1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích cơ sở pháp lý của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá và những vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình chiết khấu giấy tờ có giá do tổ chức

20 391 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 28,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So với nghiệp vụ cho vay truyền thống, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng nhanh và đơn giản hơn vì đã có sẵn các chứng từ nhận chiết khấu, giấy tờ có giá làm tài sả

Trang 1

MỞ ĐẦU

Cùng với nhu cầu ngày càng cao về vốn để sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hoạt động cấp vốn của ngân hàng cũng vì thế mà phát triển hơn trước So với nghiệp vụ cho vay truyền thống, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng nhanh và đơn giản hơn vì đã có sẵn các chứng từ nhận chiết khấu, giấy tờ có giá làm tài sản đảm bảo Vậy, đâu là cơ sơ pháp lý của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt

động chiết khấu là gì? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề bài : “Phân tích cơ sở pháp lý của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá và những vấn đề pháp

lý phát sinh trong quá trình chiết khấu giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng thực hiện” để phân tích Trong quá trình làm bài, em còn nhiều thiếu xót, em rất mong

nhận được sự góp ý từ thầy cô !

Em xin chân thành cám ơn !

NỘI DUNG

I Tổng quan về hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của Tổ chức tín dụng:

1 Khái niệm hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá :

- Xét từ góc độ kinh tế, hoạt động chiết khấu GTCG của TCTD có bản chất là nghiệp vụ tín dụng, bởi vì, khi chiết khấu GTCG của khách hàng, TCTD phải ứng trước cho khách hàng số tiền nhất định để họ sử dụng Sau thời hạn nhất định, TCTD đòi lại số tiền này từ người có nghĩa vụ trả nợ theo GTCG, với tư cách là chủ sở hữu mới của GTCG Với các thuộc tính này, hoạt động chiết khấu GTCG của TCTD khác nào nghiệp vụ tín dụng truyền thống, với đầy đủ các thuộc tính vốn có của hoạt động tín dụng như sự ứng trước và sự hoàn trả một số tiền nhất

Trang 2

định, sự tín nhiệm của người cho vay đối với người cho vay và cam kết trả lãi cho việc sử dụng vốn của TCTD

- Xét dưới góc độ pháp lý, hoạt động chiết khấu GTCG của TCTD có bản chất

là hợp đồng mua bán GTCG, với đầy đủ các thuộc tính của hợp đồng mua bán như : các chủ thể tham gia gồm bên bán và bên mua; đối tượng mua bán là GTCG được chiết khấu; giá cả mua bán là số tiền mà TCTD phải trả cho khách hàng sau khi đã khấu trừ đi phần lợi tức chiết khấu; có thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu GTCG từ người bán (khách hàng) sang cho người mua ( TCTD nhận chiết khấu)

2 Đặc điểm của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng :

Thứ nhất, chủ thể cấp tín dụng trong chiết khấu bao giờ cũng là TCTD.

TCTD thực hiện cấp vốn tín dụng với vị thế là người mua, người nhận chiết khấu GTCG chưa đến hạn thanh toán của khách hàng

Thứ hai, chủ thể hưởng tín dụng có thể không đồng nhất với chủ thể thực

hiện nghĩa vụ hoàn trả khoản tín dụng đã cấp Nói cách khác, chiết khấu là loại tín dụng trực tiếp đối với người chiết khấu và là tín dụng gián tiếp đối với người thứ

ba trong các hoạt động cấp tín dụng

Thứ ba, quy trình thực hiện chiết khấu GTCG ngoài việc thẩm định hồ sơ

giao kết hợp đồng thì khách hàng phái chuyển giao quyền sở hữu GTCG của TCTD

Thứ tư, giá bán GTCG luôn thấp hơn giá trị của GTCG khi đến hạn thanh

toán hoặc thấp hơn mệnh giá ghi trên GTCG

Thứ năm, Chiết khấu GTCG có độ an toàn cao trong việc thu hồi vốn tín

dụng Chiết khấu là loại tín dụng ngắn hạn, trong nhiều loại GTCG có thể có sự bảo lãnh của bên thứ 3 đối với người có nghĩa vụ thanh toán theo GTCG Bên cạnh

đó, một số GTCG được pháp luật quy định về quyền truy đòi đối với những người

có liên quan đến các TCTD sẽ có cơ sở vững chắc để thu hồi vốn tín dụng mà mình

đã cấp

Trang 3

3 Vai trò và lợi ích của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng :

 Đối với tổ chức tín dụng :

Trước hết đó là khoản sinh lợi từ việc chiết khấu mang lại Bên nhận chiết khấu có thể tận dụng được nguồn vốn dư thừa của mình để tìm được một khoản lãi vừa phải, trong khi đó vẫn có thể đảm bảo được nhu cầu thanh khoản Đó là do các GTCG đem đi chiết khấu thường là giấy tờ ngắn hạn và thời gian chiết khấu cũng ngắn Nếu trong trường hợp bên được chiết khấu không có khả năng thanh toán, thì TCTD vẫn có thể mang GTCG đến tổ chức phát hành để nhận lại tiền khi đến hạn Nói khác đi, điều này có nghĩa là rủi ro tín dụng của hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu này khá thấp do có nhiều bên phải lãnh trách nhiệm trả nợ hơn

 Đối với khách hàng

Khi doanh nghiệp xảy ra tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời thì chiết khấu chính là một kênh cung cấp vốn để giúp việc sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường Do các GTCG không phải là tiền mặt, nên không thể dùng để chi trả trong sản xuất kinh doanh, mà phải đợi khi đến hạn, doanh nghiệp mới có thể thu hồi tiền Trước tình trạng đó,chiết khấu các GTCG giúp doanh nghiệp giải quyết được khó khăn tạm thời về thời về thanh khoản, giúp công việc sản xuất kinh doanh diễn

ra bình thường, mà vẫn đảm bảo cho doanh nghiệp có thể thu hồi lại GTCG của mình (trong trường hợp chiết khấu có thời hạn) Bên cạnh đó, chiết khấu giúp gia tăng quan hệ tín dụng thương mại giữa các doanh nghiệp vì với nghiệp vụ chiết khấu, doanh nghiệp sẵn lòng bán chịu hơn, do có thể chiết khấu nhận được tiền trước ngày đáo hạn tờ thương phiếu khi cần tiền Điều 32 này làm cho quan hệ thương mại ngày càng mở rộng, quay vòng vốn nhanh, linh hoạt,hàng hóa sản xuất nhiều, lợi nhuận càng cao

Trang 4

II Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng :

1 Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động chiết khấu giấy

tờ có giá :

Ta có thể thấy, nghiệp vụ chiết khấu mang lại những lợi ích nhất định cho TCTD cũng như những tổ chức, cá nhân có nhu cầu chiết khấu Trên thế giới, chiết khấu GTCG đã từng được xem là một nghiệp vụ kinh doanh mang tính truyền thống của các ngân hàng Nghiệp vụ này ra đời từ rất sớm và được áp dụng rộng rãi cho đến ngày nay Tuy nhiên, ở Việt Nam, trong thời kì nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước không cho phép tồn tại những hành

vi mua bán chịu hàng hóa và do đó cũng không có các công cụ tín dụng thương mại – thương phiếu để chiết khấu tại ngân hàng Chỉ đến khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường thì quan hệ tín dụng thương mại (bản chất của quan hệ mua bán chịu hàng hóa, dịch vụ là quan hệ tín dụng) tồn tại như một thực tế khách quan và hoạt động chiết khấu GTCG ngày càng được chú trọng Do vậy, nhu cầu hình thành hệ thống các quy định pháp luật làm cơ sở pháp lý cho hoạt động chiết khấu GTCG trở nên cấp thiết Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động chiết khấu GTCG không những sẽ đáp ứng được yêu cầu thực tiễn khách quan mà còn đảm bảo cho việc xác lập và thực hiện giao dịch chiết khấu GTCG giữa TCTD và khách hàng an toàn và hiệu quả, trên cơ

sở đó tạo điều kiện cho việc xác lập và thực hiện giao dịch chiết khấu GTCG giữa ngân hàng với khách hàng được an toàn, hiệu quả

2 Cơ sở pháp lí của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá :

Chiết khấu GTCG là hoạt động cấp tín dụng tương đối cổ điển của TCTD Nghiệp vụ này được các ngân hàng ở châu Âu áp dụng lần đầu tiên vào thế kỉ XIII

mà đối tượng lúc ấy chỉ là các phiếu nợ thương mại (thương phiếu) do các thương

Trang 5

nhân châu Âu phát hành nhằm xác nhận quan hệ mua bán chịu hàng hóa giữa họ với nhau

Trải qua thời gian, nghiệp vụ chiết khấu ngày càng phát triển với đối tượng chiết khấu ngày càng phong phú, đa dạng hơn, không chỉ là các thương phiếu như thuở sơ khai của nghiệp vụ này mà mà còn bao gồm cả giấy tờ có giá khác như tín phiếu hay các khoản cho vay ngắn hạn, thậm chí là cả giấy tờ có giá dài hạn Ở nhiều nước trên thế giới, nghiệp vụ chiết khấu của TCTD thường được quy định trong các đạo luật về ngân hàng và sau đó có thể được Chính phủ hoặc ngân hàng trung ương quy định cụ thể bằng các văn bản dưới luật để thi hành Còn ở Việt Nam, mặc dù đã tồn tại trên thực tế rất lâu nhưng mãi tới tháng 12/1997, Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam mới thông qua Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng thì hoạt động chiết khấu GTCG mới được thừa nhận chính thức trong văn bản có giá trị cao về mặt pháp lý Đây là một bước ngoặt lớn, đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình lập pháp của nước ta nói chung và hoàn thiện pháp luật ngân hàng nói riêng Tuy nhiên, mặc dù nghiệp vụ chiết khấu GTCG tuy đã được pháp luật thừa nhận bằng một số quy định chung trong Luật các tổ chức tín dụng nhưng trên thực tế, nghiệp vụ này vẫn chưa được các TCTD triển khai áp dụng một cách rộng rãi Tình trạng này bắt nguồn từ hai nguyên nhân

cơ bản : Một là, do chính các ngân hàng, và khách hàng của họ chưa hiểu rõ ràng

về bản chất pháp lý của nghiệp vụ chiết khấu cũng như tính ưu việt của nghiệp vụ chiết khấu, xét từ góc độ lợi ích cá nhân của cả ngân hàng và khách hàng Hai là,

do sự thiếu vắng các quy định cụ thể của pháp luật hiện hành về nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu GTCG Đây là những lí do cơ bản khiến cho các tổ chức tín dụng không dám mạo hiểm cấp tín dụng cho khách hàng bằng cách thực hiện nghiệp vụ này trên thực tế

Vậy, tình trạng thực tế hiện nay của pháp luật điều chỉnh giao dịch chiết khấu, tái chiết khấu GTCG của TCTD như thế nào?

Trang 6

Sự thật, trong một thời gian khá dài, các quy định của pháp luật về loại hình giao dịch này tỏ ra quá ít ỏi, tản mát, chưa đầy đủ và chưa nhất quán Thực vậy, ngoài một số điều khoản trong Luật tổ chức tín dụng 1997 (Khoản 4, 5 Điều 57) được sửa đổi bổ sung năm 2004 quy định trực tiếp hay gián tiếp về nghiệp vụ chiết khấu hay tái chiết khấu của TCTD đối với giấy tờ có giá của khách hàng, tại Khoản 6 Điều 15 nghị định số 32/2001/NĐ-CP ngày 5/7/2001 của Chính phủ về việc hướng dẫn chi tiết thực hiện pháp lệnh thương phiếu cũng có đề cập đến giao dịch chiết khấu, tái chiết khấu GTCG là thương phiếu nhưng cũng chỉ là những quy định có tính dẫn chiếu đến pháp luật ngân hàng Các quy định rất cơ bản trong những văn bản quy phạm pháp luật này suy cho cùng cũng chỉ có giá trị như sự thừa nhận tính hợp pháp của giao dịch chiết khấu, tái chiết khấu của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, thiếu những quy định về chủ thể cũng như điều kiện của

họ khi tham gia quan hệ chiết khấu giấy tờ có giá, về trình tự, thủ tục chiết khấu tại các ngân hàng Sự thiếu vắng đó sẽ không thể điều chỉnh một cách có hiệu quả việc xác lập và thực hiện giao dịch này trên thực tế Cuối cùng, sau hơn 5 năm, kể từ ngày Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành, cho đến năm 2004, ngân hàng nhà nước mới ban hành 1 văn bản riêng để quy định cụ thể và chi tiết về quy chế pháp lí dành riêng cho nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu của tổ chức tín dụng, đó

là quy chế chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành kèm theo quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN ngày 15/10/2004 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Sự ra đời của quy chế này là một bước tiến mới đóng góp một phần quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lí cho hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số điểm bất cập như : quy chế không áp dụng cho việc chiết khấu thương phiếu…Như vậy, việc chiết khấu thương phiếu được công nhận trong luật sửa đổi,

bổ sung 1 số điều lệ của Luật các tổ chức tín dụng không có những quy định cụ thể điều chỉnh để thực hiện trên thực tế Để khắc phục những điểm bất cập, năm 2005,

Trang 7

Quốc Hội ban hành Luật các công cụ chuyển nhượng nhằm điều chỉnh các quan hệ công cụ chuyển nhượng, trong đó có hối phiếu ( bao gồm hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ) Tuy nhiên, giống như Pháp lệnh thương phiếu ban hành năm 1999, Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005 cũng chỉ dừng lại ở việc quy định nguyên tắc chung về chuyển nhượng hối phiếu giữa khách hàng sở hữu hối phiếu với ngân hàng bằng phương thức chiết khấu.Vì vậy, việc chiết khấu giấy tờ có giá

là hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ vẫn phải dành cho các quy định của pháp luật ngân hàng điều chỉnh Đáng tiếc rằng quy chế chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN ngày 15/10/2004 lại không coi việc chiết khấu thương phiếu ( tức là hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ) thuộc phạm vi điều chỉnh của quy chế này Tuy quy chế chiết khấu giấy tờ có giá hiện hành vẫn còn chứa đựng 1

số điểm chưa hợp lí nhưng có thể nhận thấy văn bản này đã giải quyết được một số điểm bất cập liên quan đến pháp luật điều chỉnh giao dịch chiết khấu, tái chiết khấu của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, ví dụ như thừa nhận đối tượng giao dịch trong nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu của tổ chức tín dụng đối với khách hàng bao gồm các giấy tờ có giá ngắn hạn và dài hạn của người sở hữu, thống nhất điều chỉnh bằng một quy chế pháp lý chung đối với cả hai loại giao dịch có bản chất giống nhau (bao gồm giao dịch chiết khấu giữa các tổ chức tín dụng với nhau) quy định giới hạn an toàn trong hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của

tổ chức tín dụng đối với khách hàng Cho đến năm 2006, ngân hàng nhà nước đã ban hành 2 quyết định về chiết khấu GTCG, một là, quyết định số 17/2006/QĐ-NHNN ngày 20 tháng 4 năm 2006 về việc sửa đổi và bổ sung Điều 10 và Điều 12 quy chế chiết khấu GTCG, tái chiết khấu GTCG của TCTD đối với khách hàng ban hành theo quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN; hai là, quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN ngày 29 tháng 12 năm 2006 Chính nhờ

Trang 8

những văn bản này mà hoạt động chiết khấu GTCG cũng có một số thay đổi so với văn bản trước đây Tuy nhiên hiện nay thì chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể hoạt động chiết khấu của hai văn bản này Vì vậy,hoạt động chiết khấu GTCG cần tuân theo quy định của Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010, Luật các tổ chức tín dụng 2010 và tinh thần của Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 1325/2004/QĐ-NHNN, quy chế ban hành kèm theo quy định số 63/2006/QĐ-NHNN

3 Những vấn đề pháp lí phát sinh trong quá trình chiết khấu giấy tờ có giá

do tổ chức tín dụng thực hiện :

a Chủ thể tham gia giao dịch chiết khấu GTCG :

Giao dịch chiết khấu GTCT được xác lập và thực hiện bởi các chủ thể bao gồm bên được chiết khấu (khách hàng) và bên nhận chiết khấu (TCTD)

 Bên được chiết khấu :

Bên được chiết khấu (khách hàng) trong giao dịch chiết khấu GTCG tại TCTD

là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu xin chiết khấu GTCG Trong trường hợp tái chiết khấu GTCG thì khách hàng xin chiết khấu chính là TCTD đang sở hữu GTCG đó

Do việc chiết khấu GTCG là một quan hệ pháp luật, đồng thời là một hình thức cấp tín dụng và luôn chứa đựng sự rủi ro nên khi thực hiện nghiệp vụ này đối với khách hàng, TCTD thường đòi hỏi khách hàng xin chiết khấu phải thỏa mãn những điều kiện nhất định sau đây :

- Chủ thể xin chiết khấu phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

Trang 9

- GTCG đề nghị chiết khấu, tái chiết khấu phải có đủ các tiêu chuẩn quy định tại Điều 6 Quy chế chiết khấu, tái chiết GTCG của TCTD đối với khách hàng và Điều 6 Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng

Ngoài việc quy định những điều kiện chiết khấu như trên, để đảm bảo sự an toàn trong kinh doanh của TCTD pháp luật còn quy định rõ các giới hạn chiết khấu tối đa đối với một khách hàng tại Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 17/2006/QĐ-NHNN ngày 20/4/2006 và Điều 10 Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng

 Bên nhận chiết khấu :

Bên nhận chiết khấu, tái chiết khấu trong quan hệ chiết khấu, tái chiết khấu GTCG chính là các TCTD Chủ thể này muốn thực hiện hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu GTCG như một nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, cần thỏa mãn các điều kiện sau :

- Có giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước cấp, trong đó ghi rõ nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu GTCG

- Có điều lệ được ngân hàng nhà nước chuẩn y

- Có người đại diện hợp pháp đủ năng lực và thẩm quyền để kí kế hợp đồng chiết khấu GTCG

Ngoài ra, các TCTD cần phải đảm bảo một số yêu cầu khác nữa như yêu cầu về nguồn vồn, yêu cầu về kĩ thuật nghiệp vụ chiết khấu, khả năng tiếp cận thị trường,

hệ thống phương tiện kĩ thuật công nghệ ngân hàng hiện đại…Những yêu cầu này không mang tính pháp lí và không hề ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lí của hợp đồng chiết khấu GTCG nhưng lại là những đảm bảo rất cần thiết cho việc thực hiện một cách hiệu quả hoạt động chiết khấu GTCG của TCTD trên thị trường

b Hình thức và nội dung của giao dịch chiết khấu GTCG :

- Về hình thức :

Trang 10

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 11 Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu GTCG của TCTD đối với khách hàng hiện hành, các thỏa thuận về việc chiết khấu, tái chứa khấu giữa TCTD và khách hàng phải lập thành văn bản Như vậy, văn bản là hình thức duy nhất của hoạt động chiết khấu GTCG Ở đây, tuy pháp luật không quy định văn bản được thể hiện dưới hình thức nào nhưng trong thời đại thương mại điện tử phát triển như hiện nay thì có thể hiểu văn bản hợp đồng sẽ bao gồm văn bản viết thông thường (có chứ kí tay của các bên) và văn bản điện tử thông thường ( có chữ kí điện tử của các bên) Tuy nhiên, cần lưu ý rằng văn bản điện tử cũng có điểm hạn chế nhất định Điều đó thể hiện ở chỗ, loại văn bản này có thể tạo ra những rủi ro như rất dễ bị một bên hoặc cả hai bên trong hợp đồng tự sửa đổi Vì thế việc kí kết hợp đồng chiết khấu GTCG bằng văn bản viết tay và có con dấu luôn có những ưu điểm nhất định, bởi lẽ, nó sẽ là cơ sở, bằng chúng để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ được cam kết trong hợp đồng và đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để các bên trong giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tốt hơn

- Về nội dung :

Nội dung của giao dịch chiết khấu GTCG chính là nội dung của hợp đồng chiết khấu GTCG Nó là tổng thể các điều khoản do các bên đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp với pháp luật

Hợp đồng về bản chất là sự thỏa thuận giữa các bên, do vậy hợp đồng chỉ có giá trị pháp lí ràng buộc đối với các bên nếu như các bên giao kết đúng nguyên tắc tự định đoạt, tự do về ý chí và sự thống nhất ý chí của các bên Nếu một hoặc tất cả các điều khoản được chứng minh là đã vi phạm một trong những nguyên tắc này thì hợp đồng sẽ vô hiệu một phần hoặc toàn bộ

Pháp luật ngân hàng hiện tại không quy định cụ thể nội dung của hợp đồng chiết khấu GTCG Tuy vậy, xét về bản chất pháp lý, do hợp đồng chiết khấu

Ngày đăng: 27/03/2019, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w