1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương kinh tế chính trị mac lenin chuẩn do giảng viên đh sư phạm kỹ thuật TP HCM biên soạn

16 709 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 211 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, Nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triể

Trang 1

MÔN KINH TẾ

CHÍNH TRỊ – MÁC

LÊ NIN

*****

Câu 1: Sản xuất

hàng hoá và hai thuộc

tính của nó?.

1, Khái niệm sản

xuất hàng hoá:

Hàng hoá là sản

phẩm của lao động, có thể

thoả mản nhu cầu nào đó

của con người thông qua

trao đổi mua bán

Hàng hoá có thể ở

dạng hữu hình như; sắt,

thép, lương thực, thực

phẩm

Hoặc ở dạng vô

hình như dịch vụ thương

mại, giáo viên, bác sỹ,

nghệ sĩ

Sản xuất hàng

hoá là sản xuất ra sản

phẩm để bán, nói cách

khác, sản xuất hàng hoá là

kiểu tổ chức sản xuất mà

trong đó sản phẩm làm ra

không phải là để đáp ứng

nhu cầu tiêu dùng mà của

chính người trực tiếp sản

xuất ra mà là để đáp ứng

nhu cầu tiêu dùng của

người khác, thông qua việc

trao đổi mua bán

Hàng hoá có 2

thuộc tính giá trị sử dụng

và giá trị:

2, hai thuộc tính

của hàng hoá:

Hàng hoá: Là sản

phẩm của người lao độnh,

có thể thoả mãn nhu cầu

nào đó của con người,

được sản xuất ra để trao

đổi mua bán trên thị

trường Hàng hóa bao giờ

cũng có hai thuộc tính: giá

trị và giá trị sử dụng Một

sản phẩm chỉ trở thành

hàng hoá khi nó vừa có giá

trị sử dụng vừa có giá trị

- Giá trị sử

hàng hoá:

+ Là công dụng

của hàng hoá để thoả mản

nhu cầu nào đó của con

người (có thể là nhu cầu

cho sản xuất, cũng có thể là

nhu cầu cho tiêu dùng)

Giá trị sử dụng của một hàng hoá là do những thuộc tính tự nhiên (lý, hoá học) của thực thể hàng hoá

đó quyết định Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn Xã hội loài người càng phát triển càng phát hiện ra nhiều thuộc tính tự nhiên có ích của vật phẩm

và lợi dụng những thuộc tính tự nhiên đó để tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau, đáp ứng nhu cầu của con người

Ví dụ: Than đá ngày xưa chỉ dùng làm chất đốt (đun, sưởi)khi khoa học

kỹ thuật phát triển nó còn được dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công nghệ hoá chất

+ Là giá trị sử dụng cho XH, không phải dành cho người sản xuất ra

nó mà dành cho người mua

nó Do vậy, giá trị sử dụng của hàng hoá tuỳ thuộc vào

sự đánh giá của người mua, tuỳ theo nhu cầu, thị hiếu của họ

+ Giá trị sử dụng còn bao gồm mặt chất và mặt lượng của nó

Mặt chất của giá trị sử dụng do các yếu tố vật chất cấu thành nó quyết định, là công dụng những thuộc tính có ích của vật phẩm

Mặt lượng của giá trị

sử dụng được biểu hiện ra ngoài bằng các đơn vị đo lường với các thước đo khác nhau

=> Chất, lượng của giá trị sử dụng phụ thuộc vào trình độ lao động, trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật và nguyên vật liệu cấu thành hàng hoá

- Giá trị hàng hoá:

- Theo Các Mác: Muốn hiểu giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi của nó

+ Giá trị trao đổi là một quan hệ tỉ lệ về số lượng, là một tỉ lệ mà theo

đói một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác

Ví dụ: Trao đổi 1m vải

= 5kg thóc

Sở dĩ vải và thóc là 2 hàng hoá khác nhau, nhưng chúng có thể trao đổi được với nhau, vì giữa chúng có chung một cái chung, đó là chúng đều là sản phẩm của lao động Đều có lao động kết tinh trong đó

+ Chính lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá, tạo thành giá trị của hàng hoá, là cơ sở chung cho việc trao đổi

Kết luận: Vậy, giá trị

của hàng hoá là lao động

XH của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện

ra bên ngoài của giá trị

Giá trị phản ánh mối quan

hệ xã hội giữa người với người trong quá trình sản xuất hàng hoá Do đó giá trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hoá

Câu 2: Các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá:

1, Quy luật giá trị:

a) Nội dung quy luật giá trị:

Quy luật giá trị: là quy

luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá

Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là trên cơ sở hao phí lao động XH cần thiết

- Trong sản xuất: Quy

luật giá trị đòi hỏi người sản xuất phải căn cứ vào hao phí lao động XH cần thiết, luôn có ý thức tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động XH cần thiết

- Trong lưu thông: việc trao đổi phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá

- Cơ chế tác động của quy luật giá trị đối với nền kinh tế hàng hoá là thông qua sự lên xuống của giá cả thị trường

b) Tác dụng của quy luật giá trị:

- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá:

Thông qua sự lên xuống của giá cả, quy luật giá trị có tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông

+ Điều tiết sản xuất:

Là người sản xuất bỏ ngành có giá cả thấp, đổ xô vào ngành có giá cả cao, làm cho quy mô sản xuất của một số ngành được mở rộng, một số ngành bị thu hẹp lại

+ Điều tiết lưu thông:

Là làm cho hàng hoá lưu chuyển từ nơi giá cả thấp đến nơi giứa cả cao Như vậy quy luật giá trị cũng tham gia vào phân phối các nguồn hàng hoá cho hợp lý hơn giữa các vùng

- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất tăng năng suất lao động,

hạ giá thành sản phẩm.

Các hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, nên

có giá trị cá biệt khác nhau Nhưng trên thị trường đều phải trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Người sản xuất nào

có giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn gía trị của xã hội thì sẽ có lợi Vì vậy, mỗi người sản xuất hàng hoá đều tìm cách giảm giá trị cá biệt hàng hoá của mình xuống dưới mức giá trị xã hội bằng cách cải tiến

kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để tăng năng xuất lao động Sự cạnh tranh quyết liệt đã làm cho năng xuất lao động xã hội không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội cũng không ngừng giảm xuống

Trang 2

- Phân hoá những

người sản xuất hàng hoà

thành giàu nghèo, làm xuất

hiện quan hệ sản xuất tư

bản chủ nghĩa.

Trong sản xuất hàng

hoá, hàng hoá của người

sản xuất nào có giá trị cá

biệt thấp hơn giá trị xã hội

thì người đó có lợi, ngược

lại là bị bất lợi và phải phá

sản Vì vậy một số người

trở nên phát tài, giàu có, số

còn lại thì nghèo đói Từ

đó, những người giàu tiếp

tục mở rộng sản xuất kinh

doanh, thuê thêm công

nhân và trở thành nhà tư

bản, những người bị phá

sản trở thành những người

lao động làm thuê

* Kết luận: Quy luật

giá trị vừa có tác động tích

cực, vừa có tác động tiêu

cực Do đó, đồng thời với

việc thúc đẩy sản xuất hàng

hoá phát triển, Nhà nước

cần có những biện pháp để

phát huy mặt tích cực, hạn

chế mặt tiêu cực của nó,

đặc biệt trong điều kiện

phát triển nền kinh tế hàng

hoá nhiều thành phần theo

định hướng XHCN ở nước

ta hiện nay

2, Quy luật cung cầu:

a) Khái niệm cung

cầu.

- Cung: Là tổng số

hàng hoá có ở thị trường

hoặc có khả năng thực tế

cung cấp cho thị trường;

cung biểu hiện kết quả sản

xuất dưới hình thức hàng

hoá Như vậy, cung do sản

xuất quyết định

- Cầu: Là nhu cầu có

khả năng thanh toán Vì

vậy, cầu là nhu cầu được

bảo đảm bằng số lượng tiền

mà người mua sẳn sàng và

chấp nhận mua hàng hoá

b) Nội dung của quy

luật:

- Quy luật cung cầu:

là quy luật về mối quan hệ

biện chứng khách quan

giữa cung và cầu hàng hoá

trên thị trường, độc lập với

ý muốn của con người

Cung và cầu hàng hoá thường xuyên tác động lẫn nhau và luôn xoay quanh trạng thái cân bằng với giá

cả cân bằng và lượng hàng hoá cân bằng thị trường

- Cầu thúc đẩy, xác định cung về khối lượng và

cơ cấu hàng hoá, cầu luôn giữ vai trò quyết định, chỉ những hàng hoá nào phù hợp với nhu cầu có khả năngt hanh toán, được tiêu thụ nhanh, nhiều mới tạo khả năng cho các nhà cung ứng sản xuất ra chúng

Người sản xuát hàng hoá phải thường xuyên nghiên cứu nhu cầu, sở thích của người tiêu dùng, dự đoán

sự thay đổi của nhu cầu, phát hiện các nhu cầu mới để cải tiến chất lượng, mẫu mã, hình thức cho phù hợp

- Cung chịu ảnh hưởng phụ thuộc vào nhu cầu nhưng cũng kích thích, tác động đến cầu Những hàng hoá nào có chất lượng tốt, giá cả rẻ, mẫu mã phong phú, phù hợp với nhu cầu,

sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng thì sẽ được chấp nhận, nhu cầu sẽ tăng hơn

Giá cả thấp cũng kích thích nhu cầu rất mạnh

- Cung và cầu của các loại hàng hoá luôn biến động, nhưng cũng luôn xoay quanh trạng thái cân bằng, thông qua những hành vi của các chủ thể và qua sự tác động của giá cả hàng hoá

Khi cung và cầu chênh lệch nhau ( do cung, do cầu hoặc do cả hai) thì sự chênh lệch giữa giá cả thị trường và giá trị thị trường

b) Yêu cầu của quy luật:

- Cung và cầu hàng hoá phải luôn phù hợp với nhau về số lượng, chất lượng, giá cả, không gian, thời gian, nếu không giá cả hàng hoá sẽ biến động cho đến khi cung bằng cầu

- Các chủ thể kinh tế phải luôn quan tâm đến quan hệ cung – cầu , từ đó

có thể đưa ra những quyết định của mình: Doanh nghiệp xác định sản xuất, Nhà nước đưa ra chính sách, biện pháp, người tiêu dùng có quyết định tiêu dùng

c) Tác dụng của quy luật:

- Thông qua tác động gián tiếp đến giá cả thị trường, góp phần điều tiết sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hoá dịch vụ

- Làm cho sản xuất và tiêu dùng luôn gắng bó với nhau, giúp ổn định nền kinh tế

- Thúc đẩy tính tích cực, sáng tạo của nhà sản xuất trong việc cải tiến hàng hoá để đáp ứng nhu cầu XH ngày càng tăng cao

3, Qui luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

a) Khái niệm và vai trò của cạnh tranh:

Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm để giành lấy những lợi ích kinh tế lớn nhất cho mình Cơ sở của cạnh tranh là lợi ích của các chủ thể kinh tế

Mục đích của cạnh tranh là thu lợi nhuận cao hoặc mở rộng thị phần, thanh toán đối thủ

- Cạnh tranh được phân loại thành: Cạnh

tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh, cạnh tranh hoàn hảo

và cạnh tranh không hoàn hảo Cạnh tranh có thể diễn

ra giữa những người sản xuất với nhau, giữa người sản xuất với người tiêu dùng, giữa những người tiêu dùng với nhau

- Trong cạnh tranh người ta có thể dùng nhiều

biện pháp, thủ đoạn khác nhau

+ Nếu là cạnh tranh lành mạnh, họ tìm cách hạ đối thủ bằng cách nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu

mã, quảng cáo, thông tin

để kích thích người tiêu dùng

+ Nếu cạnh tranh không lành mạnh, họ dùng các thủ đoạn phi kinh tế như đầu cơ tích trữ, bán phá giá, tác động qua bộ máy chiónh quyền để tiêu diệt đối thủ

- Cạnh tranh là một quy luật kinh tế hàng hoá, mang tính phổ biến khách quan, không phụ thuộc vào

ý muốn của con người Quy luật cạnh tranh quy định việc sản xuất kinh doanh phải đạt hiệu quả cao, giành được lợi ích lớn nhất bằng các biện pháp kinh tế hợp pháp

c) Yêu cầu của cạnh tranh:

- Trong sản xuất kinh doanh, cạnh tranh đòi hỏi các nhà sản xuất phải dùng mọi biện pháp, phát huy mọi khả năng để làm cho hàng hoá dịch vụ chiếm được thiện cảm và sự chấp nhận của người tiêu dùng, qua đó chiếm ưu thế trên thị trường và thu được nhiều lợi ích nhất

- Trong trao đổi, quy luật cạnh tranh đòi hỏi người bán cũng như người mua hàng hoá phải nghiên cứu thị trường để có quyết định đúng đắn và thu được lợi ích lớn nhất

d) Tác dụng của cạnh tranh:

Cạnh tranh có tác dụng

2 mặt: tích cực và tiêu cực:

- Tích cực:

+ Góp phần loại bỏ những nhà sản xuất kém hiệu quả, công nghệ lạc hậu, giá thành cao, thúc đẩy sự phát triển không ngừng của XH

Trang 3

+ Góp phần tạo nên sự

sống động trong nền kinh

tế, buộc các nhà sản xuất

phải luôn nhạy bén, sáng

tạo, thường xuyên của tiến

kỹ thuật, ứng dụng công

nghệ mới làm tăng năng

suất lao động, giảm chi phí

sản xuất, nâng cao chất

lượng hàng hoá

+ Thúc đẩy việc đáp

ứng nhu cầu XH ngày càng

tốt hơn về chất lượng, giá

cả, chủng loại, mẫu mã,

kiểu dáng

- Tiêu cực:

+ Có thể gây ra những

lãng phí cho XH, làm thiệt

hại lợi ích của người tiêu

dùng

+ Có thể gây ra sự bất

ổn về kinh tế cũng như XH

( các đối thủ cạnh tranh có

thể áp dụng các thủ đoạn

phá giá, cạnh tranh phi

pháp), làm xói mòn đạo

đức XH

Câu 3: Bản chất và

nguồn gốc của giá trị

thặng dư:

* Bản chất của giá trị

thặng dư đó là hàng hoá

sức lao động.

- Sức lao động: là toàn

bộ những năng lực ( trí lực

và thể lực) tồn tại trong

một con người và được

người đó sử dụng vào sản

xuất

- Sức lao động biến

thành hàng hoá khi có 2

điều kiện:

+ Có 1 lớp người tự do

về thân thể của mình, phải

có khả năng chi phối sức

lao động ấy và chỉ bán sức

lao động trong thời gian

nhất định

+Người lao động

không có tư liệu sản xuất

lao động gì khác để tự

mình thực hiện lao động và

không có của cải gì khác

muốn sống chỉ còn cách

bán sức lao động cho người

khác sử dụng

* Nguồn gốc của giá

trị thặng dư: Là giá trị sử

dụng của hàng hoá sức lao

động, thể hiện trong quá trình tiêu dùng sức lao động

Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động là giá trị thặng dư

Đây chính là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động

Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản

Có thể nói, sản xuất hàng hoá và một nền lưu thông hàng hoá phát triển, thương mại, đó là những tiền đề lịch sử của

sự xuất hiện của tư bản

Trong đó, tiền là hình thái giá trị cuối cùng của sản xuất lưu thông hàng hoá giản đơn, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản

Ta có công thức chung của tư bản T-H-T’

(T’=T+t)

Ta thấy, lưu thông hàng hoá của tư bản bắt đầu bàng hành vi mua và kết thúc bằng hành vi bán;

tiền vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc, còn hàng hoá đóng vai trò trung gian, mục đích của lưu thông tư bản là giá trị và giá trị lớn hơn

Như vậy Tư bản vận động theo công thức T-H-T’, trong đó T’=T+t, t là

số tiền trội hơn được gọi là giá trị thặng dư, như thế có nghĩa là mọi tư bản đều vận động nhằm mục đích mang lại giá trị thặng dư

Nhìn vào công thức chung của tư bản T-H-T’ ta thấy có những mâu thuẫn nhất định của nó Đó

là lưu thông có tạo ra giá trị và làm tăng thêm giá trị hay không

Thoạt nhìn, hình như lưu thông tạo ra giá trị

và giá trị thặng dư

ngang giá thì chỉ có sự thay

đổi hình thái: Từ tền thành hàng hoặc từ hàng thành tiền Còn tổng số giá trị trong tay mỗi người tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, hàng hoá có thể bán cao hơn hoặc thấp hơn giá trị Nhưng trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất đều là người bán, vừa là người mua, cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ bù lại cái thiệt khi mua hoặc ngược lại Trong trường hợp có những kẻ chuyên mua rẻ bán đắt thì tổng giá trị toàn

xã hội cũng không hề tăng lên bởi vì số giá trị mà những người này thu được chẳng qua chỉ là sự ăn chặn, đánh cắp số giá trị của người khác mà thôi

Nếu xét ngoài lưu thông, tức là tiền để trong két sắt, hàng hoá để trong kho thì cũng không sinh được giá trị thặng dư

Như vậy là giá trị thặng dư vừa sinh ra trong quá trình lưu thông, lại vừa không thể sinh ra trong quá trình lưu thông, vừa sinh ra ngoài lưu thông, lại vừa không sinh ra ngoài lưu thông Đó chính là mâu thuẫ của công thức chung của tư bản

Phân tích hàng hoá sức lao động là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn đó vì:

Ta có công thức chung của tư bản: T-H-T’

(T’=T+t)

Trong đó t là số tiền trội hơn được gọi là giá trị thặng dư

Từ công thức đó ta thấy, mọi tư bản đều vận động như vậy nhằm mục đích mang lại giá trị thặng dư

Mọi tư bản đều vận động theo công thức chung

đó Vậy thì trong lưu thông

có tạo ra giá trị và làm tăng thêm giá trị hay không?

ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái: từ tiền thành hàng hoặc từ hàng thành tiền Còn tổng số giá trị trong tay mỗi người tham gia trao đổi trước sau không thay đổi Như vậy là không tạo ra giá trị thặng dư

Nếu trao đổi không ngang giá, hàng hoá có thể bán cao hơn hoặc thấp hơn giá trị Nhưng trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất đều vừa là người bán vừa là người mua, cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ bù lại cái thiệt hại khi mua hoặc ngược lại Trong trường hợp có những kẻ chuyên mua rẻ, bán đắt thì tổng giá trị mà những người này thu được chẳng qua chỉ là sự

ăn chặn, đánh cắp số gía trị của người khác mà thôi

Nếu xét ngoài lưu thông, tức là tiền để trong két sắt, hàng hoá để trong kho thì cũng không sinh được giá trị thặng dư

Như vậy là giá trị thặng dư vừa sinh ra trong quá trình lưu thông, lại vừa không thể sinh ra trong quá trình lưu thông, vừa sinh ra ngoài lưu thông, lại vừa không sinh ra ngoài lưu thông Đó chính là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản

Để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản cần tìm trên thị trường một loại hàng hoá

mà việc sử dụng nó có thẻ tạo ra được giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó Hàng hoá đó là hàng hoá sức lao động

Hàng loá sức lao động là toàn bộ những năng lực, thể lực và trí lực tồn tại trong một con người và được người đó sử dụng vào sản xuất Như vậy sức lao động là cái có trước, còn lao động chính

Trang 4

là quá trình vận dụng sức

lao động

Giống như hàng

hoá khác, hàng hoá sức lao

động cũng có hai thuộc

tính: Giá trị và giá trị sử

dụng

Giá trị của hàng

hoá sức lao động cũng do

số lượng lao động xã hội

cần thiết để sản xuất và tái

sản xuất ra nó quyết định

Giá trị sức lao động được

quy về giá trị của toàn bộ

các tư liệu sinh hoạt cần

thiết để sản xuất và tái sản

xuất sức lao động để duy

trì đời sống của công nhân

làm thuê và gia đình họ

Giá trị hàng hoá

sức lao động khác với hàng

hoá thông thường ở chố nó

bao hàm cả yếu tố tinh thần

và yếu tố lịch sữ, phụ thuộc

vào hoàn cảnh lịch sử cụ

thể của từng nước, từng

thời kỳ, phụ thuộc vào

trình độ văn minh đã đạt

được, vào điều kiện lịch sử

hình thành giai cấp công

nhân và cả điều kiện địa lý,

khí hậu

Giá trị sử dụng của

hàng hoá sức lao động thể

hiện ở quá trình tiêu dùng

sức lao động, tức là quá

trình lao động để sản xuất

ra một hàng hoá, một dịch

vụ nào đó Trong quá trình

lao động, sức lao động tạo

ra một lượng giá trị mới

lớn hơn giá trị của bản thân

nó, phần giá trị dôi ra so

với giá trị sức lao động là

giá trị thặng dư Đó chính

là đặc điểm riêng có của

giá trị sử dụng của hàng

hoá sức lao động Đặc

điểm này cũng là chìa khoá

để giải quyết mâu thuẫn

trong công thức chung của

tư bản

Câu 4: Tuần hoàn

và chu chuyển của tư

bản:

1, Tuần hoàn của

tư bản:

Mọi tư bản sản xuất trong quá trình vận động điều trải qua 3 giai đoạn, tồn tại dưới 3 hình thái và thực hiện 3 chức năng:

- Giai đoạn 1:

Hình thái: Tư bản

mang hình thái tiền tệ

Chức năng: thực

hiện chức năng mua các yếu tố sản xuất tư liệu sản xuất và sức lao động

Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường hàng hoá và thị trường lao động, thực hiện chức năng mua

tư liệu sản xuất và sức lao động, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất

Quá trình lưu thông được biểu thị:

Sức lao động

T – H

Tư liệu sản xuất.

- Giai đoạn 2: Tư

bản mang hình thái tư bản sản xuất, thực hiện chức năng sản xuấ ra hàng hoá

và tạo ra giá trị thặng dư

Nhà tư bản tiêu dùng sản xuất những hàng hoá đã mua, tức là tiến hành sản xuất Trong quá trình sản xuất, công nhân hao phí sức lao động, tạo ra giá trị mới, còn nguyên liệu được chế biến, máy móc hao mòn thì giá trị của chúng được bảo tồn và chuyển dịch vào sản phẩm mới Quá trình sản xuất kết thúc, lao động của công nhân làm thuê đã tạo ra những hàng hoá mới mà giá trị của nó lớn hơn giá trị các yếu tố sản xuất mà nhà tư bản đã mua lúc ban đầu, vì trong đó giá trị thặng dư do công nhân tạo ra

Sự vận động của tư bản ở giai đoạn này biểu thị như sau:

Sức lao động

H SX H’

Tư liệu sản xuất

Trong đó H’ chỉ tư bản dưới hình thái hàng

hoá mà giá trị của nó bằng giá trị của tư bản đã hao phí để sản xuất ra cộng với giá trị thặng dư do sức lao động cảu công nhân làm thuê tạo ra

Chức năng của giai đoạn này là sản xuất ra hàng hoá và tạo ra giá trị thặng dư

Kết thúc giai đoạn 2, tư bản sản xuất chuyển hoá thành tư bản hàng hoá

- Giai đoạn 3:Tư

bản mang hình thái tư bản hàng hoá, với chức năng thực hiện giá trị và giá trị thặng dư

Nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán hàng hoá của nhà tư bản được chuyển hoá thành tiền

Công thức vận động của nhà tư bản biểu hiện ở giai đoạn 3 biểu thị:

’ – T’

Tư bản mang hình thái tư bản hàng hoá, với chức năng thực hiện giá trị

và giá trị thặng dư

Kết thúc giai đoạn

3, tư bản hàng hoá chuyển hoá thành tư bản tiền tệ, nhưng với số lượng lớn hơn trước và toàn bộ quá trình trên được lặp lại

Tổng hợp quá trình vận động của tư bản trong

cả 3 giai đoạn ta có công thức:

SLĐ

T – H sx H’ – T’

TLSX

Trong công thức này, với

tư cách là một giá trị, tư bản đã trải qua một chuổi biến hoá hình thái có quan

hệ với nhau, qui định lẫn nhau Trong các giai đoạn

đó, có 2 giai đoạn thuộc lĩnh vực giao thông, 1 giai đoạn thuộc lĩnh vực sản xuất

* Kết luận: Tuần

hoàn tư bản là sự vận động của tư bản trải qua 3 giai đoạn, lần lượt mang 3 hình

thái, thực hiện 3 chức năng rồi trở về hình thái ban đầu với giá trị không chỉ được bảo tồn mà còn thăng lên

Sự vận động tuần hoàn tư bản là sự vận động liên tục không ngừng, đồng thời là sự vận động đứt quảng không ngừng

Phù hợp với 3 giai đoạn tuần hoàn của tư bản

có 3 hình thái của tư bản công nghiệp, tư bản tiền tệ,

tư bản sản xuất và tư bản hàng hoá

Để tái sản xuất diễn ra 1 cách bình thường thì tư bản

XH và tư bản cá biệt đều tồn tại cùng 1 lúc dưới cả 3 hình thái

Ba hình thái của tư bản không phải là 3 giai đoạn của tư bản khác nhau,

mà là 3 hình thái của 1 tư bản công nghiệp biểu hiện trong quá trình vận động của nó Trong quá trình vận động đó đã chứa đựng khả năng tách rời của 3 hình thái tư bản

* Chu chuyển của

tư bản:

Sự tuần hoàn của

tư bản nếu nó là một quá trình định kỳ đổi mới và lặp đi lặp lại thì gọi là sự chu chuyển của tư bản Những tư bản khác nhau chu chuyển với vận tốc khác nhau tuỳ theo thời gian sản xuất và lưu thông của hàng hoá thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông

+ Là tuần hoàn của

tư bản lắp đi lắp lại một cách định kỳ

+ Chu chuyển tư bản nói lên thời gian và tốc

độ vận động của tư bản nhanh hay chậm

- Thời gian sản xuất là thời gian tư bản: là

thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất

Thời gian sản xuất bao gồm:

+ Thời gian lao động

Trang 5

+ Thời gian gián

đoạn lao động

+ Thời gian dự trữ

sản xuất

Thời gian sản

xuất của tư bản dài hay

ngắn là do tác động của

những nhân tố sau:

+ Tổ chức của

ngành sản xuất;

+ Vật sản xuất chịu

sự tác động của quá trình

tự nhiên dài hăy ngắn;

+ Năng suất lao

động, trình độ phát triển

của khoa học kỹ thuật cao

hay thấp;

+ Dự trữ sản xuất

đủ, thiếu hay thừa

- Thời gian lưu

thông: là thời gian tư bản

nằm trong lĩnh vực lưu

thông, gồm có thời gian

mua và thời gian bán hàng

hoá

Thời gian lưu

thông dài hay ngắn là do

các nhân tố quy định như:

+ Thị trường xấu

hay tốt;

+ Khoảng cách đến

thị trường xa hay gần;

+ Giao thông khó

khăn hay thuận lợi;

+ Phương tiện giao

thông hiện đại hay thô sơ

Câu 5: Lợi nhuận

bình quân và giá cả sản

xuất:

* Sự hình thành

lợi nhuận bình quân:

Vì mục đích chạy

theo lợi nhuận, các nhà tư

bản cạnh tranh quyết liệt

với nhau Có 2 loại cạnh

tranh và cạnh tranh nội bộ

ngành và cạnh tranh giữa

các ngành

- Cạnh tranh trong

nội bộ ngành:

+ Cạnh tranh trong

nội bộ ngành là cạnh tranh

giữa các xí nghiệp trong

cùng một ngành, sản xuất

cùng 1 loại hàng hoá =>

nhằm mục đích giành ưu

thế trong sản xuất và trong

tiêu thụ hàng hoá để thu

được lợi nhuận siêu ngạch

+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành được thực hiện thông qua các biện pháp: cải tiến kỹ thuật, hợp

lý hoá sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hoá, cải tiến mẫu mả làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá do

xí nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị XH để thu được lợi nhuận siêu ngạch

+ Kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến hình thành giá trị

XH hàng hoá, làm cho điều kiện sản xuất trung bình của 1 ngành thay đổi giá trị

XH của hàng hoá giảm xuống, chất lượng của hàng hoá được nâng lên

- Cạnh tranh giữa các ngành:

+ Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các xí nghiệp tư bản kinh doanh trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích tìm tòi đầu

tư có lợi hơn

+ Biện pháp cạnh tranh: Là dịch chuyển tư bản đầu tư từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có sỷ suất lợi nhuận cao Quá trình đó làm cho quy mô sản xuất ở các ngành có sự thay đổi, dẫn tới sự thay đổi về cung – cầu hàng hoá trên thị trường Do đó, ảnh hưởng tới giá bán hàng hoá và tỷ suất lợi nhuận bị “ cào bằng đi” giữa các ngành, hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân Khi đó các nhà tư bản thu được lợi nhuận theo tỉ suất lợi nhuận bình quân

+ Tỷ suất lợi nhuận bình quân là “ con số trung bình” của tất cả các tỷ suất lợi nhuận khác nhau, hay tỷ suất lợi nhuận bình quân là

tỷ số theo phần trăm giữa tổng giá trị thặng dư và tổng tư bản XH

Tỷ suất lợi nhuận bình quân (ký hiệu làP’) có công tác là :

M

(c+v)c+v)

Trong đó:

M là tổng giá trị

thặng dư của XH

(c+v)c+v) là tổng tư

bản của XH

Sau khi xác định được tỷ suất lợi nhuận bình quân P’ có thể tính được lợi nhuận bình quân P từng ngành theo công thức:

P = k x P’, trong đó k là tư bản ứng trước của từng ngành

- Vậy, lợi nhuận bình quân là lợi nhuận bằng nhau của tư bản bằng nhau đầu tư vào các ngành sản xuất khác nhau Nó chính là lợi nhuận mà các nhà tư bản thu được căn cứ vào tổng tư bản đầu tư nhân với tỷ suất lợi nhuận bình quân, không kể cấu thành hữu cơ của nó như thế nào

Kết luận: Khi hình

thành tỷ suất lợi nhuận bình quân P’, lơị nhuận chuyển hoá thành giá cả sản xuất

* Giá cả sản xuất:

- Giá cả sản xuất là giá cả bằng chi phí sản xuất công với lợi nhuận bình quân

Giá cả sản xuất = k + P

- Giá cả sản xuất

có thể thay đổi theo 3 trường hợp sau:

+ Giá cả sản xuất thay đổi do tỷ suất lợi nhuận bình quân thay đổi, còn giá trị của hàng hoá không thay đổi

+ Giá cả sản xuất thay đổi do giá trị hàng hoá thay đổi còn tỷ suất lợi nhuận bình quân không thay đổi

+ Giá cả sản xuất thay đổi do 2 yếu tố thay đổi

- Khi giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất thì quy luật giá trị

có hình thức biểu hiện

thành quy luật giá cả sản xuất

Câu 6: Chủ nghĩa

tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước:

* Chủ nghĩa tư bản độc quyền:

1, Nguyên nhân hình thành của CNTB độc quyền:

Theo LêNin : “

tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này, khi phát triển đến mức độ nhất định -> lại dẫn tới độc quyền

Vậy, CNTB độc quyền là giai đoạn phát triển cao của CNTB Nó được xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

- Nguyên nhân chủ yếu của sự xuất hiện CNTB độc quyền là:

+ Sự phát triển của lực lượng sản xuất được tác dụng của tiến bộ khoa học

kỹ thuật, làm xuất hiện những ngành sản xuất mới

+ Cạnh tranh tự do Một mặt, buộc các nhà tư bản phải cải tiến kỹ thuật tăng quy mô tích luỹ

Mặt khác, đã dẫn đến nhiềudoanh nghiệp nhỏ, trình độ kỹ thuật kém hoặc bị các đối thủ mạnh hơn thôn tính, hoặc phải liên kết với nhau để đứng vững trong cạnh tranh

=> Xuất hiện một

số xí nghiệp tư bản lớn nắm địa vị thống trị một ngành hay trong 1 số ngành công nghiệp

+ Khủng hoảng kinh tế lại càng làm cho nhiều xí nghiệp nhỏ và vừa

bị phá sản Một số sống sót phải đổi mới kỹ thuật để thoát khỏi khủng hoảng, do

đó thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất -> sự phát triển của tín dụng TBCN

mở rộng

+ Những xí nghiệp

và công ty lớn có tiềm lực

Trang 6

kinh tế mạnh tiếp tục cạnh

tranh với nhau ngày càng

khốc liệt, khó phân thắng

bại, vì thế nảy sinh xu thế

thoả hiệp, từ đó hình thành

các tổ chức độc quyền

2, Bản chất của

CNTB độc quyền:

- CNTB độc quyền

ra đời từ cạnh tranh Độc

quyền loại bỏ sự thống trị

của cạnh tranh Nhưng độc

quyền không thủ tiêu được

cạnh tranh, mà ngược lại

càng làm cho cạnh tranh

gay gắt hơn

- CNTB độc quyền

vẫn dựa trên chế độ chiếm

hữu tư nhân về tư liệu sản

xuất Nhưng khác với giai

đoạn trước, trong giai đoạn

này, các doanh nghiệp độc

quyền, những doanh

nghiệp do tập thể các nhà

tư bản đầu tư, thống trị

Với sự thống trị của CNTB

độc quyền, mâu thuẫn vốn

có của CNTB càng thêm

sâu sắc

3, Đặc điểm cảu

CNTB độc quyền:

Có thể khái quát

một số đặc điểm kinh tế cơ

bản của CNTB độc quyền

như sau:

- Sự tập trung sản

xuất và các tổ chức độc

quyền Sự tập trung sản

xuất và tư bản đạt tới sự

phát triển cao khiến nó tạo

ra những tổ chức độc

quyền có vai trò quyết định

trong hoạt động kinh tế

- Tư bản tài chính

và bọn đầu sỏ tư bản tài

chính

Sự dung hợp giữa tư bản

ngân hàng với tư bản công

nghiệp làm xuất hiện “ tư

bản tài chính” và bọn đầu

sỏ tài chính

- Xuất khẩu tư bản:

việc xuất khẩu tư bản khác

với việc xuất khẩu hàng

hoá, nó mang 1 ý nghĩa

quan trọng đặc biệt

- Sự phân chia thế

giới giữa các liên

minh độc quyên quốc tế

- Sự phân chia lãnh thổ thế giới giữa các cường quốc

Việc các cường quốc TBCN lớn nhất chia nhau đất đai trên thế giới và những xung đột đòi chia lại giữa cá thế lực tư bản độc quyền

=> Kết luận:Từ 5 đặc điểm cơ bản của CNTB độc quyền, có thể rút ra kết luận sau:

- Về mặt kinh tế:

Chủ nghĩa đế quốc

là sự thống trị của CNTB độc quyền

- Về mặt chính trị:

Chủ nghĩa đế quốc

là sự xâm lược nước ngoài, là sự thống trị hệ thống thuộc địa nảy sinh

từ yêu cầu kinh tế của CNTB độc quyền

 CNTB độc quyền nhà nước:

1, Nguyên nhân ra đời: Sự ra đời cảu CNTB

độc quyền nhà nước bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa tính chất XH hoá và trình

độ cảu lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất TBCN, dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân TBCN

về tư liệu sản xuất được thể hiện:

+ Tích tụ và tập trung

cơ bản càng lớn thì tích tụ

và tập trung sản xuất càng cao Do đó đẻ ra những cơ cấu kinh tế đòi hỏi có sự điều tiết XH đối với sản xuất và phân phối từ 1 trung tâm Hơn nữa, Lực lượng sản xuất – XH hoá ngày càng cao, mâu thuẫn gay gắt với hình thức chiếm hữu tư nhân TBCN, tất yếu đòi hỏi phải có hình thức mới của quan hệ sản xuất – TBCN để lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển

+ Sự phát triển của phân công lao động XH đã xuất hiện một số ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân không thể phát triển bình thường được do đầu tư lớn, nhưng lợi nhuận lớn hoặc thu hồi vốn rất chậm Do đó, Nhà nước

tư sản phải đảm nhiệm kinh doanh những ngành như: giao thống vận tải

Nghiên cứu khoa học để tạo điều kiện cho các tổ chức độc quyền tư nhân kinh doanh các ngành khác

có lợi hơn

+ Sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm

sự đối kháng giữa giai cấp

tư sản với giai cấp vô sản

và nhân dân lao động Nhà nước phải có những chính sách để xoa dịu những mâu thuẫn đó

+ Cùng với xu thế quốc

tế hoá đời sống kinh tế, sự bành trướng của các liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung đột lợi ích với các đối thủ trên thị trường thế giới, mà từng tổ chức độc quyền không thể giỉa quyết nổi

Từ đó đòi hỏi sự ra đời của CNTB độc quyền nhà nước

2, Bản chất của CNTB độc quyền nhà nước:

Là sự kết hợp sức mạnh của các tổ chức CNTB độc quyền tư nhân với sức mạnh của nhà nước tư bản thành 1 thiết chế và thể thống nhất nhằm phục vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho CNTB

3, Những biểu hiện của CNTB độc quyền nhà nước:

Sự kết hợp về nhân

sự giữa các tổ chức độc quyền và nhà nước tư sản:

Sự kết hợp này diễn ra nhiều hình thức, song chủ yếu là sự xâm nhập của các nhà tư bản độc quyền vào

bộ máy nhà nước và ngược lại là sự tham gia của những nhân viên cao cấp trong bộ máy nhà nước vào công ty tư bản độc quyền

Chính sự kết hợp

về nhân sự giữa các tổ chức độc quyền và nhà nước tư sản đã tạo ra mối quan hệ với nhà nước tư sản từ trung ương đến địa phương Trong đó nhà nước phục vụ lợi ích cho các tổ chức độc quyền là chủ yếu

- Sở hữu tư bản độc quyền nhà nước: là sở hửu tập thể của giai cấp tư sản độc quyền Chủ nghĩa

tư bản độc quyền nhà nước thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống, nhưng nét nổi bật nhất là sự xuất hiện sở hửu nhà nước: + Sở hửu nhà nước được hình thành bằng việc đầu tư xây dựng những doanh nghiệp nhà nước từ vốn ngân sách, quốc hữu hoá các xí nghiệp tư nhân, mua cổ phiếu của các doanh nghiệp tư nhân và

mở rộng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn của các doanh nghiệp tư nhân

- Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản:

Sự điều tiết về kinh tế của nhà nước tư sản đã có những mặt tiêu cực và tích cực Khi nền kinh té thị trường trở nên bất lực trong điều tiết nền kinh tế thì chủ nghĩa độc quyền buộc phãi bổ sung vào đó

cơ chế điều tiết của nhà nước Hệ thống điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư sản

là hệ thống dung hợp được những ưu điểm của 3 cơ chế; Thị trường, độc quyền

và nhà nước tư sản

Đồng thời hạn chế mặt tiêu cực của từng cơ chế Trong hệ thống này, chức năng kinh tế của nhà nước đựơc mở rộng và sử dụng các công cụ như: giá

cả, tỷ giá, tổ chức kinh

Trang 7

doanh, hệ thống pháp luật,

tài chính, tiền tệ để topỏ

chức và điều hành các quá

trình kinh tế vĩ mô Thực

chất hệ thống điều tiết đó

nhằm phục vụ cho chủ

nghĩa tư bản độc quyền

Câu 7: Quá độ lên

chủ nghĩa xã hội và cơ

cấu kinh tế trong thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã

hội ỏ Việt Nam.

Lý luận của chủ

nghĩa Mác-Lê Nin về thời

kỳ quá độ lên Chủ nghĩa

xã hội:

- Lý luận hình thái

kinh tế –xã hội của chủ

nghĩa Mác cho tháy sự biến

đổi của các xã hội là quá

trình “lịch sử tự nhiên”

Các Mác và Ph.Angghen

đều cho rằng, phươg thức

sản xuất tư bản chủ nghĩa

có tính chất lịch sử và xã

hội tư bản tất yếu bị thay

thế bằng xã hội mới –xã

hội cộng sản chủ nghĩa

Đồng thời, các ông cũng

dự báo trên những nét lớn

về các đặc trưng cơ bản

của xã hội mới đó là:

+ Lực lượng sản

xuất phát triển rất cao

+ Chế độ sở hữu xã

hội chủ nghĩa về tư liệu sản

xuất được xác lập, chế độ

người bóc lột người bị thủ

tiêu

+ Sản xuất nhằm

thoả mãn nhu cầu của mọi

thành viên trong xã hội,

nên nền sản xuất được tiến

hành một cách có kế hoạch

trên phạm vi toàn xã hội

+ Phân phối sản

phẩm bình đẳng

+ Sự cách biệt giữa

thành thị và nông thôn,

giữa lao động chân tay và

lao động trí óc bị xoá bỏ

- Một xã hội có

những đặc trưng nhu vậy,

cần phải qua hai giai đoạn:

giai đoạn đầu là chủ nghĩa

xã hội và giai đoạn sau là

chủ nghĩa cộng sản

Vận dụng học

thuyết Mác Lê Nin vào

công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô trước đây, Lê Nin đã phát triển lý luận về thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội

Nội dung cơ bản của lý luận đó là:

Một là: Thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội

là một tất yếu khách quan, bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ nghĩa xã hội đều phải trải qua, kể cả nước có nền kinh tế phát triển cao

Song đối với các nước có nền kinh tế phát triển thì thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có thể được rút ngắn hơn đối với các nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa với một nền kinh

tế lạc hậu

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, trệt để, toàn diện từ xã hội

cũ thành xã hội mới – Chủ nghĩa xã hội Nó diễn ra từ khi vô sản giai cấp giành được chính quyền bắt tay vàog xây dựng xã hội mới

và kết thú khi xây dựng thành công cơ sở của chủ nghĩa xã hội cả lề lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế, kiến trúc thượng tầng

Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được quy định bởi những đặc điểm ra đời, phát triển của cách mạng

vô sản và những đặc điểm kinh tế của xã hội chủ nghĩa

Hai la: Đặc điểm

kinh tế cơ bản nhất của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và tương ứng với nó

có nhiều giai cấp, tầng lớp

xã hội khác nhau, nhưng vị trí cơ cấu và tính chất của các giai cáp trong xã hội đã thay đổi một cách sâu sắc

Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là khách quan và lâu dài, có lợi cho phát triển lực lượng sản

xuất Mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội đã giành được thắng lợi, nhưng vẫn còn non yếu vơí chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng vẫn còn khả năng khôi phục Đó là cuộc đấu tranh “ai thanưg ai” giữa chủ nghĩa xã hội

và chủ nghĩa tư bản diễn ra quyết liệt và phức tạp

Ba là: Khả năng

quá độ lên chủ nghĩa xã hội

bỏ qua chế độ TBCN

Theo Lê Nin, điều kiện để một nước cps thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội

bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là:

Thứ nhất: điều kiện bên trong, có Đảng Cộng sản lãnh đạo giành được chính quyền và sử dụng chính quyền nhà nước công, nông, trí thức liên minh làm điều kiện tiên quyết để xây dựng Chủ nghĩa xã hội

Thứ hai: Điều kiện bên ngoài có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến đã giành thắng lợi trong cách mạng

vô sản

Các nước lạc hậu

có khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ

tư bản chủ nghĩa phải qua con đường gián tiếp với một loạt những bước quá

độ thích hợp, thông qua

“chính sách kinh tế mới”

Nội dung cơ bản của

“chính sách kinh tế mới”

bao gồm:

- Dùng thuế lương thực thay cho trưng thu lương thực thừa trong chính sách cộng sản thời chiến

- Thiết lập quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển thị trường thương nghiẹp thay cho chính sách cộng sản thời chiến

- Sử dụng nhiều thành phần kinh tế, các hình thức kinh tế quá độ,

kuyến khích phát triển kinh

tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu, phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử: Đảng và

nhân dân ta đã lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ

tư bản chủ nghĩa trong điều kiện hiện nay vẫn là một quá trình “lịch sử tự nhiên” Thực tiễn cho thấy,

sự phát triển của xã hội loài người đã trải qua các hình thái kinh tế-xã hội: Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa kế tiếp nhau

và đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, giai đoạn đầu của hình thái cộng sản chủ nghĩa Song không phải mọi quốc gia dân tộc đều tuần tự qua tất cả các hình thái kinh tế-xã hội ấy Một

số quốc gia, dân tộc trong những điều kiện nhất định (khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài) cho phép có thể bỏ qua một hình thái kinh tế-xã hội nào

đó trong quá trình phát triển của mình

Phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội khôg chỉ phù hợp với xu thế của thời đại mà còn phù hợp với đặc điểm của cách mạng Việt nam: Ở nước ta, trên cơ sở nhận thứ đúng đắn quy luật phát triển của lịch sử, Đảng đãlãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ

tư bản chủ nghĩa, phấn đấu tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp tục hợp logic của cách mạng dân tộc dân chủ, làm cách

Trang 8

mạng dân tộc, dân chủ thực

hiện triệt để

Cơ cấu kinh tế nhiều

thành phần trong thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã

hội ở Việt Nam:

Việc xác lập các

thành phần kinh tế ở nươc

ta căn cứ vào tính sở hữu

của quan hệ sản xuất Đại

hội lần thứ IX Đảng ta đã

xác định cơ cấu các thành

phần kinh tế ở nước ta

gồm:

- Kinh tế nhà nước

- Kinh tế tạp thể

- Kinh tế cá thể,

tiểu chủ;

- Kinh tế tư bản tư

nhân;

- Kinh tế nhà nước;

- Kinh tế có vốn

đầu tư nước ngoài

Trong cơ cấu kinh

tế nhiều thành phần, mỗi

thành phần kinh tế đều có

đặc điểm và vai trò riêng

- Kinh tế nhà

nước: Dựa trên hình thức

sở hữu công cộng về tư

liệu sản xuất Kinh tế nhà

nước bao gồm các doanh

nghiệp nhà nước như đất

đai, hầm mỏ, rừng, biển,

ngân sách, quỹ dự trữ quốc

gia, hệ thống bảo hiểm, kết

cấu hạ tầng kinh tế-xã hội,

phần vốn nhà nước góp vào

các doanh nghiệp thuộc các

thành phần kinh tế khác

Kinh tế nhà nước

phải vươn lên nắm vai trò

chủ đạo trong nền kinh tế

quốc dân Nhất là các

doanh nghiệp nhà nước

phải đi đầu trong việc áp

dụng tiến bộ khoa học – kỹ

thuật và công nghệ, đồng

thời là chỗ dựa để nhà

nước thực hiện chức năng

điều tiết quản lý vĩ mô nền

kinh tế Kinh tế nhà nước

cùng với kinh tế tập thể

dần dần trở thành nền kinh

tế vững chắc của nền kinh

tế quốc dân

- Kinh tế tạp thể:

Dựa trên hình thức sở hữu

tập thể về tư liệu sản xuất

(trừ ruộng đất thuộc sở hữu

nhà nước) Kinh tế tập thể bao gồm các hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt, liên kết rộng rãi người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn Kinh tế tập thể được

tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản

lý dân chủ, thực hiện đúng Luật Hợp tác xã

- Kinh tế cá thể, tiểu chủ: (Của nông dân,

thợ thủ công, người làm thương nghiệp và dịch vụ

cá thể) dựa trên hình thức

tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và hoạt động dựa vào lao động của từng hộ là chính Các đơn vị kinh tế

cá thể, tiểu chủ có thể tồn tại độc lập, hoặc tham gia vào các loại hình kinh tế tập thể, hay liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nhà nước dưới nhiều hình thức

- Kinh tế tư bản tư nhân: Dựa trên hình thức

sở hữu tư nhân tư abnr chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và

sử dụng lao động làm thuê dưới hình thức xí nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn Kinh tế tư bản tư nhân được kinh doanh trong các ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh mà pháp luật không cấm Nhà nước tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho thành phần kinh tế này bằng pháp luatạ

và chính sách Xét về lâu dài, có thể những thàn phần này đi vào kinh tế tư bản nhà nước dưới những hình thức khác nhau

- Kinh tế tư bản nhà nước: Dựa trên gình

thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản trong nước và ngoài nước dưới các hình thức hợp tác, liên doanh Kinh tế tư bản nhà

nước có khả năng to lớn trong việc huy động vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý của các nhà

tư bản, vì lợi ích của bản thân họ cũng như sự phát triển kinh tế của đất nước

- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Dựa

trên hình tức sở hữu 100%

vốn nước ngoài và các doanh nghiệp liên doanh (sở hữu hỗn hợp) mà bên nước ngoài chiếm tỷ lệ cổ phần khống chế Nhưng chủ sở hữu không nhất thiết là nhà tư bản Vì vậy, cần tạo điều kiệnc ho nó phát triển, cải thiện môi trường pháp lývà kinh tế đủ

để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế

Các thành phần kinh tế có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau, hoạt động đan xen với nhau trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất Vai trò, tỷ

lệ của mỗi thành phần kinh

tế phụ thuộc vào trình độ ohát triển của lực lượng sản xuất, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự đóng góp của chúng vào việc phát triển chung của nền kinh tế

Câu 8: Công nghiệp hóa, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:

A- Tính tất yếu và tác dụng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá:

1, Khái niệm:

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đước đảng ta xác định " là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế- xã hội, tù

sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ,

phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên

sự phát triễn của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao đông xã hội cao"

2, Tính tất yếu khách quan của việc tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta:

- Một xã hội đi lên

từ nền kinh tế lạc hậu, muốn xây dựng chủ nghĩa

xã hội tất yếu phãi tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá để xây dựng cơ sở vật chất kỷ thật cho chế độ

xã hội chủ nghĩa

+ Cơ sở vật

chất-kỷ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ thuật( công nghệ) tương ứng mà lực lượng lao động xã hộ sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu

xã hội

+ Cơ sở vật chất

-kỹ thuậtcủa chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp

lý, có trình độ xã hội hóa cao, dựa trên trình độ khoa học- công nghệ hiện đại được hình thành một cách

có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

- Tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường để xây dựng cơ

sở vật chất kỹ thuât của chủ nghĩa xã hội Đó là qúa trình mang tính quy luật, bởi vì: ngy sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội đã có cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản, nhưng đó mới là tiền đề vật chất sẳn

có Muốn biến nó thành cơ

sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội phãi tiến hành một loạt các cuộc cải biến cách mạng về quan hệ sản xuất tiếp theo vận dụng và phát triễn cao hơn những thành tựu khoa

Trang 9

học-công nghệ vào sản xuất,

hình thành cơ cấu kinh tế

mới xã hội chủ nghĩa có

trình đọ cao, sắp xếp lại

nền đại công nghiệp tư bản

chư nghĩa một cách hợp lý,

hiệu quả hơn

- Dối với nước ta,

có nền kinh tế kém páht

triễn đi lên chủ nghĩa xã

hội, không qua gii đoạn

phát triễn tư bản chủ nghĩa

thì việc xây dựng cơ sở vật

chất- kỷ thuật, tiến hành

công nghiệp hoá, hiện đại

hoá là tất yếu và cần thiết

Bởi vì, cơ sở vật chất- kỹ

thuật là điều kiện trọng yếu

nhất, quyết định nhát có

liên quan đến sự phát triễn

về chất đối với lực lượng

sản xuất và năng suất lao

động xã hội

3, Tác dụng của

công nghiệp hoá, hiện đại

hoá:

công nghiệp hoá, hiện đại

hoácó tác dụng rất to lớn

để thúc đẩy sự phát triển

kinh tế- xã hội của đất

nước

- Tạo điều kiện

thay đổi về chất nền sản

xuất xã hội, tăng năng suất

lao động, tăng sức chế ngự

của con người đối với thiên

nhiên, tăng trưởng và phát

triễn kinh tế một cách bền

vững

- Tạo điều kiện vật

chất cho việc cũng cố

vàtăng cường vai trò kinh

tế nhà nước, nâng cao năng

lực quản lý, bảo đảm cho

nhà nước cóa sức mạnh vật

chất càn thiết để điều tiết,

định hướng nền kinh tế thị

trường theo chủ nghĩa xã

hội, bảo đảm cải thiện và

nâng cao đời sống nhân

dân

- Tạo điều kiện

thuạn lợi cho khao học và

công nghệ phát triễn

nhanh, đạt trính độ tiên

tiến, hiện đại Tăng cường

lực lượng vật chất để phát

triễn các mặt văn hoá- xã

hội, cũng cố an ninh quốc

phòng, tạo khả năng cho

xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Trên cơ sở đó nền kinh tế có thể chủ động tham gia vào sự phân công lao động và hợp tác quốc tế

B- Đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại

và vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam:

1, Đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học

- công nghệ hiện đại:

- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện dậi xuất hiện vào những năm 50 của thế kỹ XX

Mới mấy thập niên trôi qua, nhất là những năm gần đây, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại đã làm thay đổi to lớn trên nhiều lĩnh vực, làm nảy sinh và phát triễn những nền kinh tế hiện đại

+ Công nghệ sinh học: có nhiều phát triễn đột biến dựa trên những thành tựu rực rỡ của sinh học phan tử, vi sinh, công nghệ gien như giải mả bản đồ gien, nhân bản vô tính, sử dụng các cơ thể sống để biến đổi các cây con, phát triễn các vi sinh vật công nghệ sinh học mới đang tạo

ra những bước ngoặt trong

sự phát triễn của các ngành

y tế, nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, sinh thái, môi trường

+ Công nghệ vật liệu mới: Vật liệu mới là những chất có thành phần cấu tạo hay cấu trúc vi mô mới, có những tính chất tiên tiến ưu việt hoặc chất lượng cao Đặc biệt là vật liệu polime, vật liệu gốm, vật liệu siêu dẫn

+ Công nghệ năng lượng mới: ngoài những năng lượng truyền thống( nhiệt điện, thuỷ điện) ngày nay đã và đang chuyễn sang lấy dạng năng lượng nguyên tử là chủ yếu

và các dạng năng lượng

sách như năng lượng mặt trời

+ Công nghệ hàng không- vũ trụ: loài người ngày càng thấy hành tinh của mình là chật hẹp, do đó ngày càng vươn ra xa trong khoảng không vũ trụ bao la

để tìm hiểu, nghiên cứu, chinh phục và sử dụng khoảng không vũ trụ đó

- Từ những nội dung trên, có thể rút ra những đặc điểm chủ yếu của cuộc cách mạng khoa học -công nghệ hiện đại:

+ Cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện

đạ, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghệ, đã có tác dụng rất mạnh mẽ, sâu sắc đến nền kinh tế thế giới bước sang giai đoạn phát triễn mới- kinh tế tri thức, trong đó tri thức, thông tin trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triễn sản xuất, khoa học- công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và quan trọng hàng đầu

+ Thời gian từ kết quả nghiên cứu khoa học đến công nghệ và đưa sản phẩm ra thị trường ngày càng rút ngắn Phòng thí nghiệm, cơ quan khoa học, ngoài nghiên cứu còn mang

cả chức năng sản xuất và kinh doanh Quá trình đổi mới công nghệ diễn ra còn nhanh hơn cả khả năng thích nghi của con người

2, Vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ở Việt Nam:

- Trong bối cảnh quốc tế hoá, toàn cầu hoá gia tăng nhanh chóng, khoa học- công nghệ phát triễn như vũ bảo, nền kinh tế tri thức đang hình thành, để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trước hết chúng ta phãi nắm bắt khoa học- công nghệ hiện đại, đồng thời kết hơpk sức mạnh của thời đại với sức mạnh của dân tộc Cụ thể là:

- Công nghiệp hoá phãi gắn với hiện đại hoá

+ Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vức và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, thay thế nhập khâu bằng sản phẩm trong nước sản xuất

có hiệu quả

+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước

là chủ đạo

+ Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triễn nhanh và bền vững, tăng trưỡng kinh tế phãi gắn liền với tiến bộ xã hội

+ Khoa học công nghệ là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kết hợp giữa công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định, cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước đi tuần tự, có những bước đi nhảy vọt

+ Lấy hiệu quả kinh tế- xã hội làm điều kiện, tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triễn, lựa chọn phương án đầu tư vào công nghệ

+ Kết hợp kinh tế với quốc phòng- an ninh

- Để làm được việc

đó, chúng ta cần phải có năng lực, trí tuệ, có khả năng sáng tạo, làm chủ và nắm bắt các tri thức của thời đại, chủ động hội nhâp quốc tế Phát huy lợi thế so sánh của mình để rút ngắn khoảng cách về tri thức, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

C- Những nội dung cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Viêt Nam

Trang 10

Công nghiệp hoá,

hiện đại hoá nền kinh tế

quốc dân ở nước ta trong

thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội có những nội

dung chủ yếu sau:

- Thực hiện cuộc

cách mạng khoa học- công

nghệ để xây dựng cơ sở vật

chất- kỹ thuật cho chũ

nghĩa xã hội, phát triễn

mạnh mẽ lực lượng sản

xuất

Sau khi khẳng định

công nghiệp hoá, hiện đại

hoálà nhiệm vụ trung tâm

Đảng ta đã chỉ rõ: con

đường công nghiệp hoá,

hiện đại hoá ở nước ta cần

và có thể rút ngắn thời

gian, vừa có những bước đi

tuần tự, vừa có bước nhảy

vọt Phát huy những lợi thế

của đất nứoc, tận dụng mọi

khả năng để đạt trình độ

công nghệ tiên tiến, đặc

biệt là công nghệ thông tin

và công nghệ sinh học,

tranh thủ ứng dụng ngày

càng nhiều hơn, ở mức cao

hơn và phổ biến hơn những

thành tự về khoa học và

công nghệ

Công nghiệp hoá,

hiện đại hoá phãi gắn với

cuộc các mạng khoa học và

công nghệ để xây dựng cơ

sở vật chất- kỹ thuật cho

chủ nghĩa xã hội nhằm làm

phát triễn mạnh mẽ lực

lượng sản xuất

+ Ứng dụng những

thành tựu mới, tiên tiến về

khoa học và công nghệ,

đặc biệt là công nghệ thông

tin, công nghệ sinh học,

công nghệ vật liệu phục

vụ đắc lực cho sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước

+ Sử dụng công

nghệ mới phãi gắn với việc

giải quyết việc làm, kết

hợp công nghệ truyền

thống với công nghệ hiện

đại

+ Tăng cường đầu

tư cho hoạt động nghiên

cứu khoa học và công

nghệ

+ Cần có chính sách ưu tiên chocác doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, thu hoòi vốn nhanh, đồng thời chỉ xây dựng những công trình có quy mô lớn khi thật sự cần thiết và có hiệu quả

- Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội:

D- Những tiền đề khách quan để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:

Để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân có kết quả, phãi có những tiền sau:

- Tạo vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá:

có hai nguồn để tích luỹ vốn, đó là tích luỹ vốn từ nội bộ nền kinh tế kinh tế quốc dân và tích luỹ vốn dựa vào viện trợ, vay nợ nước ngoài và các tổ chức phi chính phủ Trong hai nguồn vốn, nguồn tích luỹ

từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, xét về lâu dài là nguồn chủ yếu, có vai trò quyết định Nguồn vốn từ bên ngoài cũng rất quan trọng

+ Tích luỹ vốn từ nội bộ nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở hiệu quả sản xuất kinh doanh

Con đường cơ bản để giả quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ

sở ứng dụng khoa học công nghệ mới

+ Nguồn vốn bên ngoài được huy động từ các nước trên thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau:

vốn viện trợ của các nước, các tổ chức kinh tế xã hội, vốn vay ngắn hạn, dài hạn

- Đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá:

+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải có đâyd đủ nguồn nhân lực về số lượng , đảm bảo về chất lượng và có trình độ cao Do vậy việc đầu tư cho giáo dục là một trong những định hướng chính của đầu tư và phát triễn

+ Đi đôi với việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phãi có kế hoạch

bố trí, sử dụng tốt nguồn nhan lực đã qua đào tạo phát huy đầy đủ khả năng,

sở trường và nhiệt tình lao đọng sáng tạo của họ để tạo ra năng suất chất lượng

và hiệu quả kinh tế, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Xây dựng tiềm lực khoa học, công nghệ theo yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá:

+ Khoa học công nghệ được xác định là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá Vì thế công tác nghiên cứu khoa học công nghệ cần được xúc tiến mạnh mẽ nhằm vạch ra phương hướng chính xác

để lựa chọn những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại vào việc xây dựng

và cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội

+ Trong việc phát triễn nghiên cứu khoa học công nghệ hiện nay, cần nghiên cứu những công nghệ thích hợp với điều kiện ở nước ta

- Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại:

+ cuộc cách mạng klhoa học và công nghệ hiện đại và xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế ngày càng sâu rộng và đang tạo

ra mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau gữa các nền kinh

tế dân tộc, đồng thời cũng tạo ra khả năng và điều kiện để các nước tham gia

vào phân công lao động quốc tế

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước: Công nghiệp hoá hiện đại hóa ở nước ta là một quá trình đấu tranh gian khổ, phức tạp và lâu dài Song nhân dân dân ta dưới sự lãnh đạo của đảng, đang đổi mới hệ thống chính trị nhằm cũng cố nhà nước của dân do dân và vì nhân dân, thực hiện dân chủ rộng rãi, nâng cao năng lực mlãnh đạo của Đảng, xây dựng cương lĩnh chiến lược

ổn định và phát triễn kinh tế- xã hội Đây là tiền đề và cũng là điều kiện hết sức quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Câu 9: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Kinh tế thị trường

là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đều được thực hiện trên thị trường, thông qua qúa trình trao đổi, mua bán Quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển

ở một trình độ cao sẽ đạt đến kinh tế thị trường Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá, dựa trên

sự phát triển của lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định

Đặc điểm phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt nam có những đặc điểm sau:

Thứ nhất: Nền

kinh tế thị trường còn ở trình độ kém phát triển Điều đó thể hiện ở

Một: Kết cấu hạ

tầng vật chất và xã hội ở nước ta còn ở trình độ thấp

Ngày đăng: 02/10/2015, 18:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w