Mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc không phải ngẫu nhiên màđã có một quá trình lâu đời, dù không liên tục, đa diện, đa chiều như quan hệcủa Việt Nam với các nước trong khu vực hay như
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THANH HẠ
QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM
(2001 - 2013)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGHỆ AN - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THANH HẠ
QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM
(2001 - 2013)
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số: 60.22.03.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGƯT NGUYỄN CÔNG KHANH
NGHỆ AN - 2014
Trang 3Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, đề tài
“Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam (2001- 2013)”được hoàn thành nhờ sự hướng
dẫn tận tình, chu đáo của PGS.TS NGƯT Nguyễn Công Khanh, khoa Lịch
sử Trường Đại học Vinh
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa Lịch sử, Phòng Sauđại học trường Đại học Vinh và Bộ môn Lịch sử thế giới đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành đề tài Tôi cũng muốn dành lời cảm ơn chân thành nhất tớigia đình, người thân, đồng nghiệp trong quá trình thực hiện đề tài này
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu và khả năng nghiên cứu của bảnthân cho nên luận văn này sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết cần đượcgóp ý, sửa chữa
Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn đọc đểluận văn này được hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hạ
Trang 4MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 6
4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Bố cục của luận văn 10
B NỘI DUNG 11
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM TỪ 2001 ĐẾN 2013 11
1.1 Tình hình quốc tế và khu vực châu Á - Thái Bình Dương 11
1.1.1 Tình hình quốc tế 11
1.1.2 Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương 14
1.2 Nhân tố bên trong 21
1.2.1 Sự tương đồng về lịch sử - văn hoá giữa Hàn Quốc và Việt Nam .21
1.2.2 Tình hình Hàn Quốc và chính sách của Hàn Quốc đối với Việt Nam 23
1.3 Nhân tố lịch sử: Quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam trước 2001 28
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2 QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC CHỦ YẾU TỪ 2001 ĐẾN 2013 33
2.1 Chính trị - ngoại giao, An ninh - quốc phòng 33
2.1.1 Chính trị - ngoại giao 33
Trang 52.1.2 An ninh - quốc phòng 45
Trang 62.2 Kinh tế 47
2.2.1 Hợp tác về thương mại 49
2.2.2 Hợp tác trên lĩnh vực đầu tư 57
2.3 Các lĩnh vực khác 65
2.3.1 Giao thông vận tải 65
2.3.2 Hợp tác trên lĩnh vực khoa học - kĩ thuật 68
2.3.3 Văn hóa, giáo dục và y tế 74
2.3.4 Hợp tác trong lĩnh vực lao động, du lịch và vấn đề hôn nhân chồng Hàn - vợ Việt 85
Tiểu kết chương 2 92
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM TỪ 2001 ĐẾN 2013 93
3.1 Thành tựu và hạn chế của quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam từ 2001 đến 2013 93
3.1.1 Thành tựu 93
3.1.2 Hạn chế 97
3.2 Tác động của quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam từ 2001 đến 2013 đến hai nước, khu vực và thế giới 98
3.3 Triển vọng quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam 100
C KẾT LUẬN 105
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
E PHỤ LỤC 117
Trang 7Viết tắt Nghĩa
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình DươngASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM Diễn đàn hợp tác Á-Âu
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐVT Đơn vị tính
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Khu vực thương mại tự do
GDP Tổng thu nhập quốc gia
GNP Tổng thu nhập quốc nội
KH-KT, KH-CN Khoa học- kỹ thuật, khoa học-công nghệ
KT-XH Kinh tế - xã hội
NICs Các nước công nghiệp mới
ODA Viện trợ phát triển
SEV Hội đồng Tương trợ kinh tế
START Hiệp ước cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược TBD Thái Bình Dương
TTX VN Thông tấn xã Việt Nam
Trang 8châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.
Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia nằm ven biển Thái Bình Dươngđối diện nhau qua lục địa Trung Hoa, có những điểm gần gũi tương đồng vềlịch sử và văn hoá truyền thống Ngay cả khi bị thế lực ngoại xâm chiếm đónglâu dài, hai nước đã gìn giữ được độc lập và tự chủ, phải chịu bao đau thương,mất mát của chiến tranh cùng sự nghèo khó, đều trải qua cảnh đất nước chiacắt không hề mong muốn Tuy nhiên hai nước không hề bị khuất phục bởinhững thử thách đó mà đã vượt qua mọi khó khăn và tìm kiếm con đườnghướng tới tương lai Ý chí bất khuất này vừa là điểm tương đồng giữa ngườidân Việt Nam và người dân Hàn Quốc, đồng thời còn là ưu điểm lớn nhất hainước có được để dọn đường cho thời đại mới
1
Trang 9Mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc không phải ngẫu nhiên mà
đã có một quá trình lâu đời, dù không liên tục, đa diện, đa chiều như quan hệcủa Việt Nam với các nước trong khu vực hay như một số nước Trung Quốc,Nhật Bản, song mối quan hệ này lại luôn có một vị trí trong đời sống hainước, đặc biệt hơn là trong những thập niên gần đây Đó là yếu tố tác độngquan trọng tới sự phát triển của mỗi bên
Việc quan hệ hợp tác Việt - Hàn đã và đang mở ra những triển vọng tốtđẹp Xét về phương diện thực tế cũng như tinh thần quốc tế, nên trong tiếntrình hội nhập giữa các dân tộc trên thế giới ngày càng trở nên mạnh mẽ, cácmối liên hệ xuyên quốc gia ngày càng diễn ra thường xuyên và có chiều sâuhơn thì quan hệ giữa hai quốc gia này không thể không chịu tác động của các
xu hướng đó
Nhân tố có tính quyết định đối với toàn bộ sự hợp tác Việt - Hàn là sựphát triển của mối quan hệ chính trị chuyển từ thù địch, nghi ngại sang hợptác hữu nghị giữa hai quốc gia Hàn Quốc luôn xem Việt Nam là đối tác tincậy, quan trọng Vào năm đầu tiên của thế kỉ XXI, hai nước đã hai lần nâng
cấp quan hệ lên “Đối tác toàn diện trong thế kỉ XXI” (tháng 8/2001) và chỉ sau 8 năm, tiếp tục nâng cấp thành “Đối tác hợp tác chiến lược” (tháng
10/2009), khẳng định ý chí và quyết tâm chính trị của lãnh đạo cũng như nhândân hai nước, đồng thời tạo cơ sở chính trị quan trọng đưa quan hệ hữu nghị
và hợp tác giữa Việt Nam - Hàn Quốc phát triển ở tầm cao chiến lược mớitrên tất cả các lĩnh vực Trên cơ sở đó hình thành truyền thống tiếp xúc cấpcao thường xuyên, đối thoại chiến lược ngoại giao - an ninh - quốc phòngthường niên; mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan quốc phòng, an ninh giữanhiều địa phương được thiết lập và không ngừng gia tăng Hai nước khôngchỉ hợp tác chặt chẽ với nhau trên bình diện song phương mà sự hợp tác trênbình diện đa phương cũng ngày càng đa dạng và sôi động như ASEAN- Hàn
Trang 10Quốc, ASEAN + 3, ASEAN + 6, APEC, WTO có sự tích cực tham gia củaViệt Nam- Hàn Quốc.
Nhân chuyến thăm Hàn Quốc cấp nhà nước của Chủ tịch nước TrươngTấn Sang vào tháng 11/ 2011, lãnh đạo cấp cao hai nước đã tuyên bố lấy năm
2012 là “Năm hữu nghị Hàn Quốc- Việt Nam” Còn Tổng thống Hàn Quốc
Park Geun Hye đã chọn Việt nam là quốc gia đầu tiên trong chuyến công ducác quốc gia ASEAN trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày7- 11/9/ 2013, với lí do là luôn coi trọng mối quan hệ hữu hảo với Việt Nam
và quyết tâm sẽ phát triển hơn nữa mối quan hệ hợp tác này; Quan hệ giữa hainước đã đạt được sự phát triển đáng chú ý trong suốt 20 năm qua và đây là lúcchúng ta chuẩn bị cho tương lai 20 năm tới và tiến tới đưa hợp tác kinh tế pháttriển sâu rộng thêm một tầm cao nữa
Do vậy, việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn
2001 đến 2013 là điều cần thiết nhằm góp phần làm sáng tỏ quá trình vậnđộng và phát triển liên tục giữa sự hợp tác của hai nước, đồng thời quan đó
để thấy được những thuận lợi và khó khăn cũng như triển vọng về mối quan
hệ này
Với những lí do trên, tìm hiểu mối quan hệ giữa Việt Nam và HànQuốc nói chung, nhất là từ khi hai nước quyết định nâng cấp thành quan hệđối tác toàn diện là một vấn đề vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thựctiễn sâu sắc Nó không những giúp hiểu thêm về lịch sử hai nước, mối quan
hệ tốt đẹp giữa hai nước mà còn giúp rút được những kinh nghiệm trong quan
hệ với các nước khác trong khu vực và trên thế giới Bởi lẽ đó, chúng tôi đã
chọn vấn đề: “Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam (2001- 2013)” làm đề tài cho
luận văn thạc sĩ, qua đó với hy vọng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứulịch sử quan hệ Việt Nam với các nước trên thế giới và tăng thêm sự hiểu biếtcho bản thân
3
Trang 112 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước đây do nhiều nguyên nhân, Hàn Quốc là một đối tượng ít đượccác học giả quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam, vì vậy chưa có nhiều tác phẩmchuyên sâu về vấn đề này Song để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, nguồntài liệu chính thức mà chúng tôi tiếp cận được là: các văn bản của Chính phủ,
Bộ Ngoại giao, một số bài viết trong các công trình nghiên cứu về quan hệViệt Nam - Đông Bắc Á hay một phần nghiên cứu về Hàn Quốc Ngoài ra còn
có các tác phẩm viết về một mảng nào đó của giai đoạn này, tuy không nhiềunhưng khá phong phú, đa dạng, sách tham khảo, sách tư liệu, thông cáo, tuyên
bố, thông sử, sách giới thiệu tổng quan, luận văn, luận án, các công trìnhnghiên cứu trên các tạp chí (Nghiên cứu Đông Bắc Á, Nghiên cứu Quốc tế,Nghiên cứu Đông Nam Á, Những vấn đề kinh tế thế giới ); trên Thông tấn
xã Việt Nam và các báo như Nhân Dân, Quân đội nhân dân
Dưới đây là một số tác phẩm tiêu biểu mà chúng tôi tiếp cận được
- Loại tài liệu viết về cơ sở của quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam:
Cuốn Tương đồng văn hoá Việt Nam- Hàn Quốc của tập thể giảng viên
khoa Ngữ văn - Đại học KHXH&NV Hà Nội- Nxb Văn hoá thông tin (1996)
Cuốn Những vấn đề văn hoá, xã hội và ngôn ngữ Hàn Quốc (nhiều tác giả), Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh (2002) Cuốn Người Việt Nam ở
Triều Tiên và mối giao lưu văn hoá Việt - Triều trong lịch sử - Hội Khoa học
lịch sử Việt Nam (1997) Các tác phẩm này đề cập đến sự tương đồng về vănhoá, lịch sử cũng như những dòng họ Lí từ Việt Nam sang định cư ở HànQuốc hàng trăm năm trước, là nền tảng cho quan hệ hai nước hiện tại
Cuốn Hàn Quốc trên đường phát triển do Ngô Xuân Bình và Phạm Quý Long (đồng chủ biên) Nxb Thống kê (2000); Hàn Quốc trước thềm thế
kỉ XXI của Dương Phú Hiệp và Ngô Xuân Bình (đồng chủ biên) viết về tình
hình kinh tế - xã hội Hàn Quốc, cũng được coi là bối cảnh tác động đến mốiquan hệ Hàn - Việt
Trang 12- Loại viết về quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam có:
Cuốn Kỷ yếu hội thảo Quan hệ Việt Nam Hàn Quốc trong lịch sử Nxb Thế giới, Hà Nội (2009) đã tập trung các bài viết về chủ đề “Việt Nam
-và Hàn Quốc trong lịch sử Đông Bắc Á” -và “Nhận thức về thế giới Đông Á
và quan hệ Hàn - Việt trong bối cảnh khu vực” để kỷ niệm thành quả quan hệ
hai nước Hàn - Việt tròn 15 năm
Cuốn Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới, Ngô
Xuân Bình (chủ biên) - Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội 2012 đã tập trungphân tích, đánh giá quan hệ Việt Nam- Hàn Quốc kể từ khi hai nước thiết lậpquan hệ ngoại giao chính thức (1992) đến cuối thập niên đầu thế kỉ XXI (thờiđiểm Việt Nam và Hàn Quốc nâng cấp quan hệ thành quan hệ đối tác hợp tácchiến lược - 2009)
Cuốn Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc 1992 đến nay và triển vọng đến
năm 2020, của Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Văn Dương
(đồng chủ biên; 2011), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội đề cập tổng quanquan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong suốt 20 năm, tuy nhiên chưa khắc hoạđược giai đoạn 2001 - 2011, như chủ đề nghiên cứu của luận văn chúng tôi
Cuốn Hợp tác kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh hội nhập
Đông Á, do Đỗ Hoài Nam, Ngô Xuân Bình, Sung-YealKoo (đồng chủ biên),
Nxb KHXH - Hà Nội (2005) tập trung nói về một lĩnh vực của quan hệ hợptác Hàn Quốc - Việt Nam là lĩnh vực kinh tế
Ngoài ra, phải kể đến một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập đến
các vấn đề liên quan Đó là: Luận án “Quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của Hàn Quốc (1961 - 1993)” của Hoàng Văn Hiển (Đại học KHXH&NV,
ĐHQG Hà Nội), thuộc nhóm bối cảnh của quan hệ Việt - Hàn Còn luận
văn“Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ 1992 đến 2007” của Mai Văn Khánh
(Đại học Vinh, 2007) mới chỉ đề cập đến thời điểm năm 2007 trong quan hệcủa 2 nước
5
Trang 13Điểm qua những tác phẩm, bài viết nói trên cho thấy, vấn đề quan hệHàn Quốc - Việt Nam đã được chú ý nhiều hơn Tuy nhiên chưa có côngtrình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề Hàn Quốc- Việt Nam giai đoạn
2001 - 2013 Một số công trình chuyên sâu lại chủ yếu tập trung vào mộtmảng, hay một lĩnh vực trong một khoảng thời gian nhất định Mặc dù vậy,
đề tài của chúng tôi ít nhiều đã tiếp thu và kế thừa các thành tựu nghiêncứu nói trên
Từ góc độ lịch sử, tác giả luận văn tập trung trình bày một cách hệthống mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 2001 - 2013 làmột giai đoạn phát triển nhất trong lịch sử quan hệ hai nước từ trước tới nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi hướng tới làm sáng tỏ vấn đề sau:
- Tập trung trình bày có hệ thống các vấn đề cơ bản về quan hệHàn Quốc - Việt Nam từ 2001- 2013 Đây là thời kì quan hệ hai nước
được hai lần nâng cấp lên “đối tác toàn diện trong thế kỉ XXI” vào tháng 8/2001 và tiếp tục nâng cấp thành “đối tác hợp tác chiến lược” từ tháng
10/2009 Quan hệ này đã trở thành nhân tố quan trọng tác động tới sựphát triển của mối nước Với việc thiết lập mức quan hệ đối tác ở mứccao nhất này, hai nước hiện đang theo đuổi các lợi ích chiến lược trongquan hệ song phương cũng như trong bối cảnh hoà bình và thịnh vượngkhu vực và toàn cầu
- “Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam (2001- 2013)” là mối quan hệ được
kế thừa truyền thống Nó thể hiện quan hệ ở nhiều tầng và thực hiện ở nhiềucấp độ Không những thế, mối quan hệ này phải chịu nhiều tác động lớn từbên ngoài với những thách thức, cường độ và quy mô khá đa dạng Do vậyqua luận văn này chúng ta thấy được những đóng góp thiết thực của hai nước
Trang 14trong việc góp phần vào hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vựcChâu Á nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung.
- Nghiên cứu Quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam từ đối tác toàn diện đếnđối tác chiến lược (2001- 2013) đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức vềquan hệ hai nước trong lịch sử phát triển một cách liên tục, không gián đoạn
và có nhiều triển vọng Từ đó chúng ta có những chính sách phù hợp để thúcđẩy mối quan hệ này phát triển hơn nữa trong tương lai
- Tập trung hệ thống những thành tựu chủ yếu trong quan hệ HànQuốc- Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh -quốc phòng, văn hoá giáo dục và một số quan hệ khác
- Trình bày những nhân tố lịch sử chủ yếu tác động đến mối quan hệnày
- Làm rõ vai trò của mối quan hệ này trong quá trình phát triển của mỗidân tộc trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay Qua đó rút ranhững bài học trong quan hệ hai nước và nêu lên triển vọng về quan hệ hainước trong tương lai
4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tuợng nghiên cứu
Đề tài xác định nội dung nghiên cứu là: Quan hệ giữa Đại Hàn DânQuốc với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001- 2013) trên cáclĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hoá giáo
7
Trang 15dục và một số lĩnh vực khác Ngoài ra, chúng tôi trình bày những nhân tố ảnhhưởng tới mối quan hệ này, đồng thời nêu lên những thành tựu và triển vọngtrong mối quan hệ hai nước.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được chúng tôi giới hạn như sau:
Về thời gian, luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu về mối quan hệ hai
nước kể từ khi thiết lập quan hệ đối tác toàn diện tháng 8/2001 đến khi Tổngthống Hàn Quốc Park Geun Hye thăm cấp nhà nước tới Việt Nam tháng 9/2013nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Bên cạnh đó chúngtôi cũng đề cập khái quát một số nội dung của thời kì trước nhằm phản ánh quátrình phát triển liền mạch của mối quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam
Về nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam
-Hàn Quốc giai đoạn 2001 - 2013, cụ thể là nghiên cứu mối quan hệ trên cáclĩnh vực: chính trị- ngoại giao, an ninh- quốc phòng, kinh tế, văn hoá, giáodục và một số lĩnh vực khác Trong luận văn này, chúng tôi trình bày nhữngnhân tố ảnh hưởng đến mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 2001 -
2013, đồng thời nêu lên những nhận xét, đánh giá và triển vọng của mối quan
hệ này
Ngoài những giới hạn về thời gian và nội dung trên, những vấn đề kháckhông thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng các nguồn tư liệu sau:
- Những văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam và Hàn Quốc,những Hiệp ước, Hiệp định kí kết giữa hai nước Hàn Quốc và Việt Nam đượclưu trữ tại Thông tấn xã Việt Nam, các trung tâm lưu trữ quốc gia
Trang 16- Các cuốn sách, tạp chí nghiên cứu ở các trung tâm nghiên cứu nhưViện Thông tin Khoa học và xã hội viết về Hàn Quốc và Việt Nam.
- Sách báo ở các thư viện như thư viện Học viện quan hệ Quốc tế, Thưviện Quốc gia
- Các bản tin và các bài báo ở các báo Nhân dân, báo Quân đội nhândân do Thông tấn xã Việt Nam sưu tầm và biên soạn theo sự kiện các năm
Nguồn tài liệu trên internet
5.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Quá trình phát triển quan hệ Hàn Quốc- Việt Nam giai đoạn
2001-2013 là một quá trình lịch sử trong quan hệ quốc tế Bởi vậy, khi nghiên cứuvấn đề này chúng tôi sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra chúng tôicòn sử dụng một số phương pháp khác: định lượng, thống kê, so sánh để giảiquyết các vấn đề mà luận văn đưa ra
Tất nhiên, sự phân chia các loại phương pháp như trên chỉ mang tínhchất tương đối bởi khả năng kết hợp và vận dụng do tính chất liên ngành củaquan hệ quốc tế
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn phác thảo một cách tương đối toàn diện, tổng thể với tínhkhách quan và chân thực về mối quan hệ hợp tác giữa Hàn Quốc và Việt Namtrên các lĩnh vực
- Bước đầu xác định những nhân tố tác động đến quan hệ giữa hainước, những thành tựu và hạn chế trong quá trình hợp tác
- Một số nhận xét, nhận định về bài học kinh nghiệm và định hướng cótính chất tham khảo về triển vọng hợp tác giữa hai nước trong các giai đoạn sau
- Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu vàgiảng dạy về quan hệ hợp tác giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước Hàn
9
Trang 17Quốc - Việt Nam, tham khảo phục vụ học tập và nghiên cứu lịch sử quan
hệ quốc tế
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luậnvăn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam
Trang 18B NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM TỪ 2001 ĐẾN 2013
1.1 Tình hình quốc tế và khu vực Đông Á
1.1.1 Tình hình quốc tế
Mười năm sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới tiếp tục chứngkiến những biến chuyển lớn trong đời sống chính trị thế giới nói chung vàtrong quan hệ quốc tế nói riêng
Bước vào thập niên đầu của thế kỷ XXI, quan hệ quốc tế có nhữngbước phát triển mới, thay đổi cả hình thức và tính chất Cục diện thế giới đã
có những chuyển hoá cơ bản Trật tự thế giới hai cực không còn nhưng mộttrật tự thế giới mới đang trong quá trình hình thành theo xu thế đa cực, đatrung tâm Từ thời điểm này, sự khác biệt về ý thức hệ không còn trở ngạigiữa các nước có chế độ chính trị khác nhau, mà thay vào đó, việc phát triểnkinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của mọi quốcgia Kinh tế trở thành nhân tố có ý nghĩa trong quan hệ quốc tế Cuộc cáchmạng KH- CN, nhất là cuộc cách mạng về thông tin đã mở ra những triểnvọng phát triển kinh tế to lớn cho tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, pháttriển hay đang phát triển ở mọi châu lục trên thế giới Xu thế toàn cầu hoá,khu vực hoá nhất là trong lĩnh vực kinh tế có những bước phát triển mạnh vàcàng gia tăng đã tác động tới mọi mặt trong quan hệ quốc tế Các nước dù lớnhay nhỏ, phát triển hay đang phát triển đều phải điều chỉnh chính sách đốingoại phù hợp với tình hình mới Quan hệ giữa các nước lớn có những biếnchuyển mạnh, chuyển dần từ đối đầu hoặc liên kết với nước này chống lạinước kia sang vừa hợp tác vừa đấu tranh cùng tồn tại hoà bình Với hoàn cảnh
11
Trang 19quốc tế đó, các nước đã đặt ưu tiên cao cho phát triển kinh tế, đẩy mạnh đadạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ đối ngoại để tạo cho mình một thếđứng trên trường quốc tế và một vị thế đảm bảo cho an ninh quốc gia và phát
triển đất nước Kinh tế trở thành “cán cân” số một so sánh thực lực và vị thế
của mỗi quốc gia
Thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI là giai đoạn thế giới đầy biến độngvới hàng loạt sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội lớn Vụ khủng bố ngày11/9/2001 ở nước Mĩ làm chấn động thế giới Khoảng 3 nghìn người đã thiệtmạng trong loạt vụ tấn công khủng khiếp mà thủ phạm được xác định là tổchức khủng bố Al - Qaeda do Bin Laden cầm đầu Sự kiện này không chỉ tácđộng toàn diện đến nước Mỹ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống quốc tế,
bắt đầu “thời đại khủng bố và chống khủng bố” trên toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế 2008 - 2009 khởi đầu từ Mĩ đã tácđộng mạnh đến kinh tế thế giới Cuộc khủng hoảng này đã tàn phá hệ thốngtài chính của các nước Mĩ, châu Âu hàng loạt các doanh nghiệp phá sản vàtái cơ cấu, và hệ quả của nó là sự suy thoái trầm trọng nền kinh tế và tỉ lệ thấtnghiệp cao nhất trong nhiều năm nay[8, 42]
Vấn đề hạt nhân là một nhân tố làm “nóng” quan hệ quốc tế Tháng
4/2010, Tổng thống Mỹ B Obama và Tổng thống Nga D Metvedev ký Hiệpước cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược (START) giai đoạn hai đã thắp lên
hy vọng phi hạt nhân hóa toàn cầu Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn những ảotưởng coi vũ khí hạt nhân như công cụ trong cuộc đua giành ưu thế, vẫn cònnhững mưu toan, những tham vọng lợi dụng ranh giới nhạy cảm giữa hạt nhândân sự và quân sự để ngấm ngầm phát triển vũ khí hạt nhân, đặt thế giới trước
sự việc đã rồi
Dịch bệnh cũng là vấn đề thế giới đáng quan tâm Năm 2003, từ TrungQuốc, đại dịch SARS nhanh chóng lây truyền ra nhiều nước, làm hơn 8.000
Trang 20người tại 37 quốc gia mắc dịch, cướp đi sinh mạng của 774 người Sau dịchcúm gia cầm H5N1, năm 2009 cả thế giới lại hoang mang và tập trung đốiphó với dịch cúm lợn do virus cúm A (H1N1) gây ra Tình hình đó buộc toànthế giới phải bắt tay vào hợp tác để tìm ra được cách giải quyết cho chínhcuộc sống cho cả nhân loại
Rõ ràng thế giới đang biến động và tình hình thế giới tác động sâu rộngtới quan hệ toàn cầu Mỗi quốc gia, khu vực đều cần hòa mình vào dòng chảychung đó, tăng cường hợp tác để có thể đứng vững và phát triển
Tình hình phức tạp của những năm đầu thế kỉ XXI đã tác động trực tiếptới khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam và Hàn Quốc.Tại khu vực này, sự vươn lên mạnh mẽ của các trung tâm kinh tế như TrungQuốc, Nhật Bản, Ấn Độ , sự phát triển mạnh của các tổ chức khu vực nhưASEAN, EU, NAFTA , của các nước Công nghiệp mới (NICs) đã và đangtạo ra những biến chuyển mạnh trong quan hệ quốc tế Mọi quốc gia đềuchuyển hướng, điều chỉnh chính sách ngoại giao mới nhằm tôn trọng lợi íchchiến lược của nhau, hợp tác hai bên cùng có lợi, vì trong lý luận của quan hệ
quốc tế: “Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn,
chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn” Tuy Việt Nam và Hàn Quốc không
cùng một chế độ chính trị, song cũng không nằm ngoài xu thế của thời đại.Nhu cầu phát triển kinh tế cũng tạo điều kiện cho hai nước xúc tiến thiết lậpquan hệ ngoại giao và phát triển quan hệ nhiều phương diện
1.1.2 Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông Á cũng không
nằm ngoài sự vận động của những biến chuyển trong tình hình thế giới Đây
là khu vực đa dạng về văn hóa và chính trị, có sự hội tụ gần đủ các nước lớncủa thế giới quan hệ với nhau trong lợi ích đan xen, vừa hợp tác vừa cạnhtranh kiềm chế nhau Tuy nhiên xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác ngày
13
Trang 21càng chiếm ưu thế chủ đạo ở khu vực Trên thực tế, khu vực châu Á - TháiBình Dương trong nửa sau thập kỷ 80 và bước sang thập kỷ 90 của thế kỷ XX
là một khu vực với các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao tạo nên sự năngđộng vào bậc nhất thé giới Vai trò của các nước vừa và nhỏ trong khu vựcngày càng tăng lên, góp phần vào việc bảo vệ hoà bình và duy trì sự ổn địnhtrong khu vực Tại khu vực này, quan hệ quốc tế đã có sự thay đổi tính chất,
có sự “tiếp xúc chéo” và bình thường hoá quan hệ các nước có chế độ chính
trị - xã hội khác nhau
Dự báo thế kỷ XXI được coi là kỷ nguyên châu Á - Thái Bình Dương
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, Ấn Độ cùng với Mỹ được xem lànhững nhân tố quan trọng hàng đầu để nói đến điều đó Sau cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu, châu Á - Thái Bình Dương được Liên hợp quốcđánh giá là khu vực dẫn đầu thế giới về phục hồi kinh tế
Hiện dân số ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương chiếm khoảng 1/2dân số thế giới; châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có trữ lượng dầu mỏ,khí đốt rất lớn và tập trung sự trỗi dậy kinh tế của nhiều nước (Trung Quốc,
Ấn Độ…) Đây là hai quốc gia có số dân đông nhất thế giới và là những nềnkinh tế lớn nhất toàn cầu, tất yếu có vị thế chính trị lớn trong việc giải quyết
các vấn đề cấp thiết của cộng đồng quốc tế Trong "Chiến lược quốc gia cho
thế kỷ XXI", Mỹ xác định khu vực châu Á - Thái Bình Dương là một địa bàn
quan trọng đối với an ninh quốc gia của nước Mỹ Khu vực này còn là nơi tậptrung sự chú ý của nhiều nước lớn và nhiều tổ chức quốc tế quan trọng thếnên nơi đây đang tập trung nhiều mâu thuẫn về lợi ích có tính chiến lược củamột số nước lớn đối trọng với lợi ích quốc gia Mỹ, đặc biệt những nước đangcạnh tranh với Mỹ để giành quyền khống chế khu vực này về chính trị và kinh
tế
Trang 22Bước sang thế kỷ XXI, khu vực châu Á - Thái Bình Dương có những
thay đổi mang tính căn bản: Thứ nhất, sức mạnh chính trị và tốc độ phát
triển kinh tế của khu vực này tăng lên nhanh chóng so với các khu vực khác
trên thế giới; Thứ hai, sự trỗi dậy của Trung Quốc một mặt đã đem đến cơ
hội để kinh tế các nước xung quanh phát triển, mặt khác lại làm cho họ cảmthấy e ngại và lo lắng trước sự cạnh tranh gay gắt thậm chí là sự lấn át trên
nhiều phương diện; Thứ ba, các quốc gia sở hữu hạt nhân ở khu vực châu Á
- Thái Bình Dương không ngừng tăng lên, sự theo đuổi của các tổ chức phichính phủ đối với vũ khí hủy diệt hàng loạt và việc triển khai hệ thốngphòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ ở khu vực này, đều có khả năng dẫn đếncuộc chạy đua vũ trang ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương thêm gay gắt;
Thứ tư, cơ chế hợp tác đa phương khu vực không ngừng tăng làm cho khả
năng xuất hiện nhất thể hóa khu vực cũng có phần tăng lên, cho dù để điều
đó trở thành hiện thực còn là câu chuyện của tương lai
Sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng là một nhân tố tác động mạnh mẽ tớiquan hệ quốc tế hiện nay, trong đó có cả Việt Nam và Hàn Quốc Sau 3 thậpkỷ tăng trưởng với tốc độ chóng mặt, năm 2010, Trung Quốc đã vượt quaNhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Báo cáo của Ủy ban Tìnhbáo quốc gia Mỹ cho biết: năm 2035, tổng sản phẩm quốc dân của TrungQuốc sẽ cao hơn Mỹ Tháng 10 năm 2003, con tàu “Thần Châu 5” cùng nhà
du hành vũ trụ Dương Lợi Vĩ đã bay vào không gian vũ trụ Sự kiện này đưaTrung Quốc trở thành nước thứ ba trên thế giới phóng thành công tàu vũ trụ
có người lái vào không gian, phá vỡ thế độc quyền của Nga và Mỹ Với sứctrỗi dậy mạnh mẽ và toàn diện, Trung Quốc đã trở thành một trong những
nhân tố chủ chốt trong “cuộc chơi lớn” toàn cầu Xét trên góc độ địa - kinh
tế, Trung Quốc trở thành công xưởng của thế giới sau khi đã vượt Pháp, Anh
15
Trang 23và Đức nhờ mức tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng 10%/năm trong haithập kỷ qua
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương không chỉ là một trong những khuvực có dân số đông nhất thế giới, có nền kinh tế phát triển sôi động nhất vàtập trung nhiều của cải nhất mà còn là một trong những khu vực có lực lượngquân sự dày đặc nhất, tiềm lực phát triển quân sự lớn nhất và vấn đề phổ biến
vũ khí hạt nhân nghiêm trọng nhất thế giới Thực tế cho thấy bất kể về lĩnhvực kinh tế, hay là an ninh, đối với Mỹ khu vực châu Á - Thái Bình Dươngngày càng trở nên quan trọng trong quan hệ quốc tế
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) gồm
21 thành viên được thành lập năm 1989 tại Úc nhằm thúc đẩy hơn nữa tăngtrưởng kinh tế, thịnh vượng trong khu vực và củng cố cộng đồng châu Á -Thái Bình Dương Với 2,6 tỉ người (khoảng 40% dân số trên thế giới),chiếm 56% GDP và 57% giá trị thương mại toàn cầu, APEC tự hào đại diệncho một khu vực kinh tế phát triển năng động nhất thế giới Sau cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu, Tuyên bố chung tại APEC lần thứ 17
(2010) nhấn mạnh đến hai điểm: Thứ nhất, đưa ra chiến lược lối thoát
chung cho nền kinh tế thế giới sau khi gói kích thích kinh tế thành công;
Thứ hai, đưa ra tầm nhìn tăng trưởng mới của khu vực châu Á - Thái Bình
Dương trong thế kỷ XXI1 đó là “tăng trưởng cân bằng”, “tăng trưởng bao
dung” và “duy trì tăng trưởng” Tăng trưởng bao dung nhằm mục đích đưa
thành quả của phát triển đến được với người dân, nghĩa là tất cả mọi ngưòidân phải được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hoá kinh tế Mặc dù khó đểđạt được sự tăng trưởng cân bằng đích thực, nhưng các quốc gia cần hợptác để hướng tới sự cân bằng tương đối nhằm đảm bảo lợi ích của tất cả cácbên tham gia và giúp nền kinh tế thế giới tránh rơi vào vòng xoáy khủnghoảng mới
Trang 24Tuy nhiên, những thách thức mới trên lĩnh vực an ninh đối với khu vựcnày đang rất đáng lo ngại, bởi châu Á - Thái Bình Dương là khu vực hết sứcquan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh trên thế giới Những vụtranh chấp về biển, đảo giữa các nước ở khu vực Đông Bắc Á vẫn tiềm ẩnnguy cơ căng thẳng trong các mối quan hệ song phương hoặc đa phương về
an ninh ở châu Á - Thái Bình Dương Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc luôn đặt quânđội của họ ở Đông Bắc Á trong tình trạng báo động cao, sẵn sàng cho mộtcuộc chiến tranh Những động thái đó đã làm bật lên những thách thức lớn về
an ninh đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương Hiện nay, vấn đề BiểnĐông do tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc, đã trở thành một trong nhữngvấn đề nóng của khu vực và trên thế giới Việt Nam đang có những chínhsách ngoại giao đúng đắn, tăng cường sự ủng hộ, đồng tình từ các nước trongkhu vực và trên thế giới để tiến tới giải quyết thoả đáng những liên quan đếnvấn đề này Mối quan hệ Việt - Hàn được củng cố sẽ góp tiếng nói chung,quan trọng vào tiến trình giải quyết vấn đề Biển Đông đối với Việt Nam
Tình hình trên bán đảo Triều Tiên cũng là một vấn đề nóng của khuvực và thế giới Nó tác động mạnh mẽ tới quan hệ quốc tế trong đó có ViệtNam và Hàn Quốc Chiến tranh lạnh kết thúc dẫn đến tình hình trên bán đảonày được cải thiện theo chiều hướng giảm dần căng thẳng, tiến tới hoà dịu,đối thoại và hợp tác Quan hệ giữa hai miền trên bán đảo Triều Tiên đã cónhững tiến triển đáng kể: đàm phán cấp Thủ tướng bắt đầu từ tháng 9/1990
và kí thoả thuận về hoà giải; hợp tác và không xâm lược lẫn nhau vào tháng12/1991; cùng gia nhập Liên Hợp Quốc riêng rẽ tháng 9/1991; ký tuyên bốchung về phi hạt nhân hoá bán đảo Triều Tiên tháng 12/1991; thoả thuận gặp
gỡ cấp cao tháng 8/1994; Cuộc gặp thượng đỉnh lịch sử giữa hai miền Nam Bắc Triều Tiên và Tuyên bố chung Nam - Bắc ngày 15/06/2000; giao lưuhợp tác hai miền về kinh tế, văn hoá, thể thao ngày càng tốt đẹp hơn Chính
-17
Trang 25sự hoà dịu, đối thoại, hợp tác ở khu vực, đặc biệt là những tiến triển trongquan hệ trên bán đảo Triều Tiên là một nhân tố quan trọng đưa đến việc ViệtNam và Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao, thúc đẩy và phát triển mốiquan hệ đó
Hiện nay, tình hình trên bán đảo Triều Tiên vẫn luôn nóng bỏng, thêmvào nữa, những tranh chấp trên vùng biển Đông Hải làm cho quan hệ ĐôngBắc Á căng thẳng, có thể ảnh hưởng tới quan hệ Việt - Hàn Việt Nam mộtmặt, thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược với Hàn Quốc nhưngmặt khác gia tăng mối quan hệ hữu nghị truyền thống với Cộng hoà Dân chủNhân dân Triều Tiên Việt Nam muốn duy trì mối quan hệ đa dạng và thực tế
với bán đảo Triều Tiên trên cơ sở “Chính Bắc, kinh Nam” (về chính trị: duy
trì quan hệ hữu nghị truyền thống với phía Bắc - Triều Tiên; về kinh tế: thúcđẩy quan hệ hợp tác chặt chẽ với phía Nam - Hàn Quốc) Rõ ràng, mỗi khi có
sự biến động lớn trên bán đảo Triều Tiên thì quan hệ Việt Nam - Hàn Quốckhó phát triển bền vững
Xuyên suốt lịch sử, quan hệ Việt - Hàn cũng chịu ảnh hưởng mối quan
hệ Xô - Mĩ Trong chiến tranh Việt Nam, mâu thuẫn hai phe thể hiện khá rõràng, ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ Việt - Hàn Năm 1991, Liên Xô sụp đổ,chiến tranh lạnh kết thúc đồng thời với việc mâu thuẫn Xô - Mĩ đã không còncăng thẳng, gay gắt, tác động tích cực tới quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Á
và quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc Từ năm 1995, Việt Nam và Mĩ thi hànhnhững chính sách đối ngoại mới, quan hệ Việt - Mĩ cũng ngày càng được cảithiện và có chiều hướng tích cực hơn, do đó tác động tốt tới mối quan hệ ViệtNam - Hàn Quốc trong thế kỉ XXI
Bên cạnh đó, Đông Nam Á là một khu vực có sự ảnh hưởng rất lớncủa Nhật Bản và Trung Quốc Nhật Bản gây được ảnh hưởng rất lớn ở cácnước Đông Nam Á hải đảo, còn các nước Đông Nam Á lục địa lại chịu ảnh
Trang 26hưởng lớn của Trung Quốc Nhật Bản không chỉ là nơi cung cấp các khoảnđầu tư, công nghệ mà còn là thị trường tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu của cácnước trong khu vực Và như vậy, mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc sẽ gópphần củng cố quan hệ ở khu vực, điều này Nhật Bản có quyền lợi to lớn khitiến hành hoạt động thương mại và đầu tư trong môi trường ổn định Khôngthể phủ nhận, các hoạt động kinh tế mạnh mẽ của Nhật Bản và các công tyxuyên quốc gia của nó góp phần thúc đẩy xu thế tăng cường hợp tác ViệtNam - Hàn Quốc nói riêng và trong khu vực nói chung Còn đối với TrungQuốc, ảnh hưởng rất lớn tới các nước Đông Nam Á lục địa, do vậy trực tiếpảnh hưởng tới quan hệ Việt Nam - ASEAN, tới quan hệ Việt Nam - HànQuốc
Như vậy, tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương tạo ra nhiềuthời cơ nhưng cũng không ít thách thức cho các quốc gia trong khu vực Đặcbiệt là xúc tiến phát triển các mối quan hệ song phương, đa phương Mối quan
hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong quá khứ, hiện tại và tương lai không thể khôngchịu tác động của tình hình khu vực Vấn đề đặt ra là hai nước cần phải tăngcường thúc đẩy hơn nữa, hợp tác toàn diện hơn nữa để cùng nhau phát triển
Đó là con đường duy nhất để hai nước giải quyết được vấn đề còn tồn tại,thích ứng được với tình hình đang thay đổi để phát triển mối quan hệ ViệtNam - Hàn Quốc lên những tầm cao mới đúng như quyết tâm của lãnh đạo vànguyện vọng của nhân dân hai nước
1.2 Nhân tố bên trong
1.2.1 Sự tương đồng về lịch sử - văn hoá giữa Hàn Quốc và Việt Nam
Trải qua một thời kì dài của lịch sử, Hàn Quốc và Việt Nam tuy khônggần gũi về mặt địa lý nhưng lại có nhiều nét tương đồng về văn hoá - lịch sử.Chính những điểm tương đồng ấy trở thành cơ sở để xây dựng mối quan hệ
19
Trang 27hợp tác và phát triển bền vững giữa hai dân tộc, đồng thời đó là “chất keo”
gắn kết hai nước trong suốt 20 năm hợp tác cùng phát triển
Việt Nam là quốc gia nằm giữa ngã ba đường của Đông Nam Á, nơigiao lưu giữa nhiều nền văn hoá ở Đông Á Hàn Quốc nằm ở trung tâm ĐôngBắc Á, cũng là nơi hội tụ nhiều nền văn hoá Thêm vào đó, Việt Nam và HànQuốc đều là quốc gia - bán đảo, vừa có bờ biển dài, có biển rộng, tạo điềukiện giao lưu với thế giới bằng con đường biển Vị trí địa - chính trị đặc biệtcủa hai nước, khiến cho trong lịch sử, cả hai nước có điều kiện giao lưu, tiếpthu các nền văn hoá khác nhau, tiếp nhận những tinh hoa văn hoá của nhiềudân tộc trong khu vực và thế giới Ngược lại, hai nước cũng hay bị các thế lựcbên ngoài dòm ngó, xâm chiếm
Rõ ràng, sự tương đồng về địa - chính trị là một yếu tố quan trọngtạo tiền đề cho mối quan hệ của hai nước Việt Nam và Hàn Quốc Cùng với
những yếu tố khác, nó tạo nên sự “thích ứng lẫn nhau” giữa hai dân tộc
dường như cách biệt về địa lý Hơn nữa, hai nước cũng có nhiều điểmtương đồng về tập tục, sinh hoạt, phong cách tư duy, tôn giáo, tình cảm dântộc, di sản văn hoá Đây cũng là những yếu tố tạo nên những gắn kết giữahai dân tộc
Hàn Quốc và Việt Nam đều là những quốc gia thuộc “vùng văn hoá
chữ Hán, vùng văn hoá Nho giáo”; Việt Nam và Hàn Quốc đều có mối quan
hệ lâu đời với Trung Quốc và Việt Nam chịu ảnh hưởng rất sớm về văn hoá
và chính trị của Trung Hoa và tạo thành một vùng đồng văn (văn tự, họcthuật, văn học nghệ thuật) đều trải qua thời gian dài phát triển giống nhau
Hai nước đều chịu ảnh hưởng văn hoá đó là Nho giáo hay nói đúng hơn
là cả Tam giáo: Nho, Phật, Đạo bắt nguồn từ Trung Quốc Tuy nhiên, cáchtiếp cận của mỗi dân tộc có khác nhau, song Nho giáo vẫn có tác dụng chiphối lịch sử nhiều hơn vì nó giữ vị trí chi phối về chính trị, về tổ chức xã hội,
Trang 28về tiến hành giáo dục cũng như phát triển học thuật Tam giáo để lại ảnhhưởng to lớn trong phong tục tập quán nhân dân hai nước Đó cũng là cơ sở
để nhân dân hai nước dễ gần và hiểu nhau
Tính chất đồng văn chi phối mạnh mẽ tới lịch sử hai nước; khôngnhững thể chế từng nước về cơ bản là giống nhau trong thời quân chủ, về sautrong thời cận - hiện đại thì các hiện tượng xảy ra ở mỗi nước thường có một
cái gì đồng loại, tương ứng xảy ra ở nước khác như một sự “đồng thanh,
đồng khí” liên tục
Bước sang thời cận - hiện đại, khi các nước phương Tây bắt đầu quátrình xâm lược thì phong trào Duy Tân bắt đầu ảnh hưởng đến vùng này.Triều Tiên và Việt Nam đều chọn con đường duy tân Duy tân hội ở ViệtNam và Tân dân hội ở Triều Tiên đều đi theo phương hướng của Nhật Bản.Nhiều nhà chí sĩ hai nước không những gần gũi về tư tưởng mà còn tiếp xúctrực tiếp, cùng nhau hoạt động trong hội Đông Á đồng văn Họ là nhữngngười cùng chí hướng, lý tưởng
Không chỉ tương đồng trong việc tiếp thu văn hoá Trung Hoa, ViệtNam và Hàn Quốc còn tiếp nhận nhiều nền văn hoá khác nhau, đặc biệt là vănhoá phương Tây, nhưng đều biết tiếp thu một cách có chọn lọc và sáng tạo đểtạo nên một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc
Cần kể đến sự tương đồng về thân phận lịch sử của Việt Nam và HànQuốc kể từ lúc có giao thoa Đông Tây và quá trình từ bối cảnh văn hoá khuvực gia nhập vào quỹ đạo phát triển của thế giới hiện đại Cả hai quốc gia đềuphải đối diện với vấn đề: sự xâm lược của đế quốc và cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc, nhu cầu thống nhất đất nước, phát triển kinh tế và hiện đại hoáđất nước Kinh nghiệm và thành tựu lịch sử của mỗi nước sẽ trở thành bài họctốt cho nước kia
21
Trang 29Trên thực tế Việt Nam và Hàn Quốc là hai nước ở rất xa nhau về địa lýnhưng trong di sản văn hoá của họ cũng có những nét tương đồng Điều đógiải thích bởi yếu tố chung của văn hoá khu vực châu Á - Thái Bình Dương,của hoàn cảnh lịch sử nhân dân hai nước trong quan hệ với các nước lánggiềng đặc biệt là Trung Quốc Tuy nhiên, trong văn hoá của mỗi quốc gia cónhiều nét mang sắc thái đặc thù của tộc người, địa - văn hoá, lịch sử từngnước Chính những nét tương đồng về văn hoá, lịch sử là cơ sở vững chắc đểxây dựng mối quan hệ hợp tác hữu nghị lâu dài giữa hai nước Ông Pak Na
Oan, Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam nhận xét: Không có một quốc gia nào có
nhiều điểm tương đồng về nhiều mặt với Hàn Quốc như Việt Nam Việt Nam vẫn mang nguyên vẹn và thuần khiết và nhiệt tình mà Hàn Quốc đã từng có vào đầu thời kỳ phát triển kinh tế”.
1.2.2 Tình hình Hàn Quốc và chính sách của Hàn Quốc đối với Việt Nam
Về kinh tế, trong hai thập niên 70 và 80, Hàn Quốc công nghiệp hoá thành công tạo nên “kỳ tích sông Hàn” như thế giới ca ngợi Bước sang thập
niên 90, Hàn Quốc trở thành một nước công nghiệp mới (NICS) và được
mệnh danh là “con rồng châu Á” Sỡ dĩ đạt được điều đó là do Hàn Quốc đã
nắm bắt được những mặt tích cực của xu thế mới trên thế giới và khu vực vàochính nội hàm nước mình để phát triển kinh tế thành công, nâng cao vị thếtrên trường quốc tế Hiện nay, nền kinh tế Hàn Quốc đứng thứ 4 châu Á vàthứ 15 trên thế giới, với kim ngạch thương mại năm ngoái đạt hơn 1.167 tỷUSD, trong đó xuất khẩu đạt hơn 548 tỷ USD
Về chính trị, từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, quá trình dân chủ
hoá trong nền chính trị Hàn Quốc được thúc đẩy mạnh, tạo điều kiện thuận lợicho sự ra đời của những chính sách mới phù hợp với tình hình quốc tế và khu
Trang 30vực, nhằm giải quyết những vấn đề an ninh và kinh tế đất nước, tạo cơ sởthống nhất cho 2 miền trên bán đảo Triều Tiên
Về đối ngoại, ngay sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Hàn Quốc theo
đuổi chính sách ngoại giao theo hướng toàn cầu hoá, đa dạng hoá các mốiquan hệ Chính sách ngoại giao mới của Hàn Quốc với đặc trưnglà mềm dẻo
và linh hoạt, cụ thể là “chính sách ngoại giao phương Bắc”, chủ trương “đi
đường vòng”, qua đó cải thiện quan hệ với các nước vốn là đồng minh của
Triều Tiên Chính sách này đã thúc đẩy và thiết lập quan hệ ngoại giao với
các nước XHCN như Nga, Trung Quốc kể cả thúc đẩy bình thường hoá quan
hệ bang giao với các nước có chế độ chính trị khác nhau Với cách làm này,Hàn Quốc nhằm từng bước tạo lập quan hệ với Triều Tiên, từ đó tìm kiếmcon đường thống nhất trong hòa bình theo một lộ trình ngắn hơn Đây đượccoi là một bước đột phá trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc tạo điềukiện cho nước này gia nhập Liên Hợp Quốc và tăng cường vị thế trên trườngquốc tế Chính sách này thúc đẩy sự hợp tác với các nước trong khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương, và ASEAN, Hàn Quốc đã thúc đẩy quá trình
thiết lập quan hệ chính thức với Việt Nam Hàn Quốc coi “Việt Nam là cứ
điểm để tăng cường quan hệ với khu vực Đông Nam Á, khu vực chiến lược trong chính sách của mình [23;15] Như thế, quan hệ với Việt Nam, Hàn
Quốc có nhiều thuận lợi trong việc xâm nhập vào thị trường kinh tế tiềmnăng mới là Lào và Campuchia Với kinh nghiệm xây dựng và phát triểnkinh tế của mình, Hàn Quốc mong muốn công nghệ và vốn của Hàn Quốckhi kết hợp với nguồn tài nguyên và lao động Việt Nam chắc chắn sẽ gópvào công cuộc phát triển tốt hơn cho nền kinh tế hai nước
Hàn Quốc cũng nhận thấy đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá củaViệt Nam đã trùng với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hàn Quốccũng như sẽ có thể phát huy lợi thế so sánh từ cả hai nước khi hợp tác chặt
23
Trang 31chẽ với nhau Việc mở rộng quan hệ hợp tác với Việt Nam sẽ góp phần giúpHàn Quốc khắc phục những khó khăn về tài nguyên, chi phí lao động và thịtrường Thông qua hợp tác giữa hai nước về các mặt, nhất là hợp tác kinh tếtạo điều kiện để Hàn Quốc phát triển sản xuất, mở rộng các kênh tiêu thụ sảnphẩm, thu được lợi nhuận và dần chuyển giao một số ngành đã mất lợi thếcạnh tranh trong nước sang Việt Nam
Hàn Quốc cũng chú trọng cải thiện, phát triển quan hệ song phương và
đa phương với các nước châu Á - Thái Bình Dương Việc đẩy mạnh quan hệhợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam - Hàn Quốc sẽ đóng góp đáng kể vào việc
mở rộng hợp tác đa phương, góp thêm tiếng nói để đưa ra những giải phápthích hợp cho các vấn đề của khu vực, phấn đấu phát triển kinh tế để thu hẹpkhoảng cách giàu nghèo giữa các nước Quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa 2 quốcgia có ý nghĩa thúc đẩy, củng cố đoàn kết trong nội bộ các tổ chức hợp tác đaphương và hai nước là thành viên góp phần duy trì hoà bình, ổn định và hợptác cùng phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Như vậy, Việt Nam trở thành một trong những đối tác tin cậy và quantrọng của Hàn Quốc, mối quan hệ hai nước đã, đang và sẽ tiếp tục có nhữngbước tiến mới, thành tựu mới
1.2.3 Tình hình Việt Nam và chính sách của Việt Nam đối với Hàn Quốc.
Sau năm 1991, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu làm cho Việt Nammất đi một thị trường quan trọng là khối Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV).Đây là thách thức lớn đối với nền kinh tế Việt Nam, đòi hỏi sự điều chỉnhchiến lược phát triển của mình Đó là tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiềunước trong khu vực và trên thế giới; chất lượng cạnh tranh và hiệu quả của sựphát triển kinh tế, giải quyết cơ bản vấn đề việc làm cũng như các vấn đề xãhội nảy sinh
Trang 32Tuy nhiên, Chiến tranh lạnh kết thúc cơ hội lớn mà Việt Nam có được
là thế và lực đất nước đang lớn mạnh lên nhiều Cơ sở vật chất kỹ thuật củanền kinh tế được tăng cường Đất nước còn nhiều tiềm năng lớn về tàinguyên, lao động Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định Môi trườnghoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giớitạo điều kiện cho Việt Nam tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranhthủ ngoại lực Những hàng rào cản trở, ràng buộc sẽ được tháo gỡ, tạo điềukiện thuận lợi cho việc bình thường hoá và phát triển quan hệ với nhiềunước vốn khác nhau về chế độ chính trị xã hội
Việt Nam đang cố gắng nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức để pháttriển mạnh mẽ trong thời kỳ mới
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh chính sách đối nội đốingoại cho hơp lý, nhằm phục vụ mục tiêu tại Đại hội VI (12/1986), ViệtNam chủ trương ra sức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại,thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc và cải thiện mốiquan hệ với các nước trong khu vực Đại hội VII (6/1991) nêu lên khẩu hiệu
“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Phương châm đối ngoại đó được
khẳng định và hoàn chỉnh tại đại hội IX (tháng 4/2001) là: “Việt Nam sẵn
sàng làm bạn, là đối tác tin cậy trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [23] Đặc biệt, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XI (2011), một lần nữa khẳng định chính sách đối ngoại của Việt Nam
là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp
tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam
xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” [25]
25
Trang 33Để thực hiện phương châm đối ngoại đó, Đảng và Nhà nước ta đã chútrọng các mối quan hệ hợp tác, cùng phát triển với các nước trong khu vực vàtrên thế giới nhằm thực hiện công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nướcđồng thời nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Với những phương châm đối ngoại trên, Việt Nam nhận thấy Hàn Quốc
là một trong những đối tác quan trọng có nhiều tiềm năng để Việt Nam thiếtlập và mở rộng quan hệ trên nhiều lĩnh vực Việt Nam coi Hàn Quốc là đốitác hợp tác hàng đầu và sự hợp tác với Hàn Quốc mang lại những lợi ích vôcùng to lớn cho Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước “Kỳ tích Sông Hàn” trong những thập kỉ gần đây vô cùng hấp dẫn Việt
Nam và là tấm gương sáng và gần gũi cho Việt Nam học tập
Cả Việt Nam và Hàn Quốc đều nằm trong “khu vực văn hoá Đông Á”,
có truyền thống lịch sử hàng ngàn năm văn hiến với những đặc điểm và tinhthần yêu nước, thông minh và cần cù lao động Trong quá khứ, cả hai dân tộcđều bị các cuộc chiến tranh tàn khốc và là những thuộc địa có trình độ sảnxuất thấp, ít được thế giới biết đến Sau khi giành độc lập, chính phủ và nhândân hai nước đều mong muốn sống hoà bình độc lập tập trung sức lực pháttriển kinh tế, khắc phục hậu quả của quá khứ, đưa đất nước thoát khỏi nghèonàn lạc hậu, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển Sự tương đồng vềlịch sử văn hoá, về ý chí nguyện vọng, phù hợp với lợi ích chiến lược của hainước là những điều kiện thuận lợi để cho hai nước xích lại gần nhau và cùnghợp tác, gắn bó hơn so với các nước khác trong khu vực cũng như thế giới
1.3 Nhân tố lịch sử: Quan hệ Hàn Quốc - Việt Nam trước 2001
Việt Nam - Hàn Quốc có mối bang giao từ rất sớm Do điều kiện địa lýcho nên trong lịch sử quan hệ hai nước thường chỉ là gián tiếp thông qua mộtnước trung gian thứ ba đó là Trung Quốc Việc cử các sứ thần hai nước gặpnhau tại Yên Kinh (Bắc Kinh) như trường hợp tiêu biểu của Phùng Khắc
Trang 34Khoan và Lý Tối Quang, hay Lê Quý Đôn và Hồng Khải Hy đã để lại nhữngdấu ấn tốt đẹp trong quan hệ hai nước không chỉ trong quá khứ mà còn lưu lạiđến ngày nay
Trong thời gian này có một sự kiện xảy ra đó là sự xuất hiện hai dòng
họ Lý (Lý Tinh Thiện và Lý Long Tường) đến định cư và sinh sống tại HànQuốc vào thế kỷ thứ XII và XIII Cả hai dòng họ Lý đều hội nhập lâu đời vàocuộc sống của cộng đồng cư dân Cao Ly, đều góp sức lực, tài trí của mình đểbảo vệ và phát triển mảnh đất đã cưu mang mình Chính vì sự kiện lịch sử này
mà Lý Long Tường trở thành người đặt nền móng đầu tiên cho mối bang giaoHàn - Việt, là cơ sở để mối quan hệ này ngày càng phát triển
Về phía Việt Nam, sự kiện người dân đảo Tế Châu của Triều Tiên trôidạt đến Hội An năm 1689 đã được chúa Nguyễn giúp đỡ, tạo điều kiện trở về
nước Sự kiện này được một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Đây là câu chuyện
cảm động, tiêu biểu cho lòng mến khách, nhân đạo, ngoại giao chu đáo của người Việt Nam đối với người Hàn Quốc” [26]
Nửa sau thế kỷ XX, Việt Nam và Hàn Quốc cũng là những quốc gia bịthống trị bởi ngoại bang, cũng là những dân tộc có lịch sử văn hoá lâu đời vàtruyền thống độc lập - tự do và cả hai dân tộc càng gần gũi hơn trong phongtrào “châu Á thức tỉnh” cùng chống đế quốc thực dân Trong khoảng thời giannày, các nhà cách mạng Việt Nam và Triều Tiên cùng chí hướng đã gặp nhau,
kề vai sát cánh trong việc đi tìm đường cứu nước Đặc biệt là hoạt động củanhà yêu nước Phan Bội Châu - nhân vật vĩ đại nhất của Việt Nam đầu thế kỷ
XX đã góp phần thúc đẩy quan hệ giữa hai dân tộc
Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh
cũng rất quan tâm tới số phận của Triều Tiên, một trong những nước “đồng
cảnh” với Việt Nam, đều nằm dưới ách thống trị của đế quốc thực dân Trong
bài viết với tựa đề: Đông Dương và Triều Tiên - Một sự so sánh thú vị đăngtrên báo Le Popularie ngày 4/9/1919, Nguyễn Ái Quốc đã so sánh chính sách
27
Trang 35cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương và đế quốc Nhật ở Triều Tiên Người
viết: “Không vì cái chiêu bài tự trị ấy mà những người Triều Tiên lấy làm
thoả mãn mà họ còn tiếp tục đòi cho được độc lập hoàn toàn”; “thế giới sẽ chỉ có nền hoà bình cuối cùng khi tất cả các dân tộc tự mình thoả thuận với nhau tiêu diệt con quái vật đế quốc chủ nghĩa ở khắp mọi nơi mà họ gặp”
[44, 11] Tư tưởng đó của Người cho thấy rằng hai nước có mối quan hệ vớinhau trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp khỏi sự
áp bức bóc lột
Tuy vậy, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc cũng có những khoảng thờigian không tốt đẹp Trong chiến tranh Việt Nam chống đế quốc Mỹ, HànQuốc đưa 3 vạn quân sang Việt Nam, tham gia cuộc chiến tranh của Mỹ
Nhưng khi chiến tranh đi qua, những “hằn thù” của hai dân tộc cũng theo đó
mà dịu bớt đi, mối quan hệ ấy lại có cơ hội nối lại và ngày càng phát triển
Từ năm 1975 - 1982, Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buônbán tư nhân qua trung gian; từ năm 1983 bắt đầu có quan hệ buôn bán trựctiếp và một số quan hệ phi Chính phủ Mối quan hệ giữa hai nước, hai dân tộcđạt được thành công tốt đẹp khi ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoạigiao cấp Đại sứ (22/12/1992) Đây là một dấu mốc quan trọng trong quá trìnhphát triển quan hệ của hai quốc gia
Ngay sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, hai nước đã duy trì đều đặnhằng năm việc trao đổi đoàn và các cuộc tiếp xúc lãnh đạo cấp cao Kết quảcủa mỗi lần thăm viếng lẫn nhau ở cấp cao là quan hệ song phương giữa haidân tộc được nâng lên một bước Từ việc bình thường hoá quan hệ ngoạigiao, thiết lập quan hệ hữu nghị giữa hai nước từ năm 1992 là cơ sở đến năm
2001, hai bên đã nâng cấp quan hệ lên tầm “đối tác toàn diện trong thế kỷ
XXI” Từ đây, quan hệ hai nước ngày càng phát triển hơn, gặt hái được
nhiều thành tựu hơn Đại sứ của Việt Nam tại Hàn Quốc, Dương Chính
Trang 36Thức trong thời gian này cũng cho biết: “Mặc dù hai nước thiết lập quan hệ
ngoại giao chưa lâu nhưng mối quan hệ hợp tác đã phát triển khá toàn diện trên mọi lĩnh vực”, trong đó chỉ riêng kim ngạch buôn bán trong năm 2000
đã đạt 2 tỉ USD, qua đó đưa Hàn Quốc trở thành bạn hàng cũng như nhà đầu
tư lớn thứ 4 tại Việt Nam Nhưng tại thời điểm này, một lĩnh vực hợp tác mà
2 nước còn gặp khó khăn là hợp tác về lao động Hàn Quốc đã nhận tổngcộng hơn 30 nghìn tu nghiệp sinh Việt Nam sang nâng cao tay nghề Chỉriêng năm 2000, các công ty Hàn Quốc đã nhận gần 6000 tu nghiệp sinh,tăng gấp 2 lần so với năm 1999 Chỉ tiêu lao động mà Hàn Quốc giành choViệt Nam mỗi đợt là 13.000, nhưng hiện nay số lượng lao động Việt Nam ởHàn Quốc đã vượt lên con số trên do nhiều người tự ý phá vỡ hợp đồng bỏ
ra ngoài làm việc Đó là vấn đề đang gây khó khăn cho cả hai nước vì HànQuốc không thể nhận thêm lao động mới
Sự phát triển của quan hệ Việt - Hàn là hết sức nhanh chóng và mang
“tính bùng nổ”, là kết quả tất yếu của quá trình phát triển quan hệ song
phương, cũng là sự thể hiện quyết tâm của giới lãnh đạo và nhân dân hai
nước Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã khẳng định: “Hiếm thấy
trên thế giới trường hợp hai nước mới thiết lập quan hệ ngoại giao trong thời gian ngắn như vậy mà quan hệ hợp tác lại phát triển nhanh như vậy” [8,
119] Sự phát triển nhanh và vững chắc của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốctrong những năm sau đó là những minh chứng hùng hồn cho nhận xét trên
Tiểu kết chương 1
Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều điểm tương đồng về lịch sử văn hoá.Việt Nam và Hàn Quốc đều là hai nước châu Á, nằm ở phía Tây Thái BìnhDương, có vị trí địa chiến lược rất quan trọng ở khu vực Đông Á, là cửa ngõ
đi vào lục địa Á - Âu và cả hai nước cũng đã từng bị ngoại bang xâm lược.Chính sự tương đồng này là nền tảng tạo nên bước đệm vững chắc góp phần
29
Trang 37thúc đẩy mối quan hệ của hai nước không ngừng phát triển kể từ khi hai nướcthiết lập quan hệ
Mối quan hệ hai nước được thiết lập khi xu thế của thời đại chuyển dầnsang giai đoạn hoà dịu, sự đối đầu giữa các bên liên quan không còn thay vào
đó là sự chung sống hoà bình ổn định để cùng phát triển là xu thế chủ đạo.Quá trình phát triển quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc xuất phát từ lợi ích giữahai nước Việt Nam và Hàn Quốc có sự tương đồng về lợi ích, từ lợi ích kinh
tế đến lợi ích chính trị và an ninh cũng như sự tương thích về chiến lược và
chính sách phát triển Việt Nam với chính sách đối ngoại “rộng mở, đa dạng
hoá và đa phương hoá quan hệ”, “muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” và tham gia
“hội nhập quốc tế và khu vực” thì Hàn Quốc trong thời điểm này cũng đã đề
ra chính sách ngoại giao với 5 phương châm: “toàn cầu hoá”, “đa biên hoá”,
“đa nguyên hoá”, “hợp tác khu vực của thời đại Thái Bình Dương” và
“ngoại giao thống nhất hướng về tương lai” Hai bên đều có mục tiêu chung
là góp phần thúc đẩy xu thế hoà bình, ổn định hợp tác, để phát triển ở khu vực
và thế giới Lãnh đạo cũng như nhân dân hai nước đều có ý chí và mongmuốn khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, thúc đẩy quan hệ song phươnggiữa hai nước lên tầm cao mới, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước
mà điều này đã được Tổng bí thư Đỗ Mười (tháng 11/1996) khẳng định:
“Chúng tôi rất coi trọng việc quan hệ nhiều mặt với Hàn Quốc” Còn Tổng
thống Kim Young Sam cũng nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ cùng chia sẻ với Việt
Nam kinh nghiệm phát triển tạo nên “kỳ tích sông Hàn” để tạo nên “kỳ tích sông Mê Công” Chính phủ và nhân dân hai nước đều có nhu cầu chung là
kiến tạo hoà bình, ổn định ở khu vực để phát triển kinh tế trong nước vì cuộcsống tốt đẹp hơn và đều rất coi trọng việc nỗ lực thúc đẩy quan hệ Việt - Hànđáp ứng yêu cầu và lợi ích của nhân dân hai nước
Trang 39Chương 2 QUAN HỆ HÀN QUỐC - VIỆT NAM TRÊN MỘT SỐ LĨNH VỰC CHỦ YẾU TỪ 2001 ĐẾN 2013
2.1 Chính trị - ngoại giao, An ninh - quốc phòng
2.1.1 Chính trị - ngoại giao
Hợp tác chính trị- ngoại giao cho đến nay vẫn tiếp tục là lĩnh vực đạtnhiều thành tựu nổi bật nhất trong quan hệ Việt Nam- Hàn Quốc Các cuộctiếp xúc ở tất cả các cấp được xúc tiến thường xuyên, sự hợp tác giữa Quốchội, tổ chức chính trị- xã hội được mở rộng với nhiều hình thức phong phú, cơchế hợp tác được hoàn thiện một cách hiệu quả, nhằm tăng cường tình đoànkết, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển trên mọi lĩnh vực
Năm 2001 là một mốc son trong quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hàn
Quốc trong thế kỉ XXI Hai nước đã đồng ý xây dựng “Quan hệ đối tác toàn
diện trong thế kỉ XXI”, điều này được khẳng định trong chuyến viếng thăm
của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Trần Đức Lương tới Hàn Quốc từ
ngày 22 đến ngày 25/8/ 2001 Hai bên bày tỏ tin tưởng rằng “Gặp gỡ cấp cao
lần này đánh dấu một mốc mới trong quan hệ Việt Nam – hàn Quốc, thúc đẩy vafv phát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác giữ hai nước” [ 8, 120].
Kể từ thời điểm này, hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc đã chính thức bước sangmột giai đoạn mới với sự phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trở thànhmối quan hệ khá toàn diện hầu như trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh
tế, văn hóa, khoa học công nghệ, giáo dục đến phối hợp quốc tế trên hàngloạt các vấn đề an ninh và hợp tác quan trọng
Thủ tướng Hàn Quốc Lee Han Dong tại cuộc hội kiến với Chủ tịch
Trần Đức Lương, khẳng định: “Mối quan hệ hợp tác giữa hai dân tộc chúng
ta đã phát triển rực rỡ trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Các lĩnh vực khác như văn hóa, giáo dục, thể thao đều có sự giao lưu thường
Trang 40xuyên và chặt chẽ”, đồng thời, ông cũng nhận định rằng “đối với quan hệ kinh tế thương mại song phương, số vốn 2 tỉ USD của các nhà đầu tư Hàn Quốc vào Việt Nam là chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước” Thủ
tướng bày tỏ hi vọng các nhà đầu tư Hàn Quốc đang hoạt động, cũng nhưcác nhà đầu tư cần mạnh dạn và mở rộng hoạt động của mình tại Việt Nam[2, 25/8/2001]
Nhận định của Thủ tướng ngày càng được khẳng định khi Tổng thốngKim Dea Jung trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí Hàn Quốc đã nhấn
mạnh rằng: “Cả hai nước sẽ cùng có lợi khi phối hợp phát triển các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, kĩ thuật thông tin và khoa học Cả hai nước chúng ta đều yêu chuộng hòa bình, đã khắc phục những vết thương chiến tranh Do đó, chúng ta có thể góp phần cho hòa bình, ổn định trên thế giới và đóng góp vai trò thực chất trong việc tăng cường hợp tác ở châu Á” [2, 25/8/2001].
Cũng trong chuyến thăm Hàn Quốc vào tháng 8/2001, trả lời phỏng vấnbáo Korea Herald (Hàn Quốc) về chủ đề mà nguyên thủ quốc gia hai nướctrong các cuộc hội đàm cấp cao, Chủ tịch nước Trần Đức Lương cho biết:
“Chủ đề chính trong các cuộc hội đàm giữa tôi và Ngài Tổng thống Kim Dea Jung sẽ là: Thứ nhất, tập trung đánh giá những tiến bộ trong quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước trong thời gian quan Thứ hai, cùng nhau thảo luận, tạo dựng một khuôn khổ mới thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác tốt đẹp giữa hai nước lên tầm cao mới, trong đó nhấn mạnh tới việc tăng cường trao đổi giữa lãnh đạo chính trị và quan chức hai nước; gia tăng quy mô đầu tư, thương mại, hợp tác trên các lĩnh vực kĩ thuật công nghiệp, tài nguyên, công nghệ thông tin, năng lượng hạt nhân, xây dựng, hàng không; hợp tác thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa nhân dân hai nước Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm, đặc biệt là hợp tác giữa hai nước trong khuôn khổ đa phương như ASEAN + 3, APEC,
33