Kế thừa chính sách đối ngoại của các tổng thống tiền nhiệm, sau khi lên nắm chính quyền vào năm 2009, Tổng thống Barack Obama tiếp tục phát triển hơn nữa quan hệ với các nước châu Á - Th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐINH THỊ VÂN THÙY
QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM
TRONG NHIỆM KÌ II CỦA TỔNG THỐNG
BARACK OBAMA (1/2013 - 1/2017)
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số: 60.22.03.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS HOÀNG THỊ HẢI YẾN
NGHỆ AN - 2017
Trang 2i
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến TS Hoàng Thị Hải Yến đã dành nhiều thời gian, tận tình hướng dẫn cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Khoa Sau đại học Trường Đại học Vinh và Bộ môn Lịch sử Thế giới đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài này
Tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Học viện Ngoại giao Hà Nội, Thư viện Trường Đại học Vinh và Thư viện tỉnh Nghệ An đã cung cấp thông tin, số liệu, cho tôi cơ hội tiếp cận với các nguồn tài liệu
Tôi xin cảm ơn gia đình, các đồng chí lãnh đạo Trường THPT Yên Thành
II, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên tôi, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Do hạn chế về thời gian và năng lực nghiên cứu của bản thân cho nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô và bạn đọc để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 8, năm 2017
Tác giả
Đinh Thị Vân Thùy
Trang 3ii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 8
NỘI DUNG 9
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM TRONG NHIỆM KÌ II CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (1/2013 - 1/2017) 9
1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương 9
1.1.1 Bối cảnh thế giới 9
1.1.2 Bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương 12
1.2 Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trước nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama 15
1.3 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Việt Nam đầu thế kỷ XXI 20
1.3.1 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đầu thế kỷ XXI 20
1.3.2 Chính sách đối ngoại của Việt Nam đầu thế kỷ XXI 26
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2 DIỄN TIẾN QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM TRONG NHIỆM KÌ II CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (1/2013 - 1/2017) 32
Trang 4iii
2.1 Chính trị, ngoại giao 32
2.2 Quốc phòng - an ninh 40
2.3 Kinh tế 44
2.3.1 Thương mại 44
2.3.2 Đầu tư 49
2.4 Văn hoá, giáo dục và khoa học công nghệ 55
2.4.1 Văn hóa - giáo dục 55
2.4.2 Khoa học công nghệ 59
2.5 Hợp tác giải quyết những tồn đọng về xã hội, nhân đạo 67
2.5.1 Tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh 67
2.5.2 Giải quyết hậu quả chất độc da cam/dioxin 69
Tiểu kết chương 2 74
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM TRONG NHIỆM KÌ II CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (1/2013 - 1/2017) 76
3.1 Điểm nổi bật của quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017) 76
3.2 Thành tựu và hạn chế của quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017) 86
3.2.1 Thành tựu 86
3.2.2 Hạn chế 88
3.3 Tác động của quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017) 90
3.3.1 Đối với Hoa Kỳ 90
3.3.2 Đối với Việt Nam 92
3.3.3 Đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương 96
3.4 Triển vọng của quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam 98
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 5iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Meeting Plus
Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng
ASEAN mở rộng
Cooperation
Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á -
Thái Bình Dương
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
phương
China Sea
Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông
Parties in the South China Sea
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở
Biển Đông
xuyên Thái Bình Dương
Trang 6v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng:
Bảng 2.1 Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Hoa
Kỳ năm 2015 và 04 tháng đầu năm 2016 46
Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1 Kim ngạch thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1994 -
2015 45 Biểu đồ 2.2 Xuất nhập khẩu Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 2000 - 2016 47 Biểu đồ 3.3 Các bạn hàng lớn của Việt Nam tính theo giá trị thương mại
hai chiều 48
Trang 7Kế thừa chính sách đối ngoại của các tổng thống tiền nhiệm, sau khi lên nắm chính quyền vào năm 2009, Tổng thống Barack Obama tiếp tục phát triển hơn nữa quan hệ với các nước châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam được thúc đẩy lên một tầm cao mới: quan hệ Đối tác toàn diện Xét về phương diện thực tế cũng như tinh thần quốc tế, mối quan hệ này ngày càng được củng cố và phát triển trên các mặt kinh tế, chính trị,
xã hội, ngoại giao hướng tới mục tiêu hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của hai nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thế giới
Ngày nay, cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung diễn ra quyết liệt, là một quốc gia được xem “nằm ở vị trí quốc gia trung gian”, Việt Nam đang đứng trước những thách thức gay gắt về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đặc biệt là vấn đề Biển Đông Trong bối cảnh đó, việc đẩy mạnh quan hệ với Hoa Kỳ trong khuôn khổ chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại nhằm bảo vệ và phát triển đất nước là điều tối quan trọng
Trang 82
Có thể nói, việc nghiên cứu quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama giúp chúng ta có cái nhìn một cách khách quan, đánh giá đúng đắn về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam, từ đó mới có thể điều chỉnh, hoạch định chính sách đối ngoại thích hợp, hiệu quả để bảo vệ và phát triển đất nước trong khả năng tốt nhất
Xuất phát từ những giá trị thực tiễn và ý nghĩa khoa học nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017) ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam là vấn đề đã, đang và sẽ được nhiều học giả
trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Trong khả năng tiếp cận của bản
thân, quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 1 năm 2017 được đề cập trong các công trình, sách chuyên khảo, luận án Tiến sĩ như:
Công trình do Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên), Cạnh tranh chiến lược ở khu vực Đông Nam Á giữa một số nước lớn hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, 2013, trình bày cạnh tranh chiến lược của các nước Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Tây Âu, Nhật Bản ở khu vực Đông Nam Á trước 2011, trong
đó có đề cập khái lược chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam
Công trình Góp phần tìm hiểu quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, Nxb Chính trị
Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2010 của Phạm Xanh đề cập đến lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, chủ yếu đề cập đến các cơ hội thúc đẩy quan hệ hai nước bị
bỏ lỡ, là cơ sở lịch sử cho việc nghiên cứu mối quan hệ này
Công trình Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2006
do Nguyễn Xuân Sơn - Nguyễn Văn Du chủ biên đề cập đến chiến lược đối
Trang 93
ngoại của các nước lớn, trong đó có đề cập khái lược chính sách của Hoa Kỳ ở châu Á - Thái Bình Dương, có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài
Công trình “Nước Mỹ năm đầu thế kỉ XXI”, Trung tâm Khoa học xã hội nhân
văn Quốc gia - Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ, Nxb Khoa học xã hội, năm 2000
do Nguyễn Thiết Sơn (chủ biên), đề cập đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
và quan hệ của Hoa Kỳ với các nước trên thế giới dưới góc nhìn từ phía Hoa Kỳ Trong đó, quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam được đề cập đến một cách khái quát về các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội
Công trình “Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1990 - 2000)", Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM năm 2005.của PGS TS Lê Văn Quang
đề cập đến quá trình đi đến bình thường hóa quan hệ của hai quốc gia Trong đó tác giả đề cập chủ yếu đến quan hệ ngoại giao, chính trị, kinh tế một cách chặt chẽ và có tính hệ thống từ năm 1990 đến năm 2000
Công trình do Trần Nam Tiến (chủ biên), “Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thực trạng và triển vọng”, Nxb Thông tin và Truyền Thông, đã miêu tả bức tranh toàn
cảnh về mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ những năm 70 của thế kỉ XIX đến năm 2010 Trong đó, phần lớn đề cập đến giai đoạn 1995 - 2010 trên nhiều lĩnh vực Tác giả cùng nêu lên những hạn chế và tồn tại của quan hệ hai nước về ý thức hệ và những vấn đề làm cho quan hệ hai nước chưa trở thành “đối tác” quan trọng Cuối cùng, tác giả cho rằng quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam sẽ phát triển cao hơn nữa trong tương lai
Công trình do TS.Bùi Thị Phương Lan (chủ biên), “Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ 1994 - 2010” Nxb Khoa học xã hội, trình bày quan hệ Hoa Kỳ - Việt
Nam dưới cách nhìn của Hoa Kỳ Đây là tác phẩm đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ khi bùng nổ cuộc chiến tranh ở Việt Nam cho đến khi bình thường hóa quan hệ Trong đó quan hệ chính trị, ngoại giao, kinh tế được trình bày một cách cụ thể có hệ thống thông
Trang 104
qua việc phân tích chính sách của cả hai bên Hoa Kỳ - Việt Nam cho thấy sự thăng trầm trong quan hệ hai nước Tác giả dự báo trong tương lai Việt Nam sẽ
là đối tác toàn diện của Hoa Kỳ
Về tạp chí cũng có nhiều bài viết liên quan trực tiếp đến đề tài như:
“Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam: những thách thức trong nhiệm kỳ của Tổng thống B.Obama”, Châu Mỹ ngày nay, số 4 - 2009 của TS Tạ Minh Tuấn đã tổng quát
lại quan hệ của hai nước từ 1995 đến năm 2009 trên các lĩnh vực như kinh tế, quốc phòng và các lĩnh vực khác Trong đó, tác giả đề cập đến những thuận lợi
và thách thức đối với chính quyền B.Obama trong việc thiết lập quan hệ với Việt Nam và nâng tầm quan hệ này lên một bước mới
“Nhìn lại quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và những chuyển biến trong quan hệ song phương đầu thế kỉ XXI (2001-2010)”, Ngày nay, số
12 - 2010 của ThS Bùi Thị Thảo đã tập trung chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế và triển vọng của mối quan hệ này Bên cạnh đó, tác giả nhận định thông qua các chuyến ngoại giao của hai nước trong những năm gần đây sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng tầm mối quan hệ sang một nấc thang mới
“Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ triển vọng hợp tác”, Ngày nay, số 6 –
2010 của Nguyễn Thiết Sơn đã đề cập đến quan điểm hợp tác của hai nước Hoa
Kỳ - Việt Nam Quan hệ của hai nước đã đạt được những thành công nhất định
là do hai nước đã xóa bỏ dần những đau thương trong qua khứ và tiến lên phía trước Tuy nhiên, lĩnh vực chủ yếu mà hai bên đạt được nhiều thành tựu vẫn là kinh tế Tác giả nhận định trong tương lai quan hệ hai nước sẽ là hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực
“Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam: 35 năm nhìn lại”, Nghiên cứu quốc tế số 3
(82), 9/2010 của Nguyễn Mạnh Hùng đã đề cập chủ yếu về quan hệ chính trị, hợp tác quân sự Tác giả đi sâu phân tích quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam dưới góc
độ chính trị và chiến lược trong bối cảnh chung của quan hệ quốc tế Tác giả cho
Trang 11“Đôi nét về nhóm lợi ích với quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ”, Châu Mỹ
ngày nay, số 5-2013 của Th.S Nguyễn Anh Hùng đã tiếp cận quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam dưới góc độ kinh tế, qua đó tác giả đề cập đến những nhóm lợi ích cúa các Đảng và Nhà nước Việt Nam trong mối quan hệ với Hoa Kỳ
“Chủ tịch Trương Tấn Sang thăm Hoa Kỳ và đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ“, Châu Mỹ ngày nay, số 7- 2013 của Nguyễn Tuấn Minh đề cập đến
hoạt động và ký kết giữa Hoa Kỳ - Việt Nam trong chuyến thăm và làm việc của chủ tịch Trương Tấn Sang tại Hoa Kỳ Tác giả đề cập đến quan hệ giữa hai nước với những bước triển vọng mới trên những lĩnh vực hợp tác như: kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục
Một nguồn tài liệu cũng rất quan trọng có liên quan trực tiếp đến đề tài đó
là các bài báo, các website chính thức của chính phủ hai nước, các chuyên đề của Thông tấn xã Việt Nam đăng trên các ấn phẩm như Tin hàng ngày, Tài liệu
tham khảo đặc biệt… Nổi bật như, Bộ Ngoại giao Việt Nam, Chính sách đối ngoại của Việt Nam, http://www.mofahcm gov.vn/vi/mofa/ csdoingoai/ cs/ns040823163); Báo điện tử Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Tuyên bố chung giữa Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ và CHXHCN Việt Nam (25/7/2013)
baodientu.chinhphu.vn/The-gioi-va-Viet-Nam/Tuyen-bo-chung-Viet-Nam-Hoa -
Kỳ
Điểm lại các công trình nghiên cứu mà tác giả tập hợp, hệ thống được, có thể rút ra nhận xét sau: các công trình nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ Hoa
Trang 126
Kỳ - Việt Nam (1/2013 - 1/2017) còn phân tán Các chuyên khảo, luận án mới chỉ hoặc là nghiên cứu giai đoạn trước năm 2013, hoặc là nghiên cứu một lĩnh vực trong mối quan hệ này, hoặc là đề cập mối quan hệ này dưới góc độ quan
hệ quốc tế Việc hệ thống và tái hiện lại mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong giai đoạn 1/2013 - 1/2017 trở nên cần thiết và bổ ích
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017) nhằm dựng lại bức tranh tổng thể về quan hệ hai nước trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và giải quyết những tồn đọng về xã hội, nhân đạo Trên cơ sở đó, bước đầu rút ra một số điểm nổi bật, thành tựu và hạn chế, triển vọng và tác động của mối quan hệ này đối với mỗi nước, khu vực và thế giới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ ra những nhân tố tác động đến quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017)
- Làm rõ diễn tiến của quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, quốc phòng - an ninh, kinh tế, văn hoá - giáo dục, khoa học công nghệ, hợp tác giải quyết những tồn đọng về xã hội, nhân đạo giai đoạn từ tháng 1/2013 đến tháng 1/2017
- Đưa ra một số nhận xét về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017) và triển vọng của mối quan
hệ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017)
Trang 13Ngoài đối tượng nghiên cứu, giới hạn và nội dung nêu trên, những vấn đề khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Khi tiến hành thực hiện luận văn này, nguồn tư liệu chủ yếu tác giả khai thác và sử dụng gồm:
- Tài liệu gốc: các tuyên bố chung; các hiệp ước kí kết giữa Hoa Kỳ và Việt Nam; các nghị định, công hàm trao đổi giữa hai bên; báo cáo của các bộ, ngành gửi ngoại trưởng hai nước
- Các công trình chuyên khảo có nội dung phản ánh trực tiếp quan hệ Hoa
Kỳ - Việt Nam
- Các bài báo khoa học có liên quan đến đề tài được công bố trên các tạp
chí khoa học trong nước: Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Quốc tế; Tài liệu tham khảo tại Thông tấn xã Việt Nam
- Các trang Web
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về các vấn đề quốc tế, về đường lối đối ngoại
Trang 148
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh để giải quyết vấn đề mà đề tài đặt ra
6 Đóng góp của luận văn
Với hạn chế về nguồn tư liệu và năng lực bản thân, luận văn có một số đóng góp sau:
- Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống, phục dựng bức tranh toàn cảnh về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017)
- Trên cơ sở những cứ liệu lịch sử, luận văn bước đầu nêu những những nét nổi bật, thuận lợi và thách thức của mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam đối với
sự phát triển của mỗi nước
- Luận văn có thể bổ sung, cập nhật những tư liệu mới phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam nói riêng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
kết cấu 3 chương
Chương 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam
trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017)
Chương 2 Diễn tiến quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong nhiệm kì II của
Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017) Chương 3 Một số nhận xét về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong nhiệm
kì II của Tổng thống Barack Obama (1/2013 - 1/2017)
Trang 15
9
NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM TRONG NHIỆM KÌ II
CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (1/2013 - 1/2017)
1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương
1.1.1 Bối cảnh thế giới
Bước vào thế kỷ XXI, tình hình thế giới và khu vực có những biến đổi sâu sắc, tác động trực tiếp tới quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam nói riêng, trong đó nổi lên một số vấn đề sau:
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển ngày càng cao đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp làm quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội, tăng nhanh năng suất lao động đã đem lại cơ hội ứng dụng để phát triển đất nước cho hầu hết các quốc gia trên thế giới Dù có lợi thế lớn hơn so với các nước đang và kém phát triển, Hoa Kỳ cũng như các nước phát triển khác có sức ép ngày một lớn trong việc mở rộng thị trường, thúc đẩy vốn đầu tư ra nước ngoài đặc biệt tới các quốc gia đang phát triển có nhiều ưu đãi thu hút FDI và thị trường tiềm năng như Việt Nam Trong khi Việt Nam và các nước đang phát triển cũng có nhu cầu tranh thủ nguồn lực khoa học - công nghệ từ các nước này để cải thiện năng suất lao động trong nước Như vậy, nhu cầu về khoa học - công nghệ đang gắn kết hợp tác giữa hai nhóm nước với nhau Tuy nhiên không chỉ có cơ hội, Việt Nam và các nước đang phát triển gặp thách thức lớn khi bảo vệ lợi ích của bản thân và nhóm nước mình trong cạnh tranh và hợp tác với các nước phát triển như Hoa Kỳ
Với tác động trực tiếp của cách mạng khoa học - công nghệ, toàn cầu hóa
Trang 1610
đã tăng phạm vi và cường độ lớn hơn nhiều lần giai đoạn trước đó, là xu thế chủ đạo trên thế giới hiện nay, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia thông qua hội nhập quốc tế Toàn cầu hóa vẫn chủ yếu phát triển mạnh trên lĩnh vực kinh
tế thể hiện rõ nét qua hội nhập kinh tế quốc tế với việc hình thành khu vực mậu dịch tự do, khu vực thuế quan, tiền tệ thị trường chung Hội nhập quốc tế trong
xu thế toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, cũng làm cho cạnh tranh gay gắt về lợi ích giữa các nước với nhau, đem đến thách thức to lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển; đồng thời nảy sinh những vấn đề mang tính toàn cầu như bảo vệ môi trường, phòng ngừa và đẩy lùi bệnh tật, chống tội phạm quốc tế, giải quyết khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới Những vấn đề này ngày càng phát triển trên quy mô lớn, trải dài trên diện rộng với tính chất phức tạp, khiến các quốc gia không thể một mình giải quyết mà phải hợp tác đa phương để phát huy sức mạnh, trách nhiệm trong cộng đồng Việt Nam hội nhập quốc tế là tham
gia xu thế tất yếu của lịch sử, do đó quá trình này là nhân tố quan trọng đưa Việt Nam đến quan hệ gần hơn với các nước, đặc biệt với Hoa Kỳ Ngược lại, Hoa
Kỳ trong quá trình toàn cầu hóa cũng không thể "bỏ qua" mối quan hệ với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển cùng có lợi và chung sức giải quyết các vấn đề có tính toàn cầu vẫn là xu thế lớn, nổi trội hiện nay Xu thế này được quyết định bởi lợi ích chung và sự đan xen lợi ích giữa các quốc gia, các khu vực trong bối cảnh tương đối hòa bình Tuy nhiên, bối cảnh quốc tế đầu thế kỉ XXI không chỉ chứng kiến xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển mà còn đối mặt với những vấn đề mới nảy sinh, tạo ra những thách thức cho các thiết chế hợp tác quốc tế cũng như quan hệ giữa các quốc gia Tình hình ở một số khu vực trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động mạnh đến môi trường
an ninh và phát triển của nhiều quốc gia
Tại Đông Bắc Á, tranh chấp biển đảo giữa Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn
Trang 1711
Quốc ở biển Hoa Đông leo thang khiến quan hệ giữa các nước xuất hiện nhiều căng thẳng Đáng chú ý, quan hệ Trung - Nhật bị đẩy vào trạng thái nghiêm trọng nhất kể từ sau vụ va chạm tàu 9/2010 Quan hệ liên Triều vẫn căng thẳng, vấn đề phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên tiếp tục bế tắc
Trung Đông và Bắc Phi tiếp tục là những khu vực bất ổn, căng thẳng nhất trên thế giới do những mâu thuẫn nội tại trong nền chính trị - xã hội, tôn giáo, sắc tộc bộc lộ ngày càng sâu sắc trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược quyết liệt giữa các nước lớn Khủng hoảng chính trị - xã hội đã lan ra 20/22 quốc gia trong khu vực và tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiều lúc vượt ra khỏi vòng kiểm soát Khủng hoảng Syria có xu hướng bị quốc tế hóa Căng thẳng giữa Iran với Hoa
Kỳ, Israel và phương Tây vẫn tiếp diễn Các cuộc đàm phán hạt nhân giữa Iran
và các nước P5+1 không đạt kết quả Hoa Kỳ phối hợp với EU tăng cường cấm vận đối với Iran Cả Iran, Hoa Kỳ, Israel đều chủ động tiến hành nhiều biện pháp răn đe lẫn nhau Tiến trình hòa bình Trung Đông vẫn bế tắc, mặc dù Palestine đã được Liên hợp quốc trao quy chế quan sát viên phi quốc gia
Bên cạnh sự phức tạp của tình hình chính trị - an ninh, sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi chậm, không đồng đều giữa các khu vực và còn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong ngắn hạn và trung hạn Tăng trưởng giảm ở tất cả các đầu tàu và khu vực khiến tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2012 chỉ đạt 3,3%, (thấp hơn mức 3,6% năm 2011 và 5,1% năm 2010) Các nền kinh tế đang nổi tuy gặp khó khăn song vai trò vẫn gia tăng trong kinh tế toàn cầu Đặc biệt, tuy tăng trưởng thấp nhất trong 30 năm qua nhưng kinh tế Trung Quốc vẫn là điểm tựa quan trọng của kinh tế thế giới Quá trình tái cấu trúc kinh tế đang diễn ra ở cả tầm toàn cầu, khu vực và quốc gia, bước đầu hình thành các chuỗi cung mới Nhiều nước chú trọng điều chỉnh mô hình tăng trưởng và chính sách phát triển theo hướng ưu tiên phát triển bền vững Xu hướng liên kết kinh tế dưới hình thức các hiệp định mậu dịch tự do
Trang 1812
và khu vực (FTA/RTA) tiếp tục được thúc đẩy và dẫn dắt bởi các nền kinh tế lớn, nhất là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
1.1.2 Bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Bước sang thế kỷ XXI, khu vực châu Á - Thái Bình Dương không chỉ là một khu vực có dân số đông nhất thế giới, mà còn là một trong những khu vực phát triển năng động nhất, đóng vai trò đầu tàu trong liên kết kinh tế thế giới Đây là khu vực tập trung 10 trong số 20 nền kinh tế lớn nhất, với tỉ trọng thương mại xuyên Thái Bình Dương hiện đã chiếm 2/3 thương mại toàn cầu, đóng góp gần 40% tăng trưởng thế giới; là "không gian sinh tồn", tập trung quyền lực của nhiều cường quốc, trong đó có Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật Các quốc gia này có quan hệ với nhau trong lợi ích đan xen, vừa hợp tác vừa kiềm chế lẫn nhau; đồng thời, khu vực châu Á - Thái Bình Dương còn là một trong những khu vực có lực lượng quân sự dày đặc nhất, tiềm lực phát triển quân sự lớn nhất
và vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân nghiêm trọng nhất thế giới Châu Á - Thái Bình Dương cũng là khu vực đa dạng về văn hóa, chính trị, là nơi văn hóa Đông
- Tây gặp gỡ giao thoa
Tính đa dạng và nhiều chiều của các mối quan hệ giữa các nước lớn trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương là yếu tố quyết định bầu không khí quốc tế sau chiến tranh lạnh đến nay Với Hoa Kỳ, quốc gia luôn đưa ra mục tiêu giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của siêu cường duy nhất với các mục tiêu cụ thể: lợi ích kinh tế, bảo đảm an ninh cho Hoa Kỳ và các đồng minh, coi trọng hợp tác song phương và đa phương Sau sự kiện 11/9, ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, do đặc thù của các quan hệ hợp tác cạnh tranh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, Hoa Kỳ không thể thực hiện được ý tưởng đơn cực
mà phải có sự điều chỉnh theo hướng chú trọng đến chủ nghĩa đa phương Vì vậy, chính sách châu Á - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ nay đã coi trọng chủ nghĩa đơn phương và đa phương trong việc ngăn ngừa đe dọa nền an ninh khu
Trang 1913
vực làm tổn hại đến lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ
Quan hệ Nga - Hoa Kỳ đang diễn biến phức tạp, tùy thuộc vào quan hệ lợi ích chiến lược quốc gia của mỗi bên và mục tiêu kiềm chế có tính chiến lược của Nga và Hoa Kỳ Tuy nhiên, giữa hai cường quốc này hiện nay chưa
có mối quan hệ chiến lược chặt chẽ và không có sự tin cậy lâu dài Với Hoa
Kỳ, Nga suy yếu nhưng không hỗn loạn là phù hợp với lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ Với Nga, tận dụng mọi khả năng để phát triển kinh tế, lấy sức mạnh thực chất về kinh tế và quân sự để khẳng định mình là chiến lược quan trọng nhất
Mối quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc luôn thay đổi, không ổn định, kinh tế
là lĩnh vực ảnh hưởng nhất đến quan hệ hai nước Quan hệ giữa hai bên luôn có những sóng ngầm do Hoa Kỳ luôn theo đuổi chính sách vừa hợp tác vừa kiềm chế làm chậm sự vươn lên của Trung Quốc Do sự phụ thuộc của kinh tế Hoa
Kỳ vào thị trường Trung Quốc ngày càng lớn nên Hoa Kỳ vẫn phải chú trọng hợp tác và dựa vào vai trò đang lên của Trung Quốc trong việc giải quyết một số vấn đề quốc tế như vấn đề hạt nhân Triều Tiên và Iran, cuộc chiến tiêu diệt Taliban ở Afghanistan
Hiện nay, Trung Quốc đang theo đuổi khát vọng lớn là trở thành siêu cường số một thế giới, thay cho vị trí của Hoa Kỳ Hoa Kỳ là đối tác thương mại lớn thứ hai của Trung Quốc sau Liên minh châu Âu (EU) và vị trí này khó thay đổi trong tương lai Do vậy, sự phụ thuộc giữa hai bên ngày càng tăng Quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc luôn tồn tại những tranh chấp, mâu thuẫn nhưng nhìn chung vẫn là xu hướng hòa giải, nhượng bộ lẫn nhau để cùng phát triển
Quan hệ Hoa Kỳ - Nhật Bản là mối quan hệ đặc biệt ở châu Á - Thái Bình Dương, là mối quan hệ khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực Vấn đề Triều Tiên, vấn đề tranh chấp ở vùng biển Nhật Bản là cơ sở để Nhật Bản - Hoa Kỳ gia tăng quan hệ trong lĩnh vực an ninh Trong những năm gần đây, Nhật Bản
Trang 20Như vậy, có thể nói sự đa cực hóa ở châu Á - Thái Bình Dương đã thúc đẩy xu hướng hợp tác khu vực và thế giới Đây là khu vực phát triển năng động nhưng cũng tồn tại nhiều nguy cơ dẫn đến xung đột Bên cạnh quan hệ hợp tác ngày càng tăng cường thì đây cũng là khu vực diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia Do lợi ích và sự quan tâm chiến lược khác nhau đã tạo nên các mối quan hệ theo nhóm đa dạng và linh hoạt
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục khẳng định mạnh mẽ xu hướng trở thành trung tâm kinh tế - chính trị của thế giới Các nước lớn như Hoa
Kỳ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, EU, Đức, Anh, Pháp, Canada đều điều chỉnh theo hướng coi trọng châu Á - Thái Bình Dương hơn trong chính sách đối ngoại của mình Khu vực này thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia bởi tình hình biển đảo diễn biến rất phức tạp Trung Quốc chủ động và quyết liệt hơn trong việc hiện thực hóa “đường lưỡi bò” bằng mọi biện pháp, trên mọi phương diện Đặc biệt, Trung Quốc chính thức thành lập “thành phố Tam Sa”, mời thầu
9 lô dầu khí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 2011 Cộng đồng quốc tế thể hiện lập trường kiên quyết hơn trong việc phản đối “đường lưỡi bò” Đáng chú ý, ASEAN đã ra được Tuyên bố 6 điểm (20/7/2011), thống nhất nội dung các thành tố cơ bản của COC và ra Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc kỷ niệm 10 năm ký DOC Từ việc đơn phương tuyên bố vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở vùng biển Hoa Đông cho tới việc châm ngòi cho cuộc “khủng hoảng dàn khoan” năm 2014, rồi mới đây nhất là việc triển khai tên lửa đất - đối - không lên các đảo có tranh chấp Rõ
Trang 2115
ràng, Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán và táo bạo hơn nữa trong tranh chấp Biển Đông Đây chính là một trong những nhân tố thúc đẩy Hoa Kỳ quan tâm hơn nữa đến châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có mối quan hệ với Việt Nam
Trước thực tế tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp, trong khi châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực phát triển năng động nhất với những liên kết đa tầng nấc, thì việc thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ càng có ý nghĩa quan trọng nhằm duy trì môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như sự phát triển của các quốc gia có liên quan
1.2 Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trước nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama
Gần 200 năm đã trôi qua kể từ khi Chính phủ Hoa Kỳ cử đặc sứ Edmuad Roberts mang bức thư sang trình Vua Minh Mạng năm 1832 để hai nước có thể thông thương đến nay, quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trải qua nhiều cung bậc thăng trầm Với nỗ lực và thiện chí của cả hai bên, ngày 11/7/1995 Hoa Kỳ chính thức bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam Đây là một bước
đi quan trọng đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay của tình hình quốc tế, đồng thời góp phần vào s hoà bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam Á
Kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, đặc biệt trong nhiệm kì I của Tổng thống Barack Obama (từ năm 2009 đến đầu năm 2013) Hoa Kỳ và Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trên con đường hợp tác cùng có lợi theo tinh thần "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai" Quan hệ hợp tác giữa Hoa
Kỳ và Việt Nam được biểu hiện trên nhiều lĩnh vực
Về chính trị - ngoại giao, trên cơ sở công nhận chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nền độc lập chính trị của nhau và dựa trên nguyên tắc hợp tác, bình đẳng và
Trang 2216
cùng có lợi, mối quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam ngày càng phát triển Nhiều chuyến viếng thăm của lãnh đạo hai nước đã được thúc đẩy Vào tháng 10/2009, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã có chuyến thăm và làm việc tại Hoa Kỳ theo lời mời của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary R.Clinton Từ năm 2009 đến năm 2012, Đối thoại chiến lược về chính trị, an ninh- quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam được diễn ra hàng năm Hai bên đã thảo luận các vấn đề song phương và an ninh khu vực Các quan chức Hoa Kỳ và Việt Nam đã thảo luận các biện pháp tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như: chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống khủng bố, phòng chống ma túy, tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ và bộ đội Việt Nam mất tích trong chiến tranh, giải quyết vấn đề chất độc da cam/dioxin, trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thiên tai cũng như các lĩnh vực hợp tác quốc phòng và an ninh khác Về các diễn đàn khu vực, hai bên trao đổi quan điểm về việc thúc đẩy hợp tác giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) - Hoa Kỳ và các vấn đề liên quan đến sáng kiến hạ lưu sông Mê Kông, Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị
Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) và Hội nghị Cấp cao Đông
Á (EAS) Hai bên đồng thời thảo luận việc nâng tầm quan hệ song phương hướng tới quan hệ đối tác chiến lược
Tiếp theo đó, hàng loạt các chuyến thăm cấp cao giữa hai nước đã được
tổ chức, tiêu biểu như chuyến thăm Hoa Kỳ của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh
từ ngày 7 đến ngày 11/2/2012; chuyến thăm Hoa Kỳ của Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu từ ngày 12 đến ngày 14/3/2012; chuyến thăm Việt Nam của
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Pannetta vào tháng 6/2012; chuyến thăm Hoa Kỳ của Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân từ ngày
24 đến ngày 26/6/2012… Tại các chuyến thăm này, nhiều vấn đề chính trị, an ninh - quốc phòng, hợp tác thương mại, đầu tư đã được giải quyết Đặc biệt, vào tháng 7/2012, trong bối cảnh quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam đang ngày càng
Trang 23Ngày 22/4/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự Hội nghị thượng đỉnh
An ninh Hạt nhân tại Washington D.C đã cam kết sẽ chuyển đổi lò phản ứng nghiên cứu ở Đà Lạt cũng như tham gia sáng kiến toàn cầu chống khủng bố hạt nhân Tháng 12/2010, Hoa Kỳ - Việt Nam thiết lập một khuôn khổ pháp lý hợp tác chuyển đổi đầy đủ các lò phản ứng nghiên cứu Theo đó, Việt Nam sẽ chuyển đổi lò phản ứng nghiên cứu ở Đà Lạt từ uranium làm giàu cao (HEU) sang nhiên liệu uranium làm giàu thấp và trả lại nhiên liệu HEU sang Nga Tháng 3/2012, Việt Nam và Nga đã ký một thỏa thuận về việc trả lại cho Nga uranium làm giàu cao (HEU), hoàn thành vào cuối năm 2013 Đây là một bước chuyển căn bản về vấn đề hạt nhân trong mối quan hệ giữa ba nước Nga - Việt Nam và Hoa Kỳ đã được thỏa thuận trước đó
Năm 2011, hợp tác quốc phòng giữa hai nước tiếp tục đi vào chiều sâu Trong năm tài chính 2011, Chính quyền Tổng thống Obama cũng đã yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ phê duyệt khoản ngân sách trị giá 1,1 triệu USD tài trợ quân
sự cho Việt Nam Tháng 4/2011, Giám đốc Đại học Quốc phòng Hoa Kỳ đô đốc Ann Rondeau đã có chuyến thăm đến Học viện Quốc phòng Việt Nam, mở rộng quan hệ trong đào tạo sĩ quan quân sự giữa đôi bên Tháng 8/2011, phái đoàn bác sĩ phẫu thuật chung Hải quân Hoa Kỳ do Phó đô đốc Adam M Robinson cùng với Cục trưởng Cục quân y, thuộc Tổng Cục Hậu cần, Thiếu tướng Vũ Quốc Bình đã ký thỏa thuận hợp tác quân y tại Hà Nội, khởi đầu quá trình hợp
Trang 2418
tác trong lĩnh vực này
Ngày 19/9/2011, Đối thoại chính sách Quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam lần thứ hai đã diễn ra tại thủ đô Washington với sự đồng chủ trì của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và ông Robert Scher, Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Hai bên đã ký Bản ghi nhớ giữa Bộ Quốc phòng hai nước về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương Hai bên thống nhất việc hướng tới phát triển quan hệ quốc phòng trước tiên tập trung vào năm lĩnh vực là thiết lập các cơ chế đối thoại thường xuyên cấp cao giữa Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và Bộ Quốc phòng Việt Nam; An ninh biển; Tìm kiếm cứu nạn; Nghiên cứu và trao đổi kinh nghiệm về hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc; Hỗ trợ nhân đạo và Cứu trợ thảm họa Bản ghi nhớ nói trên có tính chất định hướng cho sự phát triển quan hệ quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam Chính sách đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Việt Nam, theo tinh thần "chủ động hội nhập quốc tế" mà Đại hội lần thứ XI của Đảng đã
đề ra, và sự công khai, minh bạch, rõ ràng trong chính sách quốc phòng của Việt Nam
Năm 2012, là năm quan hệ quốc phòng hai nước có nhiều hoạt động giao lưu, hợp tác nhộn nhịp giữa quân đội hai nước Tháng 4/2012, Việt Nam tổ chức giao lưu hải quân Hoa Kỳ - Việt Nam lần thứ ba tại cảng Đà Nẵng với các hoạt động liên quan đến cứu hộ, huấn luyện cứu trợ thiên tai Tháng 6/2012, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Pannetta thăm chính thức Việt Nam Ông Panetta đã ghé thăm USNS Richard E Byrd, tàu vận tải đang được sửa chữa tại xưởng đóng tàu Cam Ranh Tháng 7/2012, Hoa Kỳ đã tiếp Ban chỉ đạo 501, cơ quan phụ trách xử lý vật liệu nổ tại Việt Nam Từ tháng 6 đến tháng 8/2012, Việt Nam cử quan sát viên đầu tiên của mình tham dự cuộc Tập trận Vành đai Thái Bình Dương (RIMPAC) Tháng 10/2012, Tàu sân bay USS George Washington đón phái đoàn quan chức Việt Nam ra thăm trên vùng biển quốc tế
Trang 2519
ngoài khơi bờ biển phía Đông Việt Nam
Trên lĩnh vực kinh tế, hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam có nhiều bước tiến nổi bật Nếu như năm 2009 tổng trị giá trao đổi thương mại hai chiều đạt 14
tỷ 365,149 triệu USD thì năm 2012 tổng trị giá trao đổi thương mại Hoa Kỳ - Việt Nam tăng lên 24 tỷ 495,198 triệu USD Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 19 tỷ 668 triệu USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2011 Với kết quả này, Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam Còn cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ, dẫn đầu là nhóm hàng công nghiệp và chế biến, tiếp đến là nhóm hàng nông lâm, thủy sản và cuối cùng là nhóm hàng khoáng sản, năng lượng Trong nhóm hàng công nghiệp và chế biến, với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 4 tỷ 215,6 triệu USD, chiếm 37,8% tổng kim ngạch mặt hàng dệt may tiếp tục là mặt hàng được nhập khẩu nhiều nhất, tăng 37% so với cùng kỳ Với cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã phản ánh sự tiến bộ vượt bậc của nền sản xuất Việt Nam qua 12 năm thực hiện BTA Ngược lại, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa từ Hoa Kỳ đạt 3.009,392 triệu USD năm 2009 và đến năm 2012 đạt 4.529,215 triệu USD Hàng hóa của Hoa Kỳ được nhập vào Việt Nam bao gồm máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện
tử và linh kiện; bông các loại, chất dẻo nguyên liệu, thức ăn gia súc và nguyên liệu; đậu tương
Về đầu tư, tính đến cuối năm 2009, Hoa Kỳ đứng thứ 7 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam, với 479 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký 12,804 tỷ USD, vốn điều lệ 2,254 tỷ USD [27;tr.248] Đến hết năm 2012, Hoa Kỳ vẫn đứng đứng thứ 7 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam nhưng số dự án đã tăng lên 629 dự án, trên 11 tỷ USD
Đó là chưa tính tới số đầu tư khá lớn vào Việt Nam của các tập đoàn, doanh nghiệp Hoa Kỳ nhưng đăng ký ở các nước và vùng lãnh thổ khác như Singapore
Trang 26Như vậy, mặc dù chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, nhưng ngay sau khi lên nắm chính quyền, Tổng thống Barack Obama đã nhanh chóng ổn định lại đất nước, đồng thời tiếp tục tăng cường quan hệ với Việt Nam Nhờ đó quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến trên các lĩnh vực Đây chính là tiền đề thúc đẩy quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam tiếp tục phát triển hơn nữa trong nhiệm kì II của Tổng thống Barack Obama
1.3 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Việt Nam đầu thế kỷ XXI
1.3.1 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đầu thế kỷ XXI
Cuối năm 2008 đầu năm 2009, nhậm chức trong bối cảnh Hoa Kỳ gặp nhiều khó khăn về kinh tế - tài chính (cuộc khủng hoảng đang diễn ra được cho
là lớn nhất kể từ cuộc khủng hoảng 1929 - 1933) và không ít khó khăn về đối ngoại, đặc biệt là hai cuộc chiến còn ‘dang dở’ là Iraq và Afganistan, Tổng thống B.Obama tiếp tục phải điều chỉnh chính sách đối ngoại Hoa Kỳ theo hướng giảm đơn phương, tăng mặt hòa giải và hợp tác đa phương nhằm trước mắt là đưa Hoa Kỳ ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, về lâu dài là duy trì vị trí lãnh đạo của Hoa Kỳ trên thế giới Hoa Kỳ đã đưa ra phương châm "sức mạnh thông minh" trong đối ngoại, kết hợp tất cả các thành tố sức mạnh, từ quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, để đạt được mục đích Những động thái này được
cả thế giới hướng theo dõi và quan tâm vì nó không chỉ tác động trực tiếp đến cục diện quan hệ quốc tế, đến tình hình kinh tế, chính trị, an ninh của các nước, các khu vực mà còn tác động mạnh đến vai trò và vị thế của Hoa Kỳ trên thế
Trang 2721
giới Một trong những hướng chính được các nhà nghiên cứu chính trị thế giới nhấn mạnh, trọng tâm chiến lược đối ngoại trong nhiệm kỳ của Tổng thống B.Obama là “xoay trục - tái cân bằng" lực lượng ở châu Á - Thái Bình Dương, khu vực được xem là phát triển mạnh mẽ và năng động nhất thế giới
Ngay sau khi lên cầm quyền, Chính phủ Obama đã có những động thái cho việc quay trở lại châu Á - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, thể hiện rất rõ ràng qua lịch trình các chuyến công du dày đặc của Ngoại trưởng Hillary Clinton, đi thăm tất cả 10 nước thành viên ASEAN và cả Timor-Leste từ cuối năm 2011 đến cuối năm 2012 Trong tháng7 năm 2012, Ngoại trưởng Clinton đã đến Campuchia để tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN lần thứ tư liên tiếp Trong tháng 11 năm 2012, Tổng thống Barack Obama đã có một hành động nổi bật là chuyến công du nước ngoài đầu tiên đến thăm Đông Nam Á sau khi tái đắc cử, cùng với Bà Clinton thăm Myanmar (chuyến thăm đầu tiên tới Myanmar của một Tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm), nhằm động viên hơn nữa những cải cách kinh tế và chính trị ở nước này, đến Thái Lan gặp Thủ tướng Yingluck Shinawatra “để nhấn mạnh liên minh vững chắc” giữa hai nước và tới Campuchia, nước giữ cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2012
Trong bối cảnh đó, thuật ngữ "xoay trục" được đưa ra để mô tả sự chuyển hướng trọng tâm chính sách của Nhà Trắng sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương, sau hơn một thập niên đặt trọng tâm vào khu vực Trung Đông với hai cuộc chiến tranh tàn khốc tại Afghanistan và Iraq Cùng với sự triển khai chính sách "xoay trục", Hoa Kỳ bắt đầu có sự điều chỉnh trên cơ sở thích hợp và tiếp nhận những vấn đề mới nảy sinh với các trung tâm quyền lực mới và với chính các đồng minh truyền thống Trong chính sách với châu Á - Thái Bình Dương, Hoa Kỳ luôn muốn nhấn mạnh, họ chưa bao giờ rời khỏi khu vực này, sự “xoay trục” của họ chỉ là sự trở lại khu vực đã từng được Hoa Kỳ quan tâm từ cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, để khẳng định sự có mặt và giành lại những quyền lợi
Trang 28có những lợi ích chiến lược tại đây
Trong một động thái tương tự, tại Đối thoại Shangri La năm 2012, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta đã chứng minh việc lấy châu Á - Thái Bình Dương làm trọng tâm là hoàn toàn hợp lý với thực tế Hoa Kỳ là một quốc gia Thái Bình Dương Theo bài phát biểu của Panetta, Hoa Kỳ trở thành một quốc gia Thái Bình Dương kể từ thế kỷ XIX Trong lịch sử phát triển của Hoa
Kỳ, các hoạt động đánh bắt thủy sản và sự mở rộng của các hải cảng đã giúp gia tăng tầm quan trọng của kinh tế biển trong tổng thể nền kinh tế Hoa Kỳ Sang thế kỷ thứ XX, trong cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ II, Thái Bình Dương trở thành một mặt trận tham chiến của Hoa Kỳ Bên cạnh đó, Hoa Kỳ còn dính líu tới các cuộc chiến tranh tại Việt Nam và bán đảo Triều Tiên Chính những dính líu này đã dẫn tới hơn sáu thập niên Hoa Kỳ hiện diện quân sự tại khu vực, cùng với những quan hệ về ngoại giao, thương mại, viện trợ
Tại Hội nghị thường niên về an ninh, đối thoại Shangri La ở Singapore năm 2013, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel đưa ra thêm nhiều chi tiết về chính sách của chính quyền B.Obama nhằm tái cân bằng hoạt động ngoại giao và quân sự tại châu Á - Thái Bình Dương Ông Hagel nhấn mạnh rằng, năm
2020 không chỉ 60% lực lượng Hải quân Hoa Kỳ sẽ được tập trung vào Thái Bình Dương, mà còn có tới 60% lực lượng không quân, bao gồm sự hiện diện
Trang 29Như vậy, Hoa Kỳ đã chứng tỏ là một cường quốc Thái Bình Dương ngay
từ rất sớm Nỗ lực “xoay trục” về châu Á - Thái Bình Dương không phải là chính sách mới mẻ xét trên diện rộng Điều đáng chú ý là trong bối cảnh sau Chiến tranh lạnh, việc khẳng định địa vị siêu cường và mong muốn xây dựng trật tự đơn cực đòi hỏi Hoa Kỳ phải có nhìn nhận mới hơn với thách thức từ các hướng trục trên bàn cờ quốc tế Châu Á - Thái Bình Dương đã chứng tỏ tầm quan trọng trong chiến lược toàn cầu thu hút trục xoay của Hoa Kỳ Việt Nam nằm trong tâm trục với tư cách là quốc gia trung gian đang lên không thể tránh khỏi ảnh hưởng từ chính sách của Hoa Kỳ
Điểm khác biệt lớn nhất của lần xoay trục đến châu Á lần này là Hoa Kỳ không thể áp đặt được quyền lực nước lớn như trước đó, mà phải sử dụng các biện pháp tái cân bằng lực lượng trên cơ sở tăng cường vai trò với đồng minh và
mở rộng quan hệ bạn bè với các nước khác Chính sách này có 6 nội dung với bốn trụ cột chính là: thắt chặt quan hệ với các đồng minh truyền thống, phát
triển quan hệ đối tác với các trung tâm quyền lực đang nổi lên, hình thành mối quan hệ mang tính xây dựng với Trung Quốc, và tích cực tham gia các cơ chế
đa phương trong khu vực
Từ mục tiêu và trụ cột đó, chiến lược xoay trục, tái xác định vị thế cường quốc khu vực của Hoa Kỳ hướng tới các mục tiêu cụ thể:
- Ổn định khu vực và tái cân bằng lực lượng bằng việc xây dựng một vành đai an ninh từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á gồm: Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines, Thái Lan
- Tăng cường cam kết của Hoa Kỳ với các thể chế lấy ASEAN làm trung
Trang 30đe dọa Trung Quốc”
- Đảm bảo tự do lưu thông hàng hải và bảo vệ các đường biển; bảo vệ quyền lợi mậu dịch và đầu tư của Hoa Kỳ
- Truyền bá dân chủ, chủ nghĩa pháp quyền, nhân quyền
- Ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố ở khu vực Đông Nam Á [10; tr.57] Trong tam giác Mỹ - Việt - Trung, Hoa Kỳ cảm thấy yên tâm hơn rất nhiều với Việt Nam Dù Hoa Kỳ cần sự hợp tác của Trung Quốc để đối phó với một số vấn đề quan trọng toàn cầu như chấm dứt các chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên và Iran, chống hiện tượng nóng lên toàn cầu…, Hoa Kỳ vẫn coi Trung Quốc là một đối thủ tiềm tàng, có thể trở thành một mối đe dọa đối với Hoa Kỳ Trong cách nhìn của Hoa Kỳ, Việt Nam là một lực lượng quan trọng đóng góp vào trật tự an ninh đang nổi lên ở châu Á - Thái Bình Dương Hoa Kỳ
đã coi việc củng cố mối quan hệ với Việt Nam là “một trụ cột trong sự hiện diện của Hoa Kỳ ở khu vực (Thái Bình Dương) và sự tham gia của Hoa Kỳ trong các thể chế đa phương ở châu Á - Thái Bình Dương” Quan điểm tích cực này về Việt Nam đã khuyến khích Hoa Kỳ thúc đẩy các mối quan hệ gần gũi hơn giữa hai nước Cho đến nay, mong muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam từ phía Hoa Kỳ biến đổi tỉ lệ nghịch với những hành động hiếu chiến của Trung Quốc
và tỉ lệ thuận với quyết tâm và khả năng của Việt Nam trong việc đóng một vai trò độc lập ở châu Á
Hoa Kỳ rất chú trọng đến vị trí chiến lược của Việt Nam ở khu vực châu Á
- Thái Bình Dương nói chung và ở khu vực Đông Nam Á nói riêng Đây là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi đan xen lợi ích của 4 cường quốc lớn
Trang 3125
Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Nga, đồng thời là nơi mà ảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày càng gia tăng, đe dọa lợi ích của Hoa Kỳ Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng, Việt Nam có một ý nghĩa chiến lược rất quan trọng đối với Hoa Kỳ
- Thứ nhất, Việt Nam là một nhân tố khu vực then chốt tại Đông Nam Á
với dân số đứng hàng thứ ba, lực lượng quân sự lớn nhất và trữ lượng dầu mỏ ước tính 600 triệu thùng Việt Nam đã gia nhập ASEAN (1995), APEC (1998), WTO (2006) nên có điều kiện và cơ chế hợp tác thuận lợi với Hoa Kỳ
- Thứ hai, Việt Nam có chung biên giới với Trung Quốc, có cảng nước
sâu Cam Ranh và Hải Phòng và là một trong sáu bên tranh chấp chủ quyền tại Trường Sa Trung Quốc là nước tiêu thụ dầu lửa lớn trên thế giới, do đó họ muốn giành được nguồn tài nguyên thăm dò hoặc tiềm năng ở Đông Nam Á Để chống lại mưu toan của Trung Quốc, Hoa Kỳ phải khuyến khích Việt Nam tham gia các thỏa thuận hợp tác và an ninh với Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á khác Điều đó sẽ không chỉ hạn chế sự tiếp cận của Trung Quốc đối với tài nguyên dầu khí và các cảng nước sâu của Việt Nam, mà còn tăng cường an ninh khu vực và yểm trợ hơn nữa các mục tiêu khu vực của Hoa Kỳ
Bên cạnh đó, việc phát triển quan hệ với Việt Nam sẽ đem lại cho Hoa Kỳ các lợi ích chính trị, chiến lược, kinh tế đáng kể Để đảm bảo các lợi ích chiến lược ở Việt Nam, lãnh đạo Hoa Kỳ cho rằng phải can dự và dính líu với Việt Nam bằng cách đưa Việt Nam vào quỹ đạo phát triển chung Qua đó, có thể thấy, Việt Nam trở thành quốc gia trọng điểm của Hoa Kỳ trong việc phát triển quan hệ tốt với các nước phi đồng minh ở khu vực Đông Nam Á
Trong quan hệ với Việt Nam, một mặt Hoa Kỳ muốn cải thiện quan hệ với Việt Nam để phục vụ cho chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và dành lợi ích cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ Mặt khác, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”, thông qua “can dự” với khẩu hiệu
Trang 3226
“dân chủ và nhân quyền” để áp đặt giá trị Hoa Kỳ, thúc đẩy cải cách kinh tế, chính trị ở Việt Nam, nhằm đưa Việt Nam vào quỹ đạo của Hoa Kỳ Các mục tiêu chính sách đó của Hoa Kỳ có tác động đến mọi mặt quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XXI
1.3.2 Chính sách đối ngoại của Việt Nam đầu thế kỷ XXI
Thế giới trong thế kỷ XXI tiếp tục chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp và khó lường Thế kỷ XXI cũng đang mở ra những cơ hội hợp tác to lớn cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam Sau khoảng vài thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, thế và lực của Việt Nam đã lớn mạnh lên nhiều, tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc
tế và những xu thế tích cực trên thế giới tiếp tục tạo điều kiện để Việt Nam phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực Nhằm phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong công cuộc Đổi mới và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội
nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển'' [49] Chủ trương xây dựng quan hệ đối tác được đề ra ở Đại hội IX,
đánh dấu bước phát triển về chất tiến trình quan hệ quốc tế của Việt Nam thời kỳ đổi mới Trong nghị quyết Trung ương 8 về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” (7/2003), Đảng ta đã nêu quan điểm về “Đối tác”, xác định cần thúc đẩy quan hệ với các nước và trung tâm lớn trên nguyên tắc bình đẳng, cùng
có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tạo thế đan xen lợi ích giữa các nước với nước ta, tránh bị rơi vào thế đối đầu, cô lập hay lệ thuộc Tiếp đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006), Đảng nêu quan điểm: thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ
Trang 33"Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với phát triển và an ninh của đất nước, đưa khuôn khổ đã xác lập vào thực chất" [5;tr.153]
Thực hiện đường lối đối ngoại trên, Việt Nam đã phát triển quan hệ với các nước trong đó có Hoa Kỳ trên cả bình diện song phương và đa phương giúp Việt Nam vừa tạo được thế, vừa gia tăng về lực, qua đó nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia Trong quan hệ với Hoa Kỳ, Việt Nam đã chủ trương chuyển chính sách với Hoa Kỳ từ đối đầu sang hợp tác và đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình Với tư duy đối ngoại mới đó và xuất phát từ yêu cầu đổi mới toàn diện
mà Nghị quyết Đại hội VI đã nêu, tháng 8-1988, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đã đánh giá tình hình quốc tế và khu vực, kiểm điểm với tinh thần thực sự cầu thị hoạt động đối ngoại trong thời gian hơn 10 năm kể
từ ngày nước nhà thống nhất, trên cơ sở đó thông qua Nghị quyết 13 Nghị quyết
13 đã kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong chính sách của Việt Nam với Hoa Kỳ,
Trang 3428
rằng “chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ” Nghị quyết 13 chỉ rõ: “Chúng ta cần có chính sách mới toàn diện đối với Hoa Kỳ nhằm tranh thủ dư luận nhân dân Hoa Kỳ và thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho
ta tập trung giữ vững hoà bình và phát triển kinh tế” Bằng những nỗ lực ngoại giao của hai nước, ngày 11 tháng 7 năm 1995, Hoa Kỳ và Việt Nam đã chính thức tuyên bố thiết lập quan hệ bình thường hóa với nhau Sự kiện này trở thành dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển quan hệ hai nước và là một đóng góp đáng kể đối với tiến trình hoà bình, hợp tác và phát triển ở trong khu vực và trên thế giới Từ đây khởi đầu một giai đoạn phát triển mới, một trang sử mới trong quan hệ giữa hai quốc gia, hai dân tộc từng đối đầu trực tiếp với nhau trong một cuộc chiến tranh mang đậm dấu ấn của thời kỳ Chiến tranh lạnh
Có thể nói việc thiết lập và tăng cường quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, Việt Nam có thể đạt một số lợi ích sau:
Trước hết, tạo kênh đối thoại giữa chính phủ và nhân dân hai nước nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, từ đó tạo hiệu ứng mở rộng quan hệ cho Việt Nam Bình thường hóa và tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ, Việt Nam sẽ củng cố
và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho cải thiện quan
hệ với các nước khác và khai thông quan hệ với các tổ chức, thể chế tài chính, kinh tế thương mại khu vực cũng như toàn cầu: ADB, IMF,WB,WTO, APEC giúp Việt Nam hội nhập khu vực và thế giới
Thứ hai, đối với Việt Nam cũng như với hầu hết các nước trên thế giới, việc tăng cường quan hệ kinh tế thương mại với thị trường Hoa Kỳ luôn là điều cần thiết Nền kinh tế Hoa Kỳ được xem là nền kinh tế năng động nhất thế giới,
đi đầu với các công nghệ, kỹ thuật cao Hàng loạt các nền kinh tế châu Á, chính nhờ mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế Hoa Kỳ đã dần tạo cho mình lợi thế so sánh riêng Việc phát triển quan hệ với Hoa Kỳ sẽ đem lại cho Việt Nam khả năng tận dụng vốn, công nghệ phát triển vào loại bậc nhất; các nhà khoa học, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm ở một
Trang 3529
nước phát triển cao như Hoa Kỳ, tạo môi trường thuận lợi cho việc hợp tác đầu
tư, trao đổi kinh tế thương mại Điều này hỗ trợ trực tiếp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, giúp Việt Nam đẩy lùi nguy cơ tụt hậu
Thứ ba, tăng cường phát triển mối quan hệ với Hoa Kỳ, Việt Nam sẽ có điều kiện hối thúc Hoa Kỳ giúp đỡ để giải quyết những hậu quả của chiến tranh Việt Nam đang tích cực giúp đỡ Hoa Kỳ trong việc tìm tung tích nạn nhân trong chiến tranh, cùng hợp tác để giải quyết dứt điểm những vấn đề còn tồn đọng trong công tác POW/MIA
Thứ tư, việc thiết lập quan hệ quan hệ ngoại giao giữa hai nước sẽ mở đường cho Việt Nam được hưởng quy chế tối huệ quốc (MFN) và quy chế đặc miễn dành cho một nước đang phát triển (GSP) Theo đó, Việt Nam sẽ được phép xuất khẩu sang Hoa Kỳ với chế độ thuế quan rất thấp hoặc không phải chịu thuế Điều này sẽ giúp cho việc phát triển kinh tế của Việt Nam được thuận lợi
hơn
Sau cùng, quan hệ với Hoa Kỳ còn nhằm mục tiêu cân bằng quan hệ với các nước lớn khác trong khu vực, đặc biệt với Trung Quốc Tranh thủ tiếng nói, ảnh hưởng, nguồn lực của Hoa Kỳ trong giải quyết các vấn đề an ninh truyền thống như tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông giữa Việt Nam, các nước Đông Nam Á và Trung Quốc, đảm bảo an ninh hàng hải và hòa bình, ổn định cho khu vực trước tham vọng lớn của Trung Quốc; giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống trong khu vực đang đe dọa trực tiếp đến Việt Nam và các nước Đông Nam Á như chống khủng bố, bảo vệ môi trường, nguồn nước, phòng chống dịch bệnh, các loại tội phạm công nghệ cao Ngoài ra, mục tiêu của Việt Nam trong quan hệ với Hoa Kỳ còn phải đảm bảo giữ vững ổn định chính trị,
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội
Trang 3630
Tiểu kết chương 1
Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong giai đoạn (1/2013 - 1/2017) được phát triển trên cơ sở khá nhiều thuận lợi
Trước hết, quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam phát triển trong bối cảnh hòa bình,
hợp tác là xu thế chủ đạo ở khu vực và trên thế giới Cho dù đang đứng trước nhiều thách thức, song xu thế liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại, chính trị ngày càng tăng, ý thức độc lập tự chủ, ý thức về chủ quyền và bản sắc dân tộc ngày càng được nâng cao, nổi bật là xu thế vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình giữa các chế độ chính trị xã hội khác nhau
Thứ hai, mối quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ được đặt trong tổng thể
chính sách đối ngoại của Việt Nam là rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập sâu rộng với thế giới Việt Nam sẽ tiếp tục là một thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng ASEAN hình thành vào cuối năm 2015 cũng như nhiều tổ chức, diễn đàn hợp tác khác Do đó, Việt Nam ưu tiên mở rộng hợp tác hơn nữa với Hoa Kỳ trên cả bình diện song phương, khu vực và toàn cầu phù hợp với lợi ích của Việt Nam, coi Hoa Kỳ là đối tác quan trọng hàng đầu, nhất là về kinh tế - thương mại Với Hoa Kỳ, trong bối cảnh ngày càng quan tâm hơn tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á, Hoa Kỳ cũng ngày càng coi trọng vai trò của Việt Nam trong khu vực, một thị trường hơn 90 triệu dân, một nền kinh tế có tiềm năng lớn và là một trong những nước có vị trí chiến lược quan trọng ở châu Á - Thái Bình Dương
Thứ ba, mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam được xây dựng dựa trên những
nguyên tắc quan hệ quốc tế căn bản: tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của nhau; thể chế chính trị của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi
Thứ tư, những hiểu biết chung về nhau được đúc rút từ lịch sử 20 năm qua
và quá trình dài trước đó sẽ giúp hai bên xử lý tốt hơn những khác biệt, nhất là
Trang 3731
trong những thời khắc quan trọng trong quan hệ giữa hai bên Hai bên chú trọng
phát triển và củng cố những cơ chế đối thoại và hợp tác, góp phần từng bước xây dựng lòng tin và tìm ra cơ hội hợp tác
Cuối cùng, việc hai nước chia sẻ nhiều lợi ích tại khu vực và quốc tế sẽ
giúp củng cố hơn nữa thế “kiềng ba chân” - hợp tác song phương, khu vực và toàn cầu của quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam, tạo cơ sở vững chắc để thiết lập và làm sâu sắc quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới
Trang 3832
Chương 2 DIỄN TIẾN QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM TRONG NHIỆM KÌ II
CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (1/2013 - 1/2017)
2.1 Chính trị, ngoại giao
Việc phát triển quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam mang lại lợi ích cho cả hai bên Do đó kể từ khi Tổng thống B.Obama tái đắc cử đến nay, quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam được đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực, trước tiên là chính trị - ngoại giao Giữa hai nước thường xuyên diễn ra nhiều cuộc viếng thăm lẫn nhau của các cấp, bộ, ngành và nhiều tổ chức đoàn thể quần chúng
Năm 2013, là năm đánh dấu mốc quan trọng trong quan hệ của hai nước bằng chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang theo lời mời của Tổng thống Barack Obama Đây là chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ lần thứ hai của người đứng đầu nhà nước Việt Nam sau gần hai thập niên bình thường hóa
quan hệ Hai bên quyết định xác lập quan hệ "Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ" nhằm xây dựng một khuôn khổ quan trọng định hướng cho quan hệ hai nước Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh các nguyên tắc trong quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ, trong đó có tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật
pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của nhau Hai nhà lãnh đạo tuyên bố quan hệ Đối tác toàn diện nhằm góp phần
vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng của mỗi nước, trong khu vực và trên toàn thế giới Quan hệ này sẽ tạo ra các cơ chế hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có quan hệ chính trị và ngoại giao, quan hệ thương mại và kinh tế, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, môi trường và y tế, giải quyết hậu quả chiến tranh, quốc phòng và an ninh, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, văn hóa thể thao và du lịch" [24] Nếu như Tuyên bố chung giữa hai bên trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải tháng 6/2005 thiết lập
Trang 3933
khuôn khổ mới "đối tác hợp tác nhiều mặt" trong đó nêu ra các nguyên tắc lớn định hướng cho quan hệ hai nước thì với Tuyên bố lần này, bên cạnh việc thiết lập khuôn khổ "đối tác toàn diện" đã đề cập đầy đủ nội hàm của quan hệ hai
nước [23] Đánh giá về chuyến thăm này, Bộ trương Ngoại giao Phạm Bình
Minh cho rằng: chuyến thăm của Chủ tịch nước nhằm xác lập khuôn khổ cho quan hệ song phương Việt Nam - Hoa Kỳ trong giai đoạn mới; thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển cả về bề rộng và chiều sâu, nhất là trong các lĩnh vực hai nước có chung lợi ích và ta ưu tiên như kinh tế, thương mại, khoa học công
nghệ, giáo dục đào tạo để phát triển đất nước, giải quyết hậu quả chiến tranh
Về phía Hoa Kỳ, trợ lý ngoại trưởng Daniel Russell khẳng định là sự kiện đặc biệt trong quan hệ hai nước và Việt Nam có tầm quan trọng với Hoa Kỳ
Sau chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, tháng 12/2013, ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã sang thăm Việt Nam Ngoại trưởng John Kerry đề nghị hai bên tăng cường hợp tác về an ninh, kinh tế cũng như quan hệ dân sự giữa hai nước Ông cho biết Washington dự kiến tài trợ 18 triệu USD cho Việt Nam nhằm phát triển lực lượng tuần tra ven biển
Trong năm 2014, hàng loạt các chuyến thăm cấp cao giữa hai nước đã được tổ chức Trong đó có chuyến thăm Hoa Kỳ của Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị từ ngày 21/7/2014 Ông Phạm Quang Nghị đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục tạo thuận lợi, mở cửa thị trường cho hàng hóa Việt Nam, hạn chế các rào cản thương mại, khuyến khích các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam, sớm công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam, thúc đẩy hợp tác trong giáo dục - đào tạo, tăng cường hỗ trợ Việt Nam giải quyết hậu quả chiến tranh, bao gồm việc tẩy độc môi trường, hỗ trợ nạn nhân chất độc
da cam, tìm kiếm quân nhân của hai bên bị mất tích, rà phá bom mìn Ông Phạm Quang Nghị cũng khẳng định Việt Nam hoan nghênh Hoa Kỳ tăng cường hợp tác với châu Á - Thái Bình Dương vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của
Trang 4034
khu vực
Khi tình hình Biển Đông leo thang, đe dọa đến lợi ích của Hoa Kỳ và an ninh khu vực, Hoa Kỳ liền cử các phái đoàn sang thăm Việt Nam Đó là chuyến thăm Việt Nam của cựu Tổng thống Bill Clinton (tháng 7/2014); của đoàn Thượng viện Hoa Kỳ, do Thượng nghị sỹ John McCain và Thượng nghị sỹ Sheldon Whitehouse dẫn đầu (ngày 8/8/2014); đặc biệt là chuyến thăm của Đại tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân và đoàn đại biểu cấp cao Quân đội Hoa Kỳ (ngày 13-16/8/2014) Trước những hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông, ông Dempsey khẳng định, Hoa Kỳ đang cố gắng trở thành đối tác trung gian, không đứng về bất cứ bên nào trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông Tuy nhiên, ông Dempsey khuyến khích
sự hợp tác tốt hơn giữa các tổ chức đa quốc gia cho mục đích bảo vệ và phát triển 3 nguyên tắc: tự do hàng hải, tự do tiếp cận thị trường và trật tự quốc tế
Để thúc đẩy quan hệ hai nước hơn nữa, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã thăm chính thức Hoa Kỳ từ ngày 1-2/10/2014 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đề nghị Hoa Kỳ linh hoạt với Việt Nam trong đàm phán TPP và hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam trong quá trình đàm phán và thực thi Hiệp định, sớm công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường; tăng cường hợp tác khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo với Việt Nam, tiếp tục hỗ trợ Việt Nam giải quyết hậu quả chiến tranh Ngoại trưởng John Kerry khẳng định Hoa Kỳ cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong việc giải quyết hậu quả chiến tranh, trong đó có vấn đề chất độc da cam và bom mìn còn sót lại sau chiến tranh; thúc đẩy việc thành lập trường Đại học Fulbright tại Việt Nam Ngoại trưởng John Kerry cam kết sẽ phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Việt Nam và các nước trong khu vực trong việc triển khai các dự án trong khuôn khổ Sáng kiến hạ nguồn Mê Công (LMI), trong đó có việc đảm bảo an ninh nguồn nước sông Mê Công Đặc biệt, Ngoại trưởng John Kerry thông báo Hoa Kỳ dỡ