1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở việt nam hiện nay

17 148 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 183 KB
File đính kèm Đẩy mạnh CNHHDH.rar (31 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế cho thấy khi chúng ta phát triển công nghệ thông tin và truyền thông, intơnét, mạng viễn thông kỹ thuật số, điện thoại di động..., tức là phát triển một số bộ phận của kinh tế tri thức thì mặc nhiên thúc đẩy hiện đại hóa, ở trình độ cao, nhiều lĩnh vực của công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp, dịch vụ. Do đó việc kết hợp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức vừa là cơ hội, vừa là yêu cầu trong đổi mới. Do đó, tôi chọn chủ đề “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” để làm bài thu hoạch cho môn học Kinh tế Chính trị MácLênin.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Khái niệm Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế tri thức 2

1.1 Quan niệm về công nghiệp hóa 2

1.2 Quan niệm về hiện đại hóa 2

1.3 Quan niệm về kinh tế tri thức 4

2 Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 5

3 Những điều kiện cần thiết để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay 10

3.1 Bảo đảm sự ổn định chính trị, kinh tế và xã hội 10

3.2 Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực 11

3.3 Phát triển khoa học và công nghệ 12

3.4 Tạo lập nguồn vốn đầu tư cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức 13

3.5 Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế 14

3.6 Bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng 14

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa thế giới, một số nước đang phát triển, tuy chưa

có công nghiệp hiện đại, công nghệ cao nhưng biết chủ động hội nhập kinh tế, tranh thủ tiếp thu công nghệ cao trên cơ sở nguồn nhân lực thích hợp, thì vẫn có thể bước đầu phát triển kinh tế tri thức

Nước ta, tuy còn ở trong nền kinh tế nông nghiệp và là nước đang phát triển thu nhập thấp, nhưng biết phát huy đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có năng lực tiếp thu và ứng dụng các công nghệ cao, qua chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, vẫn có thể có cơ hội rút ngắn thời gian để tiến nhanh hơn Muốn vậy, phải đồng thời tiếp thu công nghệ cao của phát triển kinh tế tri thức và vận dụng ngay vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong các lĩnh vực cần thiết Ví dụ phát triển các phần mềm hệ điều hành máy, có thể đem ứng dụng với sự điều chỉnh hợp lý, vào các máy trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thực tế cho thấy khi chúng ta phát triển công nghệ thông tin và truyền thông, in-tơ-nét, mạng viễn thông kỹ thuật số, điện thoại di động , tức là phát triển một số

bộ phận của kinh tế tri thức thì mặc nhiên thúc đẩy hiện đại hóa, ở trình độ cao, nhiều lĩnh vực của công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp, dịch vụ Do đó việc kết hợp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức vừa là cơ hội,

vừa là yêu cầu trong đổi mới Do đó, tôi chọn chủ đề “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” để làm bài

thu hoạch cho môn học Kinh tế Chính trị Mác-Lênin Do kiến thức và tầm hiểu biết còn hạn chế nên bài viết của tôi không tránh khỏi sai sót rất mong được các giảng viên góp ý kiến cho bài thu hoạch được hoàn thiện

Hà Nội, ngày 16 tháng 8 năm 2019

Trang 3

NỘI DUNG

1 Khái niệm Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế tri thức

1.1 Quan niệm về công nghiệp hóa

Do thời điểm lịch sử tiến hành CNH ở các nước không giống nhau nên đã có những quan niệm khác nhau về CNH Việc nhận thức đúng phạm trù CNH trong một giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước là rất cần thiết, nó không chỉ có ý nghĩa về lý luận mà còn có tính thiết thực trong hoạch định và thực thi chính sách phát triển Tuy có những quan niệm khác nhau về CNH, nhưng về cơ bản các quan

niệm trên vẫn có những điểm chung và có thể được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa hẹp, CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công

nghiệp) lên nền kinh tế lấy công nghiệp làm chủ đạo, từ chỗ tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm chủ yếu giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỷ

trọng lớn hơn Theo nghĩa rộng, CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông

nghiệp (hay tiền công nghiệp) lên kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp lên

xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp Nó không

chỉ đơn thuần là những biến đổi về kinh tế mà bao gồm cả các biến đổi về văn hóa

và xã hội từ trạng thái nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, tức là trình độ văn minh cao hơn

1.2 Quan niệm về hiện đại hóa

Theo cách hiểu thông thường, hiện đại hóa (HĐH) là quá trình “làm cho mang tính chất của thời đại ngày nay” Đó là quá trình biến đổi từ tính chất truyền thống

cũ lên trình độ tiên tiến của thời đại hiện nay.Theo ý nghĩa về kinh tế - xã hội, HĐH là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại, quá trình làm cho nền kinh tế và đời sống xã hội mang tính chất và trình độ của thời đại ngày nay HĐH về kinh tế vừa có sự thay đổi về tính chất, vừa có tính xác định về thời gian Giai đoạn đầu của hiện đại hóa được xác định trùng với thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (còn gọi là thời kỳ CNH) Trong giai đoạn này, CNH là nội dung cốt lõi của HĐH

Tuy một số nước đi trước đã hoàn thành CNH và đã trở thành nước công nghiệp phát triển, nhưng quá trình HĐH ở các nước đó vẫn tiếp tục diễn ra ở trình

độ cao hơn Thực tế cho thấy, ở mỗi trình độ phát triển khác nhau, HĐH mang những đặc trưng khác nhau Đối với các nước phát triển, HĐH là quá trình chuyển dịch từ xã hội dựa trên nền kinh tế công nghiệp lên xã hội dựa trên nền kinh tế tri thức Đối với các nước đang phát triển, HĐH là quá trình tăng tốc, rút ngắn lộ trình

Trang 4

phát triển để đuổi kịp các nước đi trước và phát triển hơn Do tiến hành CNH trong bối cảnh mới của thế giới nên bên cạnh việc dựa vào các nguồn lực trong nước, các nước đang phát triển còn tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài thông qua thu hút đầu tư để tìm kiếm nguồn vốn và công nghệ mới Đây chính là kiểu CNH rút ngắn hiện đại Nó khác với kiểu CNH rút ngắn cổ điển đã từng tiến hành ở các nước như Liên Xô (cũ) và Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trước đây CNH rút ngắn hiện đại là cách thức mà nước đi sau tiến hành CNH khi trên thế giới đã có những quốc gia hoàn thành CNH, những nội dung của CNH đã được triển khai ổn định ở các nước đi trước (gọi là nước công nghiệp phát triển) Do sự biến đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là từ khi diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nên những công nghệ hiện có của các nước này dễ bị lạc hậu Do cạnh tranh trên thị trường, các nước này phải “chiếm lĩnh đỉnh cao công nghệ”, nên họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ hiện có của họ cho nước đi sau để bước vào thế hệ công nghệ mới Bởi vậy, nước đi sau có rất nhiều phương án lựa chọn trong phát triển công nghệ mà không nhất thiết phải dựa vào phát minh Đây chính là “lợi thế của nước đi sau” Dựa vào lợi thế này, nước đi sau

có thể rút ngắn đáng kể thời gian để sớm trở thành nền kinh tế hiện đại Tại các nước này, quá trình tiến hành CNH được gắn kết với quá trình HĐH

Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về CNH và căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam là một nước đi sau đang trong quá trình phát triển, Đảng cộng sản Việt Nam tại Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa VII (năm 1994), nêu chủ trương tiến hành xây dựng cơ sở vật chất –

kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới bằng con đường

CNH, HĐH và nêu quan niệm: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.

Theo quan niệm này, quá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung CNH và HĐH Nó không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện chuyển dịch

cơ cấu trong từng ngành, lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng hiện đại Nó không chỉ là một quá trình phát triển tuần tự từ cơ giới hóa lên tự động hóa, tin học hóa mà còn kết hợp giữa thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định

Trang 5

Quan niệm trên không bó hẹp CNH trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khi như cách hiểu trước đây, mà còn là một sự kết hợp với những thành tựu mới nhất

về khoa học và công nghệ của nhân loại

1.3 Quan niệm về kinh tế tri thức

Bên cạnh cách giải thích truyền thống về lịch sử phát triển nhân loại tiếp cận

từ phương thức sản xuất xã hội, vào đầu những năm 90 thế kỷ XX nhiều nhà khoa học còn phân chia giai đoạn lịch sử văn minh nhân loại căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Theo cách này, nhân loại đã trải qua nền văn minh nông nghiệp (từ khi xuất hiện xã hội loài người đến những năm 70 của thế kỷ XVIII) lên nền văn minh công nghiệp (từ những năm 70 thế kỷ XVIII đến nay) và đang trong giai đoạn quá độ chuyển lên một nền văn minh cao hơn gọi là nền văn

minh trí tuệ Trong đó, nền kinh tế được chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và đang quá độ chuyển lên kinh tế tri thức.

Vào đầu những năm 90 thế kỷ XX, do nhận thức về vai trò quan trọng hàng đầu của sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trong tăng trưởng kinh tế, các nhà khoa học và tổ chức thực tiễn đã sử dụng thuật ngữ “kinh tế tri thức” Thuật ngữ này nhanh chóng được thừa nhận và đưa vào sử dụng rộng rãi Tuy đã có nhiều quan niệm và giải thích khác nhau về thuật ngữ này4, song các nhà khoa học đều có

sự thống nhất trong nhận thức về bản chất của nền kinh tế tri thức khác với hai nền kinh tế trước nó Nếu trong quá trình sản xuất của cải của nền kinh tế nông nghiệp dựa chủ yếu vào sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên, còn trong nền kinh tế công nghiệp tuy đã có sự trợ giúp của máy móc nhưng sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên vẫn giữ trọng yếu, thì trong nền kinh tế tri thức, tri thức đóng vai trò quyết định hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia

Trên thực tế, không có một nền kinh tế nông nghiệp hay nền kinh tế công nghiệp thuần túy Tức là trong nền kinh tế nông nghiệp cũng đã chứa đựng một số yếu tố của nền kinh tế công nghiệp và trong nền kinh tế công nghiệp cũng vẫn còn một số yếu tố của nền kinh tế nông nghiệp Trong nền kinh tế nông nghiệp, tri thức chủ yếu là những kinh nghiệm được tích lũy từ các hoạt động thực tế, năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất đều hết sức thấp kém So với nền kinh tế nông nghiệp, trong nền kinh tế công nghiệp, tri thức đã chiếm vị trí ngày càng quan trọng hơn Nó không chỉ là kinh nghiệm từ các hoạt động thực tế, mà còn khám

Trang 6

phá ra những quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy để đưa ra những sáng chế, phát minh nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả Trong nền kinh

tế tri thức, tri thức là bộ phận nguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, mà trình độ phát triển của lực lượng sản xuất lại đóng vai trò quyết định sự phát triển xã hội

Nền kinh tế tri thức có các đặc điểm chủ yếu như sau:

Tri thức là nguồn vốn vô hình to lớn, quan trọng trong đầu tư phát triển, nền kinh tế dựa chủ yêu vào tri thức Sáng tạo là động lực của sự phát triển Nền kinh

tế có tính chất toàn cầu hóa, trong đó mạng thông tin trở thành kết cấu hạ tầng quan trọng nhất của xã hội Sự di chuyển cơ cấu lao động theo hướng giảm số lao động trực tiếp làm ra của cải, tăng số lao động xử lý thông tin, làm dịch vụ, di chuyển sản phẩm và làm văn phòng Học suốt đời, đào tạo liên tục, giáo dục thường xuyên để không ngừng phát triển tri thức, sáng tạo công nghệ mới, làm chủ công nghệ cao, hoàn thiện các kỹ năng, thích nghi nhanh với sự phát triển là một yêu cầu nghiêm ngặt; xã hội học tập là nền tảng của kinh tế tri thức Tri thức hóa các quyết sách kinh tế Khác với nền kinh tế công nghiệp, chủ thể là công nhân với các công cụ cơ khí, cho năng suất lao động cao; còn nền kinh tế tri thức, chủ thể là công nhân trí thức với công cụ là tạo ra tri thức, quảng bá tri thức và sử dụng tri thức Như vậy, nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế tiếp nối nền kinh tế công nghiệp, phát triển ở trình độ cao hơn nền kinh tế công nghiệp, là nền kinh tế mà

nhân loại đang hướng tới Có thể hiểu kinh tế tri thức là một nền kinh tế trong

đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.

2 Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

CNH là con đường thiết yếu mà mọi quốc gia đều phải trải qua để đi tới một

xã hội hiện đại

CNH, HĐH của Việt Nam được tiến hành bối cảnh xu hướng trên thế giới đang chuyển mạnh lên nền kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đã và đang tác động sâu sắc với tốc độ cao đến đời sống kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, trong khi đó Việt Nam vẫn trong tình trạng của một nước có điểm xuất phát thấp, nhiều yếu tố lạc hậu, phát triển thiếu bền vững Trong bối cảnh nhiều cơ hội

và thách thức đan xen, để đi tới một nền kinh tế hiện đại, Việt Nam phải có những

Trang 7

giải pháp bứt phá Sự lựa chọn giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là cấp thiết

2.1 Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là cách thức để đất nước sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu

Trong những năm qua, tuy đã có những bước phát triển tích cực, nhưng về

cơ bản, nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nước nghèo và kém phát triển Chúng ta vẫn phải đương đầu với những thách thức gay gắt và những nhiệm vụ nan giải: một mặt, tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản đặt ra cho nền kinh tế trong quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên trình độ của nền kinh tế công nghiệp, như bảo đảm lương thực, thực phẩm, nhu cầu nước sạch, trường học, đi lại cho người dân; mặt khác, phải nhanh chóng nắm bắt các xu thế phát triển hiện đại không những chỉ để chống tụt hậu ngày càng xa hơn so với trình độ chung của thế giới, mà còn phải thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển khi bản thân họ đã·có trình độ phát triển cao hơn Khi các yếu tố cho phát triển không chỉ đơn thuần là vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, mà còn có thêm yếu tố tri thức với ý nghĩa là yếu tố quan trọng và trực tiếp đối với quá trình phát triển, thì việc không nhanh chóng nắm bắt và vận dụng được tri thức mới sẽ không thể tránh khỏi sự tụt hậu tuyệt đối so với các nước khác Tri thức đã trở thành yếu tố của lực lượng sản xuất trực tiếp và có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội Trong điều kiện đó, nước ta không thể bỏ lỡ cơ hội, mà phải tìm giải pháp bứt phá, tức là phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức

Là một nước đang phát triển vừa mới nằm trong nhóm nước có thu nhập trung bình (nhưng mới chỉ là mức trung bình thấp) lại đặt trong xu thế mở cửa, hội nhập, việc gắn CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức ngay trong quá trình chuyển nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp là một thách thức rất lớn đối với nước ta Điều này xuất phát từ thực tiễn của một nước đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trình độ phát triển chung của thế giới Đây cũng là yêu cầu cấp thiết, bắt buộc phải giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ: phát triển để vượt khỏi sự lạc hậu và chuyển sang phát triển kinh tế tri thức

2.2 Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là yêu cầu bắt buộc để tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội

Lịch sử đã chứng minh, mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng dựa trên một cơ sở vật chất – kỹ thuật nhất định để tồn tại và phát triển Nó bao gồm toàn

Trang 8

bộ các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất tương ứng với trình độ kỹ thuật, công nghệ nhất định; dựa vào đó lực lượng lao động của xã hội tiến hành sản xuất của cải Một trình độ nhất định của cơ sở vật chất – kỹ thuật là nội dung kinh tế, là “cốt vật chất” có ý nghĩa xác định một thời đại kinh tế, phân biệt với phương thức sản xuất chứa đựng nó thuộc loại hình kinh tế - xã hội lịch sử nào

Thực tế đã chứng minh, các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản đều đã dựa trên cơ sở vật chất – kỹ thuật với công cụ lao động thủ công, lạc hậu, năng suất thấp Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sở dĩ chiến thắng phương thức sản xuất phong kiến vì nó tạo ra nền đại công nghiệp để có năng suất lao động cao “chưa từng có dưới chế độ nông nô” Do vậy, phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa tất yếu phải phát triển dựa trên cơ sở vật chất – kỹ thuật ở trình độ cao hơn chủ nghĩa tư bản

Cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp lớn hiện đại với cơ cấu kinh tế hợp lý, trình độ xã hội hóa cao, dựa trên nền tảng khoa học

và công nghệ tiên tiến, được hình thành có kế hoạch trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nó không chỉ kế thừa những thành quả văn minh mà nhân loại đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản, mà còn được phát triển và hoàn thiện trên cơ sở những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, tham gia tích cực và có hiệu quả vào phân công lao động và hợp tác quốc tế

Đối với các nước đã qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc xác lập cở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội được tiến hành thống qua kế thừa, điều chỉnh và hoàn thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản theo yêu cầu của chế độ mới và phát triển

nó lên trình độ cao hơn Đối với các nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp, ở giai đoạn đầu hoặc không qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội càng trở nên cấp thiết hơn

Theo V.I Lênin, “Cơ sở vật chất duy nhất và thực sự để làm tăng của cải của chúng ta, để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có thể là đại công nghiệp Không có một nền đại công nghiệp tổ chức cao thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được, mà lại càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp được

Tạo lập cơ sở vật chất – kỹ thuật để xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực là đòi hỏi có tính bắt buộc đối với tất cả các nước muốn quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Trang 9

Điều này càng trở nên cấp thiết đối với một nước có điểm xuất phát thấp như Việt Nam Con đường cơ bản để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong bối cảnh hiện nay tất yếu phải là đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức

Cần nhấn mạnh rằng, xu hướng phát triển kinh tế tri thức đã và đang là thách thức và cơ hội lớn đối với nước ta trên con đường xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Nếu không kịp thời nắm bắt thời cơ, dựa vào kinh tế tri thức để đẩy nhanh CNH, HĐH thì nước ta sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn Phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức để nhanh chóng đuổi kịp các nước, thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội Đó là yêu cầu cấp bách, là sự chuyển hướng chiến lược trọng đại Đây chính là cơ hội lịch sử hiếm hoi mà thời đại đã tạo ra

2.3 Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức bắt nguồn từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn

Nước ta hiện đang tiến hành công cuộc đổi mới, trong đó xây dựng một nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung có tầm chiến lược Vì tham gia vào nền kinh tế thế giới trong xu hướng toàn cầu hóa là những quốc gia có chủ quyền, nên muốn thực hiện nội dung này, đòi hỏi chúng ta phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phải hội nhập sâu hơn, đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương

Hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung chủ yếu của toàn cầu hóa kinh tế,

đó là quá trình các quốc gia gắn kết nền kinh tế của nước mình với nền kinh tế khu vực và thế giới bằng các nỗ lực thực hiện tự do hóa, mở cửa kinh tế trên các cấp độ song phương, đa phương và giảm thiểu sự khác biệt để trở thành một bộ phận hợp

thành chỉnh thể nền kinh tế toàn cầu Nó không chỉ đơn thuần là quá trình hợp tác,

mà còn là quá trình cạnh tranh có tính quyết định sống còn giữa các doanh nghiệp

và các nền kinh tế quốc gia

Nếu trước đây, sự phân công và trao đổi bị giới hạn bởi tính vùng, địa phương và quốc gia, thì ngày nay trong xu hướng toàn cầu hóa, sự phân công và trao đổi được thực hiện thông qua mạng liên kết toàn cầu Xu hướng này tất yếu làm cho ngày càng nhiều các sản phẩm công nghiệp được sản xuất ra có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau, rồi tổ hợp chúng lại với nhau Sự phân công lao động đã làm cho biên giới quốc gia không còn giới hạn chặt chẽ như trước đây, mà xích lại gần nhau Tri thức, đặc biệt là công nghệ thông

Trang 10

tin, kinh tế mạng là những yếu tố quan trọng kết dính các doanh nghiệp và các quốc gia với nhau Do vậy, hội nhập kinh tế quốc tế làm cho hệ thống thông tin không còn là của riêng từng quốc gia, mà là chung của nhiều quốc gia trên thế giới Hội nhập kinh tế quốc tế làm cho các doanh nghiệp và các quốc gia sẵn sàng hợp tác với nhau để cùng hưởng lợi do hợp tác mang lại

Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra những thách thức cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp và các nền kinh tế Thành công trong cuộc cạnh tranh này, tất nhiên sẽ thuộc về các doanh nghiệp và quốc gia có lợi thế về tri thức khoa học và công nghệ trong việc tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Quốc gia nào giàu về tài nguyên thiên nhiên và nhân công dồi dào, giá tài nguyên và giá nhân công rẻ sẽ dần dần mất đi lợi thế của mình do tri thức ngày càng trở nên quyết định nhiều hơn trong giá trị sản phẩm

Trong bối cảnh đó, để chủ động hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn vào các quan hệ kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, một đòi hỏi có tính bắt buộc là nước ta phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi tri thức

là đòn bẩy làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế, thúc đẩy quá trình hội nhập

2.4 Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức còn do tác động nhiều mặt của quá trình này đối với đời sống kinh tế, chính trị và xã hội

Ngoài những nguyên nhân trên, việc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta còn do chính tác động tích cực của quá trình này đối với đời sống kinh tế, chính trị và xã hội Nó không chỉ tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật và kiểu tổ chức một nền kinh tế mới, thúc đẩy mạnh mẽ phân công lao động

xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, bảo đảm không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội mà còn sớm có được cơ sở vật chất – kỹ thuật tiên tiến hiện đại để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước cho

sự tăng trưởng kinh tế nhanh Tạo nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Cải thiện điều kiện lao động, giải phóng người lao động, phát triển trí tuệ, đưa tri thức vào các lĩnh vực đời sống xã hội, thúc đẩy xã hội học tập, làm chủ, tiếp thu và sáng tạo tri thức mới, nhờ đó nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội Quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức còn là quá trình tạo

ra điều kiện để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trên cơ sở đó mà chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả; tạo điều kiện vật chất kỹ thuật để củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh, tăng cường vai trò và chức năng của Nhà nước

Ngày đăng: 05/10/2021, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.195 Khác
2. Nguyễn Phú Trọng: Nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.34 Khác
3. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.198 Khác
4. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.263 Khác
5. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.28-29 Khác
6. ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.79, 98 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w