Chính vì vậy, chỉ sau hơn 20 năm,một khoảng thời gian không dài so với lịch sử hàng ngàn năm của hai nước,quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam đã phát triển hết sức ngoạn mục, trở thành mộttấm gư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ: KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN NAM TRUNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó.
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Phan Lệ Truyền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài ………
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề ………
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài ………
.4 Phạm vi nghiên cứu ………
5 Nguồn tài liệu ………
6 Phương pháp nghiên cứu………
7 Đóng góp của luận văn ………
8 Bố cục luận văn ………
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016 1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực ………
1.2 Nhân tố lịch sử ………
1.2.1 Quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam trước năm 1992 ………
1.2.2 Quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam từ 1992 đến 2005 …………
1.3 Nhân tố bên trong ………
1.3.1 Sự phát triển mạnh mẽ của Hàn Quốc và chính sách của Hàn Quốc với Việt Nam ………
1.3.2 Sự vươn lên về kinh tế của Việt Nam và chính sách của Việt Nam với Hàn Quốc ………
* Tiểu kết chương 1………
CHƯƠNG 2: DIỄN TIẾN CỦA QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT
NAM TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016
1 1 6 7 7 7 7 7
9 9 10 10 13 16
16
21 23
24
Trang 52.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao ………
2.2 Quan hệ kinh tế………
2.2.1 Thương mại song phương ………
2.2.2 Hợp tác đầu tư ………
2.3 Quan hệ văn hóa - giáo dục và các lĩnh vực khác ………
2.3.1 Hợp tác về văn hóa ………
2.3.2 Hợp tác về giáo dục ………
2.3.3 Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn …………
2.3.4 Hợp tác về bảo vệ môi trường ………
2.3.5 Hợp tác về lao động ………
2.3.6 Hợp tác về du lịch ………
2.3.7 Hợp tác về y tế………
2.3.8 Hợp tác về thể dục – thể thao ………
* Tiểu kết chương 2 ………
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM 3.1 Tác động của quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam ………
3.1.1 Tác động đến Hàn Quốc và Việt Nam………
* Tác động tích cực ………
*Tác động tiêu cực ………
3.1.2 Tác động đến khu vực ………
3.2 Triển vọng của quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam ………
* Tiểu kết chương 3 ………
KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
24 33 30 35 37 37 39 43 47 50 53 56 58 62
63 63 63 68 72 77 80 82 85 92
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, toàn cầu hóa đã trở thành xu thế phát triển tất yếu, vì vậykhông một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không có sự giao lưuvới các nước khác Trong bối cảnh đó, các quốc gia đều đẩy mạnh các quan
hệ hợp tác nhằm củng cố và nâng cao vị trí của mình trên trường quốc tế
Hàn Quốc và Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cáchđây hơn 20 năm (ngày 22-12-1992) nhưng hai dân tộc đã gắn bó từ lâu và cónhiều điểm tương đồng về lịch sử và văn hoá Trong bối cảnh toàn cầu hóa vàhội nhập kinh tế quốc tế, hai nước có những tiềm năng rất to lớn có thể bổsung cho nhau trong quá trình hợp tác và phát triển Hơn thế nữa, quan hệ hợptác Hàn Quốc -Việt Nam còn được sự thúc đẩy rất mạnh mẽ bởi quyết tâmchính trị của lãnh đạo cấp cao hai nước Chính vì vậy, chỉ sau hơn 20 năm,một khoảng thời gian không dài so với lịch sử hàng ngàn năm của hai nước,quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam đã phát triển hết sức ngoạn mục, trở thành mộttấm gương điển hình về quan hệ hợp tác song phương trong khu vực Tháng8/2001, nhân chuyến thăm Hàn Quốc của Chủ tịch nướcViệt Nam Trần Đức
Lương, hai bên đã ra tuyên bố chung về thiết lập “Quan hệ Đối tác trong thế
kỷ 21” Trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hàn Quốc Rô Mu Hiên
tháng 10/2004, hai nước đã thoả thuận nâng quan hệ Việt-Hàn lên thành
“Quan hệ Đối tác toàn diện trong thế kỷ 21” Tháng 5/2009, trong chuyến
thăm Hàn Quốc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hai bên đã thỏa thuận nâng
cấp quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam lên thành "Đối tác hợp tác chiến lược" vì
hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Trải qua hơn hai thập kỷ thiết lập quan hệ, Việt Nam và Hàn Quốc đãtrở thành những đối tác hợp tác chiến lược của nhau Trong số rất nhiều quốc
Trang 7gia mà Việt Nam có quan hệ ngoại giao chính thức trong những năm đầu thập
kỷ 1990, Hàn Quốc là quốc gia đầu tiên trở thành đối tác chiến lược của ViệtNam Đây là một sự phát triển hết sức nhanh chóng và ngoạn mục Việc hainước nhất trí nâng cấp quan hệ lên thành “Đối tác hợp tác chiến lược” chính
là kết quả tất yếu của quá trình phát triển quan hệ song phương trong hai thập
kỷ qua, đồng thời cũng là sự thể hiện quyết tâm chung của Chính phủ và nhândân hai nước trong việc thúc đẩy mối quan hệ đó ngày càng phát triển tốt đẹp
và sâu sắc hơn trong thời gian tới Cùng với quan hệ chính trị, quan hệ hợp táckinh tế giữa hai nước cũng tăng trưởng mạnh mẽ, nhất là trên các lĩnh vựcthương mại, đầu tư, viện trợ phát triển, du lịch, lao động, Qua hơn 20 năm,Hàn Quốc đã vươn lên trở thành một trong những đối tác kinh tế quan trọnghàng đầu của Việt Nam Việt Nam cũng ngày càng trở thành đối tác quantrọng của Hàn Quốc Sự phát triển nhanh chóng, toàn diện của quan hệ HànQuốc – Việt Nam trong 2 thập niên đầu của thế kỷ XXI tất nhiên là kết quảcủa nhiều nhân tố, vì vậy nghiên cứu để làm sáng tỏ quan hệ hai nước từ 2006đến 2016 có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc
Lịch sử Hàn Quốc nói chung, lịch sử quan hệ Hàn Quốc và Việt Namnói riêng là những nội dung kiến thức cần thiết trong chương trình học tập củahọc sinh và sinh viên vì vậy nghiên cứu quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam từ
2006 đến 2016 sẽ cung cấp thêm những thông tin hữu ích cho học sinh, sinhviên về lịch sử thế giới cũng như quan hệ quốc tế thời hiện đại
Từ những lí do trên, tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Quan hệ Hàn Quốc - ViệtNam từ 2006 đến 2016” làm đề tài luận văn cao học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa hai nước Hàn Quốc- Việt Nam từlâu đã trở thành vấn đề được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm,nghiên cứu
Trang 8Các nhà nghiên cứu nước ngoài: Do vị trí chiến lược quan trọng và tínhchất phức tạp của vấn đề bán đảo Triều Tiên nói chung, sự hấp dẫn của HànQuốc do những kỳ tích phát triển trong nhiều thập niên nói riêng nên nhiềuhọc giả nước ngoài đã đi sâu nghiên cứu về tình hình bán đảo Triều Tiên cũngnhư các chiến lược, chính sách phát triển của Hàn Quốc trên các lĩnh vực,trước hết là đối ngoại Có thể kể đến một số công trình như: South Korea'sForeign Policy and Future Security: Implications of the Nuclear Standoff(Chính sách đối ngoại của Hàn Quốc và nền an ninh tương lai: hàm ý củachính sách phi hạt nhân hóa), của Mel Gurtov, Pacific Affairs, Spring 1996,Vol 69, No 1; South Korea's Foreign Policy in the Post-Cold War Era: AMiddle Power Perspective (Chính sách đối ngoại của Hàn Quốc kỷ nguyênhậu chiến tranh lạnh: Triển vọng của một cường quốc tầm trung), của DlynnFaith Armstrong, Miami University, 1997; South Korean Foreign RelationsFace the Globalization Challenges (Quan hệ đối ngoại Hàn Quốc đang đốimặt với những thách thức của toàn cầu hoá), của Samuel Kim, ed., in Korea'sGlobalization, Cambridge University Press, UK, 2000); Korea 2010: TheChallenges of the New Millenium (Những thách thức của thiên niên kỷ mới),của Paul Chamberlain, Washington DC, CSIS Press, 2001; Pride andPrejudice in South Korea's Foreign Policy (Niềm kiêu hãnh và thành kiếntrong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc), của Koen De Ceuster, TheCopenhagen Journal of Asian Studies, Vol 21, 2005; Korea as NortheastAsian Business Hub: Vision and Tasks (Triều Tiên với vai trò trung tâmthương mại ở Đông Bắc Á: Tầm nhìn và nhiệm vụ), của Lee Chang-jae,Korea Institute for International Economic Policy monograph, 2005…Tuynhiên, các công trình này thường được xem xét dưới lăng kính lợi ích quốcgia - dân tộc cũng như quan điểm, thái độ của người nghiên cứu nên phần nàomang tính hạn chế trong việc đánh giá thực chất chính sách đối ngoại của Hàn
Trang 9Quốc và những tác động của nó đối với quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Nam
Á, trong đó có Việt Nam
Ở Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu về quan hệ quốc tế ởĐông Bắc Á; chính sách và quan hệ của một số nước lớn đối với bán đảoTriều Tiên trong đó có Hàn Quốc; quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc như: Bánđảo Triều Tiên trong quan hệ quốc tế ở Đông Bắc Á sau chiến tranh lạnh củaNguyễn Văn Lịch, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 3 (27)/2000; Các biệnpháp kinh tế chủ yếu của chính phủ Hàn Quốc cho quá trình thống nhất bánđảo Triều Tiên của Vừ Hải Thanh, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 5(29)/2000; Quan hệ hợp tác kinh tế của Hàn Quốc với các nước trong khu vựcĐông Bắc Á: Tình hình và triển vọng, của Vừ Hải Thanh, Tạp chí Nghiên cứuNhật Bản và Đông Bắc Á, số 5 (59)/2005; Một số nét về quan hệ ngoạithương Nhật Bản - Hàn Quốc, của Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Nghiên cứuNhật Bản và Đông Bắc Á, số 1 (61)/2006; Quan hệ Liên bang Nga – bán đảoTriều Tiên sau chiến tranh lạnh, của Trần Hiệp, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản
và Đông Bắc Á, số 1 (61)/2006; FTA Hàn Quốc – ASEAN: Cuộc đua “cùngthắng”, của Hướng Đông, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 3 (63)/2006;Hợp tác kỹ thuật quân sự giữa Nga và Hàn Quốc, của Phạm Quỳnh Hương,Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 3 (63)/2006
Ngoài ra, trong một số công trình nghiên cứu về đất nước, con người vàquá trình phát triển đất nước của Hàn Quốc như: Hàn Quốc trên đường pháttriển, của Ngô Xuân Bình – Phạm Quý Long, Nxb Thống kê, Hà Nội 2000;
Về chiến lược phát triển quốc gia và cải cách nền hành chính của Hàn Quốchiện nay, của Trần Anh Phương, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc
Á, số 4/2001; Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy, của Byung Nak-song, NxbThống kê, Hà Nội 2002; Hàn Quốc - Đất nước và con người, Phòng Thôngtin ĐSQ Hàn Quốc tại Việt Nam, xuất bản năm 2007 cũng trình bày ở các
Trang 10mức độ khác nhau chính sách đối ngoại của Hàn Quốc nói chung và từ sauchiến tranh lạnh đến nay nói riêng.
Quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam cũng là đề tài được quan tâm nghiêncứu Nhiều công trình, ấn phẩm về vấn đề này đã được xuất bản: Nhìn lạiquan hệ kinh tế Việt - Hàn (1992-2001) của Hoàng Văn Hiển - Ngô VănPhúc, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1(37)/2002; Quan hệViệt Nam - Hàn Quốc: Một thập niên phát triển đầy ý nghĩa của Hà Hồng Hải,Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 50/2002; Nhìn lại 10 năm (1992 - 2002) quan
hệ Việt Nam - Hàn Quốc, của Nguyễn Cảnh Huệ - Nguyễn Trinh Nghiệu, Tạpchí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2/2003; Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc:Điểm qua những con số và sự kiện quan trọng, của Ngô Minh Thanh, Tạp chíNghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 6(54)/2004; Tạp chí Cộng sản số12/2005; 15 năm quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hàn Quốc, của VũTuyết Loan, Tạp chí Cộng sản điện tử, số 11/2007; Bước phát triển mới trongquan hệ Việt Nam - Hàn Quốc, của Nguyễn Thị Quế, Tạp chí giáo dục lýluận, số 11/2007 Cùng với đó là các bài tham luận được trình bày trong Hộithảo nhân dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập Việt Nam - Hàn Quốc tại Học việnQuan hệ quốc tế (Bộ Ngoại giao) vào tháng 12/2002 như: Quan hệ kinh tếthương mại, đầu tư Việt Nam – Hàn Quốc (1992-2002): Thực trạng và triểnvọng của Ngô Thị Trinh; Hợp tác khoa học và công nghệ Việt Nam - HànQuốc: Kết quả và triển vọng của Lê Dũng; Đào tạo và nghiên cứu Korea học
ở Việt Nam của Trần Ngọc Thêm; Hợp tác song phương Việt - Hàn về giáodục, văn hóa từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao của Trần Kim Lan v.v Nhìn chung, các công trình và bài viết đó phản ánh sự vận động của quan hệHàn Quốc - Việt Nam từ đầu thập niên 90 (thế kỷ XX) đến nay trên nhiều lĩnhvực như quan hệ về chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục đàotạo, y tế giữa hai nước
Trang 11Trong bài viết “Đưa quan hệ Việt Nam và Hàn Quốc lên tầm cao chiến
lược mới” năm 2012, tác giả Phạm Bình Minh đã nêu bật những thành quả
hợp tác tốt đẹp giữa Hàn Quốc và Việt Nam xuyên suốt trong những năm quanhờ quyết tâm và sự nỗ lực chung của lãnh đạo và nhân dân hai nước Tác giảcũng cho rằng với nền tảng vững chắc đó tình hữu nghị giữa hai dân tộc vàquan hệ Đối tác hợp tác chiến lược giữa hai nước nhất định sẽ tiếp tục pháttriển mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa trong thời gian tới
Như vậy, đề tài quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam đã thu hút được sự quantâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiêncứu một cách hệ thống về quan hệ hai nước từ năm 2006 đến 2016 Do vậy,tác giả nhận thấy việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa khoa học và thựctiễn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài.
- Mục tiêu: phục dựng lại một cách hệ thống quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam
trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao; kinh tế; văn hóa, giáo dục… từ năm
2006 đến 2016 Chỉ ra tác động của quan hệ hai nước và triển vọng của quan
+ Chỉ ra những tác động của quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam tới bản thân hainước cũng như của khu vực
+ Triển vọng của mối quan hệ giữa hai nước trong tương lai
Trang 125 Nguồn tài liệu.
Để thực hiện được đề tài này, tôi dựa vào các nguồn tài liệu sau:
- Một số hiệp định, hiệp ước, thông cáo… giữa hai nước
- Các sách chuyên khảo về lịch sử quan hệ quốc tế
- Các bài báo trên các tạp chí nghiên cứu: Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á,Tạp chí Nghiên cứu Hàn Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
- Các bài viết được đăng tải trên Internet
6 Phương pháp nghiên cứu.
Tác giả sử dụng phương pháp logic và phương pháp lịch sử là nhữngphương pháp cơ bản để phân tích, lí giải các vấn đề mà đề tài đặt ra Ngoài racác phương pháp khác như tổng hợp, thống kê, so sánh đối chiếu… cũngđược sử dụng kết hợp trong quá trình thực hiện đề tài
7 Đóng góp của luận văn.
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về quan hệ HànQuốc - Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2016 từ góc nhìn của Việt Nam
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho giảng dạy và học tập các họcphần liên quan về quan hệ quốc tế, về lịch sử Hàn Quốc, lịch sử Việt Namthời hiện đại
8 Bố cục luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục,phụ lục luận văn gồm 3 chương:
Trang 13Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2016
Chương 2: Diễn tiến của quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam từ năm
2006 đến năm 2016.
Chương 3: Tác động và triển vọng của quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016
1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
Về kinh tế: Có thể nói, toàn cầu hóa và khu vực hóa là một xu thế khách
quan tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó như một cơn lốc cuốnhút tất cả các nước trên thế giới vào cuộc chơi mới Tham gia cuộc chơi đócác nước trên thế giới đều phải tận dụng các lợi thế của mình để khai thác tốtnhững cơ hội và đương đầu thành công những thách thức luôn đặt ra Mỗinước, Hàn Quốc cũng như Việt Nam đều không thể nằm ngoài cuộc chơi đó
Vì vậy câu hỏi đặt ra là tăng cường quan hệ hai bên sẽ giúp gì cho mỗi bêngiải quyết tốt hơn những vấn đề của mỗi quốc gia Tự do hóa thương mại, sự
di chuyển các nguồn lực được coi như những làn sóng chủ yếu của toàn cầuhóa và khu vực hóa Chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường,…đã tạo cơhội cho các quốc gia nắm bắt nhanh chóng thông tin và tri thức mới, nâng caonăng lực cạnh tranh của nền kinh tế và thúc đẩy các quan hệ kinh tế thế giới
Về chính trị - an ninh: Xuất hiện xu thế gia tăng đối thoại cả trên các diễn
đàn song phương và đa phương, các quốc gia chấp nhận nguyên tắc cùng cólợi, không ép buộc lẫn nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ củanhau, bảo đảm sự độc lập thật sự về an ninh- chính trị, độc lập chủ quyền củadân tộc, hợp tác chống khủng bố quốc tế, chống rửa tiền và buôn ma túy…
Về văn hóa: Hình thành các điều kiện mới để tiếp thu những thành tựu
văn hóa tốt đẹp của đối tác trên cơ sở duy trì bản sắc văn hóa truyền thống củamỗi quốc gia Đương nhiên thách thức cũng rất lớn Văn hóa truyền thốngđang bị xói mòn và tỏ ra thiếu sức đề kháng đối với sự lan tỏa của văn hóangoại lai như là hệ quả tất yếu của toàn cầu hóa và sự gia tăng, hội nhập củamỗi quốc gia
Trang 15Ngoài vấn đề ô nhiễm môi trường, dịch bệnh và sự chênh lệch trình độphát triển, chênh lệch giàu nghèo,…đang đòi hỏi sự nỗ lực lớn trong hợp tácsong phương và đa phương ở các nước trên thế giới, quan hệ Hàn Quốc – ViệtNam cũng không ngoại lệ.
1.2 Nhân tố lịch sử
1.2.1 Quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam trước năm 1992
Hàn Quốc đã từng có những mối quan hệ đặc biệt với Việt Nam trênnhiều mặt Mối quan hệ đầu tiên với Việt Nam là vào thời vua Ko Jong, triềuKoryo, Triều Tiên Giai đoạn này, ở Việt Nam nhà Lý sụp đổ, nhà Trần lênthay, nắm hết mọi quyền lực, hoàng tử của nhà Lý là Lý Long Tường tránhnạn bằng thuyền đến vùng Ong Jin, biển Hoàng Hải ngày nay ở Hàn Quốc,sau đó lập ra họ Lý ở Hoa Sơn Một bộ phận của Họ này, sau cuộc chiến tranhNam , Bắc Triều Tiên đã di chuyển xuống phía Nam và đến nay có khoảnghơn 200 gia đình đang cư trú tại Hàn Quốc
Năm 1956, khi Việt Nam đang trong tình trạng đất nước hai miền chiacắt, Hàn Quốc đã đặt quan hệ với chính quyền ở phía Nam Việt Nam, trongkhi Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên có quan hệ ngoại giao từ năm
1950 với miền Bắc Việt Nam Hàn Quốc đã từng gửi các sư đoàn như Mãnh
Hổ, Thanh Long vào tháng 8 năm 1964, Bạch Mã vào năm 1966 sang thamchiến ở Việt Nam Tính đến năm 1973 có tới khoảng hơn 310.000 lính HànQuốc được gửi sang Việt Nam và sau năm 1975, sau khi Việt Nam thống nhấtđất nước tất cả các mối quan hệ ngoại giao này đều đã chấm dứt
Các doanh nghiệp Hàn Quốc bắt đầu đặt chân trở lại Việt Nam từ saukhi Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định chính thức đưa ra chính sách đổimới Việt Nam đề ra chính sách đổi mới và mong muốn có được sự phát triểnkinh tế nhanh chóng của các quốc gia như Hàn Quốc Việt Nam sẵn sàng
Trang 16khép lại quá khứ, từng bước bình thường hóa quan hệ với Hàn Quốc để tạo ranhững quan hệ hợp tác mới Tuy nhiên, vào thời điểm đó tốc độ cải thiệnquan hệ giữa Mỹ và Việt Nam vẫn chưa đẩy mạnh được nên Mỹ đã yêu cầuHàn Quốc giữ khoảng cách trong việc cải thiện quan hệ đối với Việt Nam.Phải đến tận những năm 90, về căn bản, Mỹ mới thay đổi chính sách đối vớicác nuớc Đông Dương Theo đó, từ nửa cuối năm 1990 Hàn Quốc mới bắtđầu chính thức cho phép các tổ chức doanh nghiệp Hàn Quốc được đặt chinhánh tại Việt Nam.
Sau này,các cuộc gặp gỡ không chính thức giữa lãnh đạo hai nướcthường xuyên được tiến hành thông qua các sứ quán Thái Lan, Nhật Bản ở hainước, đồng thời việc bàn bạc về vấn đề bình thường hoá quan hệ cũng trởnên tự nhiên hơn Tháng 10 năm 1990, phía Việt Nam chuyển ý muốn thiếtlập quan hệ ngoai giao với Hàn Quốc thông qua Đại sứ Việt Nam tại TháiLan Tháng 10 năm 1991, vấn đề Cam pu chia được giải quyết với việc kýkết hiệp định hoà bình Cam pu chia Qua đó, chính phủ Hàn Quốc cũng đã tỏ
rõ sự ủng hộ tích cực trong việc bình thường hoá quan hệ với Việt Nam Dovậy, tháng 12 cùng năm đoàn ngoại giao của chính phủ Hàn Quốc đã thăm HàNội và đã bàn về vấn đề thiết lập quan hệ Theo đó, tháng 3 năm 1992, tại hộiđàm về việc thiết lập quan hệ ngoại giao lần thứ 2, hai nước đã nhất trí cácnguyên tắc ngoại giao và bước đầu ký kết bản ghi nhớ về việc đặt cơ quanngoại giao đại diện tiền sứ quán
Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước lúc bấy giờ chỉ còn làvấn đề thời gian, tuy nhiên đã bị trì hoãn lại tới khoảng 9 tháng Trong tìnhtrạng vẫn còn sự kìm chế của Mỹ về vấn đề ngoại giao hai nước, chính phủHàn Quốc cho rằng vẫn chưa cần thiết phải nhanh chóng thiết lập ngay mộtcách vững chắc mối quan hệ với Việt Nam Với lý do hiện vẫn chưa giảiquyết xong các vấn đề như xác nhận sự tồn tại của tù binh Mỹ vẫn đang còn
Trang 17sống sót (POW), vấn đề tìm kiếm lính Mỹ bị mất tích trong chiến tranh ViệtNam(MIA), chính phủ Mỹ không đồng tình với việc để cho mối quan hệngoại giao Hàn Quốc và Việt Nam lúc này được thực hiện Tuy nhiên, khi
Mĩ diễn ra bầu cử tổng thống, sự kìm chế của chính phủ và nghị viện Mỹ đãlắng xuống nhiều, và hai nước Hàn - Việt đã dễ dàng đi đến thoả thuận về thờiđiểm và phương thức thiết lập quan hệ ngoại giao, đi đến bình thường hoámối quan hệ mà trước đó đã có nhiều vướng mắc
Chính phủ Hàn Quốc đánh giá vấn đề ngoại giao với Cộng hoà dân chủnhân dân Triều Tiên đã phát triến tới đỉnh điểm theo các mối quan hệ HànQuốc - Liên Xô, Hàn Quốc - Trung Quốc Bước cuối cùng trong ngoại giaovới Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên đã được hình thành qua việc thiếtlập quan hệ với Việt Nam và đó là bước hoàn tất về mặt thực tế việc bìnhthường hoá quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới Chính phủHàn Quốc đồng thời cũng hy vọng rằng, bằng việc đặt quan hệ với Việt Nam,
sẽ có thể thiết lập được quan hệ với các nước khác ở khu vực Đông Dươngnhư Lào, Cam pu chia, tăng cường thêm một bước trong định hướng ngoạigiao với khu vực Đông Nam Á Ngày 22/12/1992, với cuộc viếng thăm ViệtNam của bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hàn Quốc Lee Sang Ok, hai nước đã cùngnhau khép lại quá khứ, chính thức thiết lập quan hệ hữu nghị
Việc thiết lập quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam, bên cạnh những ý nghĩa
về mặt ngoại giao , còn có ý nghĩa trong việc thúc đẩy khả năng phát triểnkinh tế của hai nước Việt Nam sau khi chiến tranh chấm dứt một thời giandài lại bị cấm vận nên kinh tế phát triển chậm Tuy nhiên, nhìn vào tàinguyên thiên nhiên phong phú và lực lượng lao động cần cù, tay nghề cao,chính phủ Hàn Quốc cũng như các doanh nghiệp đều trông đợi quan hệ hợptác kinh tế Hàn Quốc – Việt Nam sẽ được phát triển với tốc độ nhanh chóng
Trang 18Giao lưu kinh tế Hàn Quốc – Việt Nam phản ánh xu hướng chung là cácnước phải dựa vào nhau trong thị trường thế giới Quá trình Hàn Quốc thoátkhỏi đói nghèo, phát triển nhanh kinh tế trở thành một trong bốn con rồngchâu Á sở hữu những kinh nghiệm quan trọng đối với người Việt Nam Mộtnước có nền kinh tế phát triển nhưng hầu như không có tài nguyên thiên nhiên
và một nước tuy đang phát triển nhưng lại phong phú tài nguyên thiên nhiên
và lực lượng lao động, nếu hợp lực lại, hỗ trợ cho nhau sẽ có nhiều lợi íchcho cả hai bên
Cùng với việc hai bên thông qua các hiệp định bảo vệ đầu tư, hiệp định về vấn
đề hợp tác kỹ thuật kinh tế, ý chí của các doanh nghiệp Hàn Quốc được tăngcường trong bối cảnh hiện nay đang có cạnh tranh gay gắt về đầu tư vốn nướcngoài vào Việt Nam
Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hàn Quốc với Việt Nam, mộtnước đã từng tham chiến trong chiến tranh Việt Nam có thế nói là một sự kiệnmang tính chất lịch sử, góp phần khẳng định thêm xu thế biến đổi của thờiđại Việc Hàn Quốc và Việt Nam nhanh chóng tiến hành bình thường hoáquan hệ là do cả hai nước đều cùng mong muốn tìm đến sự phát triển kinh tế,kết hợp giữa vốn và kỹ thuật của Hàn Quốc với tài nguyên và nhân lực củaViệt Nam Thực tế, từ nửa sau năm 80, nhiều hợp tác kinh tế ở cấp độ giaolưu quần chúng đã được tiến hành hết sức sôi động nên việc thiết lập quan hệngoại giao chính thức giữa hai nước cũng là điều tất yếu
Việc thiết lập quan hệ ngoại giao Hàn Quốc- Việt Nam cũng có ýnghĩa sửa chữa lại mối quan hệ giữa hai nước trước đây trong thời kỳ chiếntranh lạnh, đưa hai nước xích lại gần nhau thành những người bạn đồng hànhthực sự trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, ngoại giao…
1.2.2 Quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam từ 1992 đến 2005
Trang 19Ngày 22 tháng 12 năm 1992, với sự cố gắng của cả Việt Nam và HànQuốc, vượt qua nhiều rào cản, gác lại quá khứ để hướng tới tương lai cuốicùng quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nước đã được thiết lập Sự kiệnnày đã tạo ra cơ sở chính trị vững chắc cho việc phát triển quan hệ hữu nghị
và giao lưu hợp tác giữa hai nước Hai nước Việt - Hàn có nhiều nét tươngđồng về văn hóa, lịch sử, tâm lý, tập quán cũng như cơ cấu kinh tế có tính bổsung cho nhau, điều đó thực sự là nhân tố tích cực góp phần củng cố niềm tin
để hình thành những điều kiện thuận lợi thúc đẩy nhanh quá trình phát triểnquan hệ hai nước
Về mặt chính trị, những cuộc đối thoại giữa các nhà lãnh đạo hai nước,
kể cả những cuộc họp thượng đỉnh cũng đã đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữahai nước Các cuộc viếng thăm vào năm 1996 và 1998 của tổng thống HànQuốc Kim Young Sam và Kim Tac Jung đã kéo theo một loạt các hoạt độngtìm đến Việt Nam của các quan chức cao cấp trong giới chính trị, kinh tế HànQuốc Ngược lại, về phía Việt Nam, cũng đã có nhiều chuyến viếng thăm HànQuốc, bắt đầu từ thủ tướng Võ Văn Kiệt năm 1993 đến các cuộc viếng thămcủa tổng bí thư Đỗ Mười năm 1995, chủ tịch nước Trần Đức Lương năm2001,…
Kinh tế là lĩnh vực phản ánh rõ nét sự phát triển vượt bậc của quan hệgiữa hai nước Sau khi thiết lập quan hệ, quy mô thương mại giữa Hàn Quốc
và Việt Nam ngày càng gia tăng theo cấp số nhân Từ 150 triệu USD của năm
1991 trước khi thiết lập quan hệ ngoại giao, đến năm 1993 là 820 triệu USD,năm 1995 là 1 tỷ 540 triệu USD và năm 2000 đã tăng lên tới 2tỷ 100 triệu…
Có thể nói nguyên nhân hợp tác giữa hai nước tiến triển nhanh như vậy là ởtính hỗ trợ, bổ sung cho nhau giữa hai nước về kinh tế Mặc dù tồn tại mộtquá khứ đau xót là việc Hàn Quốc đã từng gửi quân tham chiến trong chiếntranh Việt Nam, nhưng quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước vẫn đang được
Trang 20nhanh chóng mở rộng, bởi việc mở rộng quan hệ giao lưu này đã trở thành lợiích chung cho cả hai nước.
Mối quan hệ Hàn – Việt đã vượt qua đựơc những rào cản, trở thành mốiquan hệ với những lợi ích thực tiễn về mặt kinh tế Chính sách đổi mới, chuẩnmực kinh tế' của Việt Nam càng lên cao thì tất yếu mối quan hệ này càng trởnên gắn bó Trong những năm qua, quan hệ hữu nghị Hàn Quốc - Việt Nam
đã phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóagiáo dục,… và đó là những cơ sở để hai nước nâng cao hơn nữa mối quan hệhữu nghị, cùng nhau buớc đến tương lai
Hiện nay, cả Việt Nam và Hàn Quốc đều khẳng định là đối tác hợp tácquan trọng của nhau trong chiến lược phát triển đất nước của mỗi bên
Quan hệ hợp tác văn hóa, giao lưu nhân dân ngày càng phát triển mạnh mẽ,sôi động góp phần củng cố tin cậy và hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc; ViệtNam đã và đang trở thành điểm đến an toàn và hấp dẫn của khách du lịch HànQuốc, hiện nay hàng năm có tới trên dưới 50 vạn lượt khách du lịch HànQuốc đến Việt Nam Các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao, nghệ thuật, hộithảo học thuật cũng diễn ra thường xuyên tại Việt Nam và Hàn Quốc gópphần làm phong phú thêm mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước Quan hệ Hàn -Việt không chỉ dừng lại ở khuôn khổ song phương mà cònđược mở rộng trên các diễn đàn đa phương vì lợi ích của mỗi nước, vì hòabình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Đặc biệt, trong quan hệ hợp tác giáo dục Hàn - Việt, hai bên đều quantâm thúc đẩy việc tuyên truyền, giới thiệu văn hóa cũng như ngôn ngữ củanhau Đến nay, nhiều trường đại học ở Hàn Quốc và Việt Nam đã đưa tiếngHàn và tiếng Việt, môn Hàn Quốc học, Việt Nam học vào chương trình dạychính thức của trường mình và các Khoa Tiếng Hàn, Khoa Tiếng Việt cũng đãđược lần lượt thành lập ở nhiều trường đại học của 2 nước Tại Việt Nam,
Trang 21nhiều cuộc thi nói tiếng Hàn cho sinh viên các trường đại học có dạy tiếngHàn trong cả nước thường xuyên được tổ chức để khuyến khích sinh viênngành học này
Qua các chuyến viếng thăm và gặp gỡ thường xuyên giữa các nhà lãnhđạo hai nước đã tạo ra động lực quan trọng cho việc tăng cường quan hệ Xuấtphát từ lợi ích chung và nguyện vọng của nhân dân hai nước cũng như phùhợp với xu thế phát triển của khu vực và trên thế giới, tháng 8 năm 2001,Lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí ký Tuyên bố chung nâng mối quan hệHàn Quốc -Việt Nam lên “quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỷ XXI”.Khuôn khổ hợp tác này đã tạo nền tảng vững chắc và là yếu tố quyết định đểthúc đấy mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triểnnhanh chóng và hiệu quả trong thời gian qua cũng như trong tương lai Nói vềquan hệ với Việt Nam, lãnh đạo Hàn Quốc đã khẳng định rằng Việt Nam làđối tác hợp tác phát triển quan trọng của Hàn Quốc, nguồn tài nguyên thiênnhiên gìau có và nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam kết hợp cùngnguồn vốn và công nghệ của Hàn Quốc sẽ mang lại những kết quả có lợi cho
cả hai quốc gia Cũng trên tinh thần đó, lãnh đạo Việt Nam nhiều lần khẳngđịnh rằng: Phát triển quan hệ hợp tác với Hàn Quốc là chính sách nhất quán
và lâu dài của Chính phủ và nhân dân Việt Nam
1.3 Nhân tố bên trong
1.3.1 Sự phát triển mạnh mẽ của Hàn Quốc và chính sách của Hàn Quốc với Việt Nam
Từ 3 thập niên cuối thế kỷ XX trở lại đây, Hàn Quốc đã đạt đượcnhững thành tựu phát triển hết sức to lớn, được thế giới biết đến với tên gọi
"Kỳ tích sông Hàn" Sự thành công của Hàn Quốc là hội tụ của nhiều nhân
tố, trong đó phải kể tới những đột phá trong chính sách phát triển kinh tế,những nỗ lực không mệt mỏi của người dân Hàn Quốc, giá trị truyền thống
Trang 22lịch sử, văn hoá và đặc biệt là vai trò không thể thiếu của chính sách đốingoại Trong bối cảnh sau chiến tranh lạnh, một loạt những thay đổi trong tất
cả các lĩnh vực an ninh, kinh tế chính trị, xã hội, quốc tế và khu vực tác độngrất lớn đến quá trình hoạch định chính sách đối nội, đối ngoại của các quốcgia Trước bối cảnh đó, Hàn Quốc đã nhanh chóng điều chỉnh chính sách củamình một cách chủ động, linh hoạt và kịp thời, hướng trọng tâm vào việc tậptrung ưu tiên phát triển kinh tế và cải thiện quan hệ đối ngoại với tất cả cácnước, không phân biệt chế độ chính trị Với chiến lược phát triển kinh tếhướng ngoại lấy xuất khẩu làm động lực tăng trưởng đã góp phần quan trọngvào sự chuyển đổi kinh tế toàn diện của Hàn Quốc Dựa trên chiến lược này,nhiều chương trình phát triển đã được thực hiện thành công Kể từ năm 2000,công cuộc cải cách trở thành trọng tâm của chính sách quốc gia Để tạo ra sựđổi mới nhiều hơn trong các ngành công nghiệp, Hàn Quốc đã xúc tiến cácchính sách thân thiện với doanh nghiệp cũng như là các chính sách củng cốhợp tác giữa các công ty lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ Trải qua giai đoạnphát triển ngoạn mục trong một thời gian tương đối ngắn, chính phủ HànQuốc hiện nay đang chú ý tới “chất lượng của tăng trưởng” Để đạt được mụctiêu này, Hàn Quốc đề cập tới 3 trụ cột cho tăng trưởng trong tương lai: tăngtrưởng có thể thúc đẩy tạo ra việc làm, tăng trưởng có thể thúc đẩy nhữngsáng tạo trong các ngành công nghiệp và tăng trưởng đem lại sự phát triển cânbằng giữa các tỉnh cũng như giữa các vùng đô thị, giữa các công ty lớn vànhỏ “Duy trì sự tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc là những ngành côngnghiệp then chốt và đã được thế giới công nhận Hàn Quốc là quốc gia đóngtàu lớn nhất thế giới, đứng thứ 3 thế giới về chất bán dẫn, số 4 thế giới hàng
về hàng điện tử kỹ thuật số, thứ 5 về may mặc, sắt thép và các sản phẩm hoádầu , nếu xét về tổng giá trị và đứng thứ 6 trên thế giới trong lĩnh vực sản xuất
ô tô Giá trị sản lượng nông nghiệp của Hàn Quốc đã tăng rất cao so với
Trang 23nhiều năm trước Năm 2008, mặc dù tăng trưởng về nông nghiệp chậm lạinhưng Hàn Quốc đã đạt được mục tiêu hàng đầu là tự cung tự cấp về gạo -nguồn lương thực chủ yếu của đất nước với sản lượng 4.8 triệu tấn Quá trìnhcông nghiệp hóa làm giảm nhanh số dân làm nông nghiệp Tỷ lệ số dân nôngthôn trong tổng số dân giảm mạnh từ 57% năm 1962 xuống tới 9% năm 2008.Trong hơn hai thập kỷ qua, việc mở rộng và hiện đại hoá công nghiệp đánhbắt cá đã đạt được những thành tựu đáng kể và ngành này đã trở thành mộtnguồn thu ngoại tệ quan trọng.
Về khoa học - công nghệ: Trong những năm 1980, Hàn Quốc đãchuyển trọng tâm sang công tác quy hoạch và thực hiện các dự án Nghiên cứu
và Phát triển (R&D) quốc gia nhằm nâng cao năng lực khoa học và côngnghệ Sự chuyển hướng này bao gồm các chương trình nhằm nâng cao đầu tưNghiên cứu và Phát triển trong cả khu vực kinh tế Nhà nước và tư nhân, bồidưỡng nguồn nhân lực có kỹ năng nghiên cứu và phát triển cao Từ đầu nhữngnăm 1990, Chính phủ đã tập trung vào ba lĩnh vực: tăng cường nghiên cứutrong lĩnh vực khoa học cơ bản, bảo đảm sự phân bổ và sử dụng có hiệu quảcác nguồn nghiên cứu và phát triển mở rộng hợp tác quốc tế Những nỗ lựcnày nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh về công nghệ của Hàn Quốc.“Cuốinăm 2004, tổng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển đạt 19 tỷ đô la Mỹ,chiếm 2,85% GDP Hàn Quốc cũng sẽ tích cực đầu tư cho phát triển côngnghệ phúc lợi công cộng để cải thiện chất lượng cuộc sống, từ đó tạo ra nhũngngành công nghiệp mới
Cải cách tài chính : Một nền kinh tế thị trường hiện đại không thể hoạtđộng hiệu quả nếu thiếu các tổ chức tài chính năng động và được giám sátchặt chẽ - Ủy ban Giám sát Tài chính (FSC) – tổ chức đóng vai trò cơ chếđiều tiết, thiết lập các thông lệ ngân hàng chung - đã tạo ra một hệ thống cácquy chế mới, sự giám sát thận trọng và một đề án thực hiện cải cách Lĩnh
Trang 24vực tài chính phi ngân hàng của Hàn Quốc cũng được cải tổ Tính đến
31-12-2005, Chính phủ Hàn Quốc đã huy động các nguồn tài chính với tổng giá trị
là 168 tỷ won (xấp xỉ 171 tỷ đô la Mỹ) để hỗ trợ các tổ chức tài chính có thểtồn tại trong việc cơ cấu lại vốn, thanh toán các khoản vay không trả được và
xử lý các cơ sở tài chính cũng phải nỗ lực phục hồi, bao gồm cả việc giãmquy mô và tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Đối với Hàn Quốc, tổng giá trịthương mại hàng nhập khẩu tương đương với 70% GDP của cả nước trongnăm 2005, trong khi tổng doanh thu của các đầu tư nước ngoài chỉ chiếmkhoảng 14% Như vậy, Hàn Quốc đang nỗ lực để hỗ trợ các công ty nướcngoài Hàn Quốc đạt 11 tỷ đôla Mỹ đầu tư nước ngoài năm 2006 (tươngđương năm 2005) Sự quan tâm của các nhà đầu tư trong lĩnh vực này làđương nhiên khi xem xét tới đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) khổng lồcủa Hàn Quốc hàng năm, giúp cho Hàn Quốc đứng hàng thứ 10 hàng năm.Việc cống hiến như vậy đã xem lại thành tựu trong nhiều lĩnh vực.Trong năm
2005, Hàn Quốc đứng thứ sáu xét về số lượng xin cấp bằng phát minh sángchế quốc tế nộp tại tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và đến năm 2008Hàn Quốc đứng thứ 3 về số lượng (Mỹ 206.790, Nhật Bản 87.620, Hàn Quốc15.000) đơn đăng ký sáng chế Bên cạnh những tiềm năng của Hàn Quốc làtrung tâm châu Á, Hàn Quốc có một lợi thế nữa là các công ty có thể dễ dàng
mở rộng ra thị trường nước ngoài sau khi đã có hơn một nửa của 500 công tyhàng đầu tạp chí Fortune có mặt tại Hàn Quốc
Đến nay, Hàn Quốc đã có quan hệ ngoại giao với 183 nước trong số
192 thành viên Liên hợp quốc, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khuvục, ngày càng có vị trí quan trọng trên trường quốc tế Năm 1996 HànQuốc trở thành nước thành viên thứ 29 của Tổ chức Hợp tác và Phát triểnKinh tế (OECD) có nền kinh tế lớn thứ 11 thế giới Hàn Quốc nổi lên như một
Trang 25câu chuyện thành đạt trong nhiều lĩnh vực “Kết quả là từ năm 1962 đến năm
2005, tổng thu nhập quốc dân (GN1) của Hàn Quốc tăng từ 2,3 tỷ đô la Mỹlên 786,8 tỷ đô la Mỹ, với thu nhập bình quân tính theo đầu người tăng vọt từ
87 đô la Mỹ/năm lên 16.291 đô la Mỹ/năm và hiện nay GDP bình quân đầungười là hơn 25 nghìn USD" Những con số đầy ấn tượng như vậy cho thấynhững chương trình kinh tế này rõ ràng đã thành công rực rỡ “Hàn Quốccũng có nguồn dự trữ ngoại tệ lớn thứ 4 Trong hơn ba thập kỷ qua, Hàn Quốc
đã đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm 8,6% vả kim ngạchthương mại là 729 tỷ USD Dự trữ ngoại tệ quốc gia tổng cộng chỉ đạt 8.9 tỷUSD cuối năm 1997 đã tăng lên 215,9 tỷ USD tính đến tháng 2-2006" Vớilịch sử là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh của thế giới, HànQuốc đang phấn đấu trở thành đầu mối của khối kinh tế hùng mạnh châu Á
Hàn Quốc chú ý tới Việt Nam bởi Việt Nam có nhiều tiềm năng để pháttriển, đặc biệt là nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nguồn nhân lựclao động dồi dào Với khí hậu có khả năng canh tác 3 vụ trong năm, Việt Nam
có thể xuất khẩu 2 triệu tấn gạo hàng năm, đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩugạo Người ta cũng dự tính rằng mỗi năm Việt Nam có thể khai thác đượckhoảng 4 tỷ thùng dầu thô Ngoài ra các tài nguyên thiên nhiên như khoángsản, bao gồm cả than đá, tài nguyên rừng chiếm khoảng 40% diện tích lãnhthổ v.v và đại bộ phận trong số này còn chưa được khai thác Người ViệtNam được đánh giá là thông minh, quan tâm nhiều đến giáo dục và mức độcầu tiến cao Điều này có thể thấy ở tỷ lệ thất học tại Việt Nam không quá8% Việt Nam, với nền tảng là có một lực lượng lao động phong phú cả vềlượng và chất, giá nhân công thấp sẽ có sự trỗi dậy khi kết hợp với các nướctiên tiến đã phát triển Tổng kim ngạch thương mại hai chiều kể từ khi hainước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992 cho tới 2007 tăng hơn 10 lần (từ
500 triệu USD năm 1992 lên tới 5 tỉ USD năm 2007) Các doanh nghiệp Hàn
Trang 26Quốc đến Việt Nam ngày càng nhiều, điều này thể hiện mối quan tâm của cácnhà đầu tư Hàn Quốc đối với thị trường Việt Nam trên nhiều lĩnh vực ViệtNam đã trở thành điểm thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp HànQuốc và được đánh giá là một trong những địa chỉ đầu tư nước ngoài an toàn,hiệu quả nhất.
Các nước đang phát triển thường phải đối mặt với những vấn đềnghiêm trọng do thiếu kinh nghiệm trong việc vạch ra các kế hoạch kinh tế,thu hút vốn đầu tư cần thiết và triển khai các chính sách thiết yếu cho sự tăngtrưởng kinh tế bền vững Do vậy, kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc có thể
là một mô hình cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
1.3.2 Sự vươn lên về kinh tế của Việt Nam và chính sách của Việt Nam với Hàn Quốc.
Việt Nam có vị tri địa lý - chính trị rất quan trọng ở Châu Á Thái BìnhDương và Đông Nam Á Do đó, thường xuyên thu hút sự quan tâm của cácnước lớn Sau hơn hai mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đấtnước Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử Trong côngcuộc đổi mới, Việt Nam đã từng bước chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu,bao cấp sang cơ chế thị trường, cạnh tranh lành mạnh, hình thành ngày càngđồng bộ các yếu tố thị trường Việt Nam xác định xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN ) và coi đây là mô hình kinh tếtổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nhờ có sự nỗ lực vượt bậcvới những đổi mới mang tính đột phá, nền kinh tế Việt Nam đã vượt quathời kỳ khủng hoảng gay gắt nhất, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, pháđược thế bị bao vây cấm vận của các thế lực đế quốc thù địch, mở rộng quan
hệ quốc tế và nâng cao vị thế ở khu vực cũng như trên thế giới
Bước sang thế kỷ mới, công cuộc đổi mới của Việt Nam ngày càng đivào chiều sâu, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới
Trang 27Kinh tế Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng GDP khá cao, năm sau cao hơnnăm trước, bình quân trong 5 năm (2001 - 2005) là 7,5% và phát triển tươngđối toàn diện Văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; việc gắn phát triểnkinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, nhất là trong côngcuộc xóa đói, giảm nghèo, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện.Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường; quan hệđối ngoại có bước phát triển mới Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp.Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy Đặc biệt, trên lĩnhvực chính trị - đối ngoại, thực hiện đường lối đa phương hóa, đa dạng hóaquan hệ quốc tế, Việt Nam đã ngày càng hội nhập một cách hiệu quả vào đờisống khu vực và quốc tế, góp phần vào việc củng cố xu thế hòa bình, hợp tác
và phát triển ở Đông Nam Á và Châu Á Thái Bình Dương
Đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tất cả các tổ chứcquốc tế, các tổ chức và định chế kinh tế, tài chính, thương mại chủ chốt trênthế giới ( WB, IMF, WTO) “có quan hệ ngoại giao với 170 nước, quan hệthương mại với 220 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được hơn 8 nghìn dự ánđầu tư trục tiếp (FDI) từ 76 nước và lãnh thổ với tổng số vốn hơn 70 tỷ USD.Với đặc điểm địa lý - chiến lược và truyền thống lịch sử, chính trị, văn hóa,cùng với những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển kinh tế - xã hộicủa Việt Nam trong 30 năm đổi mới, Việt Nam tự tin khẳng định vị thế cũngnhư vai trò quan trọng của mình ở khu vực ĐNA nói riêng và thế giới nóichung Những thành công của Việt Nam trong đổi mới ngày càng thu hút mốiquan tâm của Hàn Quốc; Đồng thời, sự phát triển của Hàn Ọuốc trong cảicách được Việt Nam quan tâm, đánh giá cao Từ một nước chậm phát triển,đang tiến hành xây dựng các ngành công nghiệp nặng như điện tử, máy móc,dầu khí, chế tạo thép… nên việc Việt Nam chọn đối tác kinh tế là những quốc
Trang 28gia như Hàn Quốc, nước đã phát triển cao với chính sách ưu tiên công nghiệpnặng là sự lựa chọn hợp lí Vì thế, cả Việt Nam và Hàn Quốc đều coi trọngtăng cường quan hệ mọi mặt với nhau, tìm kiếm các biện pháp hữu hiệu đểđưa quan hệ đối tác toàn diện Hàn- Việt phát triển lên một tầm cao mới
hệ về mọi mặt của hai nước, tạo đà phát triển mạnh mẽ mối quan hệ Hàn Việt, thúc đẩy mối quan hệ Hàn - Việt càng phát triển hơn
Trang 29-CHƯƠNG 2: DIỄN TIẾN CỦA QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016.
2.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao.
Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam tính đến thời điểm này đã trải qua 24năm, trong đó có 17 năm quan hệ ngoại giao song phương và 7 năm quan hệđối tác hợp tác chiến lược Những thành tựu trong quan hệ hợp tác giữa hainước trong 24 năm qua là rất lớn trên các lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế,văn hóa xã hội, giáo dục Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (1992) đếnthời điểm trước khi hai nước nâng thành quan hệ đối tác chiến lược (2009),hợp tác chính trị ngoại giao song phương giữa hai nước không ngừng pháttriển với nhiều hình thức, nội dung phong phú, đa dạng, góp phần tăng cườngtình hữu nghị và hợp tác trên mọi lĩnh vực
Tổng thống Rô Mu Hiên dự Hội nghị APEC -14 tại Hà Nội, đã có cuộc gặpsong phương cấp cao với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ngày17/11/2006 Từ 21đến 24/5/2007, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn SinhHùng thăm làm việc tại Hàn Quốc Đặc biệt, chuyến thăm hữu nghị chínhthức Hàn Quốc và dự hội nghị cấp cao ASEAN- Hàn Quốc của Thủ tướngNguyễn Tấn Dũng tháng 5/2009 đã đánh dấu một giai đoạn mới trong quan hệ
Việt Nam- Hàn Quốc Hai bên đều nhất trí cho rằng mối quan hệ “ Đối tác
toàn diện trong thế kỷ XXI” được thiết lập năm 2001 cần phải được phát triển
lên tầm cao mới thành “ Quan hệ đối tác chiến lược” Một sự kiện có ý nghĩa
quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc
đó là chuyến thăm chính thức Việt Nam ngày 21/10/2009 của Tổng thốngHàn Quốc Lee Myung Park Tại cuộc hội đàm với Chủ tịch nước Việt NamTrần Đức Lương, Tổng thống Hàn Quốc đã nhất trí nâng cấp quan hệ song
phương thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược, tạo cơ sở pháp lý vững chắc
và điều kiện thuận lợi cho việc đưa quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước
Trang 30trong năm 2010 và những năm tiếp theo lên một bước phát triển mới Trong
buổi hội đàm, Tổng thống Hàn Quốc đã khẳng định: trong khuôn khổ hợp tác
mới, quan hệ song phương giữa hai nước không chỉ tập trung vào lĩnh vực kinh tế, thương mại mà sẽ mở rộng tăng cường hợp tác về chính trị, ngoại giao, an ninh cũng như các lĩnh vực hợp tác khác Về phần mình, Chủ tịch
nước Việt Nam Trần Đức Lương cũng nêu rõ: “ Chúng tôi sẽ tạo điều kiện
cho doanh nghiệp hai nước đầu tư, đặc biệt doanh nghiệp Hàn Quốc tiếp tục
đầu tư vào Việt nam, giữ vị trí hang đầu trong nhóm đầu tư vào Việt Nam”.
Điều đáng ghi nhận là, Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Park đã khẳng
định Việt Nam có nền kinh tế thị trường và các doanh nghiệp Hàn Quốc sẽ
tiếp tục mở rộng đầu tư tại Việt Nam trong các lĩnh vực công nghệ cao vàthực hiện các dự án tầm cỡ quốc gia
Sau chuyến thăm của người đứng đầu Nhà nước Hàn Quốc nêu trên,các chuyến thăm chính thức cấp cao giữa hai nước vẫn được tiếp tục đượcduy trì hàng năm Đáng chú ý là chuyến thăm chính thức Hàn Quốc tháng11/2011của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, hai bên đã nhất trí lấy năm 2012
là “Năm Hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc” nhân kỷ niệm 20 năm thiết lập
quan hệ ngoại giao (22/12/1992 - 22/12/2012)
Năm 2012, kỷ niệm 20 năm ngày quan hệ Việt – Hàn, hai bên đã phốihợp tổ chức nhiều hoạt động mang ý nghĩa chính trị quan trọng nhằm thiếtthực chào mừng sự kiện trọng đại này Cũng trong năm này, Thủ tướngNguyễn Tấn Dũng sau khi tham dự Hội nghị Thượng đỉnh An ninh hạt nhânlần thứ 2 tại Seoul từ 26-27/3/2012 đã có chuyến thăm chính thức Hàn Quốc
từ ngày 28-29/3/2012
Nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác đối tác chiến lược giữa hai nước lên mộtbước mới, từ ngày 7-11/9/2013, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun - Hye đã cóchuyến thăm chính thức Việt Nam Trong khuôn khổ của hội đàm giữa hai
Trang 31bên, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun – Hye cho rằng “ Quan hệ giữa hai
nước đã đạt được sự phát triển đáng chú ý trong suốt 20 năm qua, đây là lúc
chúng ta chuẩn bị cho tương lai 20 năm tới và tiến tới đưa hợp tác kinh tế phát triển sâu rộng thêm một tầm nữa”, “Trong thời gian sắp tới, để đưa quan hệ hợp tác kinh tế phát triển thêm một bậc nữa, nhất thiết cần xây dựng khung chính sách thông qua Hiệp định Thương mại Tự do mang tính toàn diện và ở tầm cao; cơ cấu công nghiệp hai nước có sự bổ sung, hỗ trợ lẫn
nhau”.
Nhìn lại chặng đường quan hệ ngoại giao giữa hai nước Hàn Việt Nam có thể thấy, các chuyến viếng thăm lẫn nhau, hai bên đều thốngnhất và cùng hướng đến mục tiêu chung là thúc đẩy quan hệ hợp tác, nhất làhợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư, thực hiện có hiệu quả quan hệ đối táctoàn diện trong thế kỷ XXI vì lợi ích của nhân dân và sự phát triển thịnhvượng của mỗi nước, đóng góp tích cực cho hòa bình,ổn định, hợp tác và pháttriển ở khu vực và trên thế giới
Quốc-Bên cạnh các cuộc tiếp xúc trao đổi cấp cao với nhiều nội dung và hìnhthức phong phú, hai bên còn tiến hành mở rộng việc trao đổi đoàn giữa cácngành, các cấp, các địa phương, đẩy mạnh việc hợp tác trên mọi lĩnh vực,nhất là hợp tác kinh tế Ngoài hợp tác song phương giữa hai nước trong khuônkhổ quan hệ đối tác toàn diện thế kỷ XXI, hai bên còn tăng cường hợp tác tạicác tổ chức và diễn đàn quốc tế,thúc đẩy quan hệ đa phương trong khu vực vàquốc tế như ASEAN + 3, ARF, APEC, ASEM,…
Do những diễn biến phức tạp của tình hình an ninh và quân sự của khuvực cùng sự tiến triển của quan hệ chính trị , ngoại giao hai nước, từ năm
2012 Hàn Quốc và Việt Nam cũng từng bước tăng cường đối thoại quốcphòng song phương Sáng 19/3/2012, tại Hà Nội, Việt Nam và Hàn Quốc đãtiến hành đối thoại chiến lược quốc phòng cấp Thứ trưởng lần thứ nhất, dưới
Trang 32sự đồng chủ trì của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốcphòng Việt Nam và ngài Lee Young Geol, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng HànQuốc Tại buổi đối thoại, cùng với việc trao đổi tình hình thế giới, an ninhkhu vực, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh và ngài Lee Young Geol đều nhấttrí cho rằng, thời gian qua mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc đangbước vào giai đoạn phát triển mới, đi vào chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực;Trong đó hợp tác quốc phòng tiếp tục phát triển tích cực, hiệu quả và phù hợpvới quan hệ đối tác chiến lược mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã thỏa thuận.Đặc biệt, thông qua tiếp xúc, giao lưu và đối thoại chiến lược quốc phòng,quân đội hai nước đã xây dựng được lòng tin, sự hiểu biết lẫn nhau, tạo rađộng lực mới để phát triển mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai quân đội.
Về phương hướng hợp tác, hai bên nhất trí nhiều biện pháp nhằm tăng cườngthúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương trên các lĩnh vực trao đổi đoàn,hợp tác công nghiệp quốc phòng, đào tạo, tổ chức các hoạt động kỷ niệm 20năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hàn Quốc và năm hữu nghị ViệtNam - Hàn Quốc Hai bên cũng đề cập việc triển khai quan hệ quốc phòng đaphương đã ký kết tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mởrộng lần thứ nhất (ADMM +) diễn ra tại Hà Nội vào năm 2010 và các vấn đềcùng quan tâm, góp phần làm sâu sắc thêm mối quan hệ hữu nghị, tốt đẹpgiữa quân đội và nhân dân hai nước Tại hội nghị, hai bên nhất trí tổ chức đốithoại chiến lược quốc phòng cấp Thứ trưởng lần thứ hai tại Hàn Quốc vàonăm 2013
Ngày 8/9/2015, tại Seoul, Hàn Quốc, đã diễn ra Đối thoại chiến lược vềngoại giao, an ninh, quốc phòng Việt Nam - Hàn Quốc lần thứ 4 Đoàn ViệtNam do Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn dẫn đầu Hai bên đã trao đổisâu rộng về những vấn đề mang tầm chiến lược trong quan hệ song phương,các vấn đề quốc tế và khu vực hai bên cùng quan tâm Hai bên bày tỏ vui
Trang 33mừng trước sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện và ngày càng sâu sắc của quan
hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc trong thời gian qua Hai bên nhất trí duy trìthường xuyên hoạt động trao đổi đoàn cấp cao và đoàn các Bộ, ngành, địaphương và tổ chức hữu nghị hai nước; tăng cường hợp tác thực chất trên cáclĩnh vực an ninh, quốc phòng, bảo hộ công dân, văn hóa và giao lưu nhân dân;thúc đẩy triển khai hiệu quả Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam –Hàn Quốc, phấn đấu thực hiện mục tiêu đạt kim ngạch thương mại songphương 70 tỷ USD vào năm 2020 song song với nỗ lực cải thiện tình trạngmất cân bằng cán cân thương mại hiện nay
Hai bên nhất trí tăng cường phối hợp tại các diễn đàn quốc tế và khu vực,nhất là tại Liên hợp Quốc, APEC, ARF, ASEAN + 1, ASEAN + 3 và Cấp caoĐông Á (EAS) Về vấn đề Biển Đông, hai bên nhất trí về tầm quan trọng củaviệc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh tự do hàng hải và hàng không, giảiquyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế,các bên liên quan cần thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ởBiển Đông (DOC), sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử (COC ) Phía Hàn Quốc
đã trình bày quan điểm, lập trường của Hàn Quốc về tình hình Bán đảo TriềuTiên, quan hệ liên Triều và các vấn đề liên quan Phía Việt Nam khẳng địnhlại chính sách nhất quán ủng hộ hòa bình, ổn định và phi hạt nhân hóa Bánđảo Triều Tiên Sáng 27-12 - 2016, tại Trụ sở Bộ Quốc phòng, Thượng tướngNguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đoàn đại biểu quốcphòng Việt Nam tiến hành Đối thoại chính sách quốc phòng lần thứ 5 vớiđoàn đại biểu Bộ Quốc phòng Hàn Quốc, do ông Hoang In-Mu, Thứ trưởng
Bộ Quốc phòng Hàn Quốc làm trưởng đoàn Tham gia Đối thoại còn có đạidiện một số quân binh chủng thuộc quân đội hai nước Tại Đối thoại, hai bên
đã tổng kết các mặt đã làm được, cùng nhau trao đổi một số tình hình trongquan hệ song phương, khu vực và quốc tế; hai bên khẳng định, những năm
Trang 34gần đây, quan hệ của hai nước có bước phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ trêncác lĩnh vực như hợp tác kinh tế, trao đổi đoàn, khoa học kỹ thuật, côngnghiệp, công nghệ thông tin, giao lưu văn hóa, nghệ thuật, du lịch… HànQuốc hiện là một trong những đối tác kinh tế, thương mại quan trọng hàngđầu của Việt Nam Trong bối cảnh quan hệ giữa hai quốc gia ngày càng pháttriển tốt đẹp, quan hệ quốc phòng hai nước cũng ngày càng phát triển, đónggóp tích cực cho quan hệ hai nước Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh khẳngđịnh, Việt Nam luôn ủng hộ chính sách hòa bình, hòa giải, tuân thủ luật phápquốc tế và phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên Thượng tướng Nguyễn ChíVịnh đề nghị hai bên tiếp tục thực hiện giao lưu, trao đổi đoàn các cấp; lấy đốithoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng làm cơ sở để phát triển quan hệtrong lĩnh vực quốc phòng Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng đã trao đổivới phía Hàn Quốc về một số nội dung hợp tác có nhiều tiềm năng như: Hợptác giữa lực lượng cảnh sát biển; hợp tác trên các diễn đàn đa phương và côngnghiệp quốc phòng; tìm kiếm cứu nạn; quân y; khẳng định sẵn sàng tạo điềukiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Hàn Quốc có nhu cầu đầu tư vào lĩnh vựccông nghiệp quốc phòng ở Việt Nam…Nhất trí với ý kiến của Thượng tướngNguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoang In-Mu cho rằng, trong
5 năm qua, các kỳ Đối thoại được tổ chức thường xuyên, luân phiên ở mỗinước luôn đạt kết quả Thực chất, giúp hai bên hiểu và tin tưởng nhau, từ đóthúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai Bộ Quốc phòng, có đóng góp thiết thực choquan hệ tốt đẹp giữa hai nước Thứ trưởng Hoang In-Mu khẳng định, BộQuốc phòng Hàn Quốc mong muốn có thêm nhiều hoạt động thiết thực với
Bộ Quốc phòng Việt Nam; tăng cường hợp tác trong lĩnh vực công nghệthông tin, chia sẻ những kinh nghiệm trong hoạt động gìn giữ hòa bình, đàotạo ngoại ngữ, hợp tác trong các lĩnh vực nhân đạo, hợp tác trong cứu hộ, cứunạn, cảnh sát biển
Trang 352.2 Quan hệ kinh tế.
2.2.1 Thương mại song phương
Về kinh tế Hàn Quốc là nước hiện có nền kinh tế đứng thứ 4 châu Á vàthứ 15 trên thế giới, Hàn Quốc có kim ngạch thương mại năm 2012 đạt trên1.167,7 tỷ USD Riêng 7 tháng đầu năm 2013, quốc gia này đạt kim ngạchthương mại 622,3 tỷ USD và duy trì được thặng dư thương mại 18 tháng liêntiếp Cũng tính đến thời điểm tháng 7/2013, dự trữ ngoại tệ của Hàn Quốc đạt329,7 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay và cao gấp 10 lần năm 1997, duy trì
vị trí nước đứng thứ 7 thế giới về lượng ngoại tệ dự trữ
Mặc dù tình hình kinh tế thế giới và khu vực không thuận, bản thânkinh tế Hàn Quốc cũng gặp nhiều khó khăn, song các doanh nghiệp Hàn Quốcđều bày tỏ nguyện vọng tiếp tục làm ăn lâu dài tại Việt Nam, một số tập đoànlớn như Samsung, LG đang có kế hoạch tăng vốn đầu tư, mở rộng hoạt độngkinh doanh tại Việt Nam Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ 4 của ViệtNam và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 9 của Hàn Quốc Kim ngạch thươngmại song phương trong năm 2012 đạt 21,12 tỷ USD, tăng gấp 42 lần so với
500 triệu USD năm 1992 Trên cơ sở đồng thuận của quan hệ ngoại giaochính trị giữa hai nước, theo đó quan hệ hợp tác kinh tế cũng không ngừngphát triển Số liệu thống kê hải quan mới nhất cho thấy trong giai đoạn từ năm
2010 - 2015, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và HànQuốc liên tục đạt tốc độ tăng trưởng dương, từ mức 12,8 tỷ USD trong năm
2010, tăng gấp 2,8 lần lên mức 36,55 tỷ USD trong năm 2015.
Trong nhiều năm qua, cán cân thương mại hàng hóa giữa hai nước luôn mấtcân bằng với thâm hụt nghiêng về phía Việt Nam Điều đáng chú ý là mứcthâm hụt ngày càng tăng Số liệu cụ thể như trong Biểu đồ 1
Trang 36Biểu đồ 1: Thống kê kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại
giữa Việt Nam và Hàn Quốc, giai đoạn 2010-2015 và 8 tháng/2016
Số liệu thống kê trong Bảng 1 ghi nhận từ 2010 đến năm 2015 và 8tháng tính từ đầu năm 2016, Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớnthứ 4 của Việt Nam, trong khi đó ở chiều ngược lại, Hàn Quốc là nguồn hàngnhập khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam Như vậy, tính tổng thể Hàn Quốc là đốitác thương mại lớn thứ 3 trong số hơn 200 nước, vùng lãnh thổ đối tác thươngmại của Việt Nam
Trang 37Bảng 1: Tỷ trọng và thứ hạng của kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và kim ngạch xuất
nhập khẩu Việt Nam – Hàn Quốc trong năm 2014, 2015 và 8T/2016
Số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy, tínhđến hết tháng 8/2016, tổng kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam –Hàn Quốc đạt 27,5 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2015 Trong đó,tổng trị giá hàng hóa Việt Nam nhập khẩu có xuất xứ từ Hàn Quốc là 20,26 tỷUSD, tăng 8,8% và xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường này là 7,24
tỷ USD, tăng mạnh 35,1% so với cùng thời gian của một năm trước đó
Trong 8 tháng/2016, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốccác mặt hàng như: Điện thoại và linh kiện; sản phẩm dệt may; máy vi tính,sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; thủysản…
Trang 38Biểu đồ 2: Thống kê kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng chính của Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc trong
8 tháng/2016 so với 8 tháng/2015
Trong khi đó, các mặt hàng nhập khẩu chính mà Việt Nam nhập khẩu có xuất
xứ từ thị trường này bao gồm: Máy vi tính và sản phẩm điện tử; máy mócthiết bị, dụng cụ và phụ tùng; điện thoại và linh kiện, vải các loại…
Biểu đồ 3: Thống kê kim ngạch nhập khẩu 10 nhóm hàng chính của Việt Nam nhập khẩu từ
Hàn Quốc trong 8 tháng/2016 so với 8 tháng/2015
Trang 39Sau khi quan hệ ngoại giao hai nước được chính thức thiết lập, theo đó,hợp tác thương mại giữa hai nước cũng nhanh chóng phát triển Bảng thống
kê sau sẽ phản ánh kim ngạch buôn bán giữa hai nước
Đơn vị tính (triệu USD)
Năm2007
Năm2008
Năm2009
Năm2011
Năm2015
hơn 7 tỷUSD
hơn 9 tỷUSD
hơn 15 tỷUSD
18 tỷUSD
36,55 tỷUSD
Nguồn 1: Thứ tự nguồn tài liệu trích dẫn số 20, Nguyễn Hoàng Giáp (chủ
biên) (2009), Hàn Quốc với khu vực Đông Á sau chiến tranh lạnh và quan hệ
Việt Nam - Hàn Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội., tr 149 (từ năm 1992
– 2008)
Nguồn 2:
https://customs.gov.vn/Lists/ThongKeHaiQuan/ViewDetails.aspx?ID=1001&Category=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20chuy%C3%AAn%20%C4%91
%E1%BB%81&Group=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch ( thể hiện qua Biểu
đồ 1 trang 29 của Luận văn từ năm 2009 – 2015)
Nhìn vào bảng thống kê trên ta thấy, doanh số trao đổi thương mại giữahai nước ngày càng tăng Nếu như năm 1992, doanh số đạt được còn ở mứckhiêm tốn là 480 triệu USD thì đến năm 2008, đã tăng lên trên 9 tỷ USD, vànăm 2015 lên tới 36,55 tỷ USD Hiện nay Hàn Quốc là bạn hàng lớn thứ 3của Việt Nam
Kể từ những năm 1980, Việt Nam đã có sự trao đổi mậu dịch với HànQuốc Song quan hệ thương mại giữa hai nước chỉ thực sự phát triển nhanh
từ đầu những năm 1990 sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chínhthức đến nay Trong nhiều năm qua, Hàn Quốc luôn là đối tác thương mạiquan trọng của Việt Nam
Trang 40Từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, giao dịch thương mạihai chiều giữa hai nước đã tăng 26 lần Tốc độ tăng trưởng thương mại songphương từ năm 1992 đến năm 2011 đạt mức bình quân 27%/năm Đặc biệtgiai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)(2007 đến nay), tăng trưởng thương mại song phương Việt Nam - Hàn Quốc
đã đạt bình quân 42,5%/năm Hàn Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớnthứ 4 của Việt Nam Kim ngạch thương mại song phương hai nước trong năm
2011 đạt gần 18 tỷ USD, tăng trên 39% so với năm trước; hai nước đang tiếptục đẩy mạnh quan hệ thương mại để phấn đấu đạt mục tiêu tổng kim ngạchthương mại hai chiều 20 tỷ USD vào trước năm 2015, và 30 tỷ USD vào năm2020; đồng thời tích cực hợp tác nhằm giảm dần và hướng tới sự cân bằng cáncân thương mại giữa hai nước
2.2.2 Hợp tác đầu tư
Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam được coi là lĩnh vực quan trọngnhằm thu hút nguồn vốn FDI phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa củaViệt Nam Tính đến thời điểm tháng 9/2009, vốn đầu tư của Hàn Quốc vàoViệt Nam đạt con số kỷ lục gần 18 tỷ USD Xét về quy mô của các dự án củaHàn Quốc đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là những dự án vừa và nhỏ gồm cáchạng mục công trình như lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, dịch vụ Thịtrường Việt Nam đã được các nhà đầu tư Hàn Quốc đánh giá cao và coi đó làthị trường hấp dẫn đối với họ Các dự án của Hàn Quốc hoạt động tại ViệtNam đã thu hút hơn 500 ngàn lao động người Việt, góp phần vào sự pháttriển kinh tế xã hội của Việt Nam
Về đầu tư trực tiếp, theo Thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kếhoạch và Đầu tư), lũy kế các dự án còn hiệu lực tính đến ngày 30/6/2012, HànQuốc có gần 3.000 dự án đầu tư vào Việt Nam, với tổng vốn đăng ký đạt gần
24 tỷ USD, tăng khoảng 100 lần so với thời điểm ban đầu Hàn Quốc trở