1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ PHÁT SINH TRONG THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ NÊN CÓ ÁN LỆ PGS.TS Đỗ Văn Đại

13 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 336,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, theo Tòa án, “Xét theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm thì việc soạn thảo hợp đồng và các văn bản liên quan đến hợp đồng phải rõ ràng, đồng thời việc giải thích về điều

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ PHÁT SINH TRONG THỰC TIỄN

VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ NÊN CÓ ÁN LỆ

PGS.TS Đỗ Văn Đại

Dẫn nhập

Hiện nay, chúng ta có hai loại hình bảo hiểm là bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ Thực tế cho thấy, tranh chấp xoay quanh hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ khá phổ biến (nhiều hơn bảo hiểm nhân thọ) và việc giải quyết các tranh chấp này khá phức tạp

Ở đây, nhiều tranh chấp liên quan đến đánh giá sự kiện (được bảo hiểm hay loại trừ bảo hiểm), giải thích hợp đồng và khung pháp lý đã khá rõ ràng nên những vấn đề được giải quyết không cần phát triển thành án lệ Ví dụ, trong quá trình giải quyết tranh chấp, phía bảo hiểm cho rằng “gỗ lóng, nguyên liệu, dăm gỗ thành phẩm, xe xúc là những tài sản có thể di dời và để ngoài trời nên bị mưa thiệt hại thuộc trường hợp loại trừ bồi thường đã được quy định tại mục “H” của quy tắc bảo hiểm nên Bic từ chối bồi thường” Tuy nhiên, theo Tòa án, “Xét theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm thì việc soạn thảo hợp đồng và các văn bản liên quan đến hợp đồng phải rõ ràng, đồng thời việc giải thích về điều kiện, điều khoản bảo hiểm là thuộc trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, nếu điều khoản soạn thảo không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm Từ những phân tích trên xét việc Công ty Trường Phát yêu cầu Công ty bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam bồi thường thiệt hại và được án sơ thẩm xử chấp nhận là có căn cứ, đúng pháp luật”1 Hướng giải quyết của Tòa án đã có trong văn bản và cụ thể là Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành theo đó “Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm” (Điều 21) nên không cần phát triển thành án lệ

Trong bài viết này, chúng ta chỉ tập trung vào những vấn đề pháp lý mà văn bản quy phạm pháp luật chưa thực sự rõ ràng và nên cân nhắc phát triển thành án

lệ, đặc biệt trong bối cảnh Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ các quy định về hợp đồng bảo hiểm trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (từ Điều 567 đến Điều 680) mà hiện nay các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 chưa được thay thế bởi quy định nào trong văn bản khác hiện hành (nên điểm trống pháp lý về bảo hiểm hiện nay rất lớn)

* Trưởng Khoa Luật Dân sự- Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Thành viên Hội đồng tư vấn án

lệ Tòa án nhân dân tối cao, Trọng tài viên-Phó chủ tịch Hội đồng khoa học Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC)

1 Bản án số 07/2010/KDTM-PT ngày 23-11-2010 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Đà Nẵng

Trang 2

I- Những vấn đề liên quan đến xác lập hợp đồng bảo hiểm

1 Giấy chứng nhận bảo hiểm thiếu chữ ký của bên mua

Trong thực tế, bên mua bảo hiểm thường vào hoàn cảnh chỉ có trong tay giấy chứng nhận bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm cấp nhưng bên mua bảo hiểm không ký (chưa ký) vào giấy chứng nhận bảo hiểm Trong trường hợp này, hợp đồng bảo hiểm có tồn tại và có hiệu lực không?

Trong một vụ án theo đó doanh nghiệp bảo hiểm cho rằng “Giấy chứng

nhận bảo hiểm đối với đầu kéo 30F-3030 và romooc 29R-1311 chưa có chữ ký của Công ty Thuận An nên hai giấy chứng nhận bảo hiểm này chưa phát sinh hiệu lực”, Tòa án đã theo hướng “giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng giao kết hợp đồng Ngoài hai phương tiện vận tải nêu trên, ngày 23-11-2007, Công ty Thuận An còn tham gia bảo hiểm cho 5 phương tiện vận tải khác và tất cả các giấy chứng nhận bảo hiểm đó đều không có chữ ký của Công ty Thuận An và cũng nộp phí bảo hiểm ngày 30-01-2008 nhưng các giấy chứng nhận bảo hiểm của 5 phương tiện vận tải đó vẫn phát sinh hiệu lực nên việc Công ty bảo hiểm không yêu cầu Công ty Thuận An ký vào giấy chứng nhận bảo hiểm được coi là thói quen trong hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 Mặt khác theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm thì: Doanh nghiệp bảo hiểm phải có trách nhiệm giải thích cho doanh nghiệp mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm Điều 21 của Luật kinh doanh bảo hiểm cũng quy định: Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều kiện không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm Từ những phân tích trên, Hội đồng xét

xử thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty Thuận An về việc buộc Công ty bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại cho các phương tiện vận tải 30F-3030 và romooc

29R-1311 do tai nạn xẩy ra ngày 03-01-2008 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật và hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết giữa hai bên”2

Hướng như nêu trên là hoàn toàn thuyết phục và nên phát triển thành án lệ

vì thực chất ý chí của các bên đã thống nhất, hợp đồng bảo hiểm đã được xác lập

và việc bên mua bảo hiểm chưa ký vào giấy chứng nhận bảo hiểm không làm thay đổi bản chất quan hệ giữa các bên (đã có hợp đồng bảo hiểm hợp pháp)

2 Thỏa thuận đẩy lùi ngày ký hợp đồng bảo hiểm

Theo Điều 15 Luật Kinh doanh bảo hiểm, “trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc khi có bằng chứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm” Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực sẽ ràng buộc trách nhiệm của các bên Thực tế thường có tranh chấp về trường hợp thời gian ký hợp đồng được đẩy lùi so với thời gian giao kết hợp đồng bảo hiểm trên thực tế Liên quan đến trường hợp như vừa nêu, vụ việc sau đây rất đáng quan tâm

2 Bản án số 112/2009/KDTM-PT ngày 03-8-2009 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội

Trang 3

Cụ thể, theo Tòa án, “lời khai của người đi mua bảo hiểm (người của phía

bà Mai) ông Tám khẳng định rằng ngày 04-02-2010 bà Mai mới nhờ ông đi mua bảo hiểm cho xe 54Y-6382 chính ông yêu cầu bên bán bảo hiểm ghi lùi lại 6 ngày ghi ngày 29-01-2010 theo yêu cầu của bà Mai Phía chi nhánh bán bảo hiểm đã không cương quyết kiểm tra xe trước khi giao chứng nhận bảo hiểm Các chứng

cứ trên có đủ căn cứ để khẳng định phía người mua bảo hiểm đã có thủ đoạn gian dối lợi dụng quen biết tình cảm để mua bảo hiểm sau khi tai nạn đã xảy ra và cố tình giấu xe không đưa cho bảo hiểm kiểm tra xe theo quy định Vì vậy kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm là không thể chấp nhận được”3

Hướng như trên của Tòa án là thuyết phục, điều luật cho các bên “thỏa thuận khác” nhưng thỏa thuận này cần được hiểu theo hướng không cho phép đẩy lùi ngày giao kết hợp đồng bảo hiểm Ở đây, chúng ta nên xem xét phát triển hướng trên của Tòa án thành án lệ

3 Vi phạm nghĩa vụ giải thích của doanh nghiệm bảo hiểm

Điều khoản loại trừ bảo hiểm rất phổ biến trong các hợp đồng bảo hiểm và pháp luật có những quy định về loại điều khoản này Cụ thể, theo khoản 2 Điều

16 Luật Kinh doanh bảo hiểm, “Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng” Ở đây, Luật quy định về nghĩa vụ giải thích của bên bảo hiểm nhưng Luật lại chưa rõ về chế tài trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ này nên hướng giải quyết sau đây của Tòa án rất đáng xem xét

Cụ thể, theo Toà án, “Công ty bảo hiểm PVI Bắc Trung Bộ không thực hiện trách nhiệm hướng dẫn, giải thích những điêu khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm cho ông Loan và không ký kết hợp đồng bảo hiểm, như vậy là vi phạm khoản 1 Điều 16, khoản 1 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm Ông Loan điều khiển xe ô

tô và cho lưu hành khi xe của ông chưa có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện xe cơ giới hợp lệ, đã vi phạm khoản 4 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ Tòa án cấp sơ thẩm xác định: Do hai bên không

ký hợp đồng bằng văn bản, doanh nghiệp bảo hiểm không giải thích rõ các điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm là nguyên nhân dẫn đến việc ông Loan không hiểu rõ các điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm để phòng tránh, dẫn đến vi phạm các điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm này nên doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu một phần thiệt hại trong việc xảy ra tai nạn tương ứng với phần lỗi của mình là đúng Tòa án cấp phúc thẩm xác định ông Loan điều khiển xe ô tô và cho lưu hành khi xe ô tô của ông không có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện xe cơ giới hợp lệ nên vi phạm khoản 4 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, cho rằng tai nạn xảy ra không liên quan đến trách nhiệm của Tổng Công ty bảo hiểm PVI là chưa đúng; lẽ ra, cần phải buộc

3 Bản án số 162/2011/KDTM-PT ngày 15-09-2011 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 4

Công ty bảo hiểm PVI cũng phải chịu trách nhiệm một phần đối với thiệt hại về

xe ô tô của ông Loan thì mới đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự”4

Ở đây, chế tài là buộc doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu một phần thiệt hại

và hướng như vậy là thuyết phục, nên cân nhắc phát triển thành án lệ

4 Cách thức xác định giá trị bảo hiểm đối với tài sản

Khi bảo hiểm tài sản, chúng ta phải quan tâm tới giá trị của tài sản bảo hiểm

và câu hỏi đặt ra là giá trị này được xác định như thế nào? Thực tế, Luật Kinh doanh bảo hiểm theo hướng bảo hiểm giá trị tài sản theo “giá thị trường” (Điều 42) nhưng xác định giá thị trường như thế nào thì Luật lại chưa rõ ràng

Trong một vụ tranh chấp, Tòa án đã xét rằng “Căn cứ vào quy tắc bảo hiểm kết hợp xe cơ giới (Điều 16) thì giá trị bảo hiểm của xe được xác định theo giá thực tế trên thị trường tại thời điểm tham gia bảo hiểm, căn cứ vào hợp đồng bảo hiểm số AD0008/03H 108/K.7 thì giá trị thực tế được thỏa thuận là 800.000.000 đồng Và giá trị Bảo hiểm là 800.000.000 đồng Hơn nữa Công ty Bảo Minh thu phí bảo hiểm là 11.994.400 đồng trên giá trị bảo hiểm trên đây, nên hoàn toàn không có một cơ sở nào để cho rằng Công ty Bảo Minh không chịu trách nhiệm bồi thường số tiền bảo hiểm 800.000.000 đồng mà mình đã tự thỏa thuận trong hợp đồng Hiện nay chiếc xe Mercedes biển số 52S-7130 đã cháy toàn bộ, không thể tiến hành định giá thực tế được nên việc Công ty Bảo Minh đưa ra giá trị bồi thường 140.000.000 đồng là không có căn cứ Việc Công ty Bảo Minh cho rằng chiếc xe này trước kia mua với giá 280.000.000 đồng nên không bồi thường 800.000.000 đồng là không đúng, trái với các quy định đã được thỏa thuận trong hợp đồng Trong hợp đồng bảo hiểm trên đây chỉ quy định về giá trị thực tế xe khi tham gia bảo hiểm và số tiền bảo hiểm không có bất kỳ quy định nào cho rằng Bảo Minh sẽ bồi thường cho khách hàng căn cứ vào giá trị hợp đồng mà khách hàng đã mua xe là bao nhiêu nên việc chiếc xe này mua giá bao nhiêu là không quan trọng Nó không phải là căn cứ để thực hiện hợp đồng bảo hiểm”5

Ở đây, Tòa án đã đưa ra hai hướng xử lý đáng lưu ý Cụ thể, giá trị tài sản bảo hiểm không căn cứ vào việc tài sản đó đã được mua bao nhiêu và khi các bên trong hợp đồng bảo hiểm đã thống nhất giá trị tài sản bảo hiểm thì sử dụng giá mà các bên đã thống nhất Hướng như vậy là thuyết phục và nên cân nhắc phát triển thành án lệ

II- Những vấn đề liên quan đến thực hiện hợp đồng bảo hiểm

1 Giá trị của hợp đồng bảo hiểm khi chuyển sở hữu tài sản Bảo hiểm

tài sản khá phổ biến và thường xuyên xảy ra trường hợp tài sản, đối tượng của bảo hiểm, được chuyển quyền sở hữu trong thời gian bảo hiểm Theo khoản 2 Điều

579 Bộ luật Dân sự năm 2005, “Trong trường hợp quyền sở hữu đối với tài sản bảo hiểm được chuyển cho người khác thì chủ sở hữu mới đương nhiên thay thế chủ sở hữu cũ trong hợp đồng bảo hiểm, kể từ thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản Chủ sở hữu cũ là bên mua bảo hiểm phải báo cho chủ sở hữu mới biết về việc

4 Quyết định số 79/2015/DS-GĐT ngày 24-3-2015 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

5 Bản án số 12/DSPT ngày 07-01-2005 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

tài sản đã được bảo hiểm, báo kịp thời cho bên bảo hiểm về việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản” Tranh chấp xuất phát từ chuyển quyền sở hữu tài sản khá phổ biến và quyết định sau đây rất đáng lưu ý

Cụ thể, nhà máy gỗ MDF COSEVCO là đơn vị trực thuộc Công ty MDF COSEVCO Theo Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông ngày 25-10-2005, Công

ty MDF COSEVCO chuyển giao Nhà máy gỗ MDF COSEVCO cho Công ty cổ phần gỗ MDF GERUCO Ngày 24-11-2005, Công ty MDF COSEVCO đã tiến hành bàn giao Nhà máy gỗ MDF COSEVCO cho Công ty cổ phần gỗ MDF GERUCO Ở đây, kể từ ngày 24-11-2005 Công ty cổ phần gỗ MDF GERUCO chính thức trở thành chủ sở hữu mới của nhà máy gỗ MDF COSEVCO Về hệ quả của chuyển quyền sở hữu nhà máy gỗ đang có hợp đồng bảo hiểm, Tòa án xét rằng “đã có việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản là Nhà máy gỗ MDF COSEVCO từ chủ sở hữu cũ là Công ty MDF COSEVCO sang Công ty cổ phần

gỗ MDF GERUCO theo Biên bản Đại hội đồng cổ đông ngày 25-10-2005 Tại Biên bản cuộc họp ngày 30-3-2006, chủ sở hữu cũ (Công ty MDF COSEVCO) đã báo cho chủ sở hữu mới (Công ty cổ phần gỗ MDF GERUCO) biết về tài sản là Nhà máy gỗ MDF COSEVCO đã được bảo hiểm Đồng thời tại Biên bản này, chủ

sở hữu cũ cũng đã báo cho Công ty bảo hiểm Quảng Trị về việc đã bàn giao tài sản bảo hiểm là Nhà máy gỗ MDF COSEVCO cho Công ty cổ phần gỗ MDF GERUCO Như vậy, đã có đủ căn cứ để khẳng định Công ty cổ phần gỗ MDF GERUCO đương nhiên kế thừa, thay thế Công ty MDF COSEVCO trong hợp đồng bảo hiểm, kể từ ngày chuyển quyền sở hữu tài sản (ngày 24-11-2005) Vì vậy, Công ty cổ phần gỗ MDF GERUCO phải có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm tài sản từ thời điểm chuyển giao quyền sở hữu tài sản (24-11-2005) đến ngày hết hạn hợp đồng bảo hiểm; còn Công ty MDF COSEVCO có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm tài sản từ ngày hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực pháp luật (30-9-2005) đến ngày chuyển giao tài sản (ngày 24-11-2005) Tòa án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc Công ty cổ phần gỗ MDF GERUCO phải thanh toán toàn bộ phí bảo hiểm tài sản cho Công ty bảo hiểm Quảng Trị là không đúng pháp luật”6

So với văn bản là Bộ luật Dân sự năm 2005, quyết định nêu trên còn làm

rõ hơn ai trả phí bảo hiểm sau khi chuyển quyền sở hữu tài sản Ngày nay, quy định trên không còn được giữ lại trong Bộ luật Dân sự năm 2015 trong khi dó không có văn bản nào hiện nay có quy định tương tự nên sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật, chúng ta không có cơ sở văn bản để giải quyết

hệ quả của chuyển quyền sở hữu tài sản Do đó, chúng ta cân nhắc nên phát triển hướng giải quyết nêu trên thành án lệ để có cơ sở giải quyết các vụ việc tương tự trong tương lai7

6 Quyết định số 14/2008/KDTM-GĐT ngày 28-11-2008 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

7 Chúng ta cũng có thể cân nhắc phát triển hướng giải quyết trong vụ việc sau đây để phát triển thành án

lệ Cụ thể, theo hợp đồng, Trung tâm Polymer phải sản xuất 02 vỏ tàu đánh bắt cá Công ty Cà Mau địa điểm giao nhận tại Vũng Tàu Năm 2001, các bên đã thanh lý hợp đồng Trung tâm mua bảo hiểm 100% ngày 04-02-2002 và ngày 05-02-2002 tàu trên đường đến Vũng Tàu đã gặp nạn ở Bình Thuận Khi có tranh chấp, doanh nghiệp bảo hiểm cho rằng không có trách nhiệm đối với tổn thất với lý do “Tàu 0162 thực tế đã bào giao cho phía Công ty Cà Mau” Tuy nhiên, theo Tòa án, “Về quyền lợi được bảo hiểm

Trang 6

2 Bảo hiểm vẫn có hiệu lực dù chưa đóng phí bảo hiểm

Theo khoản 2 và 3 Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm, “Ngoài các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự, hợp đồng bảo hiểm còn chấm dứt trong các trường hợp sau đây: 2 Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác; 3 Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm”

Thực tế cho thấy không hiếm trường hợp bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra và bên bảo hiểm từ chối thanh toán trong khi đó đã việc thanh toán này là phù hợp với ý chí của bên liên quan Ví dụ, doanh nghiệp bảo hiểm từ chối bảo hiểm với lý do “hợp đồng bảo hiểm chỉ phát sinh hiệu lực khi người được bảo hiểm nộp phí bảo hiểm” Tuy nhiên, Tòa án đã xét rằng “Xét cùng ngày phát hành hợp đồng bảo hiểm, phía Bảo Việt phát hành bản Thông báo thu phí với nội dung chấp nhận cho Công ty Long An được đóng phí trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày phát hành hợp đồng bảo hiểm Tất cả các hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên từ nhiều năm qua đều được thỏa thuận và thực hiện với nội dung như nêu trên Sau khi sự kiện rủi ro cháy hàng đã xảy ra, phía bảo hiểm vẫn chấp nhận thu phí bảo hiểm Rõ ràng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải thuộc về phía Tổng Công ty bảo hiểm Bảo Việt Việt Nam Như vậy, đối chiếu những sự kiện thực tế của vụ án với các quy đinh của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định yêu cầu kháng cáo của Tổng Công ty bảo hiểm Bảo Việt Việt Nam không đồng ý thanh toán số tiền bảo hiểm theo quyết định của Toà án cấp sơ thẩm, là không có cơ sở để chấp nhận”8

Hướng như nêu trên là rất thuyết phục và nên phát triển thành án lệ để giải quyết một loại tranh chấp khá phổ biến là trả phí bảo hiểm sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra

3 Xác định lỗi cố ý, lỗi vô ý của người được bảo hiểm

Theo khoản 3 Điều 576 Bộ luật Dân sự năm 2005, “3 Trong trường hợp bên được bảo hiểm cố ý để xảy ra thiệt hại thì bên bảo hiểm không phải trả tiền bảo hiểm; nếu do lỗi vô ý của người được bảo hiểm thì bên bảo hiểm không phải

mà phía Công ty bảo hiểm nại là kể từ ngày giao tàu thì quyền lợi của người bảo hiểm ghi trên giấy chứng nhận bảo hiểm đã chấm dứt Theo nguyên tắc bảo hiểm thân tàu do Công ty bảo hiểm Nhà Rồng ban hành, thì tàu thuyền là đối tượng của bảo hiểm Khi mua bảo hiểm cho tàu 0162 trung tâm đã chuyển toàn

bộ giấy tờ hồ sơ đăng kiểm, hợp đồng kinh tế số 41 nên Công ty bảo hiểm biết chủ tàu 0162 là Công ty

Cà Mau; tại Tòa hôm nay đại diện Công ty bảo hiểm cũng thừa nhận chủ tàu 0162 là của Công ty Cà Mau Tàu đánh bắt cá cũng như các tài sản khác, nên có quyền mua bán, chuyển nhượng; việc mua bán không làm ảnh hưởng đến việc bảo hiểm của tài sản đó, trừ khi hết hạn bảo hiểm Trong khi đó tàu 0162

bị nạn ngày 05-02-2002 thời hạn bảo hiểm đang có giá trị Việc Công ty bảo hiểm Nhà Rồng nại như trên

để từ chối bảo hiểm là không có căn cứ và thỏa đáng cho khách hàng” (Bản án số 1365/2005/DS-PT ngày 29-6-2005 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh)

8 Bản án số 27/2009/KDTM-PT ngày 24-02-2009 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

trả một phần tiền bảo hiểm tương ứng với mức độ lỗi của bên được bảo hiểm” Quy định tương đồng tồn tại trong Bộ luật Hàng hải năm 2015 tại khoản 2 Điều

323 theo đó “Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với những tổn thất xảy

ra do hành động cố ý hoặc quá cẩu thả của người được bảo hiểm, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất phát sinh do sơ suất hoặc sai lầm của thuyền trưởng đồng thời cũng là người được bảo hiểm trong việc điều khiển, quản trị tàu và các tổn thất do lỗi của thuyền bộ, hoa tiêu hàng hải”

Ở đây, trách nhiệm rất khác nhau khi bên được bảo hiểm có lỗi “cố ý” hay

“vô ý” nhưng văn bản không làm rõ các khái niệm này Do đó, vụ việc sau đây rất đáng được lưu tâm Cụ thể, xuất phát từ việc tàu bị thiệt hại trong cơn bão, các bên có tranh chấp về việc phát sinh trách nhiệm bảo hiểm Theo Tòa giám đốc thẩm, “Nếu có căn cứ xác định sau khi được cấp Giấy phép rời cảng Đà Nẵng đi Hải Phòng, Thuyền trưởng tàu Hợp Thành 07 đã biết được thông tin về cơn bão

số 9 mà vẫn cho tàu Hợp Thành 07 rời cảng Đà Nẵng đi Hải Phòng và trong hành trình do bị ảnh hưởng của bão số 9 tàu bị mắc cạn thì Thuyền trưởng có lỗi trong việc cho tàu hành trình nhưng đấy không phải là hành động cố ý làm cho tàu bị mắc cạn để được bồi thường bảo hiểm Vì vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều

244 Bộ luật Hàng hải năm 2005, Công ty cổ phần bảo hiểm AAA vẫn phải có trách nhiệm bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm cho Công ty Hợp Thành, nhưng Công ty Hợp Thành phải chịu một phần thiệt hại theo quy định tại khoản 2 Điều

576 Bộ luật Dân sự” và “nếu có căn cứ xác định Bộ chỉ huy Biên phòng thành phố Đà Nẵng đã có lệnh cấm tàu thuyền ra khơi và trước khi cho tàu Hợp Thành

07 hành trình, Thuyền trưởng đã biết lệnh cấm này mà vẫn cho tàu hành trình và

bị tai nạn mắc cạn do ảnh hưởng của cơn bão số 9 thì Công ty cổ phần bảo hiểm AAA không phải bồi thường cho Công ty Hợp Thành”9

Ở đây, quyết định giám đốc thẩm đã làm rõ khái niệm lỗi cố ý, lỗi cố ý nên rất hữu ích trong việc áp dụng Hơn nữa, quy định nêu trên trong Bộ luật Dân sự năm 2005 không còn được giữ lại trong Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có điểm khuyết trong văn bản Vì vậy, việc phát triển nội dung thành án lệ sẽ tạo ra thêm

cơ sở cho hướng xử lý tương tự trong tương lai

4 Thực hiện bảo hiểm tài sản không lệ thuộc vào người gây thiệt hại

Bảo hiểm tài sản rất phổ biến và tài sản được bảo hiểm có thể bị tổn thất do

sự kiện khách quan (như mưa bão) hay do yếu tố con người (như người gây thiệt hại cho tài sản được bảo hiểm) Trong trường hợp tài sản bảo hiểm bị tổn thất do yếu tố con người và khi người mua bảo hiểm yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện hợp đồng bảo hiểm, việc thực hiện này có lệ thuộc vào việc xác định trách nhiệm của người gây thiệt hại hay không?

Văn bản chưa thực sự rõ ràng về vấn đề pháp lý nêu trên và hướng sau đây của Tòa án rất đáng được cân nhắc phát triển thành án lệ Cụ thể, đã xảy ra va chạm giữa xe ô tô biển số 52Z-6113 do ông Huy điều khiển và xe ô tô taxi Vinasun biển số 56K-6319 do ông Thành điều khiển Theo Tòa án, “đây là vụ án tranh

9 Quyết định số 37/2013/KDTM-GĐT ngày 16-10-2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trang 8

chấp hợp đồng bảo hiểm, ông Huy là người mua bảo hiểm khởi kiện Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng là người nhận bảo hiểm bồi thường tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, nên việc xác định lỗi trong vụ tai nạn giao thông giữa ông Thành là người điều khiển xe taxi Vinasun biển số 56K-6319 và ông Huy là người điều khiển xe biển số 52Z-6113 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án”10

Ở đây, khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện trách nhiệm bảo hiểm và việc có người chịu trách nhiệm về thiệt hại không ảnh hưởng tới việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm (có thể ảnh hưởng tới việc bồi hoàn sau bảo hiểm) Do đó, hướng nêu trên của Tòa án là thuyết phục và chúng

ta nên cân nhắc phát triển thành án lệ

5 Chi phí khôi phục tài sản được bảo hiểm

Tài sản được bảo hiểm thường xuyên có tổn thất và phía người mua bảo hiểm thường xuyên phải tìm cách khôi phục lại tài sản Trong trường hợp trên, tiền bảo hiểm được tính như thế nào khi các bên không đạt được sự thống nhất?

Văn bản chưa thực sự rõ ràng đối với vấn đề pháp lý nêu trên và, theo một bản án, “Tại bảng báo giá ngày 11-12-2007 Isamco Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định giá sửa chữa xe là 404.058.900 đồng Ngoài ra phía bà Trinh đã cung cấp 2 bảng báo giá của đơn vị Haxaco (ngày 24/7/2006) và VN Star Atomobile Ltd (ngày 06/10/2006) do bà yêu cầu 2 đơn vị này lập, cụ thể sau: Haxaco xác định giá sửa xe là: 416.227.672 đồng VN Star Automobile Ltd xác định giá sửa xe là: 409.367.348 đồng Do có sự chênh lệch về giá giữa 3 đơn vị nêu trên, nên bà Trinh yêu cầu tính theo giá trung bình là có cơ sở phù hợp, nghĩ nên chấp nhận”11

Ở đây, Tòa án theo hướng “giá trung bình” và đây là hướng thuyết phục, nên cân nhắc phát triển thành án lệ

6 Giá trị bảo hiểm tài sản đã sử dụng và được thay mới

Trong thực tế, tài sản có bảo hiểm bị tổn thất không là tài sản mới mà là tài sản đã qua sử dụng nhưng khi khắc phục hệ quả của tổn thất, bên có tài sản được bảo hiểm lại thay thế bằng tài sản mới và đòi bồi thường giá trị của tài sản mới

Trong trường hợp nêu trên, việc cho bồi thường giá trị mới của tài sản sẽ tạo ra lợi nhuận không chính đáng cho bên mua bảo hiểm và bất lợi cho bên bảo hiểm Do đó, hướng sau đây của Tòa án rất đáng lưu ý Cụ thể, theo Tòa án, “tổng

số tiền sửa chữa nêu trên được tính bằng số tiền thay mới tất cả các phụ tùng Trong khi đó, tình trạng xe trước khi bảo hiểm là xe đã sử dụng tính tròn 01 năm (khấu hao tài sản quy định đối với phương tiện vận tải đường bộ tối thiểu 06 năm, tối đa 10 năm) Đồng thời cũng tại điều 28 Quy tắc bảo hiểm kết hợp xe cơ giới quy định trong quá trình sửa chữa xe được bảo hiểm, nếu phải thay thế mới bộ phận thì số tiền bồi thường cho việc thay thết bộ phận đó tối đa không vượt quá giá trị thực tế của bộ phần đó ngay trước khi xe bị tổn thất Do đó, yêu cầu của Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex trừ 10% giá trị sửa chữa trên số tiền

10 Bản án số 787/2009/DS-PT ngày 13-5-2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

11 Bản án số 68/2008/KT-ST ngày 10-01-2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 9

409.884.640 đồng, là có căn cứ Tòa án cấp sơ thẩm không khấu trừ 10% khấu hao do xe đã sử dụng 01 năm là chưa phù hợp”12

Hướng trên nên phát triển thành án lệ vì văn bản chưa thực sự rõ về vấn đề nêu trên Hơn nữa, vấn đề nêu trên hoàn toàn có thể được sử dụng đối với tài sản không là xe cơ giới như tàu, thuyền, nhà xưởng Do đó, khi phát triển thành án lệ, chúng ta cũng nên lưu ý về phạm vi áp dụng (nên theo hướng cho tài sản nói chung)

7 Xử lý tài sản được bảo hiểm (có tổn thất)

Theo khoản 3 Điều 47 Luật Kinh doanh bảo hiểm, “Trong trường hợp bồi thường theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thu hồi tài sản bị thiệt hại sau khi đã thay thế hoặc bồi thường toàn

bộ theo giá thị trường của tài sản” Ở đây, điều luật quy định về tài sản sau khi bảo hiểm mà chưa thực sự rõ ràng về số phận tài sản được bảo hiểm trong giai đoạn sau sự cố và trước khi doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền

Đối với hoàn cảnh nêu trên, theo một bản án, “trong trường hợp các bồn dầu bị hư hỏng cần phải được xác định mức độ thiệt hại, Công ty Pjico có quyền thu hồi tài sản bị thiệt hại sau khi đã thay thế hoặc bồi thường toàn bộ theo giá thị trường của tài sản Do vậy, khi chưa giám định tổn thất và thỏa thuận hình thức bồi thường, Chủ DNTN Tân Thành 1 ký hợp đồng mua bồn chứa mới và bán bồn chứa dầu là tài sản được bảo hiểm là không đúng”13

Như vậy, theo Tòa án, trong quá trình giải quyết, bên có tài sản bảo hiểm phải giữ tài sản, không được định đoạt cho người khác Đây là hướng xử lý thuyết phục và chúng ta cũng nên cân nhắc phát triển thành án lệ

8 Bản chất quan hệ bồi hoàn (sau khi bảo hiểm tổn thất)

Sau khi thanh toán tiền bảo hiểm, bên bảo hiểm được yêu cầu người thứ ba bồi thường Việc xuất hiện của người thứ ba này đôi khi làm cho việc xác định bản chất quan hệ sau bồi thường khá phức tạp và vụ việc sau đây rất đáng lưu tâm

Cụ thể, Công ty Thiên Nhật Trường ký Hợp đồng vận chuyển với Vinashin Bình Định thuê tàu Bình Định River vận chuyển lô hàng của Công ty Schlumberger Seaco Inc và được Tổng Công ty PVI cấp đơn bảo hiểm cho toàn

bộ lô hàng Trên đường vận chuyển hàng đến Brunei, tàu Bình Định River gặp tai nạn, thuyền trưởng tàu Bình Định River ra lệnh cho thủy thủ bỏ tàu, toàn bộ lô hàng bị tổn thất Tổng Công ty PVI đã thực hiện trách nhiệm bồi thường bảo hiểm

lô hàng cho Công ty Schlumberger Seaco Inc và được Công ty Schlumberger Seaco Inc cấp giấy biên nhận và thế quyền để truy đòi số tiền đã bồi thường Tổng Công ty PVI căn cứ giấy biên nhận và thế quyền nói trên để khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Vinashin Bình Định (chủ tàu Bình Định River) - là người vận chuyển, hoàn trả số tiền đã bồi thường cho Công ty Schlumberger Seaco Inc Theo Tòa

12 Bản án số 56/2008/KDTM-PT ngày 24-4-2008 của Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

13 Bản án số 113/2009/KDTM-PT ngày 20-8-2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

giám đốc thẩm, “Trong vụ án này, do hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng bảo hiểm hàng hóa các bên không có tranh chấp; Tổng Công ty PVI thế quyền của Công ty Schlumberger Seaco Inc để truy đòi Vinashin Bình Định số tiền đã bồi thường nên đây không phải là tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm mà là tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hàng hóa Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là có căn cứ Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định Tổng Công ty PVI là nguyên đơn, Vinashin Bình Định là bị đơn, Công ty Thiên Nhật Trường là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn

cứ, đúng pháp luật”14

Hướng nêu trên là thuyết phục và làm rõ bản chất quan hệ sau khi bên bảo hiểm bồi thường Chúng ta có thể cân nhắc phát triển hướng này thành án lệ

III- Những vấn đề liên quan đến tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

1 Hợp đồng bảo hiểm có thỏa thuận trọng tài

Trong các hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ rất phổ biến có thỏa thuận trọng tài và, khi có tranh chấp, một trong các bên lại đưa tranh chấp ra Tòa án Nếu Tòa

án phát hiện ra phán quyết trọng tài ở giai đoạn sơ thẩm, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP đã đưa ra hướng giải quyết là Tòa án đình chỉ vụ án và trả lại

hồ sơ Tuy nhiên, thực tế cho thấy không hiếm trường hợp ở cấp sơ thẩm, không chủ thể nào đưa vấn đề thỏa thuận trọng tài ra để đình chỉ vụ án mà vấn đề này chỉ được đề cập ở cấp phúc thẩm Trong trường hợp này, Tòa án sẽ phải làm gì? Nghị quyết nêu trên chưa rõ về vấn đề này và hướng xử lý trong vụ việc sau đây rất đáng lưu tâm

Cụ thể, trong hợp đồng bảo hiểm giữa một cá nhân và công ty bảo hiểm có thỏa thuận theo đó “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này nếu hai bên không thể giải quyết trên cơ sở thương lượng thì sẽ được giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này” Tòa sơ thẩm thụ lý giải quyết tranh chấp và vấn đề tồn tại thỏa thuận được đặt ra trong quá trình phúc thẩm Sau khi khẳng định “có cơ sở xác định tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại, nên việc giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam theo Quy tắc

tố tụng trọng tài của Trung tâm này Như vậy, có cơ sở xác định: Việc thỏa thuận giải quyết tranh chấp theo Quy tắc tố tụng trọng tài của các đương sự trong hợp đồng bảo hiểm tàu cá số: AD: 0068/16B3550, ngày 13-01-2016 là đúng pháp luật”, Tòa án cấp phúc thẩm đã xét rằng “Lẽ ra khi nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm phải từ chối thụ lý Việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án là không phù hợp với quy định của pháp luật Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 192; điểm g khoản 1 Điều

14 Quyết định số 21/2014/KDTM-GĐT ngày 18-11-2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Ngày đăng: 24/09/2021, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w