1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tư PHÁP tìm HIỂU về NHỮNG tồn tại, VƯỚNG mắc PHÁT SINH TRONG THỰC TIỄN GIAO kết hợp ĐỒNG điện tử ở VIỆT NAM và NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

74 236 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 8,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi lẻ, ta không thể áp dụng các quy định của pháp luật hợp đồng truyền thống để giải quyết vấn đề này ở hợp đồng điện tử nhất là các hợp đồng được giao kết với chức năng đặt hàng trực t

Trang 1

NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

GVHD: ThS.Tăng Thanh Phương Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thị Thủy Lam

MSSV: 5062258

Lớp: Luật Tư pháp 1 Khóa 32

Cần Thơ, Tháng 04 /2010

Trang 2

Qua bốn năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Cần Thơ, tôi đã tích lũy được những kiến thức bổ ích và cần thiết để tiến hành thực hiện tốt luận văn tốt nghiệp của mình Để có được thành quả đó là nhờ công lao và sự giúp đỡ nhiệt tình của tập thể quý thầy cô Khoa Luật đã không quản ngại khó khăn, truyền dạy cho tôi những kiến thức và những kinh nghiệm thực tiển bổ ích, giúp cho tôi có thể hoàn thành tốt khóa học, cũng như cung cấp cho tôi những tri thức cần thiết làm hành trang vào đời

Trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận

được rất nhiều lời động viên và sự nhiệt tình giúp đỡ từ cô Tăng Thanh

Phương, từ các thầy cô thuộc bộ môn Luật Tư pháp và từ tất cả các thầy cô

Khoa Luật

Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn cô Tăng Thanh Phương đã hết lòng

giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này Trân trọng cảm ơn các thầy cô bộ môn Luật Tư pháp và tất cả các thầy cô thuộc Khoa Luật đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có được những tài liệu cần thiết phục vụ cho việc thực hiện tốt luận văn này Trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt của tập thể các thầy cô của Trung tâm học liệu, Thư viện Khoa Luật và xin cảm ơn các bạn sinh viên đặc biệt là các bạn sinh viên lớp Luật Tư pháp 1-k32 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Do thời gian ngắn ngũi và vốn kiến thức còn hạn chế, nên tôi không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự cảm thông và những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn, để tôi có thể hoàn thiện đề tài luận văn của mình Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xin trân trọng!

Cần Thơ, ngày 25 tháng 4 năm 2010 Nguyễn Thị Thủy Lam

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

….………

………

………

………

………

Trang 4

GDĐT: Giao dịch điện tử

BLDS: Bộ luật dân sự

B2B: Mô hình thương mại điện tử Doanh nghiệp với doanh nghiệp B2C: Mô hình thương mại điện tử Doanh nghiệp với Người tiêu dùng IP: Địa chỉ internet

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu của luận văn 4

PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 5

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ VÀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ 5

1.1 Khái quát chung về lược sử phát triển giao dịch điện tử 5

1.2 Khái niệm về hợp đồng điện tử và những đặc trưng cơ bản 6

1.2.1 Định nghĩa hợp đồng điện tử 6

1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng điện tử 7

1.3 So sánh hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống 9

1.3.1 Những điểm giống nhau giữa hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống9 1.3.2 Sự khác nhau giữa hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống 10

1.3.2.1 Sự khác biệt về chủ thể 10

1.3.2.2 Sự khác biệt về quy trình giao kết 11

1.3.2.3 Sự khác biệt về nội dung 13

1.3.2.4 Sự khác biệt về bản gốc và lưu trữ hợp đồng 14

1.3.2.5 Sự khác biệt về luật điều chỉnh 15

1.4 Giao kết hợp đồng điện tử - sự lựa chọn tất yếu của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập và phát triển 16

CHƯƠNG 2 21

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ 21

2.1 Thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử 21

2.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử 24

2.3 Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 25

2.4 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng 29

2.4.1 Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng điện tử 29

Trang 6

2.4.2 Hình thức và nội dung của hợp đồng điện tử 33

2.4.2.1 Hình thức của hợp đồng điện tử 33

2.4.2.2 Nội dung của hợp đồng điện tử 35

2.4.3 Vấn đề lỗi kỹ thuật trong nội dung của hợp đồng điện tử 37

2.4.4 Chữ ký trong hợp dồng điện tử 38

2.5 Giải quyết tranh chấp phát sinh trong giao kết hợp đồng điện tử 46

CHƯƠNG 3 48

NHỮNG TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC PHÁT SINH TRONG THỰC TIỄN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 48

3.1 Giao kết hợp đồng điện tử mang lại nhiều rủi ro cho các chủ thể tham gia giao kết 51

3.1.1 Thực trạng 51

3.1.2 Giải pháp 53

3.2 Vấn đề thay đổi, rút lại hay sữa đổi đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng điện tử chưa được luật quy định một cách rõ ràng 54

3.2.1 Thực trạng 54

3.2.2 Giải pháp 56

3.3 Các quy định về giao kết hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài chưa đầy đủ - các doanh nghiệp gặp khó khăn để mở rộng thị trường 56

3.3.1 Thực trạng 56

3.3.2 Giải pháp 58

3.4 Những quy định hướng dẫn giải quyết tranh chấp phát sinh trong giao kết hợp đồng điện tử chưa cụ thể, chưa rõ ràng 58

3.4.1 Thực trạng 58

3.4.2 Giải pháp 60

PHẦN KẾT LUẬN 64

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nước ta đang trong giai đoạn thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước nhằm đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp văn minh, hiện đại Để thúc đẩy sự phát triển của đất nước thì đòi hỏi nước ta phải tăng cường cải tiến khoa học kỹ thuật và công nghệ Sự bùng nổ của công nghệ thông tin là một trong những tiến bộ vượt bậc của ngành công nghệ thông tin nói riêng và khoa học

kỹ thuật nói chung Công nghệ thông tin ra đời là một trong những công cụ hỗ trợ đắt lực cho các ngành, nghề phát triển trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống

xã hội nói chung và đời sống kinh tế nói riêng Internet ngày càng trở nên quen thuộc với nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội từ học sinh, sinh viên, công nhân, viên chức, đến các doanh nghiệp, tổ chức và cơ quan chính phủ Internet đã xóa bỏ khoảng cách về địa lý và giảm thiểu chi phí về trao đổi thông tin Do đó, internet ngày càng dược ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là ứng dụng nhiều trong kinh doanh Các doanh nghiệp ngày càng ưa chuộng hình thức kinh doanh qua mạng internet, các giao dịch qua mạng cũng được thực hiện nhiều hơn Các hợp đồng được đàm phán và giao kết qua internet, giúp các nhà cung cấp hàng hóa, dịch

vụ và khách hàng tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí Các hợp đồng này được gọi là hợp đồng điện tử

Hợp đồng điện tử là một phương thức giao dịch mới và sẽ được sử dụng phổ biến trong tương lai khi mà công nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển

Hợp đồng điện tử mang lại nhiều lợi ích cho các bên giao kết hợp đồng điện tử

đó là các lợi ích: giảm chi phí giao dịch, tiết kiệm được thời gian giao dịch, tiếp cận thông tin, khách hàng và thị trường một cách nhanh chóng, hiệu quả…Tuy nhiên,

do hợp đồng điện tử là một phương thức giao dịch mới nên bên cạnh những lợi ích

mà hợp đồng điện tử mang lại thì phương thức giao dịch mới này vẫn còn những tồn tại và vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết Cụ thể, những tồn tại, vướng mắc phát sinh đó là:

Thứ nhất, hợp đồng điện tử là một phương thức giao dịch hiện đại mang lại

nhiều lợi ích cho các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng Tuy nhiên, phương thức này cũng mang lại nhiều rủi ro cho các chủ thể mà nếu như thực hiện bằng phương thức truyền thống họ sẽ ít khi gặp phải Các rủi ro mà các bên thường gặp là vấn đề

Trang 8

xác định năng lực của các bên giao kết, chủ yếu là cá nhân, trong môi trường mạng, các bên không hề gặp mặt nhau để giao kết hợp đồng mà tất cả các công đoạn đều thực hiện thông qua hệ thống mạng máy tính toàn cầu, do đó rất khó xác định năng lực giao kết của các bên, làm sao để biết được đối tác của mình có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự hay không? làm sao biết được bên kia có bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự hay không? ngoài ra còn những rủi ro do sự khác biệt về hệ thống pháp luật của các bên giao kết nếu tiến hành giao dịch với đối tác nước ngoài, hay phải chịu những thiệt hại do đơn đặt hàng giả, phải thực hiện những hợp đồng không do mình ký…Tất cả các vấn đề vừa nêu nếu không được giải quyết bằng những quy định phù hợp của pháp luật sẽ đẩy các doanh nghiệp vào những rủi ro khôn lường

Thứ hai, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 chưa có những quy định hướng dẫn

để các bên có thể thay đổi, rút lại hay sữa đổi đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng điện tử của mình Rõ ràng đây là một thiếu sót của Luật Bởi lẻ, ta không thể áp dụng các quy định của pháp luật hợp đồng truyền thống để giải quyết vấn đề này ở hợp đồng điện tử nhất là các hợp đồng được giao kết với chức năng đặt hàng trực tuyến, vì chỉ cần một cái click chuột là hợp đồng được giao kết, không hề có thời gian cho bên đưa ra đề nghị thay đổi, rút lại đề nghị của mình Họ phải thực hiện những hợp đồng không như mong muốn của họ Từ đó, sẽ làm cho các khách hàng không muốn sử dụng phương thức giao kết hợp đồng điện tử nữa do họ không thể thay đổi đề nghị giao kết của mình như mong muốn hoặc nếu vì lý do nào đó họ muốn rút lại đề nghị của mình cũng không thực hiện được Điều này cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của hợp đồng điện tử

Thứ ba, hợp đồng điện tử có đặc điểm là mang tính phi biên giới, các giao dịch

được thực hiện thông qua một hệ thống mạng máy tính toàn cầu nên các cá nhân, thương nhân, tổ chức, doanh nghiệp có thể dễ dàng giao kết hợp đồng điện tử với bất kỳ ai, vào bất cứ thời điểm nào, ở bất cứ nơi đâu, trong nước hay nước ngoài do không còn rào cản biên giới nữa Đối với các hợp đồng điện tử được giao kết giữa các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trong nước thì pháp luật đã có những quy định

cơ bản hướng dẫn trong các văn bản pháp lý hiện hành như Luật Giao dịch điện tử của Việt Nam năm 2005 và các văn bản có liên quan.Vậy còn đối với các hợp đồng điện tử được giao kết với đối tác nước ngoài thì được quy định như thế nào? Hay cụ thể hơn, nếu các chủ thể trong nước giao kết hợp đồng điện tử với các đối tác nước ngoài mà phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết như thế nào? Pháp luật nước nào

sẽ điều chỉnh vấn đề này và cơ quan nào sẽ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp

Trang 9

phát sinh từ hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài? Thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài là bao lâu? Khi mà những quy định về giao kết hợp đồng điện tử với các đối tác nước ngoài chưa được Luật quy định cụ thể

Thứ tư, chưa có những quy định cụ thể hướng dẫn giải quyết tranh chấp phát

sinh trong giao kết hợp đồng điện tử Trong thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng truyền thống cũng như hợp đồng điện tử thì vấn đề tranh chấp giữa các chủ thể của hợp đồng là không thể tránh khỏi Trong thực tiễn, việc giải quyết tranh chấp giữa các bên thường được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc giao kết và thực hiện các hợp đồng truyền thống Nhưng về mặt pháp lý thì chưa có những quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến giao kết hợp đồng điện tử, các quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng điện tử cũng chưa rõ ràng, còn thiếu những quy định về thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng điện tử trong nước

và hợp đồng điện tử có yếu tố nước ngoài Có nhiều vấn đề của hợp đồng điện tử

mà pháp luật hợp đồng truyền thống chưa đề cập đến như thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử do đó, pháp luật cần có những quy định cụ thể hướng dẫn giải quyết tranh chấp phát sinh trong giao kết và thực hiện hợp đồng điện

tử Có như vậy mới tạo dựng được niềm tin cho các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng điện tử ngày càng nhiều hơn

Chính những tồn tại, vướng mắc vừa nêu đã làm hạn chế sự phát triển của hợp đồng điện tử Do đó, một trong những vấn đề quan trọng hiện nay là cần phải tìm hiểu những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết hợp đồng điện tử,

để từ đó đề xuất những biện pháp khắc phục hữu hiệu nhất Có như vậy, mới có thể củng cố niềm tin cho các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng điện tử, góp phần thúc đẩy giao dịch điện tử ngày càng phát triển, mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế

nước nhà trong thời kỳ hội nhập Đó là lý do người viết lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu

về những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao kết hợp đồng điện

tử ở Việt Nam và những giải pháp khắc phục”

2 Mục đích nghiên cứu

- Cung cấp những thông tin cần thiết về hợp đồng điện tử và những quy định

của pháp luật Việt Nam về loại hình giao dịch hiện đại này

- Trên cơ sở phân tích những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn giao

kết hợp đồng điện tử, người viết mong muốn tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất

để khắc phục những tồn tại, vướng mắc đó, đồng thời góp phần hoàn thiện pháp luật

Trang 10

về giao kết hợp đồng điện tử ở Việt Nam, thúc đẩy giao kết hợp đồng điện tử ngày càng phát triển

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, người viết tập trung tìm hiểu và phân tích những vấn đề quan trọng sau đây:

- Thứ nhất là về hợp đồng điện tử nói chung và những đặc trưng cơ bản của nó

- Thứ hai là những quy định của pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng điện

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, người viết sử dung phương pháp nghiên cứu phân tích luật có thu thập tài liệu, tra cứu văn bản, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, nhằm đưa ra những giải pháp về mặt luật học có tính thuyết phục nhất

Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, quy nạp, diễn dịch, trong quá trình trình bày nội dung của luận văn với mong muốn là để tạo cho người đọc sự mạch lạc và dễ hiểu nhất

5 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận,

trong phần nội dung có 3 chương:

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ VÀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ

Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ

Chương 3: NHỮNG TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC PHÁT SINH TRONG THỰC TIỄN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ VÀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

ĐIỆN TỬ

1.1 Khái quát chung về lược sử phát triển giao dịch điện tử

Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử Có thể nói giao dịch điện tử phát triển cùng với sự phát triển của việc ứng dụng công nghệ internet trong cuộc sống hằng ngày Chúng ta sẽ tìm hiểu lịch sử phát triển của các giao dịch điện tử qua những sự kiện nổi bật sau đây:

- Sự kiện đầu tiên đánh dấu sự phát triển của các giao dịch mua bán hàng hóa qua mạng internet là vào năm 1991 khi Tim Berners-Lee đã tạo ra trình duyệt web đầu tiên www Chính sự kiện này đã cho ra đời một phương thức giao dịch thương mại điện tử mới-từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng

- Đến năm 1994 mạng internet được sử dụng rộng rãi Các cá nhân, tổ chức đặc biệt là các doanh nghiệp bắt đầu sử dụng internet và web trong hoạt động kinh doanh Internet trở thành công cụ quan trọng nhất giúp cho các giao dịch mua bán hàng hóa qua mạng ngày càng phát triển Đây cũng là năm ra đời của trình duyệt web Netscape Navigator, với tính năng hỗ trợ "cookies", những tệp dữ liệu nhỏ được lưu trên máy tính của người sử dụng đã tạo điều kiện cho việc tạo những cửa hàng trên Web có khả năng nhận dạng những khách hàng, tập hợp dữ liệu về họ và

cá nhân hóa việc bán hàng để phù hợp với khách hành

- 1995: Amazon.com, do Jeff Bezos thành lập, khai trương cửa hàng bán sách

và âm nhạc trực tuyến Sau đó, Bezos tiếp tục kinh doanh đồ chơi, quần áo, đồ điện

và cả kinh doanh dịch vụ web Amazon.com là nhà tiên phong trong lĩnh vực thương mại điện tử

- 1997 là thời điểm ra đời của công cụ tìm kiếm google.com, mà chỉ vài năm sau đã trở thành công cụ tìm kiếm website hàng đầu thế giới

- Đồng thời tháng 11/1997, internet cũng bắt đầu hoạt động chính thức tại Việt Nam và đến cuối năm 1999 các giao dịch điện tử mà cụ thể là hợp đồng điện tử-một loại hình cơ bản của giao dịch điện tử xuất hiện ở Việt Nam, gắn liền với các sản phẩm như bưởi Năm Roi, áo dài Huế, võng xếp Duy Lợi…

Trang 12

- Đặc biệt đến năm 2004, giao dịch B2B bắt đầu khởi sắc Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã xây dựng website để bán sản phẩm của mình Tuy nhiên, hầu hết các website này mới chỉ dừng lại ở giai đoạn thử nghiệm

- Ngày 29/11/2005, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bỏ phiếu thông qua Luật giao dịch điện tử Chính sự ra đời của Luật Giao dịch điện tử

2005 đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong quá trình xây dựng khung pháp

lý về giao dịch điện tử nói chung và hợp đồng điện tử nói riêng Đây cũng là nền tản giúp cho các giao dịch điện tử và hợp đồng điện tử ngày càng phát triển

1.2 Khái niệm về hợp đồng điện tử và những đặc trưng cơ bản

1.2.1 Định nghĩa hợp đồng điện tử

Hợp đồng điện tử là một loại hình cơ bản của giao dịch điện tử Theo Luật mẫu

về thương mại điện tử của UNCITRAL năm 1996 “ Hợp đồng điện tử được hiểu là hợp đồng được hình thành thông qua việc sử dụng các phương tiện truyền dữ liệu điện tử”1

Ở Việt Nam, hợp đồng điện tử là một thuật ngữ pháp lý chính thức xuất hiện vào năm 2005, sau khi Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bỏ phiếu thông qua Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 định nghĩa “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”2 Theo đó, Khoản 12 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 định nghĩa

“thông điệp dữ liệu được hiểu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ tương tự (Khoản 10 Điều 4 Luật Giao dịch điện

tử năm 2005)

Phân loại hợp đồng điện tử: Luật Giao dịch điện tử năm 2005 cũng như pháp luật một số nước không phân biệt hợp đồng điện tử có tính thương mại (Hợp đồng thương mại điện tử) với hợp đồng không có tính thương mại (Hợp đồng dân sự điện tử) Điều này có nghĩa hợp đồng dù mang tính chất thương mại hay phi thương mại cũng đều có thể thực hiện bằng các phương tiện điện tử

Mặc dù Luật GDĐT năm 2005 chỉ quy định về hợp đồng điện tử nói chung chứ không đề cập thế nào là hợp đồng thương mại điện tử hay thế nào là hợp đồng dân sự điện tử Nhưng chúng ta có thể dựa vào mục đích của giao dịch hay mục đích giao kết hợp đồng để xác định Nếu trong một giao dịch mà các chủ thể tiến hành giao dịch đều nhằm mục đích sinh lời, nhằm mục đích thu lợi nhuận là hợp

Trang 13

đồng thương mại điện tử Còn giao dịch mà các bên chủ thể tiến hành giao dịch đều nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu hằng ngày của họ và mang tính phi lợi nhuận là hợp đồng dân sự điện tử Còn giao dịch mà trong đó chỉ có một bên là nhằm mục đích thu lợi nhuận, còn bên kia tiến hành giao dịch là để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt thì gọi là giao dịch hỗn hợp3

Hợp đồng điện tử dù là thương mại hay phi thương mại thì xét về bản chất, hợp đồng điện tử cũng là sự thỏa thận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên, cũng có những nội dung cơ bản như các hợp đồng truyền thống Hợp đồng điện tử khác với hợp đồng truyền thống ở cách thức giao kết, đó là giao kết thông qua các phương tiện điện tử Sự khác biệt này khiến cho hợp đồng điện tử mang những đặc điểm riêng biệt so với hợp đồng truyền thống

1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng điện tử

Do hợp đồng điện tử là một phương thức giao dịch mới, được giao kết thông qua các phương tiện điện tử nên hợp đồng điện tử có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất là tính phi biên giới: Đối với các giao dịch được thực hiện theo phương thức truyền thống nhất là các giao dịch với các đối tác ở xa (đối tác nước ngoài), các bên thường phải gặp mặt nhau tại một địa điểm đã thỏa thuận vào một thời điểm nhất định để tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng cho nên để ký kết được một hợp đồng các bên phải mất rất nhiều thời gian và tốn kém một số lượng lớn chi phí giao dịch do bị ngăn cách bởi yếu tố biên giới, từ đó làm giảm số lượng hợp đồng được giao kết

Còn đối với các giao dịch điện tử dù mang tính thương mại hay phi thương mại đều được thực hiện bằng việc truyền các thông tin, dữ liệu thông qua một hệ thống mạng máy tính toàn cầu (www) Chính hệ thống mạng này giúp cho các giao dịch trong phạm vi quốc tế được thực hiện một cách dễ dàng do không còn rào cản biên giới nữa Hợp đồng điện tử là một loại hình cơ bản của giao dịch điện tử nên cũng mang đặc điểm này

Chính đặc điểm này đã mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp như tìm kiếm được nhiều đối tác hơn, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bởi vì, một thương nhân, hay tổ chức dù họ đang ở đâu, dù ở các địa phương khác nhau trong nước hay ngoài nước, dù vào bất cứ thời điểm nào cũng có thể giao dịch với

3

Ths Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình luật thương mại cơ bản, tháng 11/2006

Trang 14

đối tác của mình một cách dễ dàng do không còn bị ngăn cách bởi yếu tố biên giới giống như việc giao kết các hợp đồng truyền thống

Tuy nhiên, tính phi biên giới này cũng mang lại nhiều khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan đến địa điểm giao kết hợp đồng điện tử Bởi

vì việc xác định vị trí, địa điểm mà thương nhân này tiến hành giao dịch trở nên khó khăn hơn so với hợp đồng truyền thống, thậm chí đôi khi không thể thực hiện được nếu thương nhân này tiến hành giao kết với thương nhân nước ngoài

Thứ hai là tính vô hình, phi vật chất: Hợp đồng điện tử là một hợp đồng có thực trong thực tế nhưng lại tồn trong môi trường ảo, môi trường số hóa nên nó mang tính vô hình, phi vật chất nghĩa là hợp đồng tồn tại, được chứng minh, được lưu trữ bởi các dữ liệu điện tử, các thông số kỹ thuật chứ không thể cầm nắm, sờ mó một cách vật chất được giống như các loại hợp đồng truyền thống

Đặc điểm này làm cho việc xác định một số yếu tố của hợp đồng như vấn đề bản gốc, chữ ký hay vấn đề bằng chứng của hợp đồng để làm cơ sở pháp lý khi tranh tụng trước tòa…sẽ khác xa so với hợp đồng truyền thống Bởi lẻ, sau khi giao kết hợp đồng theo phương thức truyền thống, hợp đồng sẽ được chia thành các bản gốc bằng giấy trắng mực đen cho các bên giữ nhằm làm bằng chứng trước tòa khi

có tranh chấp xảy ra, việc sửa đổi các hợp đồng này là rất khó, chỉ cần một vất tẩy xóa nhỏ là bị phát hiện ngay, còn chữ ký trong hợp đồng là chữ ký tay do hai bên trực tiếp ký vào văn bản có sự chứng kiến của cả hai bên nên ta không cần nghi ngờ

về giá trị pháp lý của chữ ký này, ở đây ta không tính đến trường hợp ký sai thẩm quyền Còn đối với các hợp đồng điện tử, do hợp đồng điện tử chỉ là các file dữ liệu tồn tại trong môi trường ảo cho nên việc sửa đổi là rất dễ dàng nếu như các chủ thể không chân thật, hoặc nếu khâu bảo mật không tốt thì người thứ ba cũng dễ dàng đột nhập để sửa đổi, điều này gây khó khăn trong việc xác định bằng chứng của hợp đồng khi có tranh chấp phát sinh, bên cạnh đó chữ ký trong hợp đồng điện tử thật chất chỉ là những dữ liệu được số hóa cho nên nếu khâu bảo mật không tốt sẽ rất dễ

bị giả mạo, do đó cần đảm bảo sao cho chữ ký điện tử được sử dụng là an toàn nhằm đảm bảo cho hợp đồng được giao kết an toàn là vấn đề vô cùng quan trọng Thứ tư là tính hiện đại: Các hợp đồng điện tử được giao kết bằng việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, các công nghệ điện tử hiện đại, từ tính, quang học, các công nghệ truyền dẫn không dây…là kết quả của sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại nên hợp đồng điện tử mang tính hiện đại Việc giao kết các hợp đồng thông qua việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại sẽ là một phương thức giao dịch mới, nhanh chóng, tiện lợi và hiệu quả

Trang 15

dành cho cho các chủ thể pháp luật nói chung và doanh nghiệp nói riêng trong nền kinh tế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Thứ tư là tính rủi ro: Sử dụng hợp đồng điện tử là cách thức giúp giảm chi phí giao dịch, tiết kiệm được thời gian, phản ánh nhanh nhẹn trước những diễn biến của thị trường Tuy nhiên, khi giao kết hợp đồng điện tử các bên cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro do tính vô hình, phi biên giới và hiện đại của hợp đồng điện tử mang lại

Như đã nói ở trên, hợp đồng điện tử tuy là có thực nhưng lại tồn tại trong một môi trường ảo Trong một môi trường ảo như vậy, việc xác định năng lực giao kết của các bên, xác định xem đơn đặt hàng trên mạng là thật hay giả nhiều khi rất khó khăn Bên cạnh đó, do tính vô hình của hợp đồng điện tử làm cho việc lưu trữ hợp đồng nhằm đảm bảo bằng chứng về hợp đồng cũng là điều không đơn giản Hơn thế nữa, khi mà khoa học kỹ thuật và công nghệ càng hiện đại thì các hành vi xâm nhập, tấn công, chống phá ngày càng tin vi, vậy làm thế nào để bảo mật hợp đồng điện tử, làm thế nào để hạn chế sự tấn công, chống phá của các hacker…Đó là những rủi ro các bên có thể gặp phải khi giao kết hợp đồng điện tử

Xét về bản chất, hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống đều là hợp đồng, đều có sự thống nhất ý chí giữa các bên Do đó, chúng có những điểm chung giống nhau và cả những điểm khác biệt do sự khác nhau về đặc điểm của hai loại hợp đồng này mang lại

1.3.1 Những điểm giống nhau giữa hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống:

+ Như đã nói hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống đều là hợp đồng, đều

có sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên (Điều 388 BLDS 2005) Vì vậy, một hợp đồng dù được giao kết dưới bất cứ hình thức nào, bằng lời nói, văn bản, hành động hay bằng phương tiện điện tử thì điều kiện quan trọng nhất để hình thành nên hợp đồng là các bên phải đạt được sự thỏa thuận, một sự thỏa thuận rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ

Trang 16

đối với nhau Sự thống nhất ý chí giữa các bên đương sự là điều kiện quan trọng nhất làm nên hợp đồng dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử

+ Thứ hai là cả hai loại hợp đồng khi giao kết và thực hiện đều phải tuân thủ những quy định chung của pháp luật về hợp đồng Đó là các quy định về hình thức, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, các quy định về quy trình giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng

+ Thứ ba, cả hai loại hợp đồng đều phải tuân thủ hai nguyên tắc khi giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 389 BLDS 2005):

* Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái các quy định của pháp luật

* Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng

+ Thứ tư là cả hai loại hợp đồng đều phải tuân thủ những nguyên tắc về việc thực hiện hợp đồng theo Điều 412 BLDS 2005

* Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thỏa thuận khác

* Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau

* Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

1.3.2 Sự khác nhau giữa hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống:

Bên cạnh những điểm giống nhau như đã phân tích ở trên Hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống cũng có những điểm khác biệt nhất định Bởi vì hợp đồng điện tử là một phương thức giao dịch hiện đại thông qua các phương tiện điện tử với nhiều đặc điểm đặc thù như tính phi biên giới, tính vô hình, phi vật chất…Chính điều này đã làm cho hợp đồng điện tử mang nhiều điểm khác biệt so với hợp đồng truyền thống Nhiều quy định áp dụng cho hợp đồng truyền thống như quy định về hình thức viết, về chữ ký tay, về bằng chứng của hợp đồng…trở nên không phù hợp đối với hợp đồng điện tử Cho nên nhiều quốc gia trên thế giới đã soạn thảo ra những hợp đồng điện tử mẫu Những hợp đồng điện tử mẫu này về mặt nội dung cũng như về mặt pháp lý đều có những điểm khác biệt so với hợp đồng truyền thống Cụ thể là những điểm khác biệt sau đây:

1.3.2.1 Sự khác biệt về chủ thể:

Trong giao kết hợp đồng điện tử, ngoài các bên tham gia giao kết mà một hợp đồng nào cũng cần phải có là bên bán, bên mua…thì còn xuất hiện một chủ thể khác liên quan mật thiết, đóng vai trò quan trọng đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng:

Trang 17

Đó là các tổ chức cung cấp dịch vụ mạng và tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử4 Các tổ chức này thực hiên việc gửi, lưu trữ thông điệp dữ liệu giữa các bên tham gia giao kết hợp đồng điện tử, cung cấp những thông tin cần thiết để xác nhận độ tin cậy của thông điệp dữ liệu trong giao kết hợp đồng điện tử

Như ta đã biết, hợp đồng điện tử tồn tại trong một môi trường ảo, một môi trường nhân tạo, được giao kết dưới dạng phi giấy tờ, môi trường này không phải tự nhiên mà có mà nó được tạo ra bởi chính các tổ chức cung cấp dịch vụ mạng Việc giao kết hợp đồng điện tử sẽ gặp rủi ro nếu không có các nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực chữ ký điện tử Các nhà cung cấp dịch vụ mạng có trách nhiệm duy trì hệ thống mạng luôn ở trong tình trạng hoạt động tốt với cơ chế 24/24 giờ Hệ thống mạng trục trặc sẽ lập tức ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng điện tử ở phạm vi từng đơn vị, doanh nghiệp…cũng như ở phạm vi quốc gia và làm cho các chủ thể kinh doanh mất đi nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh

Bên cạnh đó, hợp đồng điện tử tồn tại trong một môi trường ảo, mang tính chất

vô hình, phi vật chất nên cần có sự tồn tại của các cơ quan chứng thực chữ ký điện

tử nhằm đảm bảo sao cho các hợp đồng điện tử không thể bị giả mạo và phủ nhận khi có tranh chấp xảy ra, sao cho các chữ ký điện tử được sử dụng trong khâu ký kết hợp đồng đúng là của chủ thể đã đăng ký sử dụng nó Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc có hiệu lực của hợp đồng

Chính vì vậy, có thể nói rằng tuy chủ thể thứ ba này không tham gia vào quá trình đàm phán, ký kết hay thực hiện hợp đồng mà chỉ đóng vai trò là các cơ quan

hỗ trợ nhằm đảm bảo tính hiệu quả và giá trị pháp lý cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử Do đó, việc xác định địa vị pháp lý của họ là vô cùng quan trọng,

họ có được coi là một chủ thể của hợp đồng hay không sẽ làm nên sự khác biệt trong việc giao kết hợp đồng điện tử so với hợp đồng truyền thống

1.3.2.2 Sự khác biệt về quy trình giao kết:

Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa hợp đồng điện tử và hợp đồng truyền thống Một hợp đồng truyền thống được soạn thảo dưới hình thức văn bản thường được giao kết bằng cách hai bên gặp gỡ trực tiếp tại một địa điểm vào một thời điểm đã định sẵn để thỏa thuận về các điều khoản của hợp đồng hoặc trao đổi với

Trang 18

nhau các tài liệu giao dịch và trực tiếp ký vào hợp đồng bằng chữ ký tay sau khi các bên đã đạt được sự thống nhất ý chí về quyền và nghĩa vụ của các bên

Còn đối với giao kết hợp đồng điện tử, các bên giao tiếp với nhau trong một môi trường ảo, phi giấy tờ ở bất cứ đâu và vào bất cứ thời điểm nào có máy tính nối mạng đều có thể truy cập để gửi hoặc nhận một đề nghị hay chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dưới dạng thông điệp dữ liệu

Do đó, việc xác định thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng sẽ trở nên khó

khăn hơn so với hợp đồng được giao kết theo phương thức truyền thống Bởi lẻ, thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng điện tử có những khác biệt nhất định so với thời gian và địa điểm giao kết hợp đồng truyền thống, cụ thể là:

– Sự khác biệt về thời gian: Thời gian ở đây được hiểu là thời điểm giao kết hợp đồng Dù là hợp đồng điện tử hay hợp đồng truyền thống thì vẫn phải tuân thủ những quy định về đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng(chào hàng và chấp nhận chào hàng) Tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử việc gửi và nhận một chào hàng dưới hình thức trao đổi thông điệp dữ liệu rất khác so với việc gửi và nhận một chào hàng theo phương thức truyền thống Trong giao kết hợp đồng điện

tử, đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là những thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử, cho nên quá trình này thường không có sự can thiệp trực tiếp của con người Chính vì vậy đã dẫn đến một

số khó khăn trong việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng Thời điểm giao kết hợp đồng là yếu tố quan trong để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng khi không có một thỏa thuận nào khác của các bên Vậy khi nào một hợp đồng điện tử được coi là đã giao kết Dù áp dụng thuyết tống phát hay thuyết tiếp thu thì cũng cần phải xác định thời điểm gửi và nhận một thông điệp dữ liệu5 Vấn đề là thời gian cho việc truyền gửi các dữ liệu trên mạng nếu không có gì trục trặc thì gần như là ngay lập tức, thế nhưng không phải lúc nào người gửi và người nhận một chào hàng hay chấp nhận chào hàng đều cùng kết nối mạng để có thể nhận và đọc lời chào hàng hay chấp nhận chào hàng ngay cùng một thời điểm, nhất là trong các giao dịch với các đối tác nước ngoài, có sự chênh lệch về múi giờ, đôi khi giờ làm việc của bên này là giờ nghỉ của bên kia, lúc này việc xác định thời điểm hợp đồng được giao kết sẽ rất khó khăn và phức tạp

Trang 19

– Khó khăn tương tự cũng sẽ phát sinh khi xác định địa điểm giao kết hợp đồng Địa điểm giao kết hợp đồng là một trong những căn cứ để xác định luật điều chỉnh trong các giao dịch quốc tế Do đặc điểm của hợp đồng điện tử là mang tính phi biên giới cho nên các chủ thể chỉ cần có chiếc máy tính nối mạng thì dù ở đâu cũng có thể tiến hành giao dịch, trao đổi thông tin, đàm phán và ký kết hợp đồng với các đối tác của mình ở những nơi khác nhau Vậy địa điểm gửi và nhận một chào hàng hay chấp nhận chào hàng và địa điểm giao kết hợp đồng sẽ được xác định là ở đâu? Ở nơi các bên đóng trụ sở hay ở nơi các bên có đang có mặt thực sự lúc tiến hành ký kết hợp đồng? Và khi đã xác định được một địa điểm như vậy thì chuyện gì sẽ xảy ra nếu các bên có tranh chấp , luật nào sẽ được áp dụng nếu nơi đó hoàn toàn không có mối liên hệ mật thiết với các chủ thể tham gia, với nơi phát sinh nghĩa vụ hay với nơi thực hiện nghĩa vụ

1.3.2.3 Sự khác biệt về nội dung:

* Địa chỉ pháp lý: Bên cạnh địa chỉ pháp lý thông thường là địa chỉ nơi cư trú

của các chủ thể giao kết nếu chủ thể là cá nhân, là nơi đặt trụ sở chính hoặc nơi đăng ký kinh doanh nếu các bên chủ thể là doanh nghiệp, tổ chức, các hợp đồng điện tử còn có địa chỉ email, địa chỉ website, địa chỉ xác định nơi, ngày gửi Fax…Những địa chỉ điện tử này có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định tính hiện hữu, sự tồn tại thật sự của các chủ thể giao kết hợp đồng điện tử

* Các quy định về quyền truy cập, cải chính thông tin điện tử (như việc thu hồi

hay hủy một đề nghị giao kết hợp đồng trên mạng internet…)

* Các quy định về chữ ký điện tử:

Trong giao kết các hợp đồng bằng văn bản theo phương thức truyền thống thì thường phải có chữ ký của các bên nhằm xác định sự đồng ý của các bên đối với những thỏa thuận trong hợp đồng Chữ ký trong các hợp đồng truyền thống là chữ

ký tay, do hai bên trực tiếp ký vào văn bản Chữ ký này dùng để xác định tác giả của văn bản và thể hiện sự chấp nhận của tác giả đối với nội dung thông tin chứa trong văn bản

Còn đối với hợp đồng điện tử, do hợp đồng điện tử thực chất chỉ là những thông điệp dữ liệu tồn tại trong môi trường ảo, môi trường điện tử nên các bên không thể dùng bút mực trực tiếp ký vào văn bản mà phải sử dụng một chữ ký đặc biệt đó là chữ ký điện tử Chữ ký điện tử dùng để xác định bên ký kết văn bản điện

tử và chỉ rỏ sự chấp thuận của bên ký kết về nội dung các thông tin trong văn bản điện tử đó

Giữa chữ ký truyền thống và chữ ký điện tử có một số khác biệt về chức năng:

Trang 20

- Chữ ký truyền thồng (chữ ký tay) có một chức năng rất quan trong do đặc điểm của văn bản giấy mang lại Chữ ký là bằng chứng chứng minh sự hiện diện của một chủ thể tại thời gian và địa điểm ký vào văn bản

- Còn chữ ký điện tử thì khác Do sự hiện diện của khoa học kỹ thuật, các chủ thể có thể lập trình sẵn một chương trình để trả lời hay ký kết các giao dịch nhất định Do đó, không cần có sự hiện diện của các chủ thể thì hệ thống vẫn hoạt động bình thường, vẫn ký vào văn bản điện tử và ràng buộc chủ thể đó Chữ ký điện tử bao gồm: chữ ký điện tử thông thường và chữ ký điện tử được chứng thực bởi tổ chức chứng thực chữ ký điện tử (chữ ký điện tử an toàn)

Điểm khác biệt thứ hai là việc đảm bảo giá trị pháp lý của chữ ký điện tử Trong giao kết hợp đồng truyền thống, việc ký kết hợp đồng được thực hiện với sự hiện diện của cả hai bên tham gia giao kết, các bên trực tiếp ký vào văn bản bằng chữ ký tay nên không cần nghi ngờ về giá trị pháp lý của chữ ký này ( ở đây ta không nhắc đến những trường hợp ký sai thẩm quyền) Còn đối với việc ký kết các hợp đồng điện tử thì khác Khi sử dụng chữ ký điện tử người ta còn phải chú ý đến những yêu cầu về mặt công nghệ, vì thực chất chữ ký điện tử chỉ là những dữ liệu được số hóa, vì vậy cần phải đảm bảo sao cho chữ ký điện tử được sử dụng đó là an toàn, vẫn nằm trong tằm kiểm soát của người sử dụng và thể hiện ý chí rõ ràng của các bên về nội dung thông tin trong văn bản điện tử Cho nên việc nhận dạng chữ ký điện tử là vấn đề vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng điện tử được an toàn

* Việc thanh toán trong các hợp đồng điện tử cũng thường được thực hiện

thông qua các phương tiện điện tử Vì vậy, trong hợp đồng điện tử thường có những

quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử như thanh toán bằng thẻ tín dụng, việc bảo mật thông tin liên quan đến thẻ tín dụng cho khách hàng

1.3.2.4 Sự khác biệt về bản gốc và lưu trữ hợp đồng

Đối với các hợp đồng truyền thống thì thông thường ở cuối hợp đồng sẽ có thêm điều khoản quy định về bản gốc và lưu trữ hợp đồng như: “Hợp đồng này được chia làm bốn bản có giá trị ngang nhau, mỗi bên giữ hai bản”6 Việc chia thành bốn bản gốc cho hai bên giữ sẽ đảm bảo cho hợp đồng không bị sửa đổi Nếu

có tranh chấp xảy ra, các bên chỉ việc trình cho cơ quan có thẩm quyền bản gốc mà mình đang giữ để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng hoặc trong trường hợp cần giải quyết tranh chấp liên quan đến việc các bên không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo đúng những thỏa thuận trong hợp đồng

6

GS.TS Nguyễn Thị Mơ, Cẩm nang pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử, NXB Lao Động-Xã Hội, Hà Nội năm 2006

Trang 21

Tuy nhiên đối với hợp đồng điện tử không thể làm như vậy được Bởi vì hợp đồng điện tử chỉ là những thông tin dữ liệu đã được số hóa tồn tại trong môi trường

ảo, không thể cầm nắm hay sờ mó được, mang tính chất phi giấy tờ nên không thể chia thành nhiều bản gốc cho các bên giữ nhằm đảm bảo cho hợp đồng không bị sửa đổi giống như đối với các hợp đồng truyền thống Các hợp đồng điện tử sẽ được lưu trữ trong hệ thống thông tin của các bên giao kết, chỉ cần khâu bảo mật và bảo vệ không tốt là những hợp đồng này sẽ bị một trong các bên hoặc một người thứ ba sửa đổi một cách dễ dàng hơn rất nhiều so với hợp đồng thông thường Trong trường hợp này việc xác định một bản gốc của hợp đồng nhằm đảm bảo bằng chứng về hợp đồng điện tử khi có tranh chấp phát sinh là một vấn đề khó khăn và phức tạp không những đòi hỏi tinh thần trung thực, ý thức tự giác của các bên mà còn đòi hỏi phải

có sự kết hợp chặt chẽ giữa vấn đề kỹ thuật và vấn đề pháp lý để có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể

1.3.2.5 Sự khác biệt về luật điều chỉnh:

Quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử ngoài việc phải tuân thủ các quy định pháp luật về hợp đồng nói chung, còn chịu sự điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật đặc thù dành riêng cho hợp đồng điện tử Bởi lẻ, có những vấn đề đặc thù phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử mà pháp luật hợp đồng truyền thống chưa đề cập đến như thông điệp dữ liệu, trao đổi dữ liệu điện tử, chữ ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử…do đó, không thể áp dụng những quy định của pháp luật truyền thống để giải quyết các vấn đề phát sinh chỉ có ở hợp đồng điện tử Điều đó lý giải vì sao để phát triển giao dịch điện tử nói chung và giao kết hợp đồng điện tử nói riêng các tổ chức quốc tế và nhiều nước trên thế giới đều xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các giao dịch được tiến hành bằng các phương tiện điện tử Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới bên cạnh các đạo luật về hợp đồng truyền thống, người ta phải ban hành Luật giao dịch điện tử, Luật về thương mại điện tử, Luật về chữ ký điện tử…việc ban hành các đạo luật này sẽ có tác dụng đem lại niềm tin cho các bên tham gia giao kết hợp đồng điện tử, từ đó kích thích các bên tham gia giao kết hợp đồng điện tử nhiều hơn

và với giá trị giao dịch cao hơn Đồng thời việc ban hành các quy định pháp luật dành riêng cho hợp đồng điện tử còn góp phần tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc giao kết hợp đồng điện tử

Trang 22

1.4 Giao kết hợp đồng điện tử - sự lựa chọn tất yếu của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập và phát triển

Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì đòi hỏi các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp trong nước không thể chỉ bó hẹp phạm vi kinh doanh trong nước mà phải chủ động hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực Tuy nhiên, một thách thức lớn mà họ gặp phải trong tiến trình hội nhập đó chính là việc mở rộng thị trường, tiếp xúc và giao dịch với nhiều bạn hàng trong phạm vi quốc gia cũng như trong phạm vi quốc tế Lúc này các phương thức giao dịch truyền thống sẽ không còn phù hợp nữa Bởi lẻ, các giao dịch truyền thống nói chung và giao kết hợp đồng theo phương thức truyền thống nói riêng có nhược điểm là bị giới hạn bởi khoảng cách không gian, để tiến hành được các giao dịch với các đối tác ở xa nhất là với đối tác nước ngoài thì phải tốn rất nhiều thời gian và chi phí giao dịch, chưa kể đến việc bất đồng ngôn ngữ, chênh lệch về múi giờ Chính vì lẻ đó, đã làm cho số lượng hợp đồng được giao kết của các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp bị giới hạn và khó khăn sẽ càng lớn hơn khi mà trong cùng một lúc các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp phải làm việc với nhiều đối tác ở các thị trường khác nhau, với các múi giờ khác nhau Do đó, để giải quyết các vấn đề vừa nêu đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, khoa học kỹ thuật và công nghệ đã cho ra đời một phương thức giao dịch hiện đại-hợp đồng điện tử Việc sử dụng hợp đồng điện tử mang lại rất nhiều lợi ích cho các chủ thể, cụ thể là những lợi ích sau đây:

- Một là, sử dụng hợp đồng điện tử giúp các bên tiết kiệm được thời gian tìm kiếm đối tác, đàm phán và giao kết hợp đồng

Quá trình giao kết hợp đồng bao gồm nhiều công đoạn từ việc tìm hiểu thị trường, tìm kiếm đối tác, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ, gửi chào hàng, gửi trả lời chấp nhận chào hàng, tiến hành đàm phán các điều khoản của hợp đồng, ký kết hợp đồng, sửa đổi, lưu trữ hợp đồng…trước khi hợp đồng điện tử ra đời thì tất cả các công đoạn này được thực hiện theo phương thức truyền thống trên giấy trắng mực đen cho nên thời gian để giao kết được một hợp đồng là không ngắn, trong đó có những khâu mà thời gian bị lãng phí một cách vô ích như giai đoạn gửi chào hàng

và chấp nhận chào hàng cho đối tác ở xa (đối tác nước ngoài), cứ cho rằng đối tác nước ngoài này khi nhận được thư chào hàng lập tức gửi trả thời chấp nhận thì thời gian gửi trả lời chấp nhận chào hàng thông qua phương thức truyền thống là đường bưu điện như trước đây thì cũng phải mất năm đến mười ngày, đó là chưa kể đến việc đối tác còn phải suy nghĩ về lời chào hàng rồi sau đó mới trả lời chấp nhận thì còn mất nhiều thời gian hơn Nhưng khi hợp đồng điện tử ra đời thì tất cả các công

Trang 23

đoạn này đều được thực hiện trên một hệ thống mạng máy tính toàn cầu, chính việc giao kết hợp đồng thông qua mạng internet đã giúp cho các bên tiết kiệm được rất nhiều thời gian, theo thống kê cho thấy 80% thời gian để ký kết hợp đồng sẽ được tiết kiệm nếu sử dụng hợp đồng điện tử Việc sử dụng internet sẽ giúp người tiêu dùng, giúp các bên giao kết, kể cả nếu bên giao kết là doanh nghiệp, giảm đáng kể thời gian giao dịch, thời gian giao dịch qua mạng chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, bằng khoảng 0,5% thời gian giao dịch qua bưu điện7

- Hai là sử dụng hợp đồng điện tử giúp các doanh nghiệp giảm được chi phí giao dịch, bán hàng

Hợp đồng điện tử ra đời là kết quả của sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin Hợp đồng điện tử là một phương thức giao dịch mới mẽ thông qua các phương tiện điện tử Chỉ cần một máy tính có nối mạng thì một nhà kinh doanh

có thể ngồi tại văn phòng của mình thậm chí ngồi tại nhà riêng vẫn có thể giao dịch cùng lúc với nhiều khách hàng, giao kết được nhiều hợp đồng với nhiều đối tác ở nhiều nơi khác nhau Điều này không thể có được đối với các hình thức giao kết hợp đồng truyền thống Bằng việc giao kết hợp đồng thông qua mạng internet giúp các bên tiết kiệm được thời gian giao kết hợp đồng, đồng thời cũng tiết kiệm tiết kiệm được chi phí để thực hiện điều đó

+ Đầu tiên là tiết kiệm được chi phí giao dịch Chi phí giao dịch qua Internet chỉ bằng 5% chi phí giao dịch qua Fax hay qua bưu điện chuyển phát nhanh; chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng 10%-20% chi phí thanh toán theo lối thông thường8

Việc sử dụng internet giúp giảm thiểu các cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng trong việc giới thiệu, trao đổi thông tin về hàng hóa và ký kết hợp đồng giúp tiết kiệm một lượng lớn chi phí đi lại và các chi phí phát sinh như ăn, ở…nhất là đối với các giao dịch với đối tác nước ngoài Bên cạnh đó, việc sử dụng thư điện tử, hội thảo qua video, thảo luận trên mạng internet trở nên dễ sử dụng hơn

và rẻ hơn rất nhiều đối với các đối tác ở xa nhau và cần phải phải trao đổi nhiều lần với nhau, so với việc sử dụng điện thoại, Fax và gửi thư thông thường

+ Tiếp theo là giúp tiết kiệm được chi phí giấy tờ do tất cả các thông tin đều được truyền tải trên mạng mà không cần thể hiện dưới bất cứ hình thức giấy tờ nào Đồng thời, việc sử dụng hợp đồng điện tử còn giúp giảm được nhiều chi phí lưu trữ

và bảo quản vì các hợp đồng điện tử về mặt kỹ thuật chỉ là các file thông tin dữ liệu

Trang 24

cho nên việc lưu trữ sẽ dễ dàng, gọn nhẹ và tiện lợi hơn rất nhiều so với các hợp đồng bằng giấy trắng mực đen

- Ba là việc sử dụng hợp đồng điện tử sẽ đẩy nhanh tiến độ số hóa đối với việc mua bán một số sản phẩm và dịch vụ

+ Thứ nhất là đối với các giao dịch buôn bán hàng hóa vật chất và dịch vụ thông thường Trong nhóm này, internet sẽ được sử dụng trong các khâu từ chào hàng, chấp nhận chào hàng, giao kết hợp đồng, thậm chí cả thanh toán Nhưng việc giao hàng hóa và dịch vụ tới khách hàng vẫn phải thực hiện bằng các phương tiện truyền thống do những hàng hóa và dịch vụ này là hữu hình không thể giao qua mạng được

Các giao dịch buôn bán thuộc nhóm này có sự kết hợp giữa giao dịch truyền thống và giao dịch điện tử Chính sự kết hợp này đã tạo ra những ưu việt và thuận lợi cho một quy trình giao dịch điện tử nói chung và giao kết hợp đồng điện tử nói riêng ở vào giai đoạn chuyển đổi từ giao dịch truyền thống sang giao dịch điện tử Các giao dịch này phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi chưa đủ điều kiện

và khả năng thực hiện toàn bộ quy trình giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện

tử Phương thức này cũng phù hợp với các nước nghèo và các nước đang phát triển trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và khu vực như hiện nay

+ Thứ hai là giao dịch buôn bán các sản phẩm và dịch vụ số hóa Các sản phẩm này là những sản phẩm phi vật thể như các chương trình phần mềm, các website nhạc, phim, truyện, sách, báo điện tử…Trong nhóm này, internet được sử dụng trong tất cả các khâu từ việc giao dịch, thực hiện giao kết hợp đồng, thanh toán và cung ứng hàng hóa, dịch vụ đều được thực hiện thông qua việc truyền các thông điệp dữ liệu đã được số hóa Toàn bộ quá trình giao dịch đều được thực hiện theo quy trình điện tử một cách toàn diện Bởi lẻ, đặc điểm của các sản phẩm và dịch vụ thuộc nhóm này là có thể giao hàng qua mạng Thực chất của việc mua bán các sản phẩm và dịch vụ thuộc nhóm này là trao đổi dung liệu hàng hóa

Trước đây, dung liệu được trao đổi dưới dạng hiện vật bằng cách đưa vào băng, đĩa, in thành sách báo phục vụ cho những người có nhu cầu sử dụng

Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin, dung liệu được số hóa và truyền gửi qua mạng Các loại sách báo tồn tại dưới dạng file và được đưa lên web gọi là sách, báo điện tử Các chương trình phát thanh, truyền hình, nhạc, phim, kể chuyện…cũng được số hóa, truyền tải qua internet, người sử dụng chỉ cần tải xuống

sử dụng thông qua màn hình và thiết bị âm thanh của máy tính điện tử Đây là

Trang 25

những sản phẩm mới và sẽ ngày càng thu hút nhiều người sử dụng khi mà xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ

Tóm lại, đối với việc giao dịch mua bán các sản phẩm đặc thù này thì hợp đồng điện tử sẽ là phương thức phù hợp, tiện lợi và nhanh chóng nhất

- Bốn là sử dụng hợp đồng điện tử giúp các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp muốn phát triển và vươn ra thế giới thì phải đổi mới phương thức kinh doanh sao cho nhanh chóng, gọn nhẹ, tiết kiệm được thời gian, chi phí mà vẫn đạt được hiệu quả cao Vì vậy, hợp đồng điện tử ra đời sẽ là chiếc chìa khóa dẫn các doanh nghiệp đến với những cơ hội, thách thức cũng như đưa tới khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Bởi lẻ, hợp đồng điện tử là phương thức giúp các doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, khách hàng một cách nhanh chóng Với sự hiện đại của phương thức giao kết hợp đồng điện tử, các doanh nghiệp trong cùng một lúc và trong một thời gian ngắn

có thể tiếp cận, giao dịch, trao đổi thông tin với rất nhiều đối tác Thông qua sự kết nối điện tử, các doanh nghiệp dù ở đâu cũng có thể liên lạc với các nhà cung cấp và khách hàng của mình một cách nhanh chóng, hiệu quả, cho dù họ ở những nước khác nhau, thậm chí múi giờ và ngôn ngữ khác nhau mà không phải tốn kém nhiều chi phí đi lại giao dịch

Giao kết hợp đồng điện tử thông qua mạng internet sẽ giúp cho các chủ thể dù

họ là ai? Doanh nghiệp, cơ quan chính phủ, người tiêu dùng, dù họ ở đâu? Trong nước hay ngoài nước vẫn có thể giao tiếp trực tiếp với nhau mà không bị cản trở bởi khoảng cách về thời gian, địa lý…Điều này, tạo điều kiện cho các chủ thể giao kết hợp đồng tận dụng tối đa cơ hội hợp tác kinh doanh với nhiều đối tác khác nhau trong phạm vi một nước cũng như khu vực và thế giới

Nói tóm lại, việc sử dụng hợp đồng điện tử giúp tiết kiệm thời gian và chi phí giao dịch, ký kết hợp đồng như đã phân tích ở trên là yếu tố quan trọng làm giảm chi phí kinh doanh từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

Hơn thế nữa, trong môi trường điện tử, thông tin được truyền gửi từ người khởi tạo và người nhận hầu như là ngay lập tức Chính điều này giúp cho các chủ thể kinh doanh có thể tiếp cận và nắm bắt một cách kịp thời những cơ hội kinh doanh mới, ký kết được những hợp đồng một cách nhanh chóng nhờ vào phương tiện điện

tử

Trang 26

Qua những phân tích vừa nêu đã cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc giao kết hợp đồng điện tử Tuy nhiên, không phải vì vậy mà chúng ta phủ nhận tầm quan trọng của hợp đồng truyền thống Bởi vì không phải ai cũng mạnh dạng sử dụng loại hình giao dịch mới như hợp đồng điện tử, có những khách hàng, các nhà kinh doanh chưa hiểu, chưa quen, chưa tin tưởng vào phương thức giao kết hợp đồng điện tử hoặc có những thị trường chưa có khung pháp lý tốt nhất đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng điện tử không xảy ra rủi ro và không gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia giao kết, thì đối với họ hợp đồng truyền thống vẫn là sự lựa chọn hàng đầu Còn hợp đồng điện tử chỉ thật sự là phương thức giao dịch hiệu quả và nhanh chóng cho những ai đã hiểu rõ và tin tưởng về loại hình giao dịch này và chỉ phù hợp với những thị trường mà giao dịch điện tử đã được sử dụng phổ biến, có khung pháp lý vững chắc bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng điện tử được an toàn

Do đó, hai phương thức này cần được các chủ thể sử dụng một cách linh hoạt, hợp

lý để cả hai có thể bổ sung và hỗ trợ cho nhau nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho các chủ thể tham gia giao kết

Trang 27

và tranh chấp có thể xảy ra Có rất nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng điện tử như vấn đề công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử, quy định về các nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng điện tử…Những vấn đề pháp lý về giao kết hợp đồng điện tử được quy định trong các văn bản pháp lý như: Luật Giao dịch điện tử năm 2005 của Việt Nam; Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 9-6-2006 về Thương mại điện tử; Nghị định số 26/2007/NĐ-

CP ngày 15/02/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số

và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23/02/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Nghị định số 35/2007/NĐ-CP ngày 8/3/2007 về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng…và gần đây nhất là Thông tư số 09/2008/TT-BCT ngày 21/7/2008 hướng dẫn nghị định thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu những quy định của pháp luật về hợp đồng điện tử

2.1 Thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử

Một hợp đồng được xác lập khi các bên đạt được sự thống nhất ý chí với nhau

về các điều khoản trong hợp đồng Theo truyền thống hợp đồng thường được giao kết bằng miệng, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Hợp đồng được ký kết sẽ ràng buộc trách nhiệm của các bên Trách nhiệm này được thừa nhận trên cơ sở giá trị pháp lý của hợp đồng được pháp luật bảo vệ Vì vậy, cùng với việc thừa nhận hình thức giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử thì pháp luật cũng thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử để làm cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như xử lý tranh chấp hợp đồng

Trước khi có Luật Giao dịch điện tử năm 2005 (đạo luật điều chỉnh trực tiếp về giao dịch điện tử) thì giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử đã được thừa nhận trong các văn bản: Bộ Luật dân sự 2005, Luật Thương mại 2005

Trang 28

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 124 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì: “Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản” và Điều 3 Khoản 15 Luật Thương mại năm 2005: “Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp

dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật” Như vậy, một hợp đồng

dù được giao kết vì mục đích dân sự hay thương mại chỉ cần được giao kết bằng các phương tiện điện tử, bằng việc trao đổi các thông điệp dữ liệu thì đều có giá trị pháp

lý như hình thức văn bản

Đến khi Luật Giao dịch điện tử năm 2005 ra đời đã thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử ở mức rõ hơn Do hợp đồng điện tử được hình thành bởi các thông điệp dữ liệu cho nên việc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu cũng chính là sự thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử Sự thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử thể hiện ở các khía cạnh: có hiệu lực pháp lý như các hợp đồng được giao kết theo phương thức truyền thống; có giá trị như hợp đồng dưới hình thức văn bản; có giá trị như bản gốc và có giá trị làm chứng cứ

- Trước tiên là thừa nhận hợp đồng điện tử có hiệu lực pháp lý như các hợp đồng được giao kết theo phương thức truyền thống: Điều 34 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu” Trong lĩnh vực thương mại, Điều 7 Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 9-6-2006 về Thương mại điện tử cũng quy định: “Chứng từ không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì chứng từ

đó là chứng từ điện tử” Căn cứ vào những quy định vừa nêu thì tất cả các hợp đồng được ký kết thông qua phương tiện điện tử đều được đảm bảo tính hiệu lực, mà không bị vô hiệu về mặt hình thức Tuy nhiên, ta cần hiểu rằng không phải mọi hợp đồng điện tử đều có hiệu lực, bởi có những hợp đồng điện tử bị vô hiệu do có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội Vì vậy, các quy định trên được tạo ra không phải để thừa nhận hiệu lực pháp lý của mọi hợp đồng điện tử mà để tránh các trường hợp một hợp đồng điện tử bị từ chối hiệu lực pháp lý chỉ vì lý do hợp đồng đó được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu

- Thứ hai là có giá trị như hợp đồng dưới hình thức văn bản Điều 12 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định: “ Trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết” Tương tự trong lĩnh vực thương mại, Điều 3 Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 9-6-2006 về Thương mại điện tử cũng quy định: “ Chứng từ

Trang 29

điện tử có giá trị pháp lý như văn bản nếu thông tin chứa trong chứng từ điện tử đó

có thể truy cập được để sử dụng khi cần thiết” Từ các quy định này, có thể thấy, hợp đồng điện tử đã được thừa nhận có giá trị pháp lý giống như các hợp đồng bằng hình thức văn bản giấy truyền thống nếu nội dung của hợp đồng có thể được hiển thị để sử dụng khi cần thiết Với quy định này, khi pháp luật đòi hỏi một hợp đồng nào đó phải giao kết bằng hình thức văn bản thì một hợp đồng dưới dạng thông điệp

dữ liệu đã được coi là phù hợp với yêu cầu nói trên Chẳng hạn, Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định, hợp đồng thuê nhà ở phải được lập thành văn bản, thì khi một hợp đồng thuê nhà được ký kết dưới dạng email là đã phù hợp với quy định trên

- Thứ ba là có giá trị như bản gốc: Bản gốc là sự thể hiện tính toàn vẹn của thông tin chứa đựng trong văn bản, đảm bảo thông tin trong tài liệu là không bị thay đổi hay sửa chữa Đối với các hợp đồng truyền thống để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng khi có tranh chấp xảy ra, các bên sẽ trình lên cho cơ quan có thẩm quyền bản gốc hợp đồng mà mình đang giữ, khi đó bản gốc là bằng chứng có tính thiết phục cao nhất chứng minh sự tồn tại của hợp đồng giữa các bên Còn đối với hợp đồng điện tử, do hợp đồng này tồn tại trong môi trường mạng, mang tính chất phi giấy tờ cho nên việc đảm bảo tính toàn vẹn của hợp đồng điện tử đáp ứng yêu cầu của một bản gốc là công việc phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp cả vấn đề công nghệ và vấn đề pháp lý Về mặt pháp lý, Điều 13 Luật GDĐT 2005 đặt ra các điều kiện mà một thông điệp dữ liệu phải đáp ứng nếu muốn được coi là bản gốc:

“ 1 Nội dung của thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh

Nội dung của thông điệp dữ liệu được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu;

2 Nội dung của thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết ”

Còn theo khoản 1 Điều 9 Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 9-6-2006 về Thương mại điện tử, chứng từ điện tử có giá trị pháp lý như bản gốc nếu thỏa mãn đồng thời cả hai điều kiện sau:

“ a) Có sự đảm bảo đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong chứng

từ điện tử từ khi thông tin được tạo ra ở dạng cuối cùng là chứng từ điện tử hay dạng khác

b) Thông tin chứa trong chứng từ điện tử có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết ”

Trang 30

Như vậy, một hợp đồng điện tử được xem là bản gốc khi nội dung thông điệp

dữ liệu không bị thay đổi và có thể truy cập, sử dụng được

- Cuối cùng là có giá trị làm chứng cứ: Khoản 1 Điều 14 Luật GDĐT 2005 quy định: “Thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu” Quy định này làm yên lòng các bên giao kết hợp đồng điện

tử về hình thức hợp đồng mà họ giao kết, theo đó, dù tồn tại dưới hình thức thông điệp dữ liệu thì hợp đồng điện tử vẫn có giá trị pháp lý làm chứng cứ trước cơ quan giải quyết tranh chấp Điều 14 Khoản 2 Luật GDĐT 2005 còn quy định căn cứ để xác định một hợp đồng điện tử có giá trị làm bằng chứng hay không: “Giá trị chứng

cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác”

2.2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử

Không chỉ thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử, Luật GDĐT 2005 còn quy định các nguyên tắc đặc trưng riêng khi giao kết, thực hiện hợp đồng điện

tử tại Điều 35, cụ thể là 3 nguyên tắc sau đây:

- Thứ nhất là: “Các bên thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử trong giao kết

và thực hiện hợp đồng” (Khoản 1 Điều 35 Luật GDĐT 2005) Pháp luật không bắt buộc cá nhân, tổ chức phải tiến hành giao dịch điện tử thay cho các giao dịch theo phương thức truyền thống Khi tiến hành giao kết một hợp đồng, các bên tự do thỏa thuận việc sử dụng hay không sử dụng phương tiện điện tử cho giao dịch của mình

- Thứ hai: “Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật này và pháp luật về hợp đồng” (Khoản 2 Điều 35 Luật GDĐT 2005) Như vậy khi tiến hành giao kết hợp đồng điện tử ngoài việc phải tuân thủ các nguyên tắc do Luật GDĐT 2005 quy định, các chủ thể giao kết hợp đồng còn phải tuân thủ các nguyên tắc giao kết hợp đồng nói chung do Bộ Luật dân sự quy định,

cụ thể là các nguyên tắc được nêu tại Điều 389 Bộ Luật dân sự 2005:

+ Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội + Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng

- Thứ ba là khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thỏa thuận về yêu cầu kỹ thuật, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó

Trang 31

2.3 Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (chào hàng và chấp nhận chào hàng) là hai công đoạn quan trọng trong quy trình giao kết hợp đồng Hợp đồng có được giao kết hay không là phụ thuộc vào hai công đoạn này Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rỏ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể (bên được đề nghị)9 Còn chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên

đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị10, nếu bên được đề nghị yêu cầu có bất kỳ sự sửa đổi nào về nội dung của lời đề nghị thì đó được coi là một đề

nghị mới (hoàn giá chào) Thời điểm gửi, nhận một đề nghị giao kết hợp đồng và

chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng và phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên

Trước năm 2005, pháp luật hợp đồng của nước ta chỉ mới quy định về thời điểm gửi, nhận một hợp đồng bằng văn bản, không áp dụng được trong trường hợp gửi, nhận một thông điệp dữ liệu Đến khi Bộ Luật dân sự năm 2005 ra đời đã khắc phục được sự thiếu sót này, theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 391 Bộ Luật dân sự 2005 thì thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực là khi “Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị”.Quy định này là phù hợp cho việc giao kết các hợp đồng bằng phương tiện điện tử Nếu căn cứ vào quy định này thì thời điểm gửi, nhận một đề nghị giao kết hợp đồng hay chấp nhận

đề nghị giao kết hợp đồng dưới dạng thông điệp dữ liệu chính là thời điểm mà thông điệp dữ liệu đó được nhập vào hệ thống mạng của người được đề nghị hay người đề nghị

Để hướng dẫn các bên giao kết hợp đồng điện tử, Khoản 2 Điều 36 Luật GDĐT 2005 đã khẳng định: “Trong giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu” Theo đó, “Thời điểm gửi một thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu này nhập vào hệ thống thông tin nằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo” (Khoản 1 Điều 17 Luật GDĐT 2005)

và nếu như các bên không có sự thỏa thuận nào khác thì thời điểm nhận một thông điệp dữ liệu được xác định như sau: “Trường hợp người nhận đã chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận là thời điểm thông điệp dữ liệu nhập vào hệ thống thông tin được chỉ định; nếu người nhận không chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận thông

Trang 32

điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu đó nhập vào bất kỳ hệ thống thông tin nào của người nhận” (Khoản 1 Điều 19 Luật Giao dịch điện tử 2005)

Còn địa điểm gửi và nhận một thông điệp dữ liệu được xác định như sau:

- Địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở của người khởi tạo nếu người khởi tạo là cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú của người khởi tạo nếu người khởi tạo là cá nhân Trường hợp người khởi tạo có nhiều trụ sở thì địa điểm gửi thông điệp dữ liệu

là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch (Khoản 2 Điều 17 Luật GDĐT 2005)

- Địa điểm nhận thông điệp dữ liệu là trụ sở của người nhận nếu người nhận là

cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú thường xuyên của người nhận nếu người nhận là cá nhân Trường hợp người nhận có nhiều trụ sở thì địa điểm nhận thông điệp dữ liệu

là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch.( Khoản 2 Điều 19 Luật Giao dịch điện tử 2005)

Bên cạnh đó, Nghị định số Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 9-6-2006 về Thương mại điện tử đã cụ thể hóa việc đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng điện tử trong lĩnh vực thương mại như sau: Điều 12 của Nghị định quy định rằng: “ Một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề nghị giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì chưa được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ trong thông báo đó trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận”

Đồng thời, Nghị định cũng đưa ra những quy định hướng dẫn chung cho việc xác định thời điểm gửi và nhận một thông điệp dữ liệu như sau:

“1 Thời điểm gửi một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ điện tử đó rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo Trong trường hợp chứng từ điện tử không rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo, thời điểm gửi là thời điểm nhận được chứng từ điện tử

2 Thời điểm nhận một chứng từ điện tử là thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử đó tại một địa chỉ điện tử do người nhận chỉ ra Thời điểm nhận một chứng từ điện tử ở địa chỉ điện tử khác của người nhận là thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử tại địa chỉ này và người nhận biết

rõ chứng từ điện tử đã được gửi tới địa chỉ này

Người nhận được coi là có thể truy cập được một chứng từ điện tử khi chứng

từ điện tử đó tới được địa chỉ điện tử của người nhận

Trang 33

3 Địa điểm kinh doanh của người khởi tạo được coi là địa điểm gửi chứng từ điện tử và địa điểm kinh doanh của người nhận được coi là địa điểm nhận chứng từ điện tử

4 Khoản 2 Điều này áp dụng trong cả trường hợp khi địa điểm của hệ thống thông tin hỗ trợ địa chỉ điện tử có thể khác với địa điểm chứng từ điện tử được coi

là nhận được theo khoản 3 Điều này.” (Điều 11 Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 9-6-2006 về Thương mại điện tử)

Những quy định vừa nêu đã giúp cho các bên xác định được tương đối chính xác thời điểm gửi và nhận một đề nghị hay chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Tiếp theo Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 9-6-2006 về Thương mại điện tử

là sự ra đời của Thông tư số 09/2008/TT-BCT ngày 21/7/2008 hướng dẫn nghị định thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử, thông tư cũng có những quy định về đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nhưng với chức năng đặt hàng trực tuyến, ngoài ra thông tư còn có những quy định về việc trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cũng như quy định về chấm dứt hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng thông qua phương tiện điện tử và thời điểm hợp đồng được giao kết Cụ thể mục II Thông tư quy định về giao kết hợp đồng sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử như sau:

“4 Thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân

Nếu một website thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến cho từng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể được giới thiệu trên website đó, thì các thông tin giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ và các điều khoản liên quan được xem là thông báo

về đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân sở hữu hàng hóa hoặc dịch vụ đó

5 Đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng

Chứng từ điện tử do khách hàng khởi tạo và gửi đi bằng cách sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến được xem là đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ gắn kèm chức năng đặt hàng trực tuyến đó

6 Trả lời đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng

a) Khi trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, thương nhân phải cung cấp cho khách hàng những thông tin sau:

- Danh sách toàn bộ hàng hóa hoặc dịch vụ khách hàng đặt mua, số lượng, giá của từng sản phẩm và tổng giá trị hợp đồng;

- Thời hạn giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ;

Trang 34

- Thông tin liên hệ để khách hàng có thể hỏi về tình trạng thực hiện hợp đồng khi cần thiết

b) Trả lời không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải nêu rõ lý do

c) Trả lời đề nghị giao kết hợp đồng phải được thực hiện dưới hình thức phù hợp để thông tin có thể lưu trữ, in ấn được tại hệ thống thông tin của khách hàng và hiển thị được về sau

b) Trong trường hợp website không công bố rõ thời hạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng, nếu trong vòng 08 (tám) giờ làm việc kể từ khi gửi đề nghị giao kết hợp đồng, khách hàng vẫn chưa nhận được trả lời đề nghị giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng được xem là chấm dứt hiệu lực

8 Thời điểm giao kết hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử

Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm khách hàng nhận được trả lời của thương nhân chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định tại điểm a khoản 6 Thông tư này.”

Như vậy, điểm mới của thông tư này là có quy định cụ thể việc trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng điện tử, đồng thời cũng quy định về thời hạn chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng cũng như quy định rõ thời điểm một hợp đồng dưới dạng thông điệp dữ liệu được xem là đã được giao kết mà ở các văn bản như Bộ Luật dân sự 2005, Luật Thương mại 2005 và Luật Giao dịch điện tử chưa đề cập đến

Tóm lại, những quy định vừa nêu có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp xác định thời điểm và địa điểm hợp đồng điện tử được giao kết, thời điểm giao kết hợp đồng

là căn cứ quan trọng để xác đình thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, còn địa điểm giao kết hợp đồng là căn cứ để xác định luật điều chỉnh đối với các hợp đồng được giao kết với các đối tác nước ngoài

Trang 35

2.4 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

2.4.1 Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng điện tử

Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng điện tử bao gồm bên bán và bên mua hàng hóa (hoặc bên cung ứng dịch vụ) qua mạng Để hợp đồng có hiệu lực thì các bên giao kết phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về năng lực chủ thể Năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi Tuy nhiên,

do hợp đồng điện tử được giao kết thông qua hệ thống mạng máy tính, tồn tại trong một môi trường ảo nên việc xác định năng lực chủ thể của các bên là một công việc rất khó khăn

Đầu tiên là việc xác định tình trạng có “thực” của chủ thể: Khi giao kết hợp đồng thông qua các phương tiện điển tử, các bên không trực tiếp gặp mặt nhau để tiến hành đàm phán và giao kết hợp đồng, mà tất cả các công đoạn đều được thực hiện thông qua môi trường mạng internet là một môi trường ảo nên việc xác định sự tồn tại thực sự của chủ thể giao kết là công việc vô cùng quan trọng, bởi lẻ nếu giao kết với một chủ thể ảo, không có thật thì bên còn lại sẽ phải gánh chịu những thiệt hại nhất định Do đó, trong quá trình giao kết các bên thường kết hợp với các tổ chức cung cấp dịch vụ mạng để xác minh nhân thân của bên kia nhằm đảm bảo đây không phải là chủ thể ảo thông qua việc xác định địa chỉ IP, hoặc thông qua việc định vị khu vực thời gian của người truy cập Tuy nhiên, những biện pháp này còn khá đơn giản và còn nhiều thiếu sót cho nên trong quá trình giao kết các bên còn kết hợp với việc yêu cầu bên còn lại cung cấp các thông tin cá nhân liên quan mật thiết với họ như họ, tên, địa chỉ, số chứng minh thư, số ID tài khoản cá nhân Mặt dù vậy, với sự phát triển ngày càng cao của công nghệ thông tin thì thủ đoạn của bọn lừa đảo cũng ngày càng tinh vi hơn Do đó, để đảm bảo cho các hợp đồng điện tử được an toàn đòi hỏi phải có một trình độ kỹ thuật hiện đại và bản thân các chủ thể giao kết phải có kỹ năng, hiểu biết và sử dụng thành thạo kỹ thuật, công nghệ thông tin thì mới có thể hạn chế được các rủi ro bị lừa đảo khi giao kết hợp đồng trên mạng

Thứ hai, người bán trên mạng chắc chắn không muốn và cũng không thể bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ cho mọi đối tượng trên mạng internet Bởi lẻ, họ bị ràng buộc bởi những quy định của pháp luật nước họ, bởi pháp luật của nước giao kết và bị ràng buộc bởi các điều ước quốc tế Trên thức tế, có những loại hàng hóa

bị cấm kinh doanh và lưu thông ở nước này những lại được phép lưu thông ở nước khác, ví dụ: pháp luật Việt Nam quy định vũ khí, đạn dược, thuốc nổ là những mặt hàng cấm lưu thông trên thị trường Nhưng ở Hoa Kỳ và một số nước khác thì

Trang 36

những mặt hàng này vẫn được phép lưu thông.Vì vậy các bên phải xác minh kỹ nhân thân của đối tác của mình bởi vì chỉ cần một sai sót trong việc xác minh nhân thân của bên kia thì hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiêu, bên còn lại nhiều khi phải gánh chịu những hậu quả như phải chịu trách nhiệm dân sự thậm chí là trách nhiệm hình sự

Thứ tư là việc xác định năng lực chủ thể của các bên giao kết, đây là công việc quan trọng nhất và cũng là vấn đề khó khăn nhất Hiện nay, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và các văn bản hướng dẫn việc giao kết hợp đồng điện tử của nước ta không đề cập đến năng lực chủ thể của các bên giao kết nên ta dựa vào những quy định của của pháp luật về hợp đồng nói chung là Bộ Luật dân sự 2005 để xác định năng lực chủ thể của các bên Như đã nói ở trên năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi Theo đó năng lực pháp luật của cá nhân được định nghĩa như sau:

“1 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự

2 Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau

3 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”11

Còn “năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành

vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”

Bộ Luật dân sự 2005 quy định: người từ đủ 18 tuổi trở lên là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự trừ người bị mất năng lực hành vi dân sự và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự12

11

Điều 14 Bộ Luật dân sự 2005

12

Điều 22(Bộ Luật dân sự 2005).Mất năng lực hành vi dân sự

1 Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự

2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện

Điều 23(Bộ Luật dân sự 2005).Hạn chế năng lực hành vi dân sự

1 Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

2 Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do Toà án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày

Trang 37

Theo quy định của pháp Luật Việt Nam thì hợp đồng được giao kết với người không có năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ bị tuyên bố vô hiệu trừ những giao dịch thiết yếu nhằm phục vụ cuộc sống13 Từ những quy định vừa nêu phát sinh hai vấn đề cần phải giải quyết

Một là làm sao để xác định được chủ thể trên mạng có năng lực hành vi dân sự hay không? Bởi vì các đối tượng truy cập mạng bao gồm nhiều thành phần với nhiều độ tuổi khác nhau, trong khi đó Luật Việt Nam quy định một trong những yếu

tố để xác định năng lực chủ thể của cá nhân là dựa vào độ tuổi, lúc này người bán không thể biết chắc được người giao kết với mình là có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ hay chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, thậm chí là không có năng lực hành

vi dân sự Hơn nữa, người bán cũng không thể xác định được hàng hóa mà mình đang bán có phải là hàng hóa phục vụ nhu cầu thiết yếu cho người mà mình đang giao dịch hay không? Bởi lẻ, các bên thực hiện việc giao kết hợp đồng thông qua một hệ thống mạng toàn cầu, không hề thấy mặt nhau, tất cả các thông tin đều thể hiện trên mạng nên rất khó xác định được năng lực hành vi của các bên Vì vậy, khi giao kết hợp đồng với các chủ thể này thì khả năng hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu là rất lớn Nghiêm trọng hơn, người bán còn có thể phải chịu trách nhiệm dận sự và cả hình sự nếu buôn bán cho những người chưa thành niên các loại hàng hóa như: rượu, bia, thuốc lá chỉ vì không xác định được bên giao dịch với mình có đủ năng lực hành vi dân sự hay chưa

Hai là làm sao để xác định xem người đang giao dịch với mình có bị bệnh tâm thần hay nghiện các chất kích thích hay không nhằm xác định xem họ có bị mất năng lực hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hay không? Nếu các đối tượng này đang trong cơn phát bệnh hoặc đang lên cơn nghiện thì không có gì đáng nói bởi họ không có khả năng giao kết được hợp đồng điện tử, còn những lúc họ tỉnh táo thì thế nào? Hơn nữa việc tuyên bố các đối tượng này bị mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng lực hành vi dân sự lại phụ thuộc vào tòa án Vậy khi giao kết các loại hợp đồng này làm sao bên còn lại xác định được người này có bị bệnh tâm thần hay nghiện các chất kích thích hay không? Làm sao để biết được những người này

có bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hay không?

13

Xem Điều 127, 130 Bộ Luật dân sự 2005

Ngày đăng: 08/04/2018, 07:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w