản chất bóc lột của xã hội tư bản là tạo ra càng nhiều giá trị thặng cho nhà
tư bản bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để chiếm đoạt ngày càngnhiều lao động làm thuêđem lại lợi nhuận tối đa cho các nhà tư bản Nhất là ngày nay chủ nghĩa
Trang 8tư bản quan tâm đặc biệt đến lợi nhuận độc quyền cao cho các tập đoàn xuyên quốc gia Vì vậyphạm vi bóc lột giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản đang ngày càng mở rộng.
Do đó quy luật giá trị thặng dư có tác động thúc đẩy sự phát triển kỹ thuật và phâncông lao động xã hội,làm cho lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng lên nhanhchóng và nền sản xuất được xã hội hoá cao Đồng thời lý luận này đã làm rõ địa vị lịch sử củagiai cấp công nhânlà người lãnh đạo cuộc đấu tranh để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa , xâydựng chế độ mới : Chế độ xã hội chủ nghĩa khi mà các mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản,trước hết là mâu thuẫn cơ bản của nó - mâu thuẫn giữa tính xã hội của sản xuất với chế độchiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ngày càng trở nên gay gắt
2.1.2 Công nhân ngày nay dươí chủ nghĩa tư bản
Ngày nay dưới sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nền kinh tế thế giới đang bướcvào nền kinh tế tri thức Sự tác động của quy luật giá trị thặng dư trở nên phức tạp hơn, hìnhthức bóc lột giá trị thặng dư tinh vi hơn
Với những thành tựu cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ thì lao động máy móc đã thaythế dần lao động bằng cơ bắp của công nhân Đồng thời máy móc lại là phương tiện để kéo dàingày lao động máy móc càng hiện đại thì cường độ lao động lại càng phải cao vì lo sợ trước
sự hao mòn của máy móc, nhà tư bản đã tìm mọi cách để tận dụng mọi khả năng làm việc củamáy móc Từ đó người công nhân bị bóc lột sức lao động nhiều hơn bằng cách rút ngắn thờigian lao động tất yếu, kéo dài thời gian lao động thặng dư tương đối
Việc sử dụng máy móc hiện đại đã cho ra đời nhiều xí nghiệp lớn, nhiều công ty xuyên quốcgia, đa quốc gia tạo ra nhiều ngành sản xuất mới thu hút hàng ngàn, hàng vạn công nhân Chínhkhoa học kỹ thuật và những máy móc hiện đại đã tạo cho con người có khả năng chinh phục tựnhiên, tạo ra của cải vật chất nhiều hơn Đồng thời máy móc cũng gây cho nhiều công nhân thấtnghiệp gây nên nạn thất nghiệp trầm trọng Nhất là khi máy móc xâm nhập vào nông nghiệp đãlàm cho nhu cầu về lao động trong nông nghiệp giảm mạnh Sự phát triển của máy móc với tốc
độ chóng mặt như hiện nay và những tác hại từ sóng điện từ của những thiết bị tin học đã làmcho người lao động mắc nhiều bệnh nghề nghiệp và hao phí rất nhiều sức lao động
Nếu như trước đây người lao động bán sức lao động để làm ra sản phẩm thì ngày nay hình thứcquan trọng nhất của tài sản là những thứ không trực cảm được, nó là tri thức Chính tri thức đãlàm cho việc tạo ra của cải thực sự ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng hao phí hơn
là phụ thuộc vào những tác nhân đưa vào vận vận dụng trong suốt thời gian lao động Ngàynay hàm lượng chất xám ( sự đầu tư trí tuệ của công nhân trí thức , kĩ sư lập trình , nhà khoahọc phát minh, nhà quản lý ) chiếm 70, 80 thậm chí 90 % giá trị của sản phẩm Bất cứ lao độngnào , lao động giản đơn hay lao động trí tuệ dưới chủ nghĩa tư bản điều bị bóc lột giá trị thăng
dư
Tuy nhiên , nếu nhà tư bản là nhà quản lý thì họ cũng phải được trả công , lao động của họ làlao động phức tạp nên họ cũng phải được trả lương cao hơn lao động giản đơn Nhưng tiềncông với phần lợi nhuận ròng mà nhà tư bản thu được là hai khoản chênh lệch nhau rất xa Chonên thu nhập chủ yếu của nhà tư bản trong điều kiện nền kinh tế tri thức không phải từ côngquản lý mà từ phần lao động thặng dư của người lao động làm thuê, chủ yếu là lao động trí tuệ
mà nhà tư bản chiếm lấy
Để các nhà tư bản, các tập đoàn , các tổ chức xuyên quốc gia có thể tồn tại và phát triển, đểlàm giảm bớt mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, các nhà tư bản đã nhânnhượng một phần khi họ trả công cao hơn cho công nhân Người lao động có sở hữu cổ phầntức là cũng có vai trò làm chủ Điều này thể hiện quyền lưc mà giai cấp tư sản nắm không cósức chi phối tuyệt đối như trước kia Nhưng khối lượng giá trị thăng dư mà giai cấp tư sản tướcđoạt của công nhân vẫn y nguyên như trước, chỉ có sự phân phối giá trị thặng dư là thay đổi
Trang 9nhưng cũng chẳng thay đổi bao nhiêu Chẳng được là bao nhiêu vì số cổ phiếu của công nhânkhông đáng gì so với cổ phiếu khống chế của nhà tư bản Cũng vì thế có cổ phiếu nhưng vẫnchưa phải là người chủ sở hữu đích thực, vẫn phải bán sức lao động nên họ vẫn bị bóc lột Mặc
dù so với công nhân không có cổ phiếu thì trên ý nghĩa nào đó , bộ phận công nhân có cổ phiếu
bị bóc lột có phần thấp hơn
Hơn nữa , trong chủ nghĩa tư bản ngày nay không chỉ có bóc lột giai cấp công nhân và nhân dânlao động ở mỗi nước tư bản mà là sự bóc lột đông đảo nhân dân thế giới Hình thức bóc lộtcũng mới hơn như bóc lột thông qua việc xuất khẩu kĩ thuật và công nghệ, việc mở chi nhánhsản xuất ở các nước khác
Xét cho cùng thì tuy chủ nghĩa tư bản ngày nay đã có sự điều chỉnh nhất định, văn minh hơn,hiện đại hơn và cũng đã có chú ý đến một số chính sách xã hôi Nhưng về bản chất thì sự điềuchỉnh đó không giải quyết được mâu thuẫn cơ bản , đây chỉ là những điều chỉnh buộc các nhà
tư bản phải làm để bảo vệ, duy trì , kéo dài sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản mà thôi còn đại bộphận nhân dân lao động vẫn sống khổ sở Trên thế giới 20 % người giàu nhất đã chiếm 80 %của cải, 80 % số người còn lại chỉ có 20% của cải Riêng tài sản của một mình ông Bill Gateschủ hãng Microsoft là gần 100 tỷ USD Vì vậy trong xã hội tư bản hiên nay sự phân hoá giàunghèo, tình trạng bóc lột giá trị thặng dư là không tránh khỏi
2.2 Ý nghĩa của lý luận giá trị thặng dư của Mac và sự vận dụng lý luận này vào nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
2.2.1 Ý nghĩa của lý luận giá trị thặng dư đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Học thuyết giá trị thặng dư là học thuyết được Mac xây dựng dựa trên phương thức tư bản chủnghĩa Nhưng học thuyết này cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế
ở nước ta hiện nay , sản xuất giá trị thăng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản.Khi nghiên cứu quy luật này Mac đã nghiên cứu rất kỹ về nền sản xuất hàng hóa , nền kinh tếthị trường Nước ta hiện nay đang phát triển theo nền kinh tế thị trường địng hướng xã hội chủnghĩa Kinh tế thị trường là sản phẩm hoạt động kinh tế của nhân loại, trải qua nhiều thời đại, lànền kinh tế hàng hóa phát triển cao, vận động theo cơ chế thị trường có xu hướng tự phát và xuhướng đòi hỏi tự do hóa, nhất là từ phía các chủ thể có thế mạnh trong môi trường cạnh tranh
và chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất , phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất –
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân lao động và tất cả các thành viêntrong xã hội Tuy nền kinh tế hàng hoá ở nước ta mang đặc thù riêng của chủ nghĩa xã hội ,nhưng đã là sản xuất hàng hóa thì đều phải chịu tác động của quy luật giá trị và quy luật sảnxuất giá trị thặng dư
Vì vậy nghiên cứu nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa từ quá trình sản xuất, thực hiện phânphối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản cho đến những biện pháp, thủ đoạn nhằm thu đượcnhiều giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản để có thể tiếp thu , kế thừa những thành tựu mànhân loại đạt được Từ đó phát triển nhanh lực lượng sản xuất , xây dựng và hoàn thiện quan hệsản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng các thành phần kinh tế đi vào quỹđạo của chủ nghĩa xã hội
Nghiên cứu quá trình tổ chức sản xuất và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa với tính cách là một nềnsản xuất lớn có quá trình xã hội hóa ngày càng cao tạo ra khối lượng giá trị thặng dư ngày cànglớn Từ đó vận dụng vào nền kinh tế nước ta ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhằm thúcđẩy nhanh quá trình xã hội hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ một nền sản xuất nhỏ trên
cơ sở sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư Nhằm thực hiện nhiệm vụ trung tâm của thời
Trang 10kỳ quá độ là công nghiệp hóa , hiện đại hoá nền kinh tế để không ngừng nâng cao đời sông vậtchất và tinh thần của người lao động
2.2.2 Sự vận dụng lý luận giá trị thặng dư của Mac vao nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Vận dụng học thuyết giá trị thặng dư của Mác là cần thiết và có lợi cho sự phát triển nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát là nước tiểu nông,nghĩa là từ một nước chưa có nền kinh tế hàng hóa, mặc dù có sản xuất hàng hóa Nhưng nềnkinh tế nước ta là nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do vậy “cách tổ chức của kinh tế xãhội” theo kiểu sản xuất hàng hóa cũng mang tính quá độ Nghĩa là, trong cùng một nền kinh tếvừa có kinh tế hàng hóa vì lợi ích của Nhân dân, vừa có kinh tế hàng hóa vì lợi ích của tư nhân.Nhưng dù là nền kinh tế hàng hóa nào thì sản phẩm cũng đều mang hình thức giá trị thặng dư,mặc dù chúng phản ánh những quan hệ xã hội đối lập nhau Trong đó, giá trị thặng dư phản ánhmối quan hệ bóc lột và bị bóc lột vẫn được coi là nhân tố “trợ thủ của chủ nghĩa xã hội”, “xúctiến chủ nghĩa xã hội”, là cái “có ích” và “đáng mong đợi” Vì thế, cốt lõi của vấn đề là phải tạođiều kiện môi trường cho sự gia tăng khối lượng giá trị thặng dư toàn xã hội ngày càng lớn, tỷsuất ngày càng cao
Điều đó cho thấy, trước hết, chính sách áp dụng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần hay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn.Việc áp dụng lý luận giá trị thặng dư của C.Mác vào quá trình phát triển kinh tế cho ta thấy:Muốn phát triển được nền kinh tế của đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển thì khôngthể không tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tăng cường cải tiếnkhoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn, tay nghề của người lao động, nângcao hiệu số sản xuất Có thay đổi những yếu tố đó thì mới đem lại được năng suất lao độngcao từ đó thu được nguồn lợi nhuận lớn
Ngày nay, trải qua thực tiễn, chúng ta ngày càng nhận thức rõ: “Sản xuất hàng hóa không đốilập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại kháchquan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã đượcxây dựng” [4, 97] Thực tiễn chứng minh, trong nền kinh tế thị trường thì thành phần kinh tế tưnhân có vai trò rất to lớn, là động lực lớn cho nền kinh tế
Nghiên cứu để khẳng định sự đúng đắn về lý luận giá trị thặng dư không phải để nhằm kỳ thịthành phần kinh tế tư nhân Trái lại, hiểu rõ mục đích, bản chất, động lực của kinh tế tư nhân để
có chính sách thích hợp, vừa khuyến khích nó phát triển, vừa có chính sách quản lý và điều tiếthợp lý để sử dụng kinh tế tư nhân phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nướckém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Khai thác động lực kinh tế tư nhân là để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Có chính sách đúng đắn và bảo đảm mức lợi nhuận thỏa đáng cho tư nhân
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả trong chủ nghĩa xã hội vẫn còn phạm trù giátrị thặng dư Vì thế, chúng ta phải học tập các nhà tư bản để sản xuất ra càng nhiều giá trị thặng
dư càng tốt Điều đó hoàn toàn phù hợp với lý luận của V.I.Lênin: “Tri thức về chủ nghĩa xã hộithì chúng ta có, nhưng chúng ta chưa có tri thức về tổ chức với quy mô hàng triệu người, chưa
có tri thức về tổ chức và phân phối sản phẩm” [5, 314-315] Theo tinh thần đó, trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, việc vận dụng học thuyết giá trịthặng dư là cần thiết và có lợi
Ngày nay, từ quan điểm đổi mới về chủ nghĩa xã hội, học thuyết giá trị thặng dư có ý nghĩaquan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Việc nghiên cứu, vận dụng học thuyết này ở nước ta trở thành một việc làm cần thiết
Trang 11Nước ta đang phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mặc dù nền kinh tế hàng hóa ởnước ta có những đặc trưng riêng của nó, song đã là sản xuất hàng hóa thì ở đâu cũng đều cónhững đặc tính phổ biến, cũng phải nói đến gái trị và giá trị thặng dư Điều khác nhau chỉ làtrong những quan hệ kinh tế khác nhau thì giá trị và giá trị thặng dư mang bản chất xã hội khácnhau Do vậy, việc nghiên cứu tính phổ biến và tính đặc thù của nền sản xuất hàng hóa tư bản,nghiên cứu những phạm trù, quy luật và việc sử dụng chúng trong nền kinh tế hàng hóa tư bảnchủ nghĩa từ di sản lý luận của Mác là việc làm có nhiều ý nghĩa thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Câu 2: Nội dung, tác động của quy luật giá trị? Vận dung trong điều kiện Việt Nam?
Quy luật giá trị: Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự chi phối của quy luật giá trị.
Nội dung của quy luật giá trị
Quy luật giá trị đòi hỏi sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí thờigian lao động xã hội cần thiết (trao đổi phải theo nguyên tắc ngang giá) Để thực hiện hàng hóathì hao phí lao động cá biệt để sản xuất hàng hóa phải phù hợp với hao phí lao động xã hội cầnthiết, trong trao đổi cũng phải dựa theo nguyên tắc ngang giá
+ Trong sản xuất: Người sản xuất phải làm sao cho chi phí cá biệt nhỏ hơn hoặc bằng chiphí xã hội
Trong kinh tế hàng hóa mỗi người sản xuất có điều kiện sản xuất khác nhau do vậy màhao phí lao động cá biệt cũng khác nhau nhưng khi trao đổi hàng hóa phải căn cứ vào hao phílao động xã hội Muốn bán được hàng, bù đắp được chi phí và có lãi, người sản xuất phải hạđược chi phí cá biệt nhỏ hơn hoặc bằng chi phí xã hội
- Trong trao đổi: Quy luật giá trị yêu cầu phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá
Cơ chế hoạt động của quy luật giá trị:
Thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa trên thị trường sẽ thấy được sự hoạt độngcủa quy luật giá trị Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, giá trị là cơ sở, là nội dung của giá
cả cho nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị, điều này có nghĩa là, những hàng hóa nào cógiá trị càng cao thì giá càng cao và ngược lại
Tuy nhiên, trên thị trường ngoài giá trị, giá cả còn chịu ảnh hưởng của các quy luật như:cạnh tranh, cung cầu và lưu thông tiền tệ Sự tác động của những nhân tố này làm cho giá cả vàgiá trị không đồng nhất với nhau mà tách rời nhau Sự vận động giá cả của các hàng hóa trên thịtrường lên xuống xoay xung quanh giá trị trở thành cơ chế hoạt động của quy luật giá trị C.Mác gọi đó là “vẻ đẹp” của quy luật giá trị
Trong “vẻ đẹp” này, giá trị hàng hóa là trục, giá cả hàng hóa trên thị trường lên xuốngxoay quanh trục đó Đối với mỗi hàng hóa riêng biệt, giá cả của nó có thể cao hơn, thấp hơnhoặc phù hợp với giá trị của nó Nhưng cuối cùng, tổng giá cả phù hợp với tổng giá trị củachúng Chính nhờ phương thức vận động như vậy của giá cả mà quy luật giá trị phát huy tácdụng
Tác động của quy luật giá trị:
Một là, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Điều tiết sản xuất: Nếu ngành nào đó cung không đáp ứng cầu, giá cả tăng lên vượt quágiá trị thì người sản xuất sẽ đổ xô vào ngành đó Ngược lại, khi ngành đó thu hút quá nhiều laođộng xã hội, cung vượt cầu thì giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống người sản xuất sẽ chuyển bớt cácyếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động ra khỏi ngành này để đầu tư vào nơi có giá cả hàng hóacao hơn Nhờ đó mà các tư liệu sản xuất và sức lao động được phân phối qua lại một cách tự
Trang 12phát vào các ngành sản xuất khác nhau.
Trong lưu thông, quy luật giá trị có tác dụng điều tiết nguồn hàng từ nơi có giá cả thấpđến nơi có giá cả cao
Hai là, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển
Trong kinh tế hàng hóa, người nào có chi phí lao động cá biệt nhỏ hơn chi phí lao động
xã hội sẽ thu được nhiều lợi ích và thắng lợi trong cạnh tranh Vì vậy, mỗi người sản xuất đềuphải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật hoàn thiện quản lý, tổ chức nâng cao năng suất lao động.Đầu tiên việc cải tiến kỹ thuật chỉ diễn ra ở một số ngành, nhưng do cạnh tranh thì kỹ thuật củatoàn xã hội được phát triển Vậy là quy luật giá trị đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Ba là, phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ làm nảy sinh quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa
Sự phân hóa những người sản xuất nhỏ là kết quả tất yếu của sản xuất hàng hóa Bởi vì,trong quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị những người có điều kiện sản xuất thuận lợi năngsuất lao động cao, hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết nhờ đóthu được lợi nhuận cao có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại những ngườikhông có điều kiện thuận lợi, gặp rủi ro trong kinh doanh bị thua lỗ phá sản trở thành người làmthuê
Quy luật giá trị hoạt động trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn với những tác dụng trên
đã tạo ra những tiền đề cho sự ra đời sản xuất tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, trong thực tiễn lịch
sử sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được đẩy nhanh bởi yếu tố mang tínhchủ quan đó là quá trìn h "tích lũy nguyên thủy của tư bản"
Vận dụng trong điều kiện Việt Nam:
Ngày nay chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong giaiđoạn đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng sản xuất còn yếu kém thì ta phảidùng các hình thức và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất ,khuyến khích tinh thần năng động, sáng tạo của người lao động , giải phóng sức sản xuất , thúcđẩy công nghiệp hóa, hiện đại hoá nhưng là để đi lên chủ nghĩa xã hội , không phải là để cho thịtrường tự phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa
Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một sự nghiệp rất khó khăn ,phức tạp nên chúng ta phải chấp nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất,nhiều thành phần kinh tế , nhiều giai cấp , tầng lớp xã hội khác nhau Trong đó chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất là chủ yếu , kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốcdân Coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân , tập thể và xã hội , chăm lo toàn diện và phát huynhân tố con người tạo ra đội ngũ có chất lượng có trí tuệ cao đủ sức đáp ứng những đòi hỏi của
sự nghiệp công nghiệp hoá , hiện đại hoá , đủ sức tạo ra những lợi thế cạnh tranh cho đất nướctrên thị trường thế giới
Cơ chế thị trường mà chúng ta xây dựng không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện Mụcđích của chúng ta không phải là chạy theo lợi nhuận tối đa của một số người không phải chỉ vìtiền mà mục đích của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội Một xã hội do nhân dân lao độnglàm chủ , có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lưc lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất là chủ yếu , con người được giải phóng khỏi áp bức , bóc lột , bất công , làmtheo năng lực hưởng theo lao động , lợi ích giai cấp công nhân gắn liền với lợi ích toàn dân tộc Mọi người có cuộc sống ấm no tự do , hạnh phúc có điều kiện để phát triển toàn diện , giữa conngười với con người có tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau Chúng ta chủ trương làm giàunhưng đó là làm giàu hợp pháp, cùng với làm giàu phải xoá đói , giảm nghèo Trong nền kinh
tế thị trường sự phân hoá giàu nghèo là khó tránh khỏi , chúng ta phải chấp nhận nhưng phảihạn chế nó
Trang 13Hiện nay đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng , sự quản lý của nhà nước đã kết hợp tính địnhhướng và cân đối của kế hoạch với tính năng động và nhạy cảm của thị trường , phát huy mặttích cực hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường Thực hiện việc phân phối theo lao động vàhiệu quả kinh tế là chủ yếu ,nhưng cũng còn tồn tại nhiều hình thức phân phối khác: phân phốitheo vốn, theo tài sản, phân phối ngoài thù lao lao động để khuyến khích người lao động tíchcực làm việc.
Ngày nay với sự phát triển như vũ bảo của cách mạng khoa học kỹ thuật, giai cấp công nhâncũng không ngừng trưởng thành theo Nhưng ở nước ta , việc đào tạo người lao động còn nhiềubất cập , mới chỉ có 7 % dân số và 14,3 % tổng số lao động cả nước qua đào tạo ở các trình độkhác nhau nhưng lại chỉ có 70 % số người được đào tạo làm đúng ngành nghề Nhiều người cótrình độ thật sự nhưng không được sử dụng đúng chổ , không có điều kiện để phát huy tài năng.Nhiều người sau khi đã được đào tạo có trình độ, tay nghề cao lại có xu hướng đi làm thuê ởnước ngoài hoặc làm cho các doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài Vì vậy nhà nước phải cóchính sách đào tạo , bố trí , sử dụng hợp lý để tạo ra đôi ngũ những con người có chất lượng ,tay nghề , có trí tuệ cao đặc biệt là có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội đủ sức đáp ứngnhững đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hoá Sự đầu tư vào nguồn lực conngười , nhất là những con người trực tiếp làm khoa học , công nghệ và giáo dục đào tạo chính làgóp phần thúc đẩy khoa học và công nghê phát triển
Để giải phóng mọi lực lương sản xuất , sản xuất có hiệu quả thì trước hết phải cải biến dần quan
hệ sản xuất , phát triển từ thấp đến cao theo tính chất và trình độ đạt được của lực lượng sảnxuất Để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển trong nền kinh tế nhiêu thành phần thì nhànước phải có chính sách phù hợp với từng thành phần kinh tế Chẳng hạn như đối với cácdoanh nghiệp nhà nước , phải thực hiện được quyền dân chủ thông qua Hiến pháp và phápluật , thông qua thoả ước lao động tập thể , nôi quy của doanh nghiệp , quy chế hoạt động củaban thanh tra công nhân Để phát huy tinh thần sáng tạo , đóng góp xây dựng nhà máy xínghiệp, thực hiện việc đại ngộ nhân tài , kiểm tra giám sát lẫn nhau giữa giám đốc và côngnhân Thực hiện cơ chế để công nhân tham gia quản lý và giám sát hoạt động của doanhnghiệp , mọi hoạt động sản xuất kinh doanh , tài chính của doanh nghiệp phải được công khaihoá , minh bạch hoá Bảo đảm hài hoà lợi ích của nhà nước , của doanh nghiệp , của giám đốc
và của người lao động tương ứng với kết quả sản xuất , kinh doanh của doanh nghiệp Đồngthời phân định rõ ràng về quyền hạn , trách nhiệm , nghĩa vụ và quyền lợi của giám đốc , côngnhân , viên chức đối với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tránh bệnhquan liêu , hách dịch đối với cán bộ , công nhân , viên chức cấp dưới Đối với sản xuất cá thể
và kinh tế hợp tác đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp chúng ta cần phải làm giảm tình trạng :
ép giá nông dân , giảm lao động thất nghiệp ở nông thôn bằng các chính sách của nhà nước ,thu hút các nguồn lao động nhàn rỗi vào các nghành nghề thủ công , tạo nên những làng nghềthủ công truyền thống ,nhất là những ngành có giá trị xuất khẩu cao để từng bước công nghiệphoá , hiện đại hoá nông thôn
Cho nên mặc dù nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta có nhiều thànhphần kinh tế , nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội nhưng mối quan hệ giữa các thành phần , giaicấp , tầng lớp là quan hệ hợp tác đoàn kết để xây dựng một xã hôi do nhân dân làm chủ , nềnkinh tế phát triển tạo ra nhiều của cải vật chất chống lại nghèo nàn , lạc hậu , giải phóng conngười khỏi áp bức bóc lột , bất công , làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm
no, tự do , hạnh phúc
Câu 3: Lý luận hàng hóa sức lao động của Các Mác? Liên hệ thực tiễn với Việt Nam?
Lý luận về hàng hóa sức lao động của Các Mác:
Trang 141 Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa.
Sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực) tồn tại trong một con người vàđược người đó sử dụng vào sản xuất Sức lao động là cái có trước, còn lao động là quá trình vậndụng sức lao động
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng đều là điều kiện cơ bản của sản xuất Nhưngkhông phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa Sức lao động chỉ có thểtrở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định sau đây:
Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao độngcủa mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa
Thứ hai, người có sức lao động không còn có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình thựchiện lao động và cũng không có của cải gì khác buộc phải bán sức lao động cho người khác sửdụng
Việc sức lao động trở thành hàng hóa đánh dấu bước ngoặt cách mạng trong phương thứckết hợp người lao động với tư liệu sản xuất, là một bước tiến lịch sử so với chế độ nô lệ vàphong kiến Chính sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động đã làm cho sản xuất hàng hóa trởnên có tính chất phổ biến và đã báo hiệu sự ra đời của một thời đại mới tong lịch sử xã hội-thờiđại của chủ nghĩa tư bản
2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động.
Giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị vàgiá trị sử dụng
Giá trị của hàng hóa sức lao động, cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
và tái sản xuất sức lao động quyết định Giá trị hàng hóa sức lao động được hợp thành bởi các
bộ phận: Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuấtsức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân Hai là, phí tổn đào tạo người côngnhân Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái ngườicông nhân Là hàng hóa đặc biệt, giá trị hhh sức lao động khác với hàng hóa thông thường ởchỗ: Giá trị hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạtcần thiết để tái sản xuất ra sức lao động Giá trị của hàng hóa sức lao động ngoài các yếu tố vậtchất còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử, do đó nó không chỉ phụ thuộc vào các điều kiện
tự nhiên mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình
độ văn minh đã đạt được, vào điều kiện lịch sử hình thành giai cấp công nhân Giá trị hàng hóasức lao động của các nước khác nhau sẽ có sự khác nhau
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động Hàng hóa sức lao động không chỉ có giá trị
mà còn có giá trị sử dụng như bất kỳ một hàng hóa thông thường nào Giá trị sử dụng của hànghóa sức lao động chỉ thể hiện trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao độngcủa người công nhân Tuy nhiên giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động đặc biệt ở chỗ: Quátrình tiêu dùng hàng hóa sức lao động là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đôngthời tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sứclao động là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt Đây chính là chìa khóa để giải thíchmâu thuẫn của công thức chung của tư bản Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện củahàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản
II-Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác liên hệ với thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay
1 Định nghĩa thị trường lao động.
Thị trường sức lao động là thị trường mà trong đó các dịch vụ lao động được mua bánthông qua một quá trình để xác định số lượng lao động được sử dụng cũng như mức tiềncông/tiền lương Tại đây người lao động (bên cung) và người sử dụng lao động (bên cầu) là hai
Trang 15chủ thể của thị trường lao động, có quan hệ ràng buộc với nhau, dựa vào nhau để tồn tại Sự tácđộng lẫn nhau của hai loại chủ thể này quyết định tính cạnh tranh của thị trường Bên cạnh đócũng như các loại khác thị trường lao động tuân thủ theo những quy luật của thị trường nhưquy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh.
2 Quá trình hình thành thị trường lao động ở Việt Nam.
Ở Việt Nam phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đềcốt lõi, trọng tâm của Đảng ta Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước tađòi hỏi phải có sự phát triển đồng bộ các loại thị trường và Nghị quyết Đại hội IX cũng đã nhấnmạnh phải tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường Cho nên việc xây dựng thị trường sứclao động là tất yếu và thị trường sức lao động từ chỗ không tồn tại đã bắt đầu được hình thành
và phát triển Việc chúng ta khẳng định sức lao động là hàng hóa không có nghĩa là quay lạiquan hệ tư bản và lao động như trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa mà là sự kế thừa, phát triểnnhằm tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động và quản lý mối quan hệ giữangười có sức lao động và người sử dụng lao động, từ đó nâng cao năng suất lao động, tạo nhiềucủa cải vật chất cho xã hội
Quá trình hình thành và phát triển cũng như sự vận động của thị trường sức lao động ởViệt Nam có những đặc điểm hết sức riêng biệt
a/ Thời kỳ trước năm 1986
Cũng như nhiều nước đang phát triển, sự hình thành và phát triển thị trường lao độngViệt Nam gắn với quá trình phân hóa tự nhiên của nền sản xuất nhỏ Từ những năm 70 và đầuthập kỷ 80, chủ yếu là hình thức thuê mướn lao động theo thỏa thuận miệng, thời gian ngắn,mang tính tạm thời, và không ổn định Trước 1986, thị trường lao động công khai chỉ xuất hiệntrong khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tập thể Việc sử dụng lao động mang nặngtính kế hoạch hóa tập trung Về mặt nhận thức, lao động không được coi là một thứ hàng hóađặc biệt do vậy không được “mua” và “bán” trên thị trường Sự chuyển dịch lao động còn ítgiữa các vùng, giữa thành thị với nông thôn cũng như trong nước và ngoài nước Trong thời kỳnày khái niệm thất nghiệp cũng như thị trường lao động chưa được đề cập một cách chính thức
về mặt xã hội Nhìn chung trước năm 1986, thị trường lao động ở Việt Nam còn manh mún,phân tách, chia cắt
b/ Thời kỳ 1986-1993
Chủ trương chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nên kinh tế thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa được khởi thảo với Nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ VI(1986) cùng với đó là một loạt các chính sách mới về thị trường lao động ra đời:
- Hiến pháp 1992 khẳng định rõ quyền của mọi công dân trong việc lựa chọn hình thứclàm việc hợp lý Vai trò của nhà nước tập trung chủ yếu trong quản lý lao động và pháttriển hệ thống cơ chế chính sách để phát triển hài hòa các mối quan hệ lao động
- Phát triển chương trình quốc gia xúc tiến việc làm và chính sách khung Nhà nước từ vaitrò tạo việc làm trực tiếp như thời kỳ trước đây sang hỗ trợ chính sách tối ưu để khuyếnkhích tự tạo việc làm
- Thừa nhận lao động như môt thứ hàng hóa đặc biệt được trao đổi trên thị trường và tiềnlương được xác định trên cơ sở giá trị sức lao động
- Quy định mức tiền lương tối thiểu (năm 1993) cho các khu vực kinh tế trong nước, từngbước hình thành mạng lưới an toàn xã hội cho người lao động trong điều kiện kinh tế thịtrường
Các cải cách kinh tế và thể chế đã tạo điều kiện cho thị trường lao động dần dần được hìnhthành và phát triển
c/Thời kỳ 1993 đến nay
Trang 16Thời kỳ này, thị trường lao động Việt Nam chuyển sang một bước phát triển mới, đặcbiệt sự ra đời của bộ luật lao động (1994) đã thể chế hóa các quan niệm về việc làm cũng nhưcác quy định có liên quan đến thị trường lao động Đồng thời bộ luật lao động cũng đã cụ thểhóa các quy định của Hiến pháp 1992 về lao động, quản lý lao động, về mối quan hệ giữa ngườilao động và người sử dụng lao động, về nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm của các bên thamgia thị trường lao động Bộ luật lao động đã tạo điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý cho cho sựhình thành và phát triển một thị trường lao động thống nhất, linh hoạt trên phạm vi cả nước.
3 Thực trạng phát triển thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay.
a/ Thực trạng về cung lao động
Cung lao động là tổng nguồn sức lao động do người lao động tự nguyện đem tham dựvào quá trình tái sản xuất xã hội Cung lao động được xem xét dưới hai góc độ là số lượng vàchất lượng lao động
a.1 Về số lượng
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội thì đến ngày 1 tháng 7 năm
2002, dân số Việt Nam là 79.930.000 người Trong đó số người trong độ tuổi lao động là40.694.360 người, mức tăng trung bình hàng năm là 2,6% So với tốc độ tăng dân số(1,7%/năm) thì tốc độ tăng dân số trong độ tuổi lao động cao hơn nhiều Kết quả là mỗi nămnước ta có khoảng 1,1 triệu người bước vào độ tuổi lao động Và nếu so với mức tăng việc làmtrong cùng thời kỳ thì ở nước ta (khoảng từ 1,4% đến 2%) thì có thể thấy rõ rằng hiện có một
bộ phận người lao động trong độ tuổi không thể tìm kiếm được việc làm
Về cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính: Trong khi tỷ lệ nam giới trong lực lượng laođộng ở nước ta hầu như tương đương với các nước trong khu vực thì tỉ lệ nữ giới lại lớn hơnhẳn Ví dụ: nếu ở Việt Nam năm 1997-1998 tỷ lệ nữa tham gia vào lực lượng lao động xã hộichiếm 79,5% thì theo tố liệu của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) ở Philippines, Indonesia, HànQuốc tỷ lệ này chỉ trên dưới 50% Đặc biệt ở các vùng nông thôn, tỷ lệ tham gia của lao động
nữ vào lực lượng lao động ở mọi độ tuổi đều gần như ngang bằng với nam giới
a.2 Về chất lượng
Thứ nhất, về mặt sức khỏe, thể lực của người kém xa so với các nước trong khu vực vềcân nặng, chiều cao, sức bền…Theo số liệu điều tra thì số người không đủ tiêu chuẩn về cânnặng ở Việt Nam chiếm tới 48,7%, số lượng người lớn suy dinh dưỡng là 28%, phụ nữ thiếumáu là 40% (số liệu điều tra năm 2002) Các số liệu điều tra năm 2001 đối với người lao độngtrong một số doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy số người mắc bệnh nghề nghiệp chiếm 54%
Tốt nghiệptiểu học
Tốt nghiệpTHCS
Tốt nghiệpTHPT
Qua bảng trên ta thấy trình độ phổ cập giáo dục phổ thông trong lực lượng lao động của nước tatương đối cao, tỷ lệ người chưa biết chữ đã giảm (năm 2002 là 3,7% trong khi tỷ lệ này củaThái Lan là 4%) Tuy nhiên sự chuyển biến này còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu pháttriển kinh tế
Trang 17Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động còn thấp Theo kết quả điều tra laođộng việc làm của Bộ Lao đông-Thương binh-Xã hội đến 1/7/2002, tính chung cả nước sốngười được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng (có trình độ sơ cấp hoặc có chứng chỉ nghề trở lên)chiếm 19.62% tổng lực lượng lao động và trong đó trình độ cao đẳng, đại học trở nên chỉ có4,16% Trình độ chuyên môn kỹ thuật giữa thành thị với nông thôn cũng có sự khác biệt lớn Ởkhu vực thành thị, tỷ lệ có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 44,6%, ở nông thôn là 11,89% Đặcbiệt là ở miền núi, các nông lâm trường, trình độ văn hóa, tay nghề của công nhân còn thấp hơnnhiều so với những nơi khác.
Như vậy, số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật ở nước ta cònquá thiếu so với yêu cầu Hơn nữa số này chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, trong khi nôngnghiệp chiếm 60,5% tổng số lực lượng lao động của cả nước nhưng chỉ chiếm 3,85% số ngườiđược đào tạo
Về ý thức kỷ luật lao động của người lao động còn thấp do nước ta là một nước nôngnghiệp nên phần lớn người lao động còn mang nặng tác phong sản xuất của một nền nhà nướctiểu nông Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm,không có khả nặng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệmlàm việc
b/Thực trạng về cầu lao động
Cầu lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một địa phương, một ngànhhay một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian xác định Nhu cầu này thể hiện qua khả năngthuê mướn lao động trên thị trường lao động Theo số liệu của Bộ Lao động-thương binh-xãhội, số lượng việc làm có xu hướng gia tăng trong suốt thời kỳ 1991-2000 Nếu trong gai đoạn1991-1995, số chỗ việc làm tăng thêm bình quân hàng năm khoảng 863 ngàn chỗ, thì đến giaiđoạn 1996-2000 bình quân mỗi năm đã có khoảng 1,2 triệu chỗ làm việc mới được tạo ra Sovới số lượng người bước vào tuổi lao động tăng lên hàng năm (khoảng 1,3 triệu người), thì sốchỗ làm việc được tạo ra hàng năm hầu như chưa đủ để đảm bảo công việc cho người lao động.Hàng năm số người chưa có việc làm vẫn còn khá cao, tỷ lệ thất nghiệp luôn dao động từ 5-7%Bảng2: Tỷ lệ lao động có việc làm và chưa có việc làm ở nước ta năm 1996-2003 (%)
Năm Lao động có việc làm Lao động chưa có việc làm
c/ Giá cả sức lao động (tiền lương/tiền công)
Trên thị trường lao động giá cả hàng hóa sức lao động được thể hiện dưới dạng tiềnlương/tiền công Cũng giống như các loại hàng hóa khác, giá cả hàng hóa sức lao động cũng bịquy định bởi giá trị của nó và của các quy luật kinh tế như quy luật cung-cầu Ở nước ta, cảicách trong chính sách tiền lương năm 1993 đã đem lại những thay đổi bước đầu trong hệ thốngtrả công lao động, tạo nên sự hài hòa giữa người lao động với người sử dụng lao động Chínhsách cải cách tiền lương quy định về mức lương tối thiểu; quan hệ tiền lương giữa các khu vực;các chế độ phụ cấp tiền lương, thu nhập, trong đó xác định mức tiền công, tiền lương tối thiểu
là căn cứ nền tảng để xác định giá cả sức lao động Hệ thống thang bảng lương cũng đã dần dầnđược điều chỉnh Đối với các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước đã ban hành hệ thống thangbảng lương, bảng lương (Nghị định 26/CP ngày 13/5/1993) để các doanh nghiệp nhà nước ápdụng thống nhất, và trở thành thang giá trị chung cho việc tính lương như một yếu tố đầu vào
Trang 18Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổchức quốc tế hoạt động tại Việt Nam và các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp,nhà nước đã thể chế hóa chính sách tiền lương bằng cách ban hành mức lương tối thiểu, còn cácnội dung khác của chính sách tiền lương chỉ mang tính hướng dẫn để các doanh nghiệp, cơquan hay tổ chức đó quyết định trên cơ sở quan hệ cung cầu lao động trên thị trường và điềukiện của từng bên tham gia thị trường.
Tiền công của người lao động kể từ khi có cải cách được tăng lên đáng kể Theo kết quảđiều tra lao động việc-việc làm (Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội 1/4/2004) tính trung bình cảnước, tiền lương bình quân tháng của một lao động làm công ăn lương hưởng là 845000 đồng,tăng 9% so với năm 2003, tăng 58% so với giai đoạn 1997-1998
d/Sự chuyển dịch lao động
d.1 Chuyển dịch lao động nội địa
- Chuyển dịch theo ngành: Với sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xãhội chủ nghĩa thì sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế là rất quan trọng Nhìnchung sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực.Bảng 3: Lao động có việc làm chia theo nhóm ngành kinh tế (1996-3003)-đv:%
sự chuyển dịch này diễn ra còn chậm chạp
- Chuyển dịch theo lãnh thổ: Các dòng lao động nước ta có xu hướng di chuyển từ Bắc vàoNam do một số tỉnh miền Nam hiện đang có điều kiện phát triển kinh tế tốt hơn đặc biệt là vềtrịn độ phát triển kinh tế Nhưng dòng di chuyển lao động mạnh nhất hiện nay vẫn là từ nôngthôn ra thành thị: có đên gần ½ dân số hiện đang sống ở các vùng đô thị có nguồn gốc từ nôngthôn, chưa kể số lao động đến làm việc theo ngày, hoặc theo thời vụ…Trong khi đó, người cónguồn gốc từ thành thị chuyển đến sinh sống và làm việc ở các vùng nông thôn chỉ chiếm con
số rất nhỏ (gần 8%)
d.2 Di chuyển lao động quốc tế
Trong thập niên 90, chúng ta đã đưa gần 90.000 lao động đi làm việc tại 40 quốc gia vàvùng lãnh thổ Đặc biệt từ sau năm 1996 chúng ta đã mở thêm nhiều thị trường mới, giúp chothị trường xuất khẩu lao động phát triển mạnh mẽ Theo báo cáo năm 2000 của Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội số lượng lao động xuất khẩu là 30000 người, gấp 2,4 lần năm 1996 và gấp
29 lần so với năm 1991.Có được điều đó là nhờ những chính sách của nhà nước tạo điều kiệnthuận lợi cho người lao động vay vốn đi lao động ở nước ngoài, nâng cao năng lực của cácdoanh nghiệp xuất khẩu lao động vfa tăng cường công tác tuyên truyên… Tuy nhiên chất lượnglao động của Việt Nam còn hạn chế về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và ý thức kỷ luật nêngiảm tính hấp dẫn so với nguồn nhân lực của các nước khác: Trung Quốc, Phillipin,Indonexia…
4 Giải pháp để nâng cao giá trị hàng hóa sức lao động ở Việt Nam
Trang 19Theo phân tích ở trên có thể thấy rằng nước ta có rất nhiều điều kiện thuận lợi để pháttriển thị trường lao động tuy nhiên giá trị của hàng hóa sức lao động còn thấp Nguyên nhânchủ yếu là do người lao động Việt Nam còn nhiều hạn chế về chất lượng, quy mô và mức độtham gia thị trường lao động còn thấp, đặc biệt quan hệ cung-cầu trên thị trường còn nhiều hạnchế dẫn đến sự không ổn định.
Để khắc phục những hạn chế trên và nâng cao giá trị hàng hóa sức lao động, Đảng và nhà nước
ta cần phải:
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nâng cao chất lượng và thay đổi cơ cấu dạynghề theo yêu cầu của thị trường lao động Phát triển giáo dục ở các vùng miền của đất nướcđặc biệt là vùng núi, trung du và hải đảo Thực hiện tốt quy hoạch mạng lưới các trườngĐH,CĐ, các trường dạy nghề theo hướng xã hội hóa, linh hoạt, năng động, gắn đào tạo với sửdụng
- Tổ chức triển khai có hiệu quả một số chương trình trọng điểm có khả năng tạo nhiều việc làmmới như: phát triển nông nghiệp-nông thôn, phân bố lại dân cư, lao động, xây dựng các vùngkinh tế mới, phát triển công nghiệp-dịch vụ…
-Hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng giải phóng sức sản xuất, giải phóng sức lao động,khuyến khích mọi người đầu tư phát triển sản xuất tạo việc làm, tạo điều kiện thu hút đầu tưnước ngoài
-Nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình giải quyết việc làm bằng cách xây dựng hệthống hướng dẫn, giám sát, kiểm tra điều chỉnh chặt chẽ từ trung ương đến địa phương
-Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp luật về tiền công, tiền lương, các chế độ đối với người laođộng để thị trường lao động vận hành một cách có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường
-Sắp xếp, điều chỉnh hệ thống các Trung tâm dịch vụ việc làm, phát triển hệ thống thông tin laođộng và việc làm để người lao động cũng như người sử dụng lao động có những thông tin chínhxác, kịp thời
- Chú trọng công tác xuất khẩu lao động, nâng cao chất lượng nghề của lao động đi xuất khẩu,tạo ra tính liên thông giữa thị trường lao động trong nước và ngoài nước về cung cầu và giá cảsức lao động
Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã xác định
sự cần thiết của việc thiết lập thị trường sức lao động Mặc dù mới dc công nhận và bước đầu đivào hoạt động nhưng thị trường lao động nước ta đã có những phát triển đáng ghi nhận Do đây
là thị trường của loại hàng hóa đặc biệt-hàng hóa sức lao động và do còn đang trong giai đoạnhình thành nên bên cạnh nhưng tiến bộ bước đầu, thị trường lao động nước ta vẫn còn tiềm ẩnnhiều hạn chế Vì vậy trong thời gian tới cần phải có những giải pháp hoàn thiện cơ chế chínhsách đi đôi với nâng cao chất lượng nguồn lao động nhằm phát huy hết tiềm năng sức lao độngcủa nước ta nhằm xây dựng một thị trường lao động sôi động, ổn định, tác động tích cực đến sựphát triển kinh tế đất nước
Câu 4: Lý luận của C.Mác về các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư? Ý nghĩa vận dụng gắn liền với điều kiện Viêt Nam?
Lýluận phương pháp sản xuất giá trị giá trị thặng dư :
Khái niêm giá trị thặng dư: là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân
làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không công
a Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: đó là giá trị thặng dư thu được do kéo dài
thời gian lao động trong khi năng suất lao động không đổi, giá trị sức lao động và thời gian laođộng tất yếu không đổi hoặc do tăng cường độ lao động
- số đồ VD:
2h 8h
Trang 20+Thời gian lao động tất yếu là : là thời gian người công nhân lao động tạo ra một giá trị hànghoá mới bằng sức lao động của anh ta bỏ ra không bị bóc lột.
+ Thời gian lao động thặng dư là: là thời gian người công nhân lao động không công cho nhà
* những cản trở của phương pháp này:
- Để có nhiều giá trị thặng dư thì nhà Tư bản phải kéo dài thời gian lao động, nhưng thờigian lao động lại bị giới hạn bởi giới hạn thời gian tự nhiên của một ngày (24h), cho nên khôngthể kéo dài quá để người công nhân cũng phải có thời gian để ăn, ngủ, nghỉ ngơi để tái sản xuấtsức lao động Nếu kéo dài vượt quá gặp phải sự đấu tranh đòi giảm giờ làm của người côngnhân
- Để tránh các cản trở trên, nhà Tư bản đã tìm cách tăng cường độ lao động (tức là tănghao phí lao động trừu tượng của người lao động trong một đơn vị thời gian, nhưng giá trị sứclao động vẫn không thay đổi, bắt người lao động làm nhiều hơn trong một đơn vị thời gian), do
đó giá trị thặng dư vẫn tăng lên
Vì vậy phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối có thể là kéo dài thời gian lao độnghoặc tăng cường độ lao động Đây cũng là cách bóc lột giá trị thặng dư mà Mác cho rằng: Suycho cùng tăng cường độ lao động cũng là kéo dài thời gian lao động
b Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: đây là phương pháp sản xuất giá trị m
thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động và nhờ
đó kéo dài thời gian lao động m tăng lên trong điều kiện ngày lao động không đổi
- Trở lại ví dụ trên: Ngày làm 8h Thời gian lao động tất yếu 4h; thời gian lao động thặng
dư 4h
Qua hình vẽ trên ta thấy nếu giảm thời gian lao động tất yếu xuống 2h, thì lao động thặng
dư sẽ là 4h và tỷ suất lao động thặng dư sẽ là 6/2x100% = 300%
Lưu ý: Để rút ngắn thời gian lao động tất yếu (giảm giá trị sức lao động) nhưng vẫn đảm bảo
tái sx ra sức lao động thì chỉ được thực hiện bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành
sx ra tư liệu sinh hoạt hoặc các ngành sx ra tư liệu sx để sx tư liệu sinh hoạt
- phương pháp này dựa trên cơ sở đổi mới KHKT để tạo ra năng suất lãnh đạo xã hội cao hơn.Nhà TB muốn có nhiều giá trị m thì phải nghiên cứu đưa những tiến bộ khoa học công nghệvào sx Thực tế trong nền sx TBCN, các nhà TB đi đầu trong đổi mới KHKT, ứng dụng công
Trang 21nghệ vào sx đạt được năng suất l.động cao và đã thu được lợi nhuận siêu ngạch, giá trị m siêungạch Từ đó đã kích thích mạnh mẽ các nhà TB tích cực cải tiến kỹ thuật
=> Như vậy để thu được giá trị m tương đối phải trong điều kiện KHCN đã phát triển đến mộttrình độ nhất định
Trong điều kiện KHCN chưa phát triển thì phương pháp giá trị m tuyệt đối chiếm ưu thế, ngượclại trong đ.kiện KHCN phát triển mạnh thì phương pháp giá trị m tương đối được áp dụng nhiềuhơn
c So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa 2 phương pháp này:
- Giống nhau:
+ Cả 2 phương pháp này nhằm tới mục tiêu của nhà TB là tạo ra giá trị m
+ Cả 2 phương pháp này đều phải trên cơ sở năng suất LĐ nhất định, cường độ LĐ nhấtđịnh, thời gian LĐ nhất định,
+ Thời gian LĐ phải vượt qua thời gian LĐ tất yếu
- Khác nhau:
+ Về phương pháp tiến hành: P.pháp sx giá trị m tuyệt đối kéo dài thời gian LĐ hoặctăng cường độ LĐ Còn phương pháp sx giá trị m tương đối là đưa tiến bộ KHCN vào sx đểtăng NSLĐ
+ Về điều kiện và bối cảnh tiến hành: Với phương pháp sx giá trị m tuyệt đối sẽ được sửdụng trong điều kiện KHKT chưa phát triển, trình độ công nhân thấp TK XIX), còn với phươngpháp sản xuất giá trị m tương đối được thực hiện trong điều kiện KHKT phát triển là chủ yếu, ở
đó giai cấp công nhân phát triển ở trình độ cao (TK XX đến nay)
Ý nghĩa:
- Làm rõ bản chất, nguồn gốc phương pháp tạo ra giá trị m
- Vận dụng vào các doanh nghiệp nước ta nhằm kích thích sx, tăng năng suất lao động sửdụng kỹ thuật mới cải tiến tổ chức, quản lý nhằm nâng cao đời sống người lao động
- Gởi mở cách thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Đối với nước ta cần tận dụng triệt để các nguồn lực nhất là nguồn lực lao động
Ý nghĩa vận dụng:
phương pháp sản xuất giá trị thặng dư:
- Bất cứ xã hội nào cũng cần phải có giá trị thăng dư Đối với đất nước ta trong giai đoạnđổi mới trong điều kiện xuất phát điểm còn thấp, là thời kỳ quá độ chúng ta cần phải tập trungthu hút mọi nguồn lực trong và ngoài nước để XD cơ sở vật chất cho CNXH sau này Nếu gạtmục đích và tính chất của TBCN thì các phương pháp SX giá trị m, nhất là SX giá trị m tươngđối và m siêu ngạch sẽ có tác dụng mạnh mẽ kích thích SX, cải tiến tổ chức quản lý, cải tiếnKHKT để ứng dụng vào trong LĐ, kích thích sự cạnh tranh giữa các cá nhân và tập thể người
LĐ Để rút ngắn thời gian LĐ tất yếu giảm giá trị sức lao động nhưng vẫn đảm bảo tái sản xuất
ra sức lao động thì chỉ thực hiện bằng cách đưa những tiến bộ khoa học vào sản xuất để tăngNSLĐ, giảm giá thành sản phẩm, để có điều kiện nâng cao đời sống người lao động, tăng phầntích luỹ để tái sản xuất mở rộng Tập trung tăng năng suất lao động ở ngành sản xuất ra tư liệusinh hoạt, khu vực nông nghiệp nông thôn, công nghiệp nhẹ; bởi vì năng suất lao động ở nước
ta còn thấp, thời gian lao động của ta sử dụng chưa hiệu quả Chính vì vậy Đảng ta chủ trươngđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trước hết tập trung CNH,HĐH nông nghiệp nông thôn,
để giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm và công nghiệp nhẹ, khu vực này do nông nghiệpnông thôn cung cấp; đây là bài toán đầu tiên để phấn đấu nước ta đẩy mạnh KT-XH phát triểngóp phần quan trọng vào sự nghiệp CNH,HĐH của nước ta hiện nay trở thành một nước côngnghiệp vào năm 2020 tạo nền tảng, tiềm lực kinh tế để xây dựng CNXH
Trang 22Trong điều kiện nước ta đang phát triển theo nền KT thị trường định hướng XÃ HộI CHủNGHĨA như hiện nay thì việc nghiên cứu học thuyết giá trị m sẽ giúp chúng ta đề ra những chủtrương, chính sách đúng đắn bảo vệ lợi ích hợp pháp cho người LĐ và thực hiện mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Câu 5:Lý luận lợi nhuận của Các Mác? Ý nghĩa đối với thúc đẩy sản xuất kinh doanh ở Việt Nam?
Căn cứ vào phương diện chức năng của từng bộ phận tư bản công nghiệp được tách rahoạt động tương đối độc lập trên cơ sở phát triển của phân công lao động xã hội và kinh tế thịtrường trong quá trình tái sản xuất xã hội để phân chia các loại tư bản Từ đó, tư bản xã hộiđược phân chia theo hình thái đầu tư vào các ngành, lĩnh vực hoạt động kinh doanh và nhữnghình thái cơ bản gồm tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp, tư bản cho vay, tư bản kinhdoanh nông nghiệp
Cạnh tranh giữa các ngành đã làm cho tỷ suất lợi nhuận thuộc các lĩnh vực kinh doanhkhác nhau được san bằng, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân Trong môi trường cạnhtranh việc phân phối lợi nhuận được C.Mác phân tích cụ thể thông qua các phạm trù lợi nhuậncông nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi nhuận nông nghiệp
Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Để sản xuất hàng hóa cần phải chi phí một lượng lao động nhất định bao gồm: lao độngquá khứ, biểu hiện dưới hình thái giá trị tư liệu sản xuất (c) và lao động sống C Mác gọi đó làchi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa
Giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn có một khoản chênh lệch
về lượng ngang bằng với giá trị thặng dư nên sau khi bán hàng hóa, nhà tư bản thu về lượngtiền không chỉ bù đắp số tư bản đã chi dùng, mà còn được thêm một lượng tiền ngang bằng vớigiá trị thặng dư “Giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước,
mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận ”.
Lợi nhuận là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư do lao động sống tạo ra đượcquan niệm là do toàn bộ tư bản ứng trước sinh ra Nếu quan sát bề ngoài thì lợi nhuận và giá trịthặng dư cũng là một, nhưng bản chất thì giá trị thặng dư là nội dung bên trong được tạo ratrong quá trình sản xuất, còn lợi nhuận là hình thức biểu hiện ra bên ngoài thông qua trao đổi
Như vậy, phạm trù lợi nhuận được C Mác nghiên cứu với tư cách là hình thái chuyểnhóa của giá trị thặng dư trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, do đó có thể hiểu hình thái biểuhiện giản đơn đầu tiên của giá trị thặng dư chính là lợi nhuận
Do quy mô tư bản và sản xuất của các doanh nghiệp khác nhau nên khi đánh giá hoạtđộng kinh tế của các doanh nghiệp không chỉ đơn thuần căn cứ vào số lượng lợi nhuận mà cònphải quan tâm đến năng suất của tư bản đầu tư
Do vậy, nhà tư bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm đến tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng d- và toàn bộ tư bản ứngtrước (ký hiệu P’)
mP’= x 100%
(c+v)Trong thực tế, ng- ời ta th- ờng tính tỷ suất lợi nhuận hàng năm:
MP’hàng năm= x 100%
(c + v)
M là khối lượng thặng dư hàng năm;( c + v) là tổng tư bản ứng trước
Trang 23Tỷ suất lợi nhuận và tỷ suất giá trị thặng dư khác nhau về chất và về lượng Tỷ suất giátrị thặng dư là chỉ tiêu phản ánh mức độ sinh lời của tiền công, tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu đánhgiá hiệu quả của việc đầu tư tư bản.
Lợi nhuận của tư bản thương nghiệp
Tư bản thương nghiệp- một bộ phận được tách ra từ sự vận động tuần hoàn của tư bảncông nghiệp trên cơ sở phân công lao động xã hội nhằm chuyên trách phục vụ quá trình lưuthông của tư bản công nghiệp Do đó, tư bản thương nghiệp dù không tham gia vào việc sảnxuất ra lợi nhuận, nhưng lại được chia một phần lợi nhuận Do đó, lợi nhuận thương nghiệp “làmột bộ phận của giá trị thăng dư do toàn bộ tư bản sản xuất sản sinh ra”3
Lợi tức của tư bản cho vay
Sự vận động tuần hoàn của tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp gồm nhiều giaiđoạn Để tư bản vận động liên tục thì các khâu, các giai đoạn phải được thực hiện một cách trôichảy, kịp thời bằng cách thực hiện đầy đủ, kịp thời các chức năng của từng hình thái tư bảncông nghiệp cũng như tư bản thương nghiệp Do đó, đòi hỏi sự ăn khớp trong sự vận động của
tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp về giá trị và hiện vật không ngừng tạo ra nhữnglượng tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, tức là tạo ra nguồn cung về tư bản cho vay
“Cái phần lợi nhuận đó mà anh ta đã trả cho người sở hữu số tiền ấy gọi là lợi tức và nhưvậy nó chẳng qua chỉ là một tên gọi riêng, một mục riêng để chỉ cái phần lợi nhuận mà nhà tưbản đang hoạt động phải trả cho người sở hữu tư bản, chứ không được bỏ vào túi của mình”4
Về thực chất, lợi tức là một phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản công nghiệp,thương nghiệp hoạt động nhờ tư bản đi vay phải chia cho các nhà tư bản cho vay Sự phân chialợi nhuận bình quân thành hai bộ phận như vậy, về hình thức là sự phân chia về lượng giữa haingười cùng có quyền đối với cùng một tư bản và cùng nhau phân chia một khoản lợi nhuận
Ý nghĩa đối với thúc đẩy sản xuất kinh doanh ở Việt Nam
VAI TRÒ CỦA LỢI NHUẬN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1 Những tác động tích cực trong nền kinh tế
1.1 Lợi nhuận thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
1.2 Lợi nhuận thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển
1.3 Lợi nhuận là động lực phát triển của doanh nghiệp
1.4 Lợi nhuận thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế
1.5 Lợi nhuận thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội
1.6 Vai trò của lợi nhuận đối với các mặt khác của đời sống xã hội
2. Vấn đề lợi nhuận trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở Việt Nam
Là 1 nước tiên tiến lên CNXH chưa và “không đi qua giai đoạn phát triển TBCN” ( cụ thể hơn
là không qua đoạn thống trị của giai cấp tư sản) chúng ta không được kế thừa tất cả những tiền
đề nảy sinh một cách tự phát như những sáng tạo cho dù chúng ta là “những nhân tố vô cơ”( Mác - SĐD) Điểm xuất phát để nhận thức tầm quan trọng của lợi nhuận chính là điểm: sảnphẩm của lao động thừa vượt qua những chi phí để duy trì lao động và việc xây dựng, tích luỹquỹ sản xuất xã hội và dự trữ “ tất cả những cái đó đã và mãi mãi vẫn là cơ sở cho mọi sự tiến
bộ về xã hội, về chính trị và tinh thần”
Sau cuộc cải cách kinh tế (12/1986) Đảng và nhà nước ta đã thay đổi quan điểm về vấn đề lợi3
Trang 24nhuận Đảng ta đã khẳng định rằng lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động sản xuấtkinh doanh Để đạt được mục tiêu này thì đảng và nhà nước đã chuyển đổi cơ chế kinh tế thịtrường có sự quản lý của nhà nước, quy định lại quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp đểđảm bảo cho mục tiêu theo đối với lợi nhuận của các doanh nghiệp Với những thay đổi đó thìchúng ta đã gặt hái được rất nhiều thành công Với việc mở cửa nền kinh tế, hàng hoá từ nướcngoài tràn vào rất nhiều với mẫu mã và chủng loại rất đa dạng với giá cả thấp nhưng vẫn đảmbảo về chất lượng Đứng trước tình hình đó, để đảm bảo cho việc tồn tại và phát triển của mìnhthì các doanh nghiệp , các đơn vị tổ chức sản xuất trong nước đã mạnh dạn đầu tư công nghệ,máy móc hiện đại các sản xuất cùng với nó là quá trình đào tạo đội ngũ cán bộ cộng nhân viênchức Nhiều trường đại học và cao đẳng được hình thành hàng năm dầo tạo rất nhiều cán bộđược gửi ra nước ta rất nhiều cơ sở, đơn vị sản xuất kinh doanh được trang bị máy móc hiện đạiđược nhập từ nước ngoài Việc trú trọng đến lợi ích là thúc đẩy đội ngũ cán bộ khoa học trongnước không ngững tìm tòi sáng tạo và đã có rất nhiều phát minh sáng chế ra đời đã mang lạinhiều tỷ đồng cho nhà nước và các doanh nghiệp Với mục tiêu lợi nhuận đặt lên hàng đầu thì
từ sau cải cách đến nay hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam đã phát triển rất mạnh mẽ Trướcđây với cơ chế bao cấp, nhà nước chỉ chấp nhận loại hình doanh nghiệp duy nhất đó là doanhnghiệp này trong thời kỳ đó hoạt động lại rất kém hiệu quả Nhưng từ sau cải cách với những sựthay đổi về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp này có những bước chuyển maình rõ rệt Đểđạt được lợi nhuận thì các doanh nghiệp nhà nước dần dần chuyển đổi cách thức sản xuất kinhdoanh, mạnh dạn đầu tư kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất Cho đến nay cả nước có 91tổngCông ty nhà nước gồm 1400 đơn vị sản xuất ra 67% tổng sản phẩm xã hội đây là một sự tiến bộ
rõ rệt điều đó thể hiện hướng đi đúng đắn của nhà nước Cùng với doanh nghiệp nhà nước thì
hệ thống doanh nghiệp tư nhân cũng phát triển hết sức mạnh mẽ, nhiều hình thức doanh nghiệp
tư nhân ra đời góp phần đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân Việc xoá bỏ mô hình hợp tác xãtập trung thực hiện giai đất, giao ruộng cho nông dân đã khuyến khích bà con nông dân, vì lợiích của mình mà hăng hái lao động Chính điều này đã đưa nước ta từ một nước thiếu lươngthực, đói ăn trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 3 trên thế giới Cùng với việc mởcửa nền kinh tế, chúng ta cũng đồng thời mở rộgn quan hệ với các nước nhằm thu hút vốn đầu
tư của nứơc ngoài Trong những năm qua hàng chục tỷ đô la đã được đầu tư vào Việt Nam,nhiều khu công nghiệp ra đời và đang hoạt động có hiệu quả Bên cạnh đó, ngoài việc hỗ trợvốn cho phát triển kinh tế chúng ta còn ký kết được các nước phát triển giúp đỡ đào tạo đội ngũcán bộ có trình độ chuyên môn giỏi Việc mở rộng quan hệ các nước phát triển đã giúp chúng taphát triển niều ngành mới như điện tủ, công nghệ thông tin, ô tô… tạo ra một tiền để cho nêncông nghiệp phát triển Những thay đổi trên đã làm cho đời sống của toàn xã hội được tăng lên
rõ rệt, mức thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng lên Chúng ta không chỉ có nhucầu “ăn no, mặc ấm” mà bây giờ là chu cầu “ăn ngon, mặc đẹp” Nhiều nhà cao tầng mọc lên,phương tiện đi lại đã đưa cơ giới hoá mặt hàng dân trí đã được nâng lên…
Ý nghĩa của học thuyết lợi nhuận- lịch sử và hiện tại Việc Mác kế thừa và phát triển triệt để lýluận tạo ra giá trị và lý luận sản xuất hàng hoá cá tác dụng quyết định đối với việc phát hiện giátrị thặng dư, tạo ra bước ngoặt cách mạng trong nhiều phát hiện quan trọng trong lịch sử khoahọc có mang tên Mac, phải kể đến hai điểm: nhận thức duy vật về lịch sử và sự phát hiện giá trị Như vậy học thuyết lợi nhuận của Mác không những vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời đại của nó và
là điểm xuất phát để phân tích tính chất thời đại hiện này, phân tích và nhận dạng chúng CNTBhiện đại, mà còn có ý nghĩa thực tiễn cực kỳ quan trọng đối với nước ta ở thời kỳ quá độ trongviệc “sáng tạo ra những điều kiên vật chát cho chủ nghĩa cộng sản”
Trong bất cứ hình thức quan hệ xã hôkị nào thì lợi nhuận luôn đóng một vai trò cực kỳ quantrọng Nếu không có lợi nhuận thì cả bên này lẫn bên kia đều không có nguồn tích luỹ , màkhông tích luỹ thì cho dù dó là quá trình để lai sản xuất mở rộng thì không có gì để tạo ra khối
Trang 25lượng gí trị ngày càng lớn, điều kiện tất yếu để mở rộng sự phân công lao động xã hội Ngoài rakhi nhà nước thuộc về nhân dân thì lợi nhuận chính là phương tiện để xây dựng CNXH Đấtnước ta đang đứng trước nhiệm vụ cháy bỏng là tạo ra tiền đề thực tiến tuyệt đối cần thiết đó là
sự phát triển của sức sx, phát triển nền kinh tế hàng hoá, tạo ra nhiều lợi nhuận Đó đạt đượcmục tiêu này đòi hỏi phải được diễn ra một cách tuần tự, đó cũng chính là những giai đoạn củamột quá trịnh lịch sử tự nhiên mà chúng ta chỉ có thể rút ngắn chứ không thể bỏ qua Và đâycũng là ý nghĩa thực tiễn được rút ra từ học thuyết lợi nhuận của Mac
Ngày nay chủ nghĩa tư sản cũng khộng từ bỏ được bản chất vốn có của nó đó là chạy theo lợinhuận kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì phạm trù lợi nhuận mới được hiểu theonghĩa đúng của nó mục đích cuả hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, họ tìm mọi cách
để thu được lợi nhuận tối đa Do đó dẫn đến tình trạng độc quyền, các tổ chức độc quyền lợidụng ưu thế của mình để quy định gía Chính điều đó đã làm mất tình trạng cạnh tranh hoàn hảo
và làm mất tính hiệu quả kinh tế… Cũng vì lợi nhuận mà các doanh nghiệp không chú ý dếnnhững tác động tiêu cực của họ gây ra cho môi trường xung quanh như: làm ô nhiễm nguồnnước và không khí, khai thác đến cạn kiệt khoáng sản, chất thải, gây ô nhiễm cho thức ăn, thứcuống, thiếu an toàn về chất phóng xạ
Câu 6: Lý luận về địa tô của C.Mác? Ý nghĩa thực tiễn đối với việc giải quyết quan hệ đất đai ở Việt Nam?
Cùng với sự phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bên cạnh tư bản công nghiệp,thương nghiệp, cho vay, ngân hàng đã xuất hiện tư bản kinh doanh nông nghiệp với tư cách là
bộ phận tư bản đầu tư vào kinh doanh nông nghiệp
C Mác đã chỉ rõ cơ sở của địa tô tư bản chủ nghĩa là quyền sở hữu ruộng đất, đó là “hình tháidưới đó quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế, tức là đem lại thu nhập” Nghĩa
là số tiền nào đó mà địa chủ thu được hàng năm nhờ cho thuê một mảnh của địa cầu
Địa tô là một bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân do công nhân nôngnghiệp tạo ra mà nhà tư bản thuê đất phải nộp cho người sở hữu ruộng đất
Địa tô tư bản chủ nghĩa một mặt biểu hiện mối quan hệ giữa địa chủ với nhà tư bản kinh doanhnông nghiệp trong việc chia nhau giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp tạo ra; mặt khácbiểu hiện quan hệ bóc lột giữa tư bản với lao động làm thuê trong nông nghiệp
Đặc thù của sản xuất nông nghiệp trước hết bởi chức năng của sản xuất nông sản và tưliệu sản xuất nông sản Tuy nhiên, đất nông nghiệp bị giới hạn về diện tích và mức độ thuận lợi
để sản xuất Để sản xuất, bên cạnh những diện tích sản xuất có điều kiện thuận lợi và trungbình, sản xuất còn phải tiến hành trên cả những ruộng đất có điều kiện kém thuận lợi mới đủcung cấp nông sản duy trì đời sống xã hội Do đó, cũng như các nhà tư bản đầu tư khác phảinhận được lợi nhuận ít nhất là ngang bằng với mức lợi nhuận bình quân Hay lợi nhuận nôngnghiệp cũng được điều tiết bởi quy luật lợi nhuận bình quân
Nông nghiệp cũng như lĩnh vực sản xuất công nghiệp đều có lợi nhuận siêu ngạch do sựchênh lệch giữa giá cả sản xuất chung của thị trường và giá cả sản xuất cá biệt của một sốdoanh nghiệp Nếu trong công nghiệp, do cạnh tranh, lợi nhuận siêu ngạch không tồn tại ổnđịnh ở một doanh nghiệp nhất định Ngược lại, trong nông nghiệp, lợi nhuận siêu ngạch tồn tạithường xuyên và ổn định ở những doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi Do vậy, giá cả nông sảnđược điều tiết bởi giá cả sản xuất của nông sản ở nơi điều kiện kém thuận lợi quyết định Do
đó, tư bản đầu tư vào đất đai có điều kiện thuận lợi hơn, khi bán theo giá cả sản xuất chung,ngoài lợi nhuận bình quân còn thu được lợi nhuận siêu ngạch để chuyển hóa thành địa tô đượcgọi là địa tô chênh lệch
Địa tô chênh lệch trong chủ nghĩa tư bản là số dư ngoài lợi nhuận bình quân do các cơ sởkinh doanh có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn thu được so với các cơ sở kinh doanh có điều
Trang 26kiện sản xuất kém nhất Đó là sự chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung của nông sản đượcquyết định bởi điều kiện không thuận lợi nhất với giá cả sản xuất cá biệt ở những nơi có điềukiện sản xuất thuận lợi hơn, do đó năng suất lao động được nâng cao.
Địa tô được biểu hiện dưới hai hình thức là địa tô chênh lệch gồm: địa tô chênh lệch (địa
tô chênh lệch 1; địa tô chênh lệch 2); địa tô tuyệt đối và địa tô đất xây dựng, địa tô hầm mỏ
Xét về cơ sở hình thành lợi nhuận siêu ngạch và việc chuyển hóa lợi nhuận siêu ngạchthành địa tô, địa tô chênh lệch được chia hai loại:
Địa tô chênh lệch I: Địa tô thu được trên những ruộng đất có điều kiện tự nhiên thuận
lợi Điều kiện tự nhiên thuận lợi bao gồm: Độ màu mỡ của đất đai và vị trí của đất gần hay xanơi tiêu thụ Điều kiện tự nhiên thuận lợi tạo cho tư bản nông nghiệp có năng suất cao hơn
Địa tô chênh lệch II: Địa tô chênh lệch II gắn liền với hiệu quả khác nhau của số tư bản
đầu tư thêm trên cùng một diện tích ruộng đất, tức gắn liền với việc thâm canh trong nôngnghiệp
Trên thực tế, đất canh tác xấu nhất cũng phải nộp địa tô Đó là địa tô tuyệt đối Địa tôtuyệt đối là một phần giá trị thặng dư mà địa chủ thu được nhờ dựa vào sự độc quyền tư hữuruộng đất Đó là số dư ra của giá trị so với giá cả sản xuất xã hội của nông sản
Trong chủ nghĩa tư bản, không chỉ đất đai sử dụng vào sản xuất nông nghiệp mới phảinộp địa tô mà tất cả các loại đất xây dựng, đất hầm mỏ cũng phải đem lại địa tô cho người sởhữu chúng Địa tô đất xây dựng và địa tô hầm mỏ về cơ bản cũng được hình thành như địa tôđất nông nghiệp
Địa tô tư bản chủ nghĩa một mặt biểu hiện mối quan hệ giữa địa chủ với nhà tư bản kinhdoanh nông nghiệp trong việc chia nhau giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp tạo ra; mặtkhác biểu hiện quan hệ bóc lột giữa tư bản với lao động làm thuê trong nông nghiệp
Bên cạnh đó, do nông nghiệp lạc hậu tương đối so với các ngành khác, thể hiện cấu tạohữu cơ của tư bản thấp hơn Do đó, với cùng lượng tư bản đầu tư và trình độ bóc lột lao độngkhông công của công nhân làm thuê thì giá trị thặng dư được tạo ra sẽ nhiều hơn Tuy nhiên,độc quyền tư hữu ruộng đất đã ngăn cản không cho nông nghiệp tham gia vào cạnh tranh giữacác ngành và do đó nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp chỉ nhận được thu nhập ngang bằng lợinhuận bình quân Phần giá trị thặng dư còn lại ngoài lợi nhuận bình quân được chuyển thànhđịa tô tuyệt đối cho chủ thể sở hữu ruộng đất
Ý nghĩa thực tiễn đối với việc giải quyết quan hệ đất đai ở Việt Nam :
Ngày nay, khi đất nước ta trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những lý luận địa tô đóđược đảng và nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn để xây dựng đất nướcgiàu mạnh trong thực tiễn để đất nước trở nên giàu mạnh Lý luận này đã trở thành cơ sở khoahọc để xây dựng các chính sách thuế đối với nông nghiệp và các ngành khác có liên quan nhằmkích thích phát triển nông nghiệp và các ngành trong nền kinh tế
1 Vận dụng trong luật đất đai
Đất đai là một tài nguyên quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầucủa môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá -
xã hội, an ninh - quốc phòng Ngày nay, đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân do nhà nướcthống nhất quản lý Nhà nước giao đất, rừng cho các tổ chức kinh tế hay đơn vị vũ trang để sửdụng Để bổ sung cho nguồn ngân sách và thông qua ngân sách thực hiện một số chính sáchphát triển nông nghiệp, những người thuê đất phải đóng thuế cho nhà nước Thuế này khác xavới địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tô phong kiến vì nó tập trung vào ngân sách đem lại lợi íchcho toàn dân, nó không mang bản chất bóc lột của địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa
Ở mỗi chế độ, đất đai lại thuộc về thuộc về mỗi giai cấp khác nhau như: sở hữu của thực dânPháp, của địa chủ và quan lại quý tộc phong kiến,… Và cuối cùng Mác cũng đã kết luận: “mỗi
Trang 27bước tiến của nông nghiệp tư bản chủ nghĩa là một bước tiến không những trong nghệ thuật bóclột người lao động mà còn là bước tiến về mặt làm cho đất đai bị kiệt quệ mà sự bóc lột đóđược thực hiện dưới nhiều hình thức, trong đó có địa tô.
Nhà nước đã ban hành luật đất đai để quy định một cách rõ ràng quyền và nghĩa vụ của ngườidân theo những điều khoản như: điều 1, điều 4, điều 5, điều 12, điều 22, điều 79 luật đất đai.Ngoài ra, trong pháp luật về đất đai của nhà nước ta hiện nay cũng ban hành những quy định đểngười dân phải trả tiền thuê đất (một hình thức của địa tô) khi sử dụng đất một cách tự nguyện.Hiện nay, đất được cấp cho dân, dân có quyền sử dụng đất vào mục đích của mình Nếu đối vớiđất ở thì người dân chỉ phải nộp một khoản tiền thuê đất rất nhỏ so với thu nhập của họ Cònđối với đất để làm nông nghiệp thì người dân phải nộp thuế nhưng họ có thể tự do kinh doanhtrên đất của mình sao cho thu được lợi nhuận cao nhất Chẳng hạn như có vùng trồng lúa, cóvùng lại trồng đay và có vùng lại trồng cà phê, điều, bông,…
2 Vận dụng trong thuế đất nông nghiệp
Thuế nông nghiệp ở đây không phải thể hiện sự bóc lột đối với nông dân mà đó là quyền vànghĩa vụ của mỗi công Để khuyến khích sửdụng đất nông nghiệp có hiệu quả; thực hiện công bằng, hợp lý sự đóng góp của tổ chức, cánhân sử dụng đất nông nghiệp vào ngân sách Nhà nước; căn cứ vào điều 84 của Hiến phápnước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Luật này quy định thuế sử dụng đất nôngnghiệp, cụ thể ở các điều 1 đến điều 10, điều 19, điều 21, điều 22, điều 23,…
Việc miễn giảm thuế cho những người dân có hoàn cảnh đặc biệt là một việc khác xa so vớiviệc thu địa tô tư bản chủ nghĩa Đây là một sự sáng tạo của đảng ta trong việc vận dụng lý luận
về địa tô khi đề ra chính sách thuế nông nghiệp, động viên thúc đẩy người dân sản xuất Hiệnnay, tổng cục thuế đã ban hành quy trình miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp số 137 TCT/QD/ NV7 ngày 21/8/2001 cho các đối tượng chính sách xã hội như: hộ gia đình có công vớicách mạng, hộ gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, hộ gia đình có nhiều khó khăn,…(báopháp luật số 159 ra ngày 29/8/2001)
Sự khác biệt lớn nhất của việc quản lý đất đai và thu thuế bây giờ so với giai đoạn tư bản chủnghĩa là đất đai là của dân Nhà nước trực tiếp quản lý và điều hành, nhà nước giao đất cho dânlàm nông nghiệp, thu thuế nhưng tạo mọi điều kiện cho người dân sản xuất Mặt khác nhà nướccòn đưa ra một số quy định cho thấy thuế trong nông nghiệp bây giờ giảm đi rất nhiều mà chủyếu là tăng thuế trong việc thuê đất để hoạt động phi nông nghiệp
+ Nếu chuyển quyền sử dụng đất đai mà được phép chuyển mục đích từ đất nông nghiệp sangphi nông nghiệp thì thuế từ 20% - 40%, nếu đất nông nghiệp chuyển sang xây dựng các côngtrình công nghiệp từ 40% sang 60%
+ Đối với các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp thìkhông phải trả tiền sử dụng đất cho nông nghiệp, nếu sử dụng vào mục đích khác thì phải trảtiền, thậm chí phải chuyển sang hình thức thuê đất nếu là tổ chức sử dụng đất ở trong nước
3 Vận dụng trong việc cho thuê đất
Hiện nay, một số các nhà kinh doanh có vốn muốn lập ra một công ty thì họ phải thuê đất củanhà nước, họ phải trả cho nhà nước số tiền tương đương với diện tích cũng như vị trí của nơiđược thuê Nhà nước đã quy định rất rõ việc thuê đất để kinh doanh, trên cơ sở ấy, ta thấy rõ sựkhác biệt và sự vận dụng lý luận địa tô của Mác trong thời đại ngày nay Đó chính là việc nhànước sử dụng những văn bản pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ của người thuê đất để ngườidân khi nộp tiền thuê đất đều tự nguyện đóng góp Trong việc thuê đất để kinh doanh thì người
đã thuê đất của nhà nước sẽ phát triển kinh doanh trên mảnh đất đó rồi lấy lợi nhuận mà mìnhlàm ra để trả cho nhà nước và số tiền đó sẽ vào ngân sách nhà nước Hiện nay không chỉ có việcthuê đất trong nông nghiệp trong việc kinh doanh mà nhà nước còn cho nước ngoài thuê đất đểthu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam và tăng nguồn thu cho ngân sách
Trang 28=> Qua việc nghiên cứu tìm hiểu về luật đất đai, thuế nông nghiệp cũng như trong một số lĩnhvực kinh doanh, ta có thể khẳng định hiện nay địa tô vẫn còn tồn tại nhưng về bản chất thì hoàntoàn khác so với địa tô phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên trong việc sử dụng lýluận địa tô của C.Mác trong việc quản lý đất đai vẫn còn tồn tại một số hạn chế Chẳng hạn nhưnhà nước thu đất của nông dân với giá rất rẻ sau đó quy hoạch xây dựng nhà ở và cho thuê vớigiá rất cao Đây là vấn đề cần được kiến nghị lên cấp có thẩm quyền nhằm có sự đền bù thoảđáng cho dân Nếu như trong xã hội phong kiến và tư bản chủ nghĩa, người sử dụng đất phảinộp tô cho địa chủ thì ngày nay tô hay còn nói các khác là thuế đất, thuế nhà, tiền thuê đất đềuđược nộp vào ngân sách nhà nước Nguồn ngân sách đó lại được dung vào những công việcnhằm xây dựng đấy nước.
Câu 7: Lý luận của C.Mác về tích lũy tư bản? Ý nghĩa đối với thúc đẩy sản xuất kinh doanh ở Việt Nam?
Bản chất của tích lũy tư bản
Để quá trình sản xuất giá trị thặng dư được tái diễn không ngừng với quy mô lớn hơn, nhà tưbản phải không ngừng tăng quy mô tư bản để thực hiện tái
sản xuất mở rộng Muốn vậy, một bộ phận giá trị thặng dư phải được dành để mua thêm tư liệusản xuất và thuê thêm công nhân, tức là biến chúng thành tư bản phụ thêm Việc sử dụng giá trịthặng dư làm tư bản hay chuyển hóa giá trị thặng dư trở lại thành tư bản gọi là tích lũy tư bản
Vậy Tích lũy tư bản là biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để mở rộng sản xuất.
Tích lũy tư bản gắn liền với tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mác viết: “ xét một cách cụthể thì tích lũy tư bản chỉ là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng” Muốn vậy,phải biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản bất biến phụ thêm và tư bản khả biến phụthêm: “Sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản, hay chuyển hóa giá trị thặng dư trở lại thành tư bản,thì gọi là tích lũy tư bản”
Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư Qua phân tích tái sản xuất mởrộng, ngay từ đầu có thể khẳng định tư bản mới phụ thêm là giá trị thặng dư được tư bản hóa.Động lực thúc đẩy tích lũy tư bản và tái sản xuất mở rộng là do quy luật giá trị thặng dư - quyluật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản Do đó, các nhà tư bản phải tăng cường tích lũy, mởrộng sản xuất, đổi mới kỹ thuật
Quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền sản xuất hàng hóa biến thànhquyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa Trong sản xuất hàng hóa giản đơn, người lao động là ngườichủ những tư liệu sản xuất và sản phẩm do họ sản xuất ra Sự trao đổi giữa họ với nhau theonguyên tắc ngang giá về cơ bản không dẫn tới việc người này chiếm đoạt lao động không côngcủa người kia Trái lại, trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, khối lượng giá trị thặng dư nhà tưbản không tiêu dùng cá nhân hết mà biến thành tư bản phụ thêm, tư bản càng lớn thì lãi cànglớn, do đó lao động của công nhân trong quá khứ trở thành phương tiện mạnh mẽ để bóc lộtchính người công nhân Sự trao đổi giữa người lao động và nhà tư bản dẫn đến kết qủa là nhà tưbản chẳng những chiếm một phần lao động của người công nhân, mà còn là người sở hữu hợppháp lao động không công đó và dùng nó làm phương tiện mở rộng không ngừng việc chiếmđoạt Như vậy đã có sự thay đổi căn bản trong quan hệ sở hữu nhưng sự thay đổi đó không viphạm quy luật giá trị
Nguyên nhân sâu xa thúc đẩy tích lũy và tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa là quyluật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Để tăng quy mô giá trị thặng dư, các nhà tư bản khôngngừng tích lũy và tái sản xuất mở rộng, xem đó là phương tiện căn bản để tăng cường bóc lộtcông nhân
Trang 29Mặt khác, do cạnh tranh, các nhà tư bản buộc phải không ngừng làm cho tư bản củamình tăng lên Điều đó có thể thực hiện bằng cách tăng nhanh tư bản tích lũy Đây là nguyênnhân trực tiếp Nói như vậy hình như có mâu thuẫn giữa phần tiêu dùng của nhà tư bản và phầntích lũy Thật ra, trong buổi đầu của sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự ham muốn làm giàu của cácnhà tư bản thường chi phối tuyệt đối, nhưng đến một trình độ phát triển nhất định, sự tiêu dùng
xa xỉ của các nhà tư bản ngày càng tăng lên theo sự tích lũy tư bản
Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy của tư bản
Với một khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào
tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư thành tích lũy và tiêu dùng của nhà tư bản Ở đây,nếu tích lũy tăng thì tiêu dùng sẽ giảm và ngược lại
Nếu tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng đã được xác định, thì quy mô tích lũy tư bản phụ
thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư
Có bốn nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản:
Một là, tăng tỷ suất giá trị tặng dư (m')
Tăng m’ bằng tăng ca, kíp, tăng cường độ lao động Vận dụng vào 3 ngành: Công nghiệpkhai thác khoáng sản đối tượng lao động là tặng vật của tự nhiên, tư bản bất biến hầu như chỉ có
tư liệu lao động, lợi thế ngành
Ngành nông nghiệp, chỉ cần số lao động hiện có cung cấp thêm một lượng lao động lớnhơn, sẽ nâng cao độ phì nhiêu của đất, làm cho khối lượng nông sản tăng lên
Trong ngành công nghiệp chế biến, nguyên liệu do hai ngành trên cung cấp, được hưởnglợi ích từ hai ngành trên
Từ sự phân tích trên C.Mác đã khái quát: "Một khi nắm được hai nguồn gốc đầu tiên tạo
ra của cải là sức lao động và đất đai, thì tư bản có một sức bành trướng cho phép nó tăng nhữngyếu tố tích lũy của nó lên quá những giới hạn dường như được quy định bởi đại lượng của bảnthân tư bản, tức là bởi những giá trị và khối lượng của những tư liệu sản xuất đã sản xuất ra,trong đó tư bản đang tồn tại"(67)
Hai là, tăng sức sản xuất của lao động để tăng năng suất lao động
Năng suất lao động tăng với một lượng giá trị thặng dư nhất định giành cho tích lũy, quy
mô tích lũy được mở rộng thêm
Năng suất lao động tăng với nhà tư bản có thể trích một phần trong quỹ tiêu dùng để mởrộng sản xuất mà không ảnh hưởng đến sinh hoạt của họ
Sức sản xuất của lao động được quyết định bởi năm yếu tố cơ bản: Trình độ khéo léotrung bình của người công nhân Mức độ phát triển của khoa học - công nghệ và việc ứng dụngkhoa học - công nghệ vào sản xuất; yếu tố xã hội của quá trình sản xuất; quy mô và hiệu suấtcủa tư liệu sản xuất và các được về tài nguyên thiên nhiên, sức sản xuất của lao động tăng lênthì năng suất lao động tăng lên
Năng suất lao động xã hội tăng thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm Sự
giảm này đem lại hai hệ quả cho tích lũy: một là, với khối lượng giá trị thăng dư nhất định,
phần dành cho tích lũy có thể lấn sang phần tiêu dùng, trong khi tiêu dùng của nhà tư bản
không giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơn trước; hai là, một lượng giá trị thặng dư nhhất
định dành cho tích lũy cũng có thể chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức laođộng phụ thêm nhiều hơn trước
Ba là, chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Sự chênh lệch ngày càng lớn giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng làm tăng quy môtích lũy thể hiện ở:
Trang 30Là bộ phận giá trị của những tư liệu lao động được vận hành trong quá trình sản xuấtnhưng không được tính vào sản phẩm Tư bản được sử dụng như những lực lượng của tự nhiên.
Máy móc càng hiện đại, giá trị của máy móc càng cao, năng lực sản xuất sản phẩm cànglớn, chi phí của máy móc vào một đơn vị sản phẩm càng nhỏ, chênh lệch giữa tư bản sử dụng
và tư bản tiêu dùng càng lớn, càng làm tăng quy mô tích lũy
Có thể sử dụng quỹ khấu hao để mở rộng sản xuất
Bốn là, quy mô của tư bản ứng trước
Với mọi điều kiện khác không đổi, tư bản nào có quy mô ứng ra ban đầu lớn hơn thì quy
mô tích lũy sẽ lớn hơn
Quy luật phổ biến của tích lũy tư bản
* Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, do tác động thường xuyên của tiến bộ khoahọc và công nghệ, cấu tạo hữu cơ của chủ nghĩa tư bản không ngừng biến đổi theo hướng ngàycàng tăng lên Sự tăng lên đó biểu hiện ở chỗ: bộ phận tư bản bất biến tăng nhanh hơn bộ phận
tư bản khả biến, tư bản bất biến tăng tuyệt đối và tăng tương đối, còn tư bản khả biến thì có thểtăng tuyệt đối, nhưng lại giảm xuống một cách tương đối
Cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên nhanh chóng ở thời kỳ công nghiệp hóa tư bản chủnghĩa, hoặc ở những thời kỳ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thay đổi cơ cấu kinh tế Như vậy, cấutạo hữu cơ của tư bản tăng lên có ảnh hưởng trực tiếp đến nạn thất nghiệp trong chủ nghĩa tưbản
Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng
Tích tụ và tập trung tư bản là quy luật phát triển của nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa.Tích tụ tư bản là việc tăng quy mô tư bản cá biệt bằng tích lũy của từng nhà tư bản riêng
rẽ, nó là kết quả tất nhiên của tích lũy Tích tụ tư bản, một mặt, là yêu cầu của việc mở rộng sản
xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật; mặt khác, sự tăng lên của khối lượng giá trị thặng dư trong quá trình phát triển của chủ nghĩa lại tạo khả năng hiện thực cho tích tụ tư bản.
Tập trung tư bản là sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thành một tư bản cá biệt lớn Đây là
sự tích tụ những tư bản đã hình thành, là sự thủ tiêu tính độc lập riêng biệt của chúng, là việcnhà tư bản này tước đoạt nhà tư bản khác, là việc biến nhiều nhà tư bản nhỏ thành một ít nhà tưbản lớn
Tích tụ tư bản làm tăng quy mô và số lượng tư bản cá biệt, từ đó thúc đẩy tập trung tưbản Tập trung tư bản là điều kiện để nâng cao kết cấu kỹ thuật của tư bản, từ đó làm tăng năngsuất lao động và do đó tích lũy tư bản tăng
Thất nghiệp và bần cùng hóa giai cấp công nhân
Cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng là một xu hướng phát triển khách quan của sảnxuất tư bản chủ nghĩa Do vậy, số cầu tương đối về sức lao động cũng có xu hướng ngày càng
giảm Đó chính là nguyên nhân chủ yếu gây ra nạn nhân khẩu thừa tương đối C.Mác viết:
“Vậy, cùng với sự tích lũy tư bản do bản thân nó đẻ ra, nhân khẩu công nhân cũng sản xuất ravới một quy mô ngày càng lớn những phương tiện làm cho họ trở thành nhân khẩu thừa tươngđối”.
Nạn thất nghiệp đã dẫn giai cấp vô sản đến bần cùng hóa Bần cùng hóa giai cấp vô sản
là hậu quả tất nhiên của quá trình tích lũy tư bản, tồn tại dưới hai dạng: bần cùng hóa tương đối
và bần cùng hóa tuyệt đối
Trang 31Ý nghĩa đối với thúc đẩy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở Việt Nam?
Đất nước ta đãđạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, nhất là hơn 30 nămđổi mới vừa qua, tốc độ tăng trưởng khá cao, sản xuất phát triển, có tích luỹ từ nội bộ, đời sốngnhân dân được cải thiện rõ rệt Để giữđược tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tới sẽ phụthuộc rất nhiều vào việc tích lũy, huy động vốn cho nền kinh tế Nhiều chuyên gia quốc tế chorằng Việt Nam muốn phát triển đạt tốc độ theo hướng rồng bay thì phải nỗ lực huy động tíchluỹ trong nước, tăng cường nó có hiệu quả với vốn nước ngoài vàđầu tư phải có hiệu quả cao để
hệ số ICOR chỉở mức 2,5 và mức tăng trưởng phải ít nhất là trên 8% một năm, như vậy thì thunhập bình quân đầu người của Việt Nam có thể tăng gấp 45 lần trong vòng một thế hệ ViệtNam có thể lựa chọn các tình huống tăng trưởng tuỳ theo mức tích luỹ trong nước và mức đầu
tư trên GDP cũng như hiệu suất sử dụng vốn Việt Nam muốn đẩy nhanh tốc độ CNH-HĐH nềnkinh tế cần huy động tối đa không chỉ nguồn vốn tiền mặt còn nằm rải rác trong dân cư mà còncần phải huy động các nguồn tài lực, những kinh nghiệm quản lý, và tất cả các quan hệ banggiao cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế Chúng ta sẽ xem xét thực trạng
và giải pháp tích lũy vốn ở Việt nam hiện nay
Trong đường lối CNH, HĐH đất nước do Đại hội VIII của Đảng đề ra, vấn đề tích luỹ vốn đểtiến hành CNH, HĐH có tầm quan trọng đặc b iệt cả về phương pháp, nhận thức chỉ đạo thựctiễn Ai cũng biết rằng để CNH, HĐH cần phải có vốn.Hiện nay chúng ta đang tiến hành xâydựng chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp, trong khi đó tiến hành công nghiệp hóa, hiệnđại hóa lại phải cần nhiều vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Tuy đất nước và khu vực đãthoát khỏi khủng hoảng, nhưng nước ta vẫn là một nước nghèo, chậm phát triển thì vấn đề tíchlũy vốn là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa tiên quyết đối với toàn bộ quá trìnhxây dựng, tại đại hội Đảng lần thứ VIII Đảng ta đã khẳng định: “luôn chủ trương tự lực cánhsinh xây dựng, phát triển kinh tế, công nghiệp tích lũy vốn từ nội bộ kinh tế là chủ yếu” Nhiềuchuyên gia quốc tế đã cho rằng Việt Nam muốn phát triển và đạt tốc độ theo hướng rồng bay thìphải nỗ lực huy động và tích lũy vốn trong nước, tăng cường có hiệu quả với nguồn nước ngoài
và đầu tư có hiệu quả cao Họ đã tính toán rằng để tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàngnăm khoảng 8-10% thì tổng đầu tư trong nước của Việt Nam phải đạt từ 20-35%, từ nay đến
2020 để đạt được sự tăng trưởng GDP với tố độ cao như vậy đòi hỏi phải đẩy nhanh hơn nữaquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhưng đất nước ta đang đứng trước một bàitoán vô cùng nan giải đó là tình trạng thiếu vốn về mọi mặt (vốn lao động, vốn tín dụng, vốnđầu tư phát triển) cần phải giải đáp của nền công nghiệp: muốn phát huy tối đa nguồn nhân lực,nâng cao dân trí, đào tạo bồi dưỡng nhân tài để phát huy tối đa cho công cuộc công nghiệp hóahiện đại hóa thì phải 13 đầu tư cho GDP đẩy nhanh ứng dụng khoa họ công nghệ vào sản xuấtcũng như xây dựng cơ sở hạ tầng không thể thiếu vai trò của vốn Mặt khác chúng ta đang tiếntới hiệp định GEPT/AFTA ( ASEAN) và tham gia vào khu vực tự do hoá thương mại Châu ÁTBD (AP EC) để đứng vững được chúng ta phải có sức cạnh tranh trên mọi thị trườn g trong vàngoài nước Theo Marx “sự cạnh tranh bắt buộc nhà tư bản, nếu muốn duy trì tư bản của mìnhthì phải làm cho tư bản ngày càng tăng lên m ãi và hẳn không thể nào tiếp tục làm cho tư bản
đó ngày một tăng lên được nếu không có một sự tích lũy ngày càng nhiều thêm”
Thực trạng vấn đề tích lũy vốn ở Việt Nam Trước đây trong nền kinh tế bao cấp, tiêu dùng cònthiếu thốn thì quá trình tích lũy vốn còn gặp rất nhiều trở ngại Nhà nước lại can thiệp quá sâuvào nền kinh tế dẫn đến việc tổ chức doanh nghiệp không thể phát huy hết khả năng của mình,nhiệm vụ tích tụ và tập trung vốn không đạt được hiệu quả Từ khi chuyển đổi nền kinh tế, đờisống nhân dân đã được cải thiệ rõ rệt, thu nhập quốc dân tăng lên…tuy nhiên nó vẫn còn quánhỏ bé so với nền kinh tế thế giới Một trong những nguyên nhân chính là thực trạng tích lũyvốn của ta chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, quy mô vốn của các doanh nghiệp thấp Số liệu cảnước có Tổng số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động do ngành Thống kê điều tra, cập nhật
Trang 32vào thời điểm 31/12/2017 trên phạm vi cả nước ước tính là 561 064 doanh nghiệp Trong đódoanh nghiệp Nhà nước chiếm 59,0/% tổng vốn của doanh nghiệp cả nước, doanh nghiệp ngoàiquốc doanh chiếm 19,55%, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài chiếm 21,44% tổng vốn cácdoanh nghiệp cả nước Xét riêng đối với mỗi doanh nghiệp, vốn của từng doanh nghiệp rất nhỏ.Thực tế cho thấy tiềm năng trong dân còn rất lớn nhưng tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư thấp, nhiều hộgia đình và không ít doanh nghiệp còn đầu tư chưa hiệu quả, nguồn vốn không được luânchuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu Đầu tư của nhà nước tăng lên nhưng còn dàn trải, lãng phí, thịtrường vốn, tiền tệ chậm phát triển, lãi suất tín dụng chưa phù hợp với việc đẩy mạnh quá trìnhtích tụ và tập trung vốn, vì thế còn hạn chế đầu tư phát triển Việc quản lý sử dụng vốn cònphân tán, không tập trung tối đa vốn tiền mặt cũng như nhân tài vật lực để giải quyết nhữngcông trình thiết yếu của nền kinh tế.Tuy nhiên sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứngkhoán cho thấy đây là một kênh huy động vốn thật sự hấp dẫn và rất đáng kể.
Câu 8: Ý nghĩa thời đại của học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác? Liên hệ thực tiễn?
Ý nghĩa thời đại
Học thuyết giá trị thặng dư khẳng định chủ nghĩa tư bản chỉ là phạm trù lịch sử
- Học thuyết giá trị thặng dư của C Mác đã chỉ rõ xu thế vận động tất yếu của phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa đồng thời cũng là tất yếu của sự vận động của xã hội loài người phải trảiqua giai đoạn tư bản chủ nghĩa Đồng thời với mâu thuẫn nội tại của của nó, mâu thuẫn giữatính chất xã hội hóa và quốc tế hóa cao độ của lực lượng sản xuất với quan hệ chiếm hữu tưnhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất sẽ ngày càng sâu sắc, trầm trọng không thể giải quyếtđược do đó tất yếu nó phải được thay thế bằng một phương thức sản xuất tiến bộ hơn Dưới tácđộng của quy luật giá trị, nền sản xuất hàng hóa giản đơn sẽ phát triển thành nền sản xuất hànghóa tư bản chủ nghĩa Sản xuất giá trị sử dụng thống nhất với sản xuất giá trị trao đổi thì đó lànền sản xuất hàng hóa Sản xuất ra giá trị trao đổi đồng thời cũng là quá trình sản xuất ra giá trịthằng dư thì đó là sản xuất hàng hóa tư ban chủ nghĩa Đó là một quá trình vận động tự nhiên.Chủ nghĩa tư bản hay phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là một quá trình tất yếu bởi vì lựclượng sản xuất phát triển đòi hỏi quan hệ sản xuất phải thích ứng và phù hợp với nó Quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa là sản phẩm tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất trong các xãhội trước đó Sự tiến bộ của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo nên đột biến trong lựclượng sản xuất của loài người ở giai đoạn tư bản chủ nghĩa C Mác và Ph Angghen đã nhậnđịnh, giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra một lực lượng sảnxuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các phương thức sản xuất trước đógộp lại
Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn có ý nghĩa, vai trò nhất định trong việc duy trì sựtồn tại và phát triển của lực lượng sản xuất không chỉ đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa màcòn đối với cả thế giới Nền kinh tế thế giới vẫn vận động và phát triển dưới tác động của cơchế thị trường và các quy luật kinh tế khách quan của kinh tế thị trường như quy luật giá trị,quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh Đồng thời, là nền sản xuất và lưu thông hàng hóa tưbản chủ nghĩa nên tất yếu chịu sự chi phối tác động của quy luật giá trị thặng dư C.Mác khẳngđịnh "sản xuất giá trị thặng dư hay lợi nhuận là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuấtnày" Theo Mác, tuyệt đối có nghĩa là, thứ nhất việc sản xuất m là tất yếu, là bắt buộc và là đặctrưng của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; giá trị thặng dư hay lao động không được trả côngcủa người làm thuê là nội dung vật chất hay là “cốt” vật chất để tạo nên phạm trù tư bản, khôngtạo ra, không bóp nặn (Mác) giá trị thặng dư thì không có gì để thể hiện là tư bản Và, hai là, bất
kỳ ở đâu và khi nào xuất hiện quan hệ giữa người làm thuê - tức là người bán sức lao động với
Trang 33người có tiền mua sức lao động nhằm tiêu dùng nó (sức lao động) đều nhằm mục đích lợinhuận hay giá trị thặng dư, tất yếu như vậy và tuyệt đối phải như thế.
Quy luật giá trị thặng dư là “tuyệt đối” không chỉ ở chủ nghĩa tư bản, là nơi mà quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa chiếm địa vị thống trị mà cũng là tuyệt đối ở bất kỳ đâu và khi nàoxuất hiện hàng hóa sức lao động Do đó, ngay cả những nước duy trì nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa thì quy luật giá trị thặng dư vẫn tác động và phát huy tác dụng
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tất cả các nước có nền kinh tếchuyển đổi như Việt Nam đều phải thừa nhận sự tồn tại khách quan của quy luật giá trị thặng
dư Khi chúng ta “mời gọi” vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và ngay cả vốn ODA; đồngthời khuyến khích tạo điều kiện cho người lao động làm thuê cho chủ đầu tư kinh doanh theophương thức tư bản chủ nghĩa (cả trong nước và nước ngoài) có nghĩa là chấp nhận bóc lột, haytạo điều kiện cho quy luật giá trị thặng dư hoạt động và phát huy tác dụng
Trong điều kiện và phạm vi xác định, quy luật giá trị thặng dư cũng như các quy luậtkinh tế của chủ nghĩa tư bản có đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại; thế nhưngchủ nghĩa tư bản chỉ có ý nghĩa và sứ mệnh lịch sử, nó phải bị thay thế bằng một phương thứcsản xuất tiến bộ hơn Đó là chủ nghĩa xã hội Đảng ta đã đánh giá là kết luận về địa vị lịch sửcủa chủ nghĩa tư bản như sau: “Chủ nghĩa tư bản hiện đang nắm ưu thế về vốn, khoa học vàcông nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có Các quốc giađộc lập ngày càng tăng cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyết định con dường phát triểncủa mình Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từkhát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và tạo ra bước phát triển mới
Lao động thăng dư là nguồn gốc của sự giàu có
Nghiên cứu hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư của C Mác là cơ sở lý luận quantrọng để giàu có Đối với những nước chưa có điều kiện tăng năng suất lao động xã hội thìtrước hết phải sắp xếp, bố trí công ăn việc làm cho người lao động, hạn chế tới mức thấp nhấttình trạng không có hoặc thiếu việc làm của lực lượng lao động Nếu các điều kiện khác khônghay đổi thì của cải xã hội tỷ lệ thuận với số người lao động Đồng thời với việc tăng số lượngngười lao động là việc sử dụng thời gian lao động có ích của một ngày lao động Đối với nhữngnước nghèo và chậm phát triển, với nhiều nguyên nhân khác nhau nên thời gian lao động thực
tế thường thấp hơn thời gian lao động danh nghĩa rất nhiều Ví dụ, ngày làm việc 8 giờ, ngườilao động ở các nước phát triển sẽ làm việc thực tế từ 7 đến 7,5 giờ, trong khi đó ở những nướckém phát triển thường từ 5 đến 6 giờ Như vậy, để tăng sự giàu có việc cần phải giải quyết ngayđối với những nước nghèo là tăng thời gian lao động thực tế lên gần bằng với các nước tiếntiến Mặt khác, để rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu so với những nước phát triển, nướcchậm phát triển, trong khi chư có điều kiện tăng năng suất lao động phải tăng cường độ laođộng, thậm chí kéo dài ngày lao động Xem xét trong một quá trình lâu dài thì sự giàu có củamỗi quốc gia, dân tộc không thể chỉ dựa vào tăng số lượng người lao động, kéo dài ngày laođộng hay tăng cường độ lao động- tức là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng tuyệt đối mà C.Mác đã phân tích trong bộ Tư bản mà phải bằng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tươngđối Suy đến cùng thì sản xuất giá trị thăng dư tương đối là tăng năng suất lao động cá biệt cũngnhư tăng năng suất lao động xã hội Nhà tư bản cá biệt tăng suất lao động trong xí nghiệp củamình sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch, còn tăng năng suất lao động xã hội là cơ sở, điều kiện
để thu được giá trị thặng dư tương đối
Đối với Việt Nam, có nhiều ý kiến đánh giá năng suất lao động rất thấp, ngày càng tụthậu xa hơn so với các nước trong khu vực, thậm chí có một số lĩnh vực sản xuất còn thấp hơnLào, Campuchia Do đó Nhà nước cũng như các chủ thể sản xuất kinh doanh cần quan tâm đề
ra nhiều giải pháp góp phần nâng cao năng suất lao động Đảng và Nhà nước đang lãnh đạo, chỉđạo quyết liệt để cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 34hóa gắn chặt với phát triển kinh tế tri thức Thực chất của các quá trình nêu trên là nhằm tăngnăng suất lao động, giảm giá thành (C+V) sản phẩm nhờ đó mà nâng cao giá trị gia tăng Chủnghĩa tư bản chỉ có thể bị đánh bại khi chủ nghĩa xã hội tạo ra năng suất lao động cao hơn hẳn
so với chủ nghĩa tư bản Và để tạo ra năng suất lao động cao là công việc hết sức khó khăn phảiđược thực hiện thông qua quá trình công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân Trong lịch sử, quátrình công nghiệp hoá cổ điển (cách mạng công nghiệp) ở các nước Anh, Pháp phải trải quahàng trăm năm Vì vậy, tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất là một công việclâu dài và khó khăn Lênin cũng đã từng khẳng định: "Chỉ vài ba ngày cũng đủ để giành đượcchính quyền nhà nước trung ương, trong vài tuần cũng có thể đập tan sự phản kháng quân sự và
sự phá hoại ngầm của giai cấp bóc lột Nhưng phải mất nhiều năm mới giải quyết được vữngchắc nhiệm vụ nâng cao năng suất lao động"
Để tăng năng suất lao động, trước hết phải đổi mới công cụ lao động, trang bị máy mócthiết bị hiện đại, nhưng nước ta còn nghèo chưa có đủ tiền để mua máy móc hiện đại, trong khi
đó chúng ta cũng chưa thể tự sản xuất, vì vậy phải có chiến lược “đi tắt” và chọn lựa khâu độtphá, đồng thời phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để tăng năng suất lao động cao nhất có thể.Mặt khác, muốn tăng năng suất lao động cần phải có đội ngũ lao động lành nghề, trình độchuyên môn cao Những người lao động đó chỉ có thể có trong một nền giáo dục- đào tạo hiệnđại Cũng chính vì thế mà Đảng và nhà nước ta luôn xếp giáo dục đào tạo là quốc sách hàngđầu và tập trung nguồn lực toàn xã hội nhằm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo.Xác định việc nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo để tạo ra đội ngũ lao động, đặc biệt laođộng chất lượng cao là một trong ba đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm
2011 2020 Một lĩnh vực rất quan trọng và ngày càng giữ vai trò quyết định dó là khoa học công nghệ Nhân loại đang bước vào ngưỡng cửa của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với nộidung trọng tâm là trí tuệ nhân tạo và kết nối vạn vật internet Do đó, chúng ta phải khẩn trương
-“đi tắt, đón đầu” đề bắt nhịp với tốc độ vũ bão của cuộc cách mạng công nghiệp lần này
- Nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư là cơ sở lý luận để nhận thức đúng đắn và pháttriển kinh tế thị trường
Lịch sử loài người chứng minh, cho đến hiện nay chưa có cách thức sản xuất nào tốt hơn
có thể thay thế kinh tế thị trường
Sản xuất trao đổi hàng hóa vẫn đang là phương cách tối ưu nhất để con người, các cộngđồng người và rộng hơn là các nền kinh tế trao đổi hoạt động với nhau C.Mác đã luận giải bảnchất của trao đổi hàng hóa là sự trao đổi lao động, ẩn dấu đằng sau cái vỏ bọc vật chất của giátrị sử dụng Nhờ có sản xuất trao đổi hàng hóa, hay nói khác đi là dưới tác động của cơ chế thịtrường, các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia cũng như của cả loài ngườiđang được huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả nhất
Từ lý luận về kinh tế thị trường trường tư bản chủ nghĩa và dưới ánh sáng của nghị quyếtĐại hội toàn quốc của Đảng lần thứ XII, đặc biệt là nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03-06-2017cuả Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa; có thể nêu lên ra những điều kiện cần thiết để kiến tạo một nền kinh tếthị trường đầy đủ và đồng bộ:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống pháp luật, quy tắc, quy định và những thông lệ, chuẩn mực
trao đổi để khuyến khích ra đời các quan hệ thị trường Hiểu đơn giản là tạo điều kiện để ngườibán, người mua và hàng hóa xuất hiện trên thị trường
Thứ hai, tạo điều kiện để các chủ thể kinh tế ra đời dưới mọi hình thức đa dạng, phong
phú Cá nhân, hộ gia đình hay tổ chức đều được khuyến khích khởi nghiệp và kinh doanh dướimột hình thức tổ chức bất kỳ theo quy định của pháp luật
Thứ ba, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để các yếu tố của thị trường và các loại thị
trường hình thành và phát triển lành mạnh Các chủ thể kinh doanh hoat động trong một môi
Trang 35trường chung, cạnh tranh bình đẳng với nhau và bình đẳng trước pháp luật Nhà nước phân bổcác nguồn lực của mình theo chiến lược quy hoạch, kế hoạch và theo cơ chế thị trường Mọidoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh ế đề có cơ hội ngang nhau trong việc tiếp cận cácnguồn lực do Nhà nước sở hữu và quản lý.
Liên hệ thực tiễn
Vận dụng học thuyết giá trị thặng dư để xây dựng, hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hơn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước mà trước hết là đổi mới lĩnh vực kinh tế vớitrọng tâm là đổi mới tư duy kinh tế kể từ Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ VI tháng 12- 1986đến nay đã cơ bản đưa đất nước thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và chuyển sangnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình vừa tổng kết thực tiễn trong nướccùng với tham khảo học hỏi kinh nghiệm nước ngoài gắn liền với nghiên cứu phát triển lý luận,Đảng ta đã từng bước làm rõ và xây dựng về cơ bản nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Việt Nam Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh
tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm địnhhướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Đó là nền kinh tếthị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh" Đó là: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam cóquan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hìnhthức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tưnhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bìnhđẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động vàphân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất;các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chếthị trường Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môitrường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và cácnguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh
và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sáchphát triển Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội”
Lý luận giá trị và giá trị thặng dư là cơ sở lý luận để xây dựng đường lối CNH, HĐH gắn vớiphát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư không chỉ để hiểu bản chất của chủ nghĩa tư bản
mà còn để vận dụng vào thực hiện quan điểm, đường lối đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá nền kinh tế quốc dân để xây dựng thành công cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.Muốn làm giàu trong điều kiện còn sản xuất hàng hoá thì phải tìm mọi cách để tạo ra càngnhiều giá trị thặng dư càng tốt, thực chất của quá trình này nhằm nâng cao năng suất lao động
để phát triển nhanh lực lượng sản xuất xã hội
Trên tinh thần ấy, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết Đạihội X (2006) đã chỉ rõ: "Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợithế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng củanền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế cógiá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức mới nhất của nhân loại Coi trọng cả số lượng và chất
Trang 36trong từng dự án kinh tế - xã hội.
Phát triển kinh tế tri thức ở nước ta về thực chất là vận dụng những tri thức mới nhất củanhân loại vào tất cả các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, quản lý, kinh doanh và cả những quan hệkinh tế - xã hội - chính trị làm cho giá trị sản phẩm gia tăng nhanh, tiêu hao nguyên liệu, laođộng giảm, hiệu quả, chất lượng tăng Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.Kết hợp các nhiệm vụ cơ bản là chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tếcông nghiệp Kết hợp tuần tự (công nghiệp hoá) với nhảy vọt (hiện đại hoá) Kết hợp một quátrình lồng ghép hệ thống công nghệ cũ với hệ thống công nghệ mới Phát triển kinh tế tri thức,tận dụng thời cơ của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời phải vượt quanhững khó khăn thách thức của quá trình này Tất cả để hướng tới một quá trình công nghiệphoá rút ngắn Đối với phát triển kinh tế tri thức, quan điểm của chúng ta là sử dụng ngày càngnhiều hơn, ở mức cao hơn là phổ biến hơn những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại và trithức mới Từng bước nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội
để vừa phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, nhằm rút ngắn khoảng cách với các nướctrong khu vực và thế giới
Lý luận về sản xuất giá trị thặng dư tương đối với cơ sở lý luận của đường lối ưu tiêncông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
Các nhân tố làm tăng quy mô tích lũy tư bản với việc vận dụng nâng cao năng suất laođộng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
BÀI 2SỞ HỮU VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Câu 1: Thể chế về sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam? Nội dung hoàn thiện thể chế sở hữu ở Việt Nam?
Thể chế về sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Mặc dù khái niệm thể chế được sử dụng rất phổ biến trong các phương tiện thông tin đại chúngcũng như trong các công trình nghiên cứu, tuy nhiên, còn có sự thiếu thống nhất Vì vậy, để đơngiản, ở đây, trước khi khái quát về thể chế sở hữu, một số khía cạnh liên quan về thể chế, thểchế kinh tế sẽ được đề cập trong nội dung này Từ đó, định vị thể chế sở hữu trong hệ thống cácloại hình thể chế nói chung
Xét một cách chung nhất, thể chế là một phạm trù lịch sử, được hình thành và phản ánhtrình độ phát triển nhất định của xã hội Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội loàingười, tuỳ thuộc vào những nấc thang phát triển khác nhau mà những cộng đồng người và cácchế độ xã hội luôn phải tự đặt ra những nguyên tắc, các phương thức để thực hiện nguyên tắc vànhững hình thức tổ chức xã hội để thực hiện nguyên tắc thông qua đó mà điều chỉnh hành vicủa bản thân và của cộng đồng Những nguyên tắc, phương thức thực hiện, những cách thức tổchức xã hội cho việc đảm bảo nguyên tắc được thực thi đó dần được sự thừa nhận và được sửdụng như là phương thức vận hành, điều chỉnh các hành vi của các cá nhân trong xã hội Hệthống đó được hiểu là thể chế
Thể chế, như vậy, được hàm nghĩa dưới dạng khái quát chung nhất là những quy tắc vàthiết chế (tổ chức) thực hiện các quy tắc ấy do con người của một chế độ xã hội mang tính lịch
Trang 37sử cụ thể lập nên nhằm ràng buộc các cách ứng xử trong hoạt động tương tác khi thực hiện xáclập các mối quan hệ xã hội giữa con người với con người ứng với một trình độ phát triển nhấtđịnh của phân công lao động xã hội và quan hệ sản xuất tương ứng.
Các thể chế được chia sẻ và được áp dụng bằng một loại chế tài nhất định Những thểchế thiếu chế tài kèm theo sẽ không có tác dụng trên thực tế Chỉ khi chế tài được áp dụng thìthể chế mới khiến cho hành vi của cá nhân trở nên dễ tiên đoán hơn Các quy tắc cùng với cácchế tài hướng hành vi con người theo những lộ trình tương đối dễ tiên đoán, qua đó tạo ra mộtmức độ trật tự Nếu các quy tắc đa dạng liên quan tỏ ra nhất quán với nhau, điều này sẽ tạo điềukiện cho sự hợp tác tin tưởng giữa mọi người với nhau, qua đó họ có thể khai thác tốt sự phâncông lao động và khả năng sáng tạo của con người Với hàm ý nêu trên, theo nghĩa đơn giảnhơn, người ta có thể diễn đạt thể chế là hệ thống gồm: “luật chơi”; “cách chơi”; “ các quy tắc vịtrí, vai trò của người chơi” trong một hệ quy chiếu quan hệ kinh tế - xã hội nhất định
Chức năng của thể chế
Chức năng then chốt của các thể chế nói chung là nhằm tạo ra một sự vận động theotrật tự quy ước đối với các quan hệ giữa con người với con người, giữa các chủ thể kinh tế - xãhội phong phú trong xã hội với nhau Từ đó, xác lập một mô thức có tính hệ thống, giảm ngẫunhiên và vì thế dễ nắm bắt, về các hành vi và biến cố trong sự vận động xã hội Khi xã hội hỗnloạn, sự tương tác xã hội trở nên quá tốn kém, sự tin tưởng và hợp tác đổ vỡ Sự phân công laođộng, nguồn gốc chủ yếu của sự phồn vinh kinh tế, sẽ không còn khả thi nữa
Vì vậy, thể chế xuất hiện giúp cho các chủ thể trong xã hội khi tìm cách ứng phó vớihiện tượng khan hiếm nguồn lực và sự phức tạp của quan hệ xã hội được thuận lợi hơn Trật tự
đó tạo ra niềm tin và sự tin tưởng, cũng như giúp tiết giảm chi phí phối hợp Khi trật tự thịnhhành, người ta có thể đưa ra những dự báo, có khả năng hợp tác với người khác tốt hơn và cảmthấy tự tin khi mạo hiểm với những thử nghiệm sáng tạo của mình Do đó, thể chế trở thànhmột nguồn lực và động lực thúc đẩy sự phát triển khi nó mang tính chất dung hợp Thể chế,cũng có thể kìm hãm sự phát triển nếu nó thể hiện là thể chế chiếm đoạt
Phân loại thể chế
Theo cấu thành các lĩnh vực cốt lõi của một chế độ xã hội nhất định, thể chế có thểđược phân loại thành: Thể chế chính trị; Thể chế kinh tế; Thể chế xã hội Trong đó, thể chếchính trị là những nguyên tắc, phương thức và các thiết chế thực hiện quyền lực chính trị củamột chế độ xã hội tương ứng với trình độ phát triển của xã hội đó; thể chế xã hội là hệ thể chếđiểu chỉnh sự vận hành của các lĩnh vực xã hội Các thể chế chính trị và kinh tế, xã hội bổ trợlẫn nhau
Như vậy, theo cách phân loại trên đây, thể chế kinh tế được xem là một hệ thể chế củatrong một chế độ xã hội nhất định Trong đó bao gồm: i) các bộ quy tắc, luật lệ điều chỉnh, chếđịnh các hành vi kinh tế, là bộ công cụ điều chỉnh các chủ thể tham gia hành vi kinh tế; ii) Vịthế, vai trò, chức năng, năng lực, phương thức tổ chức vận hành của các chủ thể tham gia cáchành vi kinh tế (nhà nước, doanh nghiệp, người dân, các hiệp hội); iii) Cơ chế, cách thức tổchức các luật lệ nhằm đạt mục tiêu mà các chủ thể khi tham gia hành vi kinh tế mong muốn
Xét về bản chất, thể chế kinh tế là “luật chơi”, “cách thức chơi” cùng các “ quy tắc quy
định vị thể, vai trò của đối tượng tham gia cuộc chơi và tuân thủ luật chơi” đó là các tổ chứckinh tế (như nhà nước, doanh nghiệp, công đoàn ) Thể chế kinh tế luôn gắn liền với tổ chứckinh tế và tác động qua lại với tổ chức kinh tế Các tổ chức kinh tế đều nằm trong một khuônkhổ thể chế kinh tế nào đó, nhưng các tổ chức kinh tế cũng có thể làm thay đổi thể chế kinh tế.Thể chế kinh tế phản ảnh và chịu tác động mang tính quyết định của nền quản trị quốc gia.Trong nền quản trị, ngoài yếu tố quản lý nhà nước, phải xét đến vai trò tham gia của các thành
Trang 38phần xã hội, yếu tố công khai Minh bạch; trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền; vàchất lượng của cơ chế kiểm soát tham nhũng.
Bất cứ nền kinh tế nào cũng cần có một bộ các quy tắc ứng xử, hay còn gọi là thể chế,
để điều tiết các mối quan hệ liên quan quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, cũng nhưbảo đảm việc ký kết và thực thi các hợp đồng Các “luật chơi” này quy định đâu là những hành
vi được phép hay không được phép thực hiện Nói cách khác, hệ thống thể chế tạo nên các cơchế “thưởng/phạt” để khuyến khích/điều tiết hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế Một nềnkinh tế có khả năng phát triển nhanh và bền vững hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc các
cơ chế “thưởng/phạt” này được thiết kế như thế nào
Xét về vai trò, thể chế kinh tế luôn tác động trực tiếp không những đến phát triển kinh
tế nói riêng, mà còn trực tiếp tác động đến sự ổn định của chế độ chính trị - xã hội Thể chếkinh tế tiến bộ, dung hợp không chỉ làm cho đất nước phát triển, giàu mạnh, mà còn góp phầnquan trọng bảo đảm sự ổn định và bền vững chế độ chính trị, xã hội Ngược lại, thể chế kinh tếlạc hậu, chiếm đoạt không những sẽ đưa nền kinh tế đó trở nên nghèo nàn, đói khổ, mà còn tácđộng trực tiếp làm cho chế độ chính trị mất ổn định (thậm chí có thể sụp đổ)
Quan niệm về thể chế sở hữu
Trên cơ sở các hàm ý nêu trên, có thể khái quát, thể chế sở hữu thuộc thể chế kinh tế
Đó là hệ thống những nguyên tắc nhằm xác định các chủ thể, điều chỉnh hành vi, quan hệ giữacác chủ thể ấy cũng như phương thức thực hiện lợi ích và cách thức đảm bảo lợi ích liên quantrong quan hệ sở hữu
Thể chế sở hữu dưới hai nhóm: i) các nguyên tắc, quy định để ràng buộc hành vi củacon người liên quan đến sở hữu Với hình thức này, theo ngôn ngữ của kinh tế học thể chế, thểchế sở hữu bao hàm “luật chơi” và cách thức thực hiện luật chơi đó, hay khái quát là “cáchchơi; ii) các thiết chế, tổ chức để thực hiện giám sát, bảo vệ, điều tiết, tác động đến quá trìnhvận động của các quan hệ kinh tế liên quan tới sở hữu Trên bề mặt xã hội đó là các cơ quanquản lý và bảo vệ pháp luật, các cơ quan cung ứng dịch vụ công về sở hữu với đội ngũ nhân lựcquản lý, lãnh đạo, thừa hành nhiệm vụ theo chức năng tương ứng
Trong đó, cụ thể hơn có thể hình dung, thể chế sở hữu bao gồm các khía cạnh như: i)các bộ quy tắc, luật lệ để xác định chủ thể sở hữu; đối tượng sở hữu; phạm vi của quan hệ sởhữu, hình thức sở hữu và kiểu chế độ sở hữu; những lợi ích từ đối tượng sở hữu và phạm vi lợiích mà các chủ thể sở hữu, sử dụng được thụ hưởng; các quy tắc điều chỉnh, chế định các hành
vi chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối tượng sở hữu; hệ thống công cụ điều chỉnh các chủ thểtham gia hành vi kinh tế liên quan đến hoặc phát sinh từ sở hữu; ii) Những quy định về vị thế,vai trò, chức năng, năng lực, quyền năng, quyền tài sản và yêu cầu, nguyên tắc sử dụng quyềntài sản; quyền nhân thân; nguyên tắc bảo toàn sở hữu, bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu hoặc đạidiện chủ sở hữu; nguyên tắc sử dụng tài sản trong sản xuất kinh doanh mà chủ thể đó làm đạidiện; phương thức tổ chức vận hành của các chủ thể tham gia các hành vi thực hiện lợi ích từđối tượng sở hữu (nhà nước, doanh nghiệp, người dân, các hiệp hội, cộng đồng); iii) Cơ chế,cách thức tổ chức, thiết chế và các quy tắc, thủ tục cho các tổ chức, thiết chế được xác lập đókhi giải quyết các tranh chấp về lợí ích phát sinh từ quyền sở hữu nhằm đạt mục tiêu mà cácchủ thể khi tham gia hành vi kinh tế từ lĩnh vực sở hữu muốn đạt được
Như vậy, có sự phân biệt nhất định giữa thể chế sở hữu, chế độ sở hữu và nội dungpháp lý của sở hữu Nếu như chế độ sở hữu là hệ thống kết cấu tổng thể xác lập các điều kiện
để các hình thức sở hữu tồn tại, vận động và tương tác lẫn nhau, thì thể chế về sở hữu là nhữngthức biểu hiện mang tính nguyên tắc bao hàm cho cả việc xác lập chế độ sở hữu cũng như cáchthức vận động của quan hệ sở hữu Nếu như nội dung pháp lý của sở hữu chỉ thể hiện ở quyđịnh các quyền hạn, nghĩa vụ của chủ thể sở hữu thì thể chế sở hữu rộng hơn thế còn bao hàmcác quy tắc mang tính “cách chơi”, “ vị trí, vai troc của các chủ thể chơi” Nội dung pháp lý của
Trang 39sở hữu chỉ là một bộ phận của thể chế sở hữu Thêm vào đó, xét về phương thức biểu hiện rađời sống xã hội Thể chế sở hữu bao hàm thể chế chính thức được nhà nước xây dựng và khôngngừng hoàn thiện, trong đó, nòng cốt là hệ thống luật pháp (hình thức pháp lý) về sở hữu.Ngoài ra, thể chế sở hữu còn bao hàm những hình thức thể chế không chính thức do các cộngđồng xây dựng lên Ở Việt Nam, thuộc thành tố này, đó có thể là các quy tắc, nguyên tắc đượccộng đồng xây dựng, thừa nhận và ban hành để điều chỉnh các quan hệ trong cộng đồng Nổibật là các hương ước, các quy ước của làng xã về tài sản, sử dụng tài sản chung, phát triển tàisản chung của cộng đồng, về ruộng đất sử dụng chung hoặc các công trình do đóng góp chung
mà có
Về cơ sở tồn tại, do thể chế sở hữu thuộc kiến trúc thượng tầng, vì vậy, tương tự nhưcác thành tố khác thuộc kiến trúc thượng tầng, thể chế sở hữu chịu sự tác động trực tiếp và cómối quan hệ biện chứng với cơ sở hạ tầng - các quan hệ kinh tế Nghĩa là, khi các quan hệ kinh
tế biến đổi, mà các quan hệ này lại chịu sự chi phối và tác động bởi trước hết là sự phát triểncủa lực lượng sản xuất, thì thể chế về sở hữu vì thế biến đổi theo Đây là vấn đề có tính quyluật Do đó, chủ thể lãnh đạo, quản lý phải nhận thức được tính quy luật này để thường xuyênđổi mới tư duy về sở hữu và hoàn thiện thể chế về sở hữu theo sự phát triển của lực lượng sảnxuất xã hội Như vậy, cơ sở hình thành thể chế về sở hữu bắt nguồn sâu xa từ các quan hệ kinhtế
Nội dung hoàn thiện thể chế sở hữu ở Việt Nam :
Diễn đạt một cách đơn giản, nếu coi lĩnh vực sở hữu như một môi trường cho các chủ thể sởhữu và quan hệ đến lợi ích từ sở hữu thì, các khía cạnh chung nhất cần tiếp tục hoàn thiện thểchế về sở hữu ở Việt Nam trong thời gian tới cần chú ý gồm:
- Hoàn thiện hệ thống nguyên tắc điều chỉnh mang tính môi trường (“luật chơi”) liênquan tới sở hữu
- Hoàn thiện hệ thống quy định mang tính phương thức để các chủ thể sở hữu thực hiệnhành vi của mình (“cách chơi”) đối với quyền sở hữu
- Hoàn thiện về cơ cấu, về loại hình, các quy định về chức năng, vị trí, vai trò của cácchủ thể tham gia (“người chơi”) trong lĩnh vực sở hữu
Cụ thể hơn, xét về mặt lý luận, xuất phát từ nội hàm thể chế sở hữu, việc hoàn thiện thểchế sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải được coi là một quá trìnhliên tục không ngừng Các khía cạnh cần hoàn thiện liên quan đến những bộ phận hợp thành thểchế về sở hữu bao gồm:
Một là, hoàn thiện các các bộ quy tắc, luật lệ để xác định chủ thể sở hữu; đối tượng sởhữu; phạm vi của quan hệ sở hữu, hình thức sở hữu và kiểu chế độ sở hữu; những lợi ích từ đốitượng sở hữu và phạm vi lợi ích mà các chủ thể sở hữu, sử dụng được thụ hưởng; các quy tắcđiều chỉnh, chế định các hành vi chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối tượng sở hữu; hệ thốngcông cụ điều chỉnh các chủ thể tham gia hành vi kinh tế liên quan đến hoặc phát sinh từ sở hữu;
Hai là, hoàn thiện những quy định về vị thế, vai trò, chức năng, năng lực, quyền năng,quyền tài sản và yêu cầu, nguyên tắc sử dụng quyền tài sản; quyền nhân thân; nguyên tắc bảotoàn sở hữu, bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu; nguyên tắc sử dụng tài sảntrong sản xuất kinh doanh mà chủ thể đó làm đại diện; phương thức tổ chức vận hành của cácchủ thể tham gia các hành vi thực hiện lợi ích từ đối tượng sở hữu (nhà nước, doanh nghiệp,người dân, các hiệp hội, cộng đồng);
Ba là, hoàn thiện cơ chế, cách thức tổ chức, thiết chế và các quy tắc, thủ tục cho các tổchức, thiết chế được xác lập đó khi giải quyết các tranh chấp về lợí ích phát sinh từ quyền sởhữu nhằm đạt mục tiêu mà các chủ thể khi tham gia hành vi kinh tế từ lĩnh vực sở hữu muốn đạt
Trang 40Đó là những công việc đồ sộ đòi hỏi thời gian, và sự nỗ lực liên tục của cả hệ thốngchính trị cũng như toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp và người dân mới có thể thực hiện thànhcông được.
Câu 2: Vai trò của thể chế sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Những nguyên tắc hoàn thiện thể chế sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam? Giải pháp hoàn thiện?
Vai trò của thể chế sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Với nhiều khía cạnh nội dung như đã nêu, vai trò của thể chế sở hữu có thể được nhìn nhận ởnhiều cấp độ Ở đây, xét trong khía cạnh đặc trưng về phương thức phát triển kinh tế của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vai trò của thể chế sở hữu có thể được nhìn nhậntrên các khía cạnh cơ bản sau:
Thứ nhất, thể chế sở hữu góp phần xác lập và củng cố cơ sở pháp lý cho việc tất yếu
hình thành hệ thống luật pháp bảo đảm sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phầnkinh tế và sự đa dạng của các hình thức tổ chức kinh doanh cũng như sự đa dạng của các quan
hệ kinh tế
Về mặt này, thể chế sở hữu góp phần khẳng định và làm rõ các nguyên tắc, những quyđịnh mang tính nhà nước, có tính bắt buộc chung thể hiện ý chí, nguyện vọng của đông đảonhân dân trong việc hiểu và thực hành sự tồn tại khách quan của các hình thức sở hữu và nhiềuthành phần kinh tế
Đối với Việt Nam, thể chế sở hữu còn đảm nhiệm vai trò tác động điều chỉnh các điềukiện thực tế để không xác lập chế độ sở hữu tư nhân tư bản với tư cách là chế độ sở hữu thốngtrị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Đi liền với đó, thể chế về sở hữu là cơ sở vững chắc nhất cho việc thực hiện các hìnhthức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở Việt Nam Mỗi hình thức kinh doanh đều có vai trò của nó đối với sự phát triển chung
Cơ sở cho việc khẳng định những vai trò đó xuất phát từ thể chế sở hữu Thông qua việc pháthuy vai trò điều chỉnh của sở hữu mà tác động mang tính điều tiết của nhà nước đối với nềnkinh tế thị trường trở nên khách quan hơn, đúng quy luật hơn, tránh được những biện phápmang tính hành chính, chủ quan
Thứ hai, thể chế sở hữu là cơ sở cho sự hình thành các thể chế tổ chức quản lý, thể chế
về phân phối và phân bổ, giải phóng các nguồn lực thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất;thúc đẩy các quan hệ kinh tế lành mạnh Từ đó góp phần thúc đẩy sự hoàn thiện của thể chếkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội
Như đã biết, quan hệ sở hữu chi phối, quyết định các quan hệ tổ chức quản lý và quan
hệ phân phối, do đó, để có thể xác lập được hệ thống thể chế của quan hệ tổ chức và quan hệphân phối, trước hết phụ thuộc vào sự hoàn thiện của thể chế sở hữu Vì vậy, sự hoàn thiện củathể chế sở hữu sẽ ảnh hưởng quyết định tới sự hoàn thiện của thể chế tổ chức quản lý và phânphối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Về mặt phân bổ nguồn lực, nhất là nguồn lực vốn, ngân sách, tài nguyên, thể chế sởhữu là cơ sở để thực hiện phân bổ các nguồn lực đó một cách hiệu quả, phù hợp với các quyluật thị trường Thoát ly khỏi thể chế sở hữu, các chủ thể có vai trò phân bổ nguồn lực tất sẽ savào chủ quan Từ đó nảy sinh cơ chế xin cho, phân bổ sai, không hiệu quả các nguồn lực, cácnguồn lực không được sử dụng bởi các chủ thể có khả năng sử dụng hiệu quả nhất
Thứ ba, thể chế sở hữu còn là công cụ để các cấp lãnh đạo quản lý ở Việt Nam thực
hiện chức năng tổ chức, quản lý xã hội phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan