Nh m phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công b ng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục ki
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHO HỌC L CH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGƢT NGU N CÔNG KH NH
NGHỆ N - 2014
Trang 3Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, đề tài
“Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam (2001- 2013)”được hoàn thành nhờ sự hướng
dẫn tận tình, chu đáo của PGS.TS NGƯT Nguyễn Công Khanh, khoa Lịch
sử Trường Đại học Vinh
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Lịch sử, Phòng Sau đại học trường Đại học Vinh và Bộ môn Lịch sử thế giới đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành đề tài Tôi cũng muốn dành lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, người thân, đồng nghiệp trong quá trình thực hiện đề tài này
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu và khả năng nghiên cứu của bản thân cho nên luận văn này sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết cần được góp ý, sửa chữa
Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn đọc để luận văn này được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Ngu n h hanh
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 6
4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Bố cục của luận văn 10
B NỘI DUNG 11
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QU N HỆ HÀN QUỐC - VIỆT N M TỪ 2001 ĐẾN 2013 11
1.1 Tình hình quốc tế và khu vực châu Á - Thái Bình Dương 11
1.1.1 Tình hình quốc tế 11
1.1.2 Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương 13
1.2 Nhân tố bên trong 19
1.2.1 Sự tương đồng về lịch sử - văn hoá giữa Hàn Quốc và Việt Nam 19
1.2.2 Tình hình Hàn Quốc và chính sách của Hàn Quốc đối với Việt Nam 22
1.3 Nhân tố lịch sử: Quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam trước 2001 26
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 QU N HỆ HÀN QUỐC - VIỆT N M TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC CHỦ ẾU TỪ 2001 ĐẾN 2013 32
2.1 Chính trị - ngoại giao, An ninh - quốc phòng 32
2.1.1 Chính trị - ngoại giao 32
2.1.2 An ninh - quốc phòng 44
Trang 52.2.2 Hợp tác trên lĩnh vực đầu tư 57
2.3 Các lĩnh vực khác 65
2.3.1 Giao thông vận tải 66
2.3.2 Hợp tác trên lĩnh vực khoa học - kĩ thuật 69
2.3.3 Văn hóa, giáo dục và y tế 74
2.3.4 Hợp tác trong lĩnh vực lao động, du lịch và vấn đề hôn nhân chồng Hàn - vợ Việt 86
Tiểu kết chương 2 95
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QU N HỆ HÀN QUỐC - VIỆT N M TỪ 2001 ĐẾN 2013 97
3.1 Thành tựu và hạn chế của quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam từ 2001 đến 2013 97
3.1.1 Thành tựu 97
3.1.2 Hạn chế 101
3.2 Tác động của quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam từ 2001 đến 2013 đến hai nước, khu vực và thế giới 102
3.3 Triển vọng quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam 104
C KẾT LUẬN 109
D TÀI LIỆU TH M KHẢO 114
E PHỤ LỤC 121
Trang 6Viết tắt Ngh
Trang 7k XXI đang mở ra những cơ hội to lớn nhưng cũng chứa đựng rất nhiều thách thức Sau gần 3 thập kỉ tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, thế và lực của Việt Nam đã lớn mạnh lên nhiều Nh m phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công b ng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương
châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”
Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia n m ven biển Thái Bình Dương đối diện nhau qua lục địa Trung Hoa, có những điểm gần gũi tương đồng về lịch sử và văn hoá truyền thống Ngay cả khi bị thế lực ngoại xâm chiếm đóng lâu dài, hai nước đã gìn giữ được độc lập và tự chủ, phải chịu bao đau thương, mất mát của chiến tranh cùng sự nghèo khó, đều trải qua cảnh đất nước chia cắt không hề mong muốn Tuy nhiên hai nước không hề bị khuất phục bởi những thử thách đó mà đã vượt qua mọi khó khăn và tìm kiếm con đường hướng tới tương lai Ý chí bất khuất này vừa là điểm tương đồng giữa người dân Việt Nam và người dân Hàn Quốc, đồng thời còn là ưu điểm lớn nhất hai nước có được để dọn đường cho thời đại mới
Trang 8Mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc không phải ngẫu nhiên mà đã
có một quá trình lâu đời, dù không liên tục, đa diện, đa chiều như quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực hay như một số nước Trung Quốc, Nhật Bản, song mối quan hệ này lại luôn có một vị trí trong đời sống hai nước, đặc biệt hơn là trong những thập niên gần đây Đó là yếu tố tác động quan trọng tới sự phát triển của mỗi bên
Việc quan hệ hợp tác Việt - Hàn đã và đang mở ra những triển vọng tốt đẹp Xét về phương diện thực tế cũng như tinh thần quốc tế, nên trong tiến trình hội nhập giữa các dân tộc trên thế giới ngày càng trở nên mạnh mẽ, các mối liên hệ xuyên quốc gia ngày càng diễn ra thường xuyên và có chiều sâu hơn thì quan hệ giữa hai quốc gia này không thể không chịu tác động của các
xu hướng đó
Nhân tố có tính quyết định đối với toàn bộ sự hợp tác Việt - Hàn là sự phát triển của mối quan hệ chính trị chuyển từ thù địch, nghi ngại sang hợp tác hữu nghị giữa hai quốc gia Hàn Quốc luôn xem Việt Nam là đối tác tin cậy, quan trọng Vào năm đầu tiên của thế kỉ XXI, hai nước đã hai lần nâng
cấp quan hệ lên “Đối tác toàn diện trong thế kỉ XXI” (tháng 8/2001) và chỉ sau 8 năm, tiếp tục nâng cấp thành “Đối tác hợp tác chiến lược” (tháng
10/2009), khẳng định ý chí và quyết tâm chính trị của lãnh đạo cũng như nhân dân hai nước, đồng thời tạo cơ sở chính trị quan trọng đưa quan hệ hữu nghị
và hợp tác giữa Việt Nam - Hàn Quốc phát triển ở tầm cao chiến lược mới trên tất cả các lĩnh vực Trên cơ sở đó hình thành truyền thống tiếp xúc cấp cao thường xuyên, đối thoại chiến lược ngoại giao - an ninh - quốc phòng thường niên; mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan quốc phòng, an ninh giữa nhiều địa phương được thiết lập và không ngừng gia tăng Hai nước không chỉ hợp tác chặt chẽ với nhau trên bình diện song phương mà sự hợp tác trên bình diện đa phương cũng ngày càng đa dạng và sôi động như ASEAN- Hàn
Trang 9Quốc, ASEAN + 3, ASEAN + 6, APEC, WTO có sự tích cực tham gia của Việt Nam- Hàn Quốc
Nhân chuyến thăm Hàn Quốc cấp nhà nước của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vào tháng 11/ 2011, lãnh đạo cấp cao hai nước đã tuyên bố lấy năm
2012 là “Năm hữu nghị Hàn Quốc- Việt Nam” Còn Tổng thống Hàn Quốc
Park Geun Hye đã chọn Việt nam là quốc gia đầu tiên trong chuyến công du các quốc gia ASEAN trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 7- 11/9/ 2013, với lí do là luôn coi trọng mối quan hệ hữu hảo với Việt Nam
và quyết tâm sẽ phát triển hơn nữa mối quan hệ hợp tác này; Quan hệ giữa hai nước đã đạt được sự phát triển đáng chú ý trong suốt 20 năm qua và đây là lúc chúng ta chuẩn bị cho tương lai 20 năm tới và tiến tới đưa hợp tác kinh tế phát triển sâu rộng thêm một tầm cao nữa
Do vậy, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn
2001 đến 2013 là điều cần thiết nh m góp phần làm sáng tỏ quá trình vận động và phát triển liên tục giữa sự hợp tác của hai nước, đồng thời quan đó
để thấy được những thuận lợi và khó khăn cũng như triển vọng về mối quan
hệ này
Với những lí do trên, tìm hiểu mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc nói chung, nhất là từ khi hai nước quyết định nâng cấp thành quan hệ đối tác toàn diện là một vấn đề vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Nó không những giúp hiểu thêm về lịch sử hai nước, mối quan
hệ tốt đẹp giữa hai nước mà còn giúp rút được những kinh nghiệm trong quan
hệ với các nước khác trong khu vực và trên thế giới Bởi lẽ đó, chúng tôi đã
chọn vấn đề: “Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam (2001- 2013)” làm đề tài cho
luận văn thạc sĩ, qua đó với hy vọng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt Nam với các nước trên thế giới và tăng thêm sự hiểu biết cho bản thân
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước đây do nhiều nguyên nhân, Hàn Quốc là một đối tượng ít được các học giả quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam, vì vậy chưa có nhiều tác phẩm chuyên sâu về vấn đề này Song để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, nguồn tài liệu chính thức mà chúng tôi tiếp cận được là: các văn bản của Chính phủ,
Bộ Ngoại giao, một số bài viết trong các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Đông Bắc Á hay một phần nghiên cứu về Hàn Quốc Ngoài ra còn
có các tác phẩm viết về một mảng nào đó của giai đoạn này, tuy không nhiều nhưng khá phong phú, đa dạng, sách tham khảo, sách tư liệu, thông cáo, tuyên
bố, thông sử, sách giới thiệu tổng quan, luận văn, luận án, các công trình nghiên cứu trên các tạp chí (Nghiên cứu Đông Bắc Á, Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Đông Nam Á, Những vấn đề kinh tế thế giới ); trên Thông tấn
xã Việt Nam và các báo như Nhân Dân, Quân đội nhân dân
Dưới đây là một số tác phẩm tiêu biểu mà chúng tôi tiếp cận được
- Loại tài liệu viết về cơ sở của quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam:
Cuốn Tương đồng văn hoá Việt Nam- Hàn Quốc của tập thể giảng viên
khoa Ngữ văn - Đại học KHXH&NV Hà Nội- Nxb Văn hoá thông tin (1996)
Cuốn Những vấn đề văn hoá, xã hội và ngôn ngữ Hàn Quốc (nhiều tác giả), Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh (2002) Cuốn Người Việt Nam ở Triều Tiên và mối giao lưu văn hoá Việt - Triều trong lịch sử - Hội Khoa học
lịch sử Việt Nam (1997) Các tác phẩm này đề cập đến sự tương đồng về văn hoá, lịch sử cũng như những dòng họ Lí từ Việt Nam sang định cư ở Hàn Quốc hàng trăm năm trước, là nền tảng cho quan hệ hai nước hiện tại
Cuốn Hàn Quốc trên đường phát triển do Ngô Xuân Bình và Phạm Quý Long (đồng chủ biên) Nxb Thống kê (2000); Hàn Quốc trước thềm thế kỉ XXI của Dương Phú Hiệp và Ngô Xuân Bình (đồng chủ biên) viết về tình hình
kinh tế - xã hội Hàn Quốc, cũng được coi là bối cảnh tác động đến mối quan
hệ Hàn - Việt
Trang 11- Loại viết về quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam có:
Cuốn K yếu hội thảo Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong lịch sử - Nxb Thế giới, Hà Nội (2009) đã tập trung các bài viết về chủ đề “Việt Nam và Hàn Quốc trong lịch sử Đông Bắc Á” và “Nhận thức về thế giới Đông Á và quan hệ Hàn - Việt trong bối cảnh khu vực” để k niệm thành quả quan hệ
hai nước Hàn - Việt tròn 15 năm
Cuốn Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới, Ngô
Xuân Bình (chủ biên) - Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội 2012 đã tập trung phân tích, đánh giá quan hệ Việt Nam- Hàn Quốc kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (1992) đến cuối thập niên đầu thế kỉ XXI (thời điểm Việt Nam và Hàn Quốc nâng cấp quan hệ thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược - 2009)
Cuốn Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc 1992 đến nay và triển vọng đến năm 2020, của Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Văn Dương
(đồng chủ biên; 2011), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội đề cập tổng quan quan
hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong suốt 20 năm, tuy nhiên chưa khắc hoạ được giai đoạn 2001 - 2011, như chủ đề nghiên cứu của luận văn chúng tôi
Cuốn Hợp tác kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh hội nhập Đông Á, do Đỗ Hoài Nam, Ngô Xuân Bình, Sung-YealKoo (đồng chủ biên),
Nxb KHXH - Hà Nội (2005) tập trung nói về một lĩnh vực của quan hệ hợp tác Hàn Quốc - Việt Nam là lĩnh vực kinh tế
Ngoài ra, phải kể đến một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập đến
các vấn đề liên quan Đó là: Luận án “Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc (1961 - 1993)” của Hoàng Văn Hiển (Đại học KHXH&NV,
ĐHQG Hà Nội), thuộc nhóm bối cảnh của quan hệ Việt - Hàn Còn luận
văn“Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ 1992 đến 2007” của Mai Văn Khánh
(Đại học Vinh, 2007) mới chỉ đề cập đến thời điểm năm 2007 trong quan hệ của 2 nước
Trang 12Điểm qua những tác phẩm, bài viết nói trên cho thấy, vấn đề quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam đã được chú ý nhiều hơn Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề Hàn Quốc- Việt Nam giai đoạn
2001 - 2013 Một số công trình chuyên sâu lại chủ yếu tập trung vào một mảng, hay một lĩnh vực trong một khoảng thời gian nhất định Mặc dù vậy,
đề tài của chúng tôi ít nhiều đã tiếp thu và kế thừa các thành tựu nghiên cứu nói trên
Từ góc độ lịch sử, tác giả luận văn tập trung trình bày một cách hệ thống mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 2001 - 2013 là một giai đoạn phát triển nhất trong lịch sử quan hệ hai nước từ trước tới nay
3 Mục đích và nhiệm vụ củ đề tài
3.1 Mục đích
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi hướng tới làm sáng tỏ vấn đề sau:
- Tập trung trình bày có hệ thống các vấn đề cơ bản về quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam từ 2001- 2013 Đây là thời kì quan hệ hai nước
được hai lần nâng cấp lên “đối tác toàn diện trong thế kỉ XXI” vào tháng 8/2001 và tiếp tục nâng cấp thành “đối tác hợp tác chiến lược” từ tháng
10/2009 Quan hệ này đã trở thành nhân tố quan trọng tác động tới sự phát triển của mối nước Với việc thiết lập mức quan hệ đối tác ở mức cao nhất này, hai nước hiện đang theo đuổi các lợi ích chiến lược trong quan hệ song phương cũng như trong bối cảnh hoà bình và thịnh vượng khu vực và toàn cầu
- “Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam (2001- 2013)” là mối quan hệ được
kế thừa truyền thống Nó thể hiện quan hệ ở nhiều tầng và thực hiện ở nhiều cấp độ Không những thế, mối quan hệ này phải chịu nhiều tác động lớn từ bên ngoài với những thách thức, cường độ và quy mô khá đa dạng Do vậy qua luận văn này chúng ta thấy được những đóng góp thiết thực của hai nước
Trang 13trong việc góp phần vào hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực Châu Á nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung
- Nghiên cứu Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam từ đối tác toàn diện đến đối tác chiến lược (2001- 2013) đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức về quan hệ hai nước trong lịch sử phát triển một cách liên tục, không gián đoạn
và có nhiều triển vọng Từ đó chúng ta có những chính sách phù hợp để thúc đẩy mối quan hệ này phát triển hơn nữa trong tương lai
luận văn này tác giả cố gắng giải quyết những vấn đề sau:
- Tập trung hệ thống những thành tựu chủ yếu trong quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hoá giáo dục và một số quan hệ khác
- Trình bày những nhân tố lịch sử chủ yếu tác động đến mối quan hệ này
- Làm rõ vai trò của mối quan hệ này trong quá trình phát triển của mỗi dân tộc trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay Qua đó rút ra những bài học trong quan hệ hai nước và nêu lên triển vọng về quan hệ hai nước trong tương lai
4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tuợng nghiên cứu
Đề tài xác định nội dung nghiên cứu là: Quan hệ giữa Đại Hàn Dân Quốc với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001- 2013) trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hoá giáo
Trang 14dục và một số lĩnh vực khác Ngoài ra, chúng tôi trình bày những nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ này, đồng thời nêu lên những thành tựu và triển vọng trong mối quan hệ hai nước
4.2 Ph m vi nghiên cứu
Đề tài được chúng tôi giới hạn như sau:
Về thời gian, luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ hai
nước kể từ khi thiết lập quan hệ đối tác toàn diện tháng 8/2001 đến khi Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye thăm cấp nhà nước tới Việt Nam tháng 9/2013
nh m thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Bên cạnh đó chúng tôi cũng đề cập khái quát một số nội dung của thời kì trước nh m phản ánh quá trình phát triển liền mạch của mối quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam
Về nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam -
Hàn Quốc giai đoạn 2001 - 2013, cụ thể là nghiên cứu mối quan hệ trên các lĩnh vực: chính trị- ngoại giao, an ninh- quốc phòng, kinh tế, văn hoá, giáo dục và một số lĩnh vực khác Trong luận văn này, chúng tôi trình bày những nhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 2001 -
2013, đồng thời nêu lên những nhận xét, đánh giá và triển vọng của mối quan
hệ này
Ngoài những giới hạn về thời gian và nội dung trên, những vấn đề khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng các nguồn tư liệu sau:
- Những văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam và Hàn Quốc, những Hiệp ước, Hiệp định kí kết giữa hai nước Hàn Quốc và Việt Nam được lưu trữ tại Thông tấn xã Việt Nam, các trung tâm lưu trữ quốc gia
Trang 15- Các cuốn sách, tạp chí nghiên cứu ở các trung tâm nghiên cứu như Viện Thông tin Khoa học và xã hội viết về Hàn Quốc và Việt Nam
- Sách báo ở các thư viện như thư viện Học viện quan hệ Quốc tế, Thư viện Quốc gia
- Các bản tin và các bài báo ở các báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân do Thông tấn xã Việt Nam sưu tầm và biên soạn theo sự kiện các năm
Nguồn tài liệu trên internet
5.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Quá trình phát triển quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam giai đoạn 2001-
2013 là một quá trình lịch sử trong quan hệ quốc tế Bởi vậy, khi nghiên cứu vấn đề này chúng tôi sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác: định lượng, thống kê, so sánh để giải quyết các vấn đề mà luận văn đưa ra
Tất nhiên, sự phân chia các loại phương pháp như trên chỉ mang tính chất tương đối bởi khả năng kết hợp và vận dụng do tính chất liên ngành của quan hệ quốc tế
6 Đóng góp củ luận văn
- Luận văn phác thảo một cách tương đối toàn diện, tổng thể với tính khách quan và chân thực về mối quan hệ hợp tác giữa Hàn Quốc và Việt Nam trên các lĩnh vực
- Bước đầu xác định những nhân tố tác động đến quan hệ giữa hai nước, những thành tựu và hạn chế trong quá trình hợp tác
- Một số nhận xét, nhận định về bài học kinh nghiệm và định hướng có tính chất tham khảo về triển vọng hợp tác giữa hai nước trong các giai đoạn sau
- Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về quan hệ hợp tác giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước Hàn
Trang 16Quốc - Việt Nam, tham khảo phục vụ học tập và nghiên cứu lịch sử quan
Trang 17B NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QU N HỆ HÀN QUỐC - VIỆT N M TỪ 2001 ĐẾN 2013
1.1 Tình hình quốc tế và khu vực Đông Á
1.1.1 ình hình quốc tế
Mười năm sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới tiếp tục chứng kiến những biến chuyển lớn trong đời sống chính trị thế giới nói chung và trong quan hệ quốc tế nói riêng
Bước vào thập niên đầu của thế k XXI, quan hệ quốc tế có những bước phát triển mới, thay đổi cả hình thức và tính chất Cục diện thế giới đã
có những chuyển hoá cơ bản Trật tự thế giới hai cực không còn nhưng một trật tự thế giới mới đang trong quá trình hình thành theo xu thế đa cực, đa trung tâm Từ thời điểm này, sự khác biệt về ý thức hệ không còn trở ngại giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau, mà thay vào đó, việc phát triển kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của mọi quốc gia Kinh tế trở thành nhân tố có ý nghĩa trong quan hệ quốc tế Cuộc cách mạng KH- CN, nhất là cuộc cách mạng về thông tin đã mở ra những triển vọng phát triển kinh tế to lớn cho tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển ở mọi châu lục trên thế giới Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nhất là trong lĩnh vực kinh tế có những bước phát triển mạnh và càng gia tăng đã tác động tới mọi mặt trong quan hệ quốc tế Các nước dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển đều phải điều chỉnh chính sách đối ngoại phù hợp với tình hình mới Quan hệ giữa các nước lớn có những biến chuyển mạnh, chuyển dần từ đối đầu hoặc liên kết với nước này chống lại nước kia sang vừa hợp tác vừa đấu tranh cùng tồn tại hoà bình Với hoàn cảnh
Trang 18quốc tế đó, các nước đã đặt ưu tiên cao cho phát triển kinh tế, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ đối ngoại để tạo cho mình một thế đứng trên trường quốc tế và một vị thế đảm bảo cho an ninh quốc gia và phát
triển đất nước Kinh tế trở thành “cán cân” số một so sánh thực lực và vị thế
của mỗi quốc gia
Thập niên đầu tiên của thế k XXI là giai đoạn thế giới đầy biến động với hàng loạt sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội lớn Vụ khủng bố ngày 11/9/2001 ở nước Mĩ làm chấn động thế giới Khoảng 3 nghìn người đã thiệt mạng trong loạt vụ tấn công khủng khiếp mà thủ phạm được xác định là tổ chức khủng bố Al - Qaeda do Bin Laden cầm đầu Sự kiện này không chỉ tác động toàn diện đến nước Mỹ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống quốc tế,
bắt đầu “thời đại khủng bố và chống khủng bố” trên toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế 2008 - 2009 khởi đầu từ Mĩ đã tác động mạnh đến kinh tế thế giới Cuộc khủng hoảng này đã tàn phá hệ thống tài chính của các nước Mĩ, châu Âu hàng loạt các doanh nghiệp phá sản và tái cơ cấu, và hệ quả của nó là sự suy thoái trầm trọng nền kinh tế và tỉ lệ thất nghiệp cao nhất trong nhiều năm nay[8, 42]
Vấn đề hạt nhân là một nhân tố làm “nóng” quan hệ quốc tế Tháng
4/2010, Tổng thống Mỹ B Obama và Tổng thống Nga D Metvedev ký Hiệp ước cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược (START) giai đoạn hai đã thắp lên
hy vọng phi hạt nhân hóa toàn cầu Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn những ảo tưởng coi vũ khí hạt nhân như công cụ trong cuộc đua giành ưu thế, vẫn còn những mưu toan, những tham vọng lợi dụng ranh giới nhạy cảm giữa hạt nhân dân sự và quân sự để ngấm ngầm phát triển vũ khí hạt nhân, đặt thế giới trước
sự việc đã rồi
Dịch bệnh cũng là vấn đề thế giới đáng quan tâm Năm 2003, từ Trung Quốc, đại dịch SARS nhanh chóng lây truyền ra nhiều nước, làm hơn 8.000
Trang 19người tại 37 quốc gia mắc dịch, cướp đi sinh mạng của 774 người Sau dịch cúm gia cầm H5N1, năm 2009 cả thế giới lại hoang mang và tập trung đối phó với dịch cúm lợn do virus cúm A (H1N1) gây ra Tình hình đó buộc toàn thế giới phải bắt tay vào hợp tác để tìm ra được cách giải quyết cho chính cuộc sống cho cả nhân loại
Rõ ràng thế giới đang biến động và tình hình thế giới tác động sâu rộng tới quan hệ toàn cầu Mỗi quốc gia, khu vực đều cần hòa mình vào dòng chảy chung đó, tăng cường hợp tác để có thể đứng vững và phát triển
Tình hình phức tạp của những năm đầu thế kỉ XXI đã tác động trực tiếp tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam và Hàn Quốc Tại khu vực này, sự vươn lên mạnh mẽ của các trung tâm kinh tế như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ , sự phát triển mạnh của các tổ chức khu vực như ASEAN, EU, NAFTA , của các nước Công nghiệp mới (NICs) đã và đang tạo ra những biến chuyển mạnh trong quan hệ quốc tế Mọi quốc gia đều chuyển hướng, điều chỉnh chính sách ngoại giao mới nh m tôn trọng lợi ích chiến lược của nhau, hợp tác hai bên cùng có lợi, vì trong lý luận của quan hệ
quốc tế: “Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn” Tuy Việt Nam và Hàn Quốc không
cùng một chế độ chính trị, song cũng không n m ngoài xu thế của thời đại Nhu cầu phát triển kinh tế cũng tạo điều kiện cho hai nước xúc tiến thiết lập quan hệ ngoại giao và phát triển quan hệ nhiều phương diện
1.1.2 ình hình khu vực châu Á - hái Bình Dương
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông Á cũng không
n m ngoài sự vận động của những biến chuyển trong tình hình thế giới Đây
là khu vực đa dạng về văn hóa và chính trị, có sự hội tụ gần đủ các nước lớn của thế giới quan hệ với nhau trong lợi ích đan xen, vừa hợp tác vừa cạnh tranh kiềm chế nhau Tuy nhiên xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác ngày
Trang 20càng chiếm ưu thế chủ đạo ở khu vực Trên thực tế, khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong nửa sau thập k 80 và bước sang thập k 90 của thế k XX
là một khu vực với các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao tạo nên sự năng động vào bậc nhất thé giới Vai trò của các nước vừa và nhỏ trong khu vực ngày càng tăng lên, góp phần vào việc bảo vệ hoà bình và duy trì sự ổn định trong khu vực Tại khu vực này, quan hệ quốc tế đã có sự thay đổi tính chất,
có sự “tiếp xúc chéo” và bình thường hoá quan hệ các nước có chế độ chính
trị - xã hội khác nhau
Dự báo thế k XXI được coi là k nguyên châu Á - Thái Bình Dương
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, Ấn Độ cùng với Mỹ được xem là những nhân tố quan trọng hàng đầu để nói đến điều đó Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, châu Á - Thái Bình Dương được Liên hợp quốc đánh giá là khu vực dẫn đầu thế giới về phục hồi kinh tế
Hiện dân số ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương chiếm khoảng 1/2 dân số thế giới; châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt rất lớn và tập trung sự trỗi dậy kinh tế của nhiều nước (Trung Quốc,
Ấn Độ…) Đây là hai quốc gia có số dân đông nhất thế giới và là những nền kinh tế lớn nhất toàn cầu, tất yếu có vị thế chính trị lớn trong việc giải quyết
các vấn đề cấp thiết của cộng đồng quốc tế Trong "Chiến lược quốc gia cho thế kỷ XXI", Mỹ xác định khu vực châu Á - Thái Bình Dương là một địa bàn
quan trọng đối với an ninh quốc gia của nước Mỹ Khu vực này còn là nơi tập trung sự chú ý của nhiều nước lớn và nhiều tổ chức quốc tế quan trọng thế nên nơi đây đang tập trung nhiều mâu thuẫn về lợi ích có tính chiến lược của một số nước lớn đối trọng với lợi ích quốc gia Mỹ, đặc biệt những nước đang cạnh tranh với Mỹ để giành quyền khống chế khu vực này về chính trị và kinh
tế
Trang 21Bước sang thế k XXI, khu vực châu Á - Thái Bình Dương có những
thay đổi mang tính căn bản: Thứ nhất, sức mạnh chính trị và tốc độ phát
triển kinh tế của khu vực này tăng lên nhanh chóng so với các khu vực khác
trên thế giới; Thứ hai, sự trỗi dậy của Trung Quốc một mặt đã đem đến cơ
hội để kinh tế các nước xung quanh phát triển, mặt khác lại làm cho họ cảm thấy e ngại và lo lắng trước sự cạnh tranh gay gắt thậm chí là sự lấn át trên
nhiều phương diện; Thứ ba, các quốc gia sở hữu hạt nhân ở khu vực châu Á
- Thái Bình Dương không ngừng tăng lên, sự theo đuổi của các tổ chức phi chính phủ đối với vũ khí hủy diệt hàng loạt và việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ ở khu vực này, đều có khả năng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương thêm gay gắt;
Thứ tư, cơ chế hợp tác đa phương khu vực không ngừng tăng làm cho khả
năng xuất hiện nhất thể hóa khu vực cũng có phần tăng lên, cho dù để điều
đó trở thành hiện thực còn là câu chuyện của tương lai
Sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng là một nhân tố tác động mạnh mẽ tới quan hệ quốc tế hiện nay, trong đó có cả Việt Nam và Hàn Quốc Sau 3 thập
k tăng trưởng với tốc độ chóng mặt, năm 2010, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Báo cáo của Ủy ban Tình báo quốc gia Mỹ cho biết: năm 2035, tổng sản phẩm quốc dân của Trung Quốc sẽ cao hơn Mỹ Tháng 10 năm 2003, con tàu “Thần Châu 5” cùng nhà
du hành vũ trụ Dương Lợi Vĩ đã bay vào không gian vũ trụ Sự kiện này đưa Trung Quốc trở thành nước thứ ba trên thế giới phóng thành công tàu vũ trụ
có người lái vào không gian, phá vỡ thế độc quyền của Nga và Mỹ Với sức trỗi dậy mạnh mẽ và toàn diện, Trung Quốc đã trở thành một trong những
nhân tố chủ chốt trong “cuộc chơi lớn” toàn cầu Xét trên góc độ địa - kinh
tế, Trung Quốc trở thành công xưởng của thế giới sau khi đã vượt Pháp, Anh
Trang 22và Đức nhờ mức tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng 10%/năm trong hai thập k qua
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương không chỉ là một trong những khu vực có dân số đông nhất thế giới, có nền kinh tế phát triển sôi động nhất và tập trung nhiều của cải nhất mà còn là một trong những khu vực có lực lượng quân sự dày đặc nhất, tiềm lực phát triển quân sự lớn nhất và vấn đề phổ biến
vũ khí hạt nhân nghiêm trọng nhất thế giới Thực tế cho thấy bất kể về lĩnh vực kinh tế, hay là an ninh, đối với Mỹ khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng trở nên quan trọng trong quan hệ quốc tế
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) gồm
21 thành viên được thành lập năm 1989 tại Úc nh m thúc đẩy hơn nữa tăng trưởng kinh tế, thịnh vượng trong khu vực và củng cố cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương Với 2,6 tỉ người (khoảng 40% dân số trên thế giới), chiếm 56% GDP và 57% giá trị thương mại toàn cầu, APEC tự hào đại diện cho một khu vực kinh tế phát triển năng động nhất thế giới Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, Tuyên bố chung tại APEC lần thứ 17
(2010) nhấn mạnh đến hai điểm: Thứ nhất, đưa ra chiến lược lối thoát
chung cho nền kinh tế thế giới sau khi gói kích thích kinh tế thành công;
Thứ hai, đưa ra tầm nhìn tăng trưởng mới của khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong thế k XXI1 đó là “tăng trưởng cân bằng”, “tăng trưởng bao dung” và “duy trì tăng trưởng” Tăng trưởng bao dung nh m mục đích đưa
thành quả của phát triển đến được với người dân, nghĩa là tất cả mọi ngưòi dân phải được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hoá kinh tế Mặc dù khó để đạt được sự tăng trưởng cân b ng đích thực, nhưng các quốc gia cần hợp tác để hướng tới sự cân b ng tương đối nh m đảm bảo lợi ích của tất cả các bên tham gia và giúp nền kinh tế thế giới tránh rơi vào vòng xoáy khủng hoảng mới
Trang 23Tuy nhiên, những thách thức mới trên lĩnh vực an ninh đối với khu vực này đang rất đáng lo ngại, bởi châu Á - Thái Bình Dương là khu vực hết sức quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh trên thế giới Những vụ tranh chấp về biển, đảo giữa các nước ở khu vực Đông Bắc Á vẫn tiềm ẩn nguy cơ căng thẳng trong các mối quan hệ song phương hoặc đa phương về
an ninh ở châu Á - Thái Bình Dương Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc luôn đặt quân đội của họ ở Đông Bắc Á trong tình trạng báo động cao, sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh Những động thái đó đã làm bật lên những thách thức lớn về
an ninh đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương Hiện nay, vấn đề Biển Đông do tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc, đã trở thành một trong những vấn đề nóng của khu vực và trên thế giới Việt Nam đang có những chính sách ngoại giao đúng đắn, tăng cường sự ủng hộ, đồng tình từ các nước trong khu vực và trên thế giới để tiến tới giải quyết thoả đáng những liên quan đến vấn đề này Mối quan hệ Việt - Hàn được củng cố sẽ góp tiếng nói chung, quan trọng vào tiến trình giải quyết vấn đề Biển Đông đối với Việt Nam
Tình hình trên bán đảo Triều Tiên cũng là một vấn đề nóng của khu vực và thế giới Nó tác động mạnh mẽ tới quan hệ quốc tế trong đó có Việt Nam và Hàn Quốc Chiến tranh lạnh kết thúc dẫn đến tình hình trên bán đảo này được cải thiện theo chiều hướng giảm dần căng thẳng, tiến tới hoà dịu, đối thoại và hợp tác Quan hệ giữa hai miền trên bán đảo Triều Tiên đã có những tiến triển đáng kể: đàm phán cấp Thủ tướng bắt đầu từ tháng 9/1990
và kí thoả thuận về hoà giải; hợp tác và không xâm lược lẫn nhau vào tháng 12/1991; cùng gia nhập Liên Hợp Quốc riêng rẽ tháng 9/1991; ký tuyên bố chung về phi hạt nhân hoá bán đảo Triều Tiên tháng 12/1991; thoả thuận gặp
gỡ cấp cao tháng 8/1994; Cuộc gặp thượng đỉnh lịch sử giữa hai miền Nam - Bắc Triều Tiên và Tuyên bố chung Nam - Bắc ngày 15/06/2000; giao lưu hợp tác hai miền về kinh tế, văn hoá, thể thao ngày càng tốt đẹp hơn Chính
Trang 24sự hoà dịu, đối thoại, hợp tác ở khu vực, đặc biệt là những tiến triển trong quan hệ trên bán đảo Triều Tiên là một nhân tố quan trọng đưa đến việc Việt Nam và Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao, thúc đẩy và phát triển mối quan hệ đó
Hiện nay, tình hình trên bán đảo Triều Tiên vẫn luôn nóng bỏng, thêm vào nữa, những tranh chấp trên vùng biển Đông Hải làm cho quan hệ Đông Bắc Á căng thẳng, có thể ảnh hưởng tới quan hệ Việt - Hàn Việt Nam một mặt, thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược với Hàn Quốc nhưng mặt khác gia tăng mối quan hệ hữu nghị truyền thống với Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Việt Nam muốn duy trì mối quan hệ đa dạng và thực tế
với bán đảo Triều Tiên trên cơ sở “Chính Bắc, kinh Nam” (về chính trị: duy
trì quan hệ hữu nghị truyền thống với phía Bắc - Triều Tiên; về kinh tế: thúc đẩy quan hệ hợp tác chặt chẽ với phía Nam - Hàn Quốc) Rõ ràng, mỗi khi có
sự biến động lớn trên bán đảo Triều Tiên thì quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc khó phát triển bền vững
Xuyên suốt lịch sử, quan hệ Việt - Hàn cũng chịu ảnh hưởng mối quan
hệ Xô - Mĩ Trong chiến tranh Việt Nam, mâu thuẫn hai phe thể hiện khá rõ ràng, ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ Việt - Hàn Năm 1991, Liên Xô sụp đổ, chiến tranh lạnh kết thúc đồng thời với việc mâu thuẫn Xô - Mĩ đã không còn căng thẳng, gay gắt, tác động tích cực tới quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Á
và quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc Từ năm 1995, Việt Nam và Mĩ thi hành những chính sách đối ngoại mới, quan hệ Việt - Mĩ cũng ngày càng được cải thiện và có chiều hướng tích cực hơn, do đó tác động tốt tới mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong thế kỉ XXI
Bên cạnh đó, Đông Nam Á là một khu vực có sự ảnh hưởng rất lớn của Nhật Bản và Trung Quốc Nhật Bản gây được ảnh hưởng rất lớn ở các nước Đông Nam Á hải đảo, còn các nước Đông Nam Á lục địa lại chịu ảnh
Trang 25hưởng lớn của Trung Quốc Nhật Bản không chỉ là nơi cung cấp các khoản đầu tư, công nghệ mà còn là thị trường tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu của các nước trong khu vực Và như vậy, mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc sẽ góp phần củng cố quan hệ ở khu vực, điều này Nhật Bản có quyền lợi to lớn khi tiến hành hoạt động thương mại và đầu tư trong môi trường ổn định Không thể phủ nhận, các hoạt động kinh tế mạnh mẽ của Nhật Bản và các công ty xuyên quốc gia của nó góp phần thúc đẩy xu thế tăng cường hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc nói riêng và trong khu vực nói chung Còn đối với Trung Quốc, ảnh hưởng rất lớn tới các nước Đông Nam Á lục địa, do vậy trực tiếp ảnh hưởng tới quan hệ Việt Nam - ASEAN, tới quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc
Như vậy, tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương tạo ra nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức cho các quốc gia trong khu vực Đặc biệt là xúc tiến phát triển các mối quan hệ song phương, đa phương Mối quan
hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong quá khứ, hiện tại và tương lai không thể không chịu tác động của tình hình khu vực Vấn đề đặt ra là hai nước cần phải tăng cường thúc đẩy hơn nữa, hợp tác toàn diện hơn nữa để cùng nhau phát triển
Đó là con đường duy nhất để hai nước giải quyết được vấn đề còn tồn tại, thích ứng được với tình hình đang thay đổi để phát triển mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc lên những tầm cao mới đúng như quyết tâm của lãnh đạo và nguyện vọng của nhân dân hai nước
1.2 Nhân tố bên trong
1.2.1 ự tương đồng v l ch s - v n hoá gi a àn uốc và iệt Nam
Trải qua một thời kì dài của lịch sử, Hàn Quốc và Việt Nam tuy không gần gũi về mặt địa lý nhưng lại có nhiều nét tương đồng về văn hoá - lịch sử Chính những điểm tương đồng ấy trở thành cơ sở để xây dựng mối quan hệ
Trang 26hợp tác và phát triển bền vững giữa hai dân tộc, đồng thời đó là “chất keo”
gắn kết hai nước trong suốt 20 năm hợp tác cùng phát triển
Việt Nam là quốc gia n m giữa ngã ba đường của Đông Nam Á, nơi giao lưu giữa nhiều nền văn hoá ở Đông Á Hàn Quốc n m ở trung tâm Đông Bắc Á, cũng là nơi hội tụ nhiều nền văn hoá Thêm vào đó, Việt Nam và Hàn Quốc đều là quốc gia - bán đảo, vừa có bờ biển dài, có biển rộng, tạo điều kiện giao lưu với thế giới b ng con đường biển Vị trí địa - chính trị đặc biệt của hai nước, khiến cho trong lịch sử, cả hai nước có điều kiện giao lưu, tiếp thu các nền văn hoá khác nhau, tiếp nhận những tinh hoa văn hoá của nhiều dân tộc trong khu vực và thế giới Ngược lại, hai nước cũng hay bị các thế lực bên ngoài dòm ngó, xâm chiếm
Rõ ràng, sự tương đồng về địa - chính trị là một yếu tố quan trọng tạo tiền đề cho mối quan hệ của hai nước Việt Nam và Hàn Quốc Cùng với
những yếu tố khác, nó tạo nên sự “thích ứng lẫn nhau” giữa hai dân tộc
dường như cách biệt về địa lý Hơn nữa, hai nước cũng có nhiều điểm tương đồng về tập tục, sinh hoạt, phong cách tư duy, tôn giáo, tình cảm dân tộc, di sản văn hoá Đây cũng là những yếu tố tạo nên những gắn kết giữa hai dân tộc
Hàn Quốc và Việt Nam đều là những quốc gia thuộc “vùng văn hoá chữ Hán, vùng văn hoá Nho giáo”; Việt Nam và Hàn Quốc đều có mối quan
hệ lâu đời với Trung Quốc và Việt Nam chịu ảnh hưởng rất sớm về văn hoá
và chính trị của Trung Hoa và tạo thành một vùng đồng văn (văn tự, học thuật, văn học nghệ thuật) đều trải qua thời gian dài phát triển giống nhau
Hai nước đều chịu ảnh hưởng văn hoá đó là Nho giáo hay nói đúng hơn
là cả Tam giáo: Nho, Phật, Đạo bắt nguồn từ Trung Quốc Tuy nhiên, cách tiếp cận của mỗi dân tộc có khác nhau, song Nho giáo vẫn có tác dụng chi phối lịch sử nhiều hơn vì nó giữ vị trí chi phối về chính trị, về tổ chức xã hội,
Trang 27về tiến hành giáo dục cũng như phát triển học thuật Tam giáo để lại ảnh hưởng to lớn trong phong tục tập quán nhân dân hai nước Đó cũng là cơ sở
để nhân dân hai nước dễ gần và hiểu nhau
Tính chất đồng văn chi phối mạnh mẽ tới lịch sử hai nước; không những thể chế từng nước về cơ bản là giống nhau trong thời quân chủ, về sau trong thời cận - hiện đại thì các hiện tượng xảy ra ở mỗi nước thường có một
cái gì đồng loại, tương ứng xảy ra ở nước khác như một sự “đồng thanh, đồng khí” liên tục
Bước sang thời cận - hiện đại, khi các nước phương Tây bắt đầu quá trình xâm lược thì phong trào Duy Tân bắt đầu ảnh hưởng đến vùng này Triều Tiên và Việt Nam đều chọn con đường duy tân Duy tân hội ở Việt Nam và Tân dân hội ở Triều Tiên đều đi theo phương hướng của Nhật Bản Nhiều nhà chí sĩ hai nước không những gần gũi về tư tưởng mà còn tiếp xúc trực tiếp, cùng nhau hoạt động trong hội Đông Á đồng văn Họ là những người cùng chí hướng, lý tưởng
Không chỉ tương đồng trong việc tiếp thu văn hoá Trung Hoa, Việt Nam và Hàn Quốc còn tiếp nhận nhiều nền văn hoá khác nhau, đặc biệt là văn hoá phương Tây, nhưng đều biết tiếp thu một cách có chọn lọc và sáng tạo để tạo nên một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc
Cần kể đến sự tương đồng về thân phận lịch sử của Việt Nam và Hàn Quốc kể từ lúc có giao thoa Đông Tây và quá trình từ bối cảnh văn hoá khu vực gia nhập vào quỹ đạo phát triển của thế giới hiện đại Cả hai quốc gia đều phải đối diện với vấn đề: sự xâm lược của đế quốc và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nhu cầu thống nhất đất nước, phát triển kinh tế và hiện đại hoá đất nước Kinh nghiệm và thành tựu lịch sử của mỗi nước sẽ trở thành bài học tốt cho nước kia
Trang 28Trên thực tế Việt Nam và Hàn Quốc là hai nước ở rất xa nhau về địa lý nhưng trong di sản văn hoá của họ cũng có những nét tương đồng Điều đó giải thích bởi yếu tố chung của văn hoá khu vực châu Á - Thái Bình Dương, của hoàn cảnh lịch sử nhân dân hai nước trong quan hệ với các nước láng giềng đặc biệt là Trung Quốc Tuy nhiên, trong văn hoá của mỗi quốc gia có nhiều nét mang sắc thái đặc thù của tộc người, địa - văn hoá, lịch sử từng nước Chính những nét tương đồng về văn hoá, lịch sử là cơ sở vững chắc để xây dựng mối quan hệ hợp tác hữu nghị lâu dài giữa hai nước Ông Pak Na
Oan, Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam nhận xét: Không có một quốc gia nào có nhiều điểm tương đồng về nhiều mặt với Hàn Quốc như Việt Nam Việt Nam vẫn mang nguyên vẹn và thuần khiết và nhiệt tình mà Hàn Quốc đã từng có vào đầu thời kỳ phát triển kinh tế”
1.2.2 ình hình àn uốc và chính sách của àn uốc đối với iệt Nam
Về kinh tế, trong hai thập niên 70 và 80, Hàn Quốc công nghiệp hoá thành công tạo nên “kỳ tích sông Hàn” như thế giới ca ngợi Bước sang thập
niên 90, Hàn Quốc trở thành một nước công nghiệp mới (NICS) và được
mệnh danh là “con rồng châu Á” Sỡ dĩ đạt được điều đó là do Hàn Quốc đã
nắm bắt được những mặt tích cực của xu thế mới trên thế giới và khu vực vào chính nội hàm nước mình để phát triển kinh tế thành công, nâng cao vị thế trên trường quốc tế Hiện nay, nền kinh tế Hàn Quốc đứng thứ 4 châu Á và thứ 15 trên thế giới, với kim ngạch thương mại năm ngoái đạt hơn 1.167 t USD, trong đó xuất khẩu đạt hơn 548 t USD
Về chính trị, từ cuối những năm 80 của thế k XX, quá trình dân chủ
hoá trong nền chính trị Hàn Quốc được thúc đẩy mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của những chính sách mới phù hợp với tình hình quốc tế và khu vực, nh m giải quyết những vấn đề an ninh và kinh tế đất nước, tạo cơ sở thống nhất cho 2 miền trên bán đảo Triều Tiên
Trang 29Về đối ngoại, ngay sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Hàn Quốc theo
đuổi chính sách ngoại giao theo hướng toàn cầu hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ Chính sách ngoại giao mới của Hàn Quốc với đặc trưnglà mềm dẻo
và linh hoạt, cụ thể là “chính sách ngoại giao phương Bắc”, chủ trương “đi
đường vòng”, qua đó cải thiện quan hệ với các nước vốn là đồng minh của
Triều Tiên Chính sách này đã thúc đẩy và thiết lập quan hệ ngoại giao với
các nước XHCN như Nga, Trung Quốc kể cả thúc đẩy bình thường hoá quan
hệ bang giao với các nước có chế độ chính trị khác nhau Với cách làm này, Hàn Quốc nh m từng bước tạo lập quan hệ với Triều Tiên, từ đó tìm kiếm con đường thống nhất trong hòa bình theo một lộ trình ngắn hơn Đây được coi là một bước đột phá trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc tạo điều kiện cho nước này gia nhập Liên Hợp Quốc và tăng cường vị thế trên trường quốc tế Chính sách này thúc đẩy sự hợp tác với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, và ASEAN, Hàn Quốc đã thúc đẩy quá trình
thiết lập quan hệ chính thức với Việt Nam Hàn Quốc coi “Việt Nam là cứ điểm để tăng cường quan hệ với khu vực Đông Nam Á, khu vực chiến lược trong chính sách của mình [23;15] Như thế, quan hệ với Việt Nam, Hàn
Quốc có nhiều thuận lợi trong việc xâm nhập vào thị trường kinh tế tiềm năng mới là Lào và Campuchia Với kinh nghiệm xây dựng và phát triển kinh tế của mình, Hàn Quốc mong muốn công nghệ và vốn của Hàn Quốc khi kết hợp với nguồn tài nguyên và lao động Việt Nam chắc chắn sẽ góp vào công cuộc phát triển tốt hơn cho nền kinh tế hai nước
Hàn Quốc cũng nhận thấy đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam đã trùng với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc cũng như sẽ có thể phát huy lợi thế so sánh từ cả hai nước khi hợp tác chặt chẽ với nhau Việc mở rộng quan hệ hợp tác với Việt Nam sẽ góp phần giúp Hàn Quốc khắc phục những khó khăn về tài nguyên, chi phí lao động và thị
Trang 30trường Thông qua hợp tác giữa hai nước về các mặt, nhất là hợp tác kinh tế tạo điều kiện để Hàn Quốc phát triển sản xuất, mở rộng các kênh tiêu thụ sản phẩm, thu được lợi nhuận và dần chuyển giao một số ngành đã mất lợi thế cạnh tranh trong nước sang Việt Nam
Hàn Quốc cũng chú trọng cải thiện, phát triển quan hệ song phương và
đa phương với các nước châu Á - Thái Bình Dương Việc đẩy mạnh quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam - Hàn Quốc sẽ đóng góp đáng kể vào việc
mở rộng hợp tác đa phương, góp thêm tiếng nói để đưa ra những giải pháp thích hợp cho các vấn đề của khu vực, phấn đấu phát triển kinh tế để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các nước Quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa 2 quốc gia có ý nghĩa thúc đẩy, củng cố đoàn kết trong nội bộ các tổ chức hợp tác đa phương và hai nước là thành viên góp phần duy trì hoà bình, ổn định và hợp tác cùng phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Như vậy, Việt Nam trở thành một trong những đối tác tin cậy và quan trọng của Hàn Quốc, mối quan hệ hai nước đã, đang và sẽ tiếp tục có những bước tiến mới, thành tựu mới
1.2.3 ình hình iệt Nam và chính sách của iệt Nam đối với àn uốc
Sau năm 1991, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu làm cho Việt Nam mất đi một thị trường quan trọng là khối Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) Đây là thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam, đòi hỏi sự điều chỉnh chiến lược phát triển của mình Đó là tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; chất lượng cạnh tranh và hiệu quả của sự phát triển kinh tế, giải quyết cơ bản vấn đề việc làm cũng như các vấn đề xã hội nảy sinh
Tuy nhiên, Chiến tranh lạnh kết thúc cơ hội lớn mà Việt Nam có được
là thế và lực đất nước đang lớn mạnh lên nhiều Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường Đất nước còn nhiều tiềm năng lớn về tài
Trang 31nguyên, lao động Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực Những hàng rào cản trở, ràng buộc sẽ được tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bình thường hoá và phát triển quan hệ với nhiều nước vốn khác nhau về chế độ chính trị xã hội
Việt Nam đang cố gắng nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức để phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh chính sách đối nội đối ngoại cho hơp lý, nh m phục vụ mục tiêu tại Đại hội VI (12/1986), Việt Nam chủ trương ra sức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc và cải thiện mối quan hệ với các nước trong khu vực Đại hội VII (6/1991) nêu lên khẩu hiệu
“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Phương châm đối ngoại đó được khẳng định và hoàn chỉnh tại đại hội IX (tháng 4/2001) là: “Việt Nam sẵn sàng làm bạn, là đối tác tin cậy trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [23] Đặc biệt, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI (2011), một lần nữa khẳng định chính sách đối ngoại của Việt Nam
là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam
xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” [25]
Để thực hiện phương châm đối ngoại đó, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng các mối quan hệ hợp tác, cùng phát triển với các nước trong khu vực và
Trang 32trên thế giới nh m thực hiện công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nước đồng thời nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Với những phương châm đối ngoại trên, Việt Nam nhận thấy Hàn Quốc
là một trong những đối tác quan trọng có nhiều tiềm năng để Việt Nam thiết lập và mở rộng quan hệ trên nhiều lĩnh vực Việt Nam coi Hàn Quốc là đối tác hợp tác hàng đầu và sự hợp tác với Hàn Quốc mang lại những lợi ích vô cùng to lớn cho Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước “Kỳ tích Sông Hàn” trong những thập kỉ gần đây vô cùng hấp dẫn Việt
Nam và là tấm gương sáng và gần gũi cho Việt Nam học tập
Cả Việt Nam và Hàn Quốc đều n m trong “khu vực văn hoá Đông Á”,
có truyền thống lịch sử hàng ngàn năm văn hiến với những đặc điểm và tinh thần yêu nước, thông minh và cần cù lao động Trong quá khứ, cả hai dân tộc đều bị các cuộc chiến tranh tàn khốc và là những thuộc địa có trình độ sản xuất thấp, ít được thế giới biết đến Sau khi giành độc lập, chính phủ và nhân dân hai nước đều mong muốn sống hoà bình độc lập tập trung sức lực phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả của quá khứ, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển Sự tương đồng về lịch sử văn hoá, về ý chí nguyện vọng, phù hợp với lợi ích chiến lược của hai nước là những điều kiện thuận lợi để cho hai nước xích lại gần nhau và cùng hợp tác, gắn bó hơn so với các nước khác trong khu vực cũng như thế giới
1.3 Nhân tố lịch sử: Quan hệ Hàn Quốc - Việt N m trước 2001
Việt Nam - Hàn Quốc có mối bang giao từ rất sớm Do điều kiện địa lý cho nên trong lịch sử quan hệ hai nước thường chỉ là gián tiếp thông qua một nước trung gian thứ ba đó là Trung Quốc Việc cử các sứ thần hai nước gặp nhau tại Yên Kinh (Bắc Kinh) như trường hợp tiêu biểu của Phùng Khắc Khoan và Lý Tối Quang, hay Lê Quý Đôn và Hồng Khải Hy đã để lại những
Trang 33dấu ấn tốt đẹp trong quan hệ hai nước không chỉ trong quá khứ mà còn lưu lại đến ngày nay
Trong thời gian này có một sự kiện xảy ra đó là sự xuất hiện hai dòng
họ Lý (Lý Tinh Thiện và Lý Long Tường) đến định cư và sinh sống tại Hàn Quốc vào thế k thứ XII và XIII Cả hai dòng họ Lý đều hội nhập lâu đời vào cuộc sống của cộng đồng cư dân Cao Ly, đều góp sức lực, tài trí của mình để bảo vệ và phát triển mảnh đất đã cưu mang mình Chính vì sự kiện lịch sử này
mà Lý Long Tường trở thành người đặt nền móng đầu tiên cho mối bang giao Hàn - Việt, là cơ sở để mối quan hệ này ngày càng phát triển
Về phía Việt Nam, sự kiện người dân đảo Tế Châu của Triều Tiên trôi dạt đến Hội An năm 1689 đã được chúa Nguyễn giúp đỡ, tạo điều kiện trở về
nước Sự kiện này được một số nhà nghiên cứu cho r ng: “Đây là câu chuyện cảm động, tiêu biểu cho lòng mến khách, nhân đạo, ngoại giao chu đáo của người Việt Nam đối với người Hàn Quốc” [26]
Nửa sau thế k XX, Việt Nam và Hàn Quốc cũng là những quốc gia bị thống trị bởi ngoại bang, cũng là những dân tộc có lịch sử văn hoá lâu đời và truyền thống độc lập - tự do và cả hai dân tộc càng gần gũi hơn trong phong trào “châu Á thức tỉnh” cùng chống đế quốc thực dân Trong khoảng thời gian này, các nhà cách mạng Việt Nam và Triều Tiên cùng chí hướng đã gặp nhau,
kề vai sát cánh trong việc đi tìm đường cứu nước Đặc biệt là hoạt động của nhà yêu nước Phan Bội Châu - nhân vật vĩ đại nhất của Việt Nam đầu thế k
XX đã góp phần thúc đẩy quan hệ giữa hai dân tộc
Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh
cũng rất quan tâm tới số phận của Triều Tiên, một trong những nước “đồng cảnh” với Việt Nam, đều n m dưới ách thống trị của đế quốc thực dân Trong
bài viết với tựa đề: Đông Dương và Triều Tiên - Một sự so sánh thú vị đăng trên báo Le Popularie ngày 4/9/1919, Nguyễn Ái Quốc đã so sánh chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương và đế quốc Nhật ở Triều Tiên Người
Trang 34viết: “Không vì cái chiêu bài tự trị ấy mà những người Triều Tiên lấy làm thoả mãn mà họ còn tiếp tục đòi cho được độc lập hoàn toàn”; “thế giới sẽ chỉ có nền hoà bình cuối cùng khi tất cả các dân tộc tự mình thoả thuận với nhau tiêu diệt con quái vật đế quốc chủ nghĩa ở khắp mọi nơi mà họ gặp”
[44, 11] Tư tưởng đó của Người cho thấy r ng hai nước có mối quan hệ với nhau trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp khỏi sự
áp bức bóc lột
Tuy vậy, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc cũng có những khoảng thời gian không tốt đẹp Trong chiến tranh Việt Nam chống đế quốc Mỹ, Hàn Quốc đưa 3 vạn quân sang Việt Nam, tham gia cuộc chiến tranh của Mỹ
Nhưng khi chiến tranh đi qua, những “hằn thù” của hai dân tộc cũng theo đó
mà dịu bớt đi, mối quan hệ ấy lại có cơ hội nối lại và ngày càng phát triển
Từ năm 1975 - 1982, Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian; từ năm 1983 bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp và một số quan hệ phi Chính phủ Mối quan hệ giữa hai nước, hai dân tộc đạt được thành công tốt đẹp khi ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ (22/12/1992) Đây là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển quan hệ của hai quốc gia
Ngay sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, hai nước đã duy trì đều đặn
h ng năm việc trao đổi đoàn và các cuộc tiếp xúc lãnh đạo cấp cao Kết quả của mỗi lần thăm viếng lẫn nhau ở cấp cao là quan hệ song phương giữa hai dân tộc được nâng lên một bước Từ việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao, thiết lập quan hệ hữu nghị giữa hai nước từ năm 1992 là cơ sở đến năm
2001, hai bên đã nâng cấp quan hệ lên tầm “đối tác toàn diện trong thế kỷ XXI” Từ đây, quan hệ hai nước ngày càng phát triển hơn, gặt hái được
nhiều thành tựu hơn Đại sứ của Việt Nam tại Hàn Quốc, Dương Chính
Thức trong thời gian này cũng cho biết: “Mặc dù hai nước thiết lập quan hệ
Trang 35ngoại giao chưa lâu nhưng mối quan hệ hợp tác đã phát triển khá toàn diện trên mọi lĩnh vực”, trong đó chỉ riêng kim ngạch buôn bán trong năm 2000
đã đạt 2 tỉ USD, qua đó đưa Hàn Quốc trở thành bạn hàng cũng như nhà đầu
tư lớn thứ 4 tại Việt Nam Nhưng tại thời điểm này, một lĩnh vực hợp tác mà
2 nước còn gặp khó khăn là hợp tác về lao động Hàn Quốc đã nhận tổng cộng hơn 30 nghìn tu nghiệp sinh Việt Nam sang nâng cao tay nghề Chỉ riêng năm 2000, các công ty Hàn Quốc đã nhận gần 6000 tu nghiệp sinh, tăng gấp 2 lần so với năm 1999 Chỉ tiêu lao động mà Hàn Quốc giành cho Việt Nam mỗi đợt là 13.000, nhưng hiện nay số lượng lao động Việt Nam ở Hàn Quốc đã vượt lên con số trên do nhiều người tự ý phá vỡ hợp đồng bỏ
ra ngoài làm việc Đó là vấn đề đang gây khó khăn cho cả hai nước vì Hàn Quốc không thể nhận thêm lao động mới
Sự phát triển của quan hệ Việt - Hàn là hết sức nhanh chóng và mang
“tính bùng nổ”, là kết quả tất yếu của quá trình phát triển quan hệ song
phương, cũng là sự thể hiện quyết tâm của giới lãnh đạo và nhân dân hai
nước Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã khẳng định: “Hiếm thấy trên thế giới trường hợp hai nước mới thiết lập quan hệ ngoại giao trong thời gian ngắn như vậy mà quan hệ hợp tác lại phát triển nhanh như vậy” [8,
119] Sự phát triển nhanh và vững chắc của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong những năm sau đó là những minh chứng hùng hồn cho nhận xét trên
Tiểu kết chương 1
Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều điểm tương đồng về lịch sử văn hoá Việt Nam và Hàn Quốc đều là hai nước châu Á, n m ở phía Tây Thái Bình Dương, có vị trí địa chiến lược rất quan trọng ở khu vực Đông Á, là cửa ngõ
đi vào lục địa Á - Âu và cả hai nước cũng đã từng bị ngoại bang xâm lược Chính sự tương đồng này là nền tảng tạo nên bước đệm vững chắc góp phần
Trang 36thúc đẩy mối quan hệ của hai nước không ngừng phát triển kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ
Mối quan hệ hai nước được thiết lập khi xu thế của thời đại chuyển dần sang giai đoạn hoà dịu, sự đối đầu giữa các bên liên quan không còn thay vào
đó là sự chung sống hoà bình ổn định để cùng phát triển là xu thế chủ đạo Quá trình phát triển quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc xuất phát từ lợi ích giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc có sự tương đồng về lợi ích, từ lợi ích kinh
tế đến lợi ích chính trị và an ninh cũng như sự tương thích về chiến lược và
chính sách phát triển Việt Nam với chính sách đối ngoại “rộng mở, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ”, “muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” và tham gia
“hội nhập quốc tế và khu vực” thì Hàn Quốc trong thời điểm này cũng đã đề
ra chính sách ngoại giao với 5 phương châm: “toàn cầu hoá”, “đa biên hoá”,
“đa nguyên hoá”, “hợp tác khu vực của thời đại Thái Bình Dương” và
“ngoại giao thống nhất hướng về tương lai” Hai bên đều có mục tiêu chung
là góp phần thúc đẩy xu thế hoà bình, ổn định hợp tác, để phát triển ở khu vực
và thế giới Lãnh đạo cũng như nhân dân hai nước đều có ý chí và mong muốn khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, thúc đẩy quan hệ song phương giữa hai nước lên tầm cao mới, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước
mà điều này đã được Tổng bí thư Đỗ Mười (tháng 11/1996) khẳng định:
“Chúng tôi rất coi trọng việc quan hệ nhiều mặt với Hàn Quốc” Còn Tổng thống Kim Young Sam cũng nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ cùng chia sẻ với Việt Nam kinh nghiệm phát triển tạo nên “kỳ tích sông Hàn” để tạo nên “kỳ tích sông Mê Công” Chính phủ và nhân dân hai nước đều có nhu cầu chung là
kiến tạo hoà bình, ổn định ở khu vực để phát triển kinh tế trong nước vì cuộc sống tốt đẹp hơn và đều rất coi trọng việc nỗ lực thúc đẩy quan hệ Việt - Hàn đáp ứng yêu cầu và lợi ích của nhân dân hai nước
Trang 38Chương 2
QU N HỆ HÀN QUỐC - VIỆT N M TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC CHỦ ẾU TỪ 2001 ĐẾN 2013
2.1 Chính trị - ngoại gi o, n ninh - quốc phòng
2.1.1 Chính tr - ngo i giao
Hợp tác chính trị- ngoại giao cho đến nay vẫn tiếp tục là lĩnh vực đạt nhiều thành tựu nổi bật nhất trong quan hệ Việt Nam- Hàn Quốc Các cuộc tiếp xúc ở tất cả các cấp được xúc tiến thường xuyên, sự hợp tác giữa Quốc hội, tổ chức chính trị- xã hội được mở rộng với nhiều hình thức phong phú, cơ chế hợp tác được hoàn thiện một cách hiệu quả, nh m tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển trên mọi lĩnh vực
Năm 2001 là một mốc son trong quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hàn
Quốc trong thế kỉ XXI Hai nước đã đồng ý xây dựng “Quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỉ XXI”, điều này được khẳng định trong chuyến viếng thăm
của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Trần Đức Lương tới Hàn Quốc từ
ngày 22 đến ngày 25/8/ 2001 Hai bên bày tỏ tin tưởng r ng “Gặp gỡ cấp cao lần này đánh dấu một mốc mới trong quan hệ Việt Nam – hàn Quốc, thúc đẩy vafv phát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác giữ hai nước” [ 8, 120]
Kể từ thời điểm này, hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc đã chính thức bước sang một giai đoạn mới với sự phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trở thành mối quan hệ khá toàn diện hầu như trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh
tế, văn hóa, khoa học công nghệ, giáo dục đến phối hợp quốc tế trên hàng loạt các vấn đề an ninh và hợp tác quan trọng
Thủ tướng Hàn Quốc Lee Han Dong tại cuộc hội kiến với Chủ tịch
Trần Đức Lương, khẳng định: “Mối quan hệ hợp tác giữa hai dân tộc chúng
ta đã phát triển rực rỡ trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Các lĩnh vực khác như văn hóa, giáo dục, thể thao đều có sự giao lưu thường
Trang 39xuyên và chặt chẽ”, đồng thời, ông cũng nhận định r ng “đối với quan hệ kinh tế thương mại song phương, số vốn 2 tỉ USD của các nhà đầu tư Hàn Quốc vào Việt Nam là chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước” Thủ
tướng bày tỏ hi vọng các nhà đầu tư Hàn Quốc đang hoạt động, cũng như các nhà đầu tư cần mạnh dạn và mở rộng hoạt động của mình tại Việt Nam [2, 25/8/2001]
Nhận định của Thủ tướng ngày càng được khẳng định khi Tổng thống Kim Dea Jung trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí Hàn Quốc đã nhấn
mạnh r ng: “Cả hai nước sẽ cùng có lợi khi phối hợp phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kĩ thuật thông tin và khoa học Cả hai nước chúng ta đều yêu chuộng hòa bình, đã khắc phục những vết thương chiến tranh Do đó, chúng ta có thể góp phần cho hòa bình, ổn định trên thế giới và đóng góp vai trò thực chất trong việc tăng cường hợp tác ở châu Á” [2, 25/8/2001]
Cũng trong chuyến thăm Hàn Quốc vào tháng 8/2001, trả lời phỏng vấn báo Korea Herald (Hàn Quốc) về chủ đề mà nguyên thủ quốc gia hai nước trong các cuộc hội đàm cấp cao, Chủ tịch nước Trần Đức Lương cho biết:
“Chủ đề chính trong các cuộc hội đàm giữa tôi và Ngài Tổng thống Kim Dea Jung sẽ là: Thứ nhất, tập trung đánh giá những tiến bộ trong quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước trong thời gian quan Thứ hai, cùng nhau thảo luận, tạo dựng một khuôn khổ mới thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác tốt đẹp giữa hai nước lên tầm cao mới, trong đó nhấn mạnh tới việc tăng cường trao đổi giữa lãnh đạo chính trị và quan chức hai nước; gia tăng quy mô đầu tư, thương mại, hợp tác trên các lĩnh vực kĩ thuật công nghiệp, tài nguyên, công nghệ thông tin, năng lượng hạt nhân, xây dựng, hàng không; hợp tác thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa nhân dân hai nước Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ trao đổi
về các vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm, đặc biệt là hợp tác giữa hai nước trong khuôn khổ đa phương như ASEAN + 3, APEC, ASEM
Trang 40và Liên hợp quốc cũng như việc duy trì và củng cố hòa bình, ổn định và hợp tác và phát triển ở châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới” [2, 25/8/2001]
Trong khi mối quan hệ hai nước đang có những bước phát triển mới và chuẩn bị kỉ niệm 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, Thủ tướng Lee Han Jong đã chính thức sang thăm Việt Nam từ ngày 7 đến ngày 14/1/2002 Trong chuyến thăm lần này, Thủ tướng đã có cuộc tọa đàm với Chủ tịch nước Trần Đức Lương và Thủ tướng Phan Văn Khải, đặc biệt là trong cuộc tọa đàm này hai bên đã cùng bàn bạc về vấn đề khai thác tài nguyên như dầu mỏ, tham gia xây dựng các công trình công cộng xã hội, mở rộng thị trường kĩ thuật thông tin ở Việt Nam
Chính phủ Việt Nam đã chân thành hoan nghênh chuyến thăm của Thủ tướng Lee Han Jong và nhấn mạnh với cuộc viếng thăm lần này của Thủ tướng, quan hệ hai nước sẽ ngày càng phát triển Chính phủ Việt Nam cũng cho r ng ngày hòa bình và thống nhất giữa hai miền trên bán đảo Triều Tiên không còn xa nữa và nếu cần thiết Việt Nam chắc chắn sẽ có những đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy hoà bình giữa hai miền trên bán đảo bởi Việt Nam
có mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa cả hai bên
Với thế mạnh về nguồn vốn và khoa học công nghệ phát triển của Hàn Quốc và tiềm năng dồi dào về về phía nhân lực của Việt Nam, quan hệ hai nước hoàn toàn có thể phát triển nhanh và toàn diện hơn rất nhiều so với hiện tại Từ chỗ chỉ có 100 triệu USD vốn đầu tư vào Việt Nam năm 1992, chỉ sau hơn 10 năm, các doanh nghiệp Hàn Quốc đã đưa vào Việt Nam hơn 4 tỉ USD trong 600 dự án đầu tư lớn nhỏ, đừng hàng thứ 6 trong tổng số 61 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc vừa được kí kết lại trong chuyến thăm Hàn Quốc của Thủ tướng Phan Văn Khải hồi tháng 9/2003 sẽ là động lực thúc đẩy sự gia tăng hợp tác giữa hai nước