1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ chính trị việt nam hàn quốc từ năm 1992 đến nay

124 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàn Quốc là quốc gia có nhiều nét tương đồng về văn hóa với Việt Nam, mặc dù trong quá khứ hai nước đã từng là kẻ thù khi Hàn Quốc tham gia liên quân cùng với Mỹ và một số nước đồng minh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ MINH ĐẠI

QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM – HÀN QUỐC

Trang 2

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày 11 tháng 1 năm 2018

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS.TS Lưu Văn An

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Đề tài được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Phúc Lâm Tài liệu và số liệu trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung thực và đáng tin cậy Kết quả nêu trong luận văn không trùng lặp với những công trình đã được công bố trước đây

Hà Nội, ngày 10 tháng 1 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Minh Đại

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM – HÀN QUỐC 11

1.1 Cơ sở lý luận 11

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

Chương 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM – HÀN QUỐC TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY 58

2.1 Quan hệ giữa hai nhà nước 58

2.2 Quan hệ đảng và đối ngoại nhân dân 80

2.3 Một số nhận xét và vấn đề đặt ra 86

Chương 3: QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM - HÀN QUỐC, TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 95

3.1 Triển vọng quan hệ chính trị Việt Nam - Hàn Quốc 95

3.2 Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ chính trị Việt Nam - Hàn Quốc 102

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 116

TÓM TẮT LUẬN VĂN 119

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

APEC Asia-Pacific Economic Cooperation Diễn đàn Hợp tác Kinh

tế châu Á – Thái Bình Dương

ASEAN ASEAN Association of South East

Asian Nations

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

ASEM The Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á–Âu

FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại

tự do IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

KOICA The Korea International

Cooperation Agency

Cơ quan Hợp tác Quốc

tế Hàn Quốc UNCLOS United Nations Convention on

Law of the Sea

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại

Thế giới

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chiến tranh Lạnh kết thúc năm 1989, năm 1991, Liên Xô sụp đổ, trật tự thế giới hai cực tan rã, nguy cơ về một cuộc chiến tranh thế giới mới bị đẩy lùi, xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển là xu thế chung trên thế giới,

xu thế này tác động mạnh đến mọi quan hệ quốc tế hiện nay, các quốc gia dành

ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia

Các vấn đề toàn cầu đang tác động mạnh mẽ đến mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới, đe dọa đến sự tồn vong của cả loài người Không một quốc gia, dân tộc nào có thể một mình kiểm soát được những vấn đề toàn cầu, nếu không cùng nhau hợp tác giải quyết có hiệu quả Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia không kể giàu, nghèo, không phân biệt chế độ xã hội, tôn giáo, chính kiến,

hệ tư tưởng, đều phải coi vấn đề toàn cầu là những vấn đề phổ biến; phải gắn chiến lược phát triển của quốc gia mình với lợi ích chung của toàn nhân loại

Vì thế, các quốc gia phải hợp tác, liên kết để tìm ra hướng giải quyết hữu hiệu những vấn đề toàn cầu trong bối cảnh quốc tế hiện nay

Để đáp ứng những yêu cầu của tình hình mới, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta lãnh đạo công cuộc đổi mới là tập trung phát triển kinh tế với đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tích cực mở của, hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác với nhiều nước

Hàn Quốc là quốc gia có nhiều nét tương đồng về văn hóa với Việt Nam, mặc dù trong quá khứ hai nước đã từng là kẻ thù khi Hàn Quốc tham gia liên quân cùng với Mỹ và một số nước đồng minh khác của Mỹ đưa quân tham chiến tại Miền Nam Việt Nam nhưng kể từ khi chính thức thiết lập quan

hệ ngoại giao năm 1992 đến nay, quan hệ giữa hai nước đã phát triển một cách nhanh chóng trên mọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa… Sau 24

Trang 7

năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992 và đặc biệt sau 8 năm kể từ khi nâng cấp quan hệ lên “Đối tác hợp tác chiến lược” vào năm

2009, quan hệ Việt Nam-Hàn Quốc đã phát triển mạnh mẽ, toàn diện và ngày càng đi vào chiều sâu

Nghiên cứu quan hệ chính trị Việt Nam – Hàn Quốc kể từ năm 1992 đến nay, là thời điểm từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao

để đánh giá những điều đã làm được, chưa làm được và có thể sẽ làm được, rút ra những kinh nghiệm và đề xuất các khuyến nghị nhằm thúc đẩy hợp tác, phát triển quan hệ giữa hai nước là nhiệm vụ cần thiết Đã có những công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc nhưng đa số các công

trình nghiên cứu về quan hệ kinh tế , văn hóa, giáo dục - đào tạo, chưa có một

công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về quan hệ chính trị hai nước

Chính vì vậy em quyết định chọn “Quan hệ chính trị Việt Nam - Hàn Quốc

từ năm 1992 đến nay” làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn góp

phần thực hiện nhiệm vụ này

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Quan hệ chính trị nói chung, chính trị Hàn Quốc và quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc nói riêng là đề tài thu hút được rất nhiều nhà nghiên cứu, thời gian qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này, dưới nhiều góc độ, khía cạnh tiếp cận và lĩnh vực cụ thể khác nhau, trong đó, có thể kể đến một số công trình, đề tài nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo, bài viết sau:

Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về quan hệ chính trị quốc tế

“Quan hệ chính trị quốc tế”,(2008), Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn An, Nxb Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội Đây là cuốn giáo trình của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, trong đó, các tác giả hệ thống hóa các tri thức

về Quan hệ quốc tế và khoa học nghiên cứu quan hệ quốc tế như: Đối tượng, phương pháp và ý nghĩa của việc nghiên cứu quan hệ chính trị quốc tế; Quốc gia - chủ thể chủ yếu của quan hệ chính trị quốc tế; Tổ chức quốc tế; Những

Trang 8

nhân tố tác động đến quan hệ chính trị quốc tế hiện nay; quan hệ chính trị quốc tế đương đại; Chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc;

Cơ sở hoạch định và sự vận hành chính sách đối ngoại của nhà nước - quốc gia; Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới

“Quan hệ quốc tế thời hiện đại – những vấn đề mới đặt ra” (2012), Đỗ Thanh Bình, Văn Ngọc Thành, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội

Cuốn sách tập trung một số bài viết được lựa chọn của các nhà khoa học lịch sử trong và ngoài nước trong cuộc hội thảo quốc tế với chủ đề “Nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử quan hệ quốc tế thời hiện đại” do Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức năm 2011 Nội dung cuốn sách đã đưa ra cách tiếp cận mới về một số vấn đề nổi bật trong lịch sử quan hệ quốc tế như nguồn gốc Chiến tranh Lạnh; quan hệ giữa các cường quốc lớn như Ấn Độ - Trung Quốc, Nga – Trung Quốc, Mỹ - Nga…; quan hệ giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á, Liên minh Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ… Đồng thời cuốn sách còn nêu vấn đề, trao đổi về phương pháp nghiên cứu và giảng dạy lịch sử quan hệ quốc tế ở các trường đại học và trường trung học phổ thông ở Việt Nam hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học môn lịch sử

“Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay”(2012), Nguyễn Hoàng Giáp ( Chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Cuốn sách trình bày các vấn đề lý luận về chính trị quốc tế, quan hệ chính trị quốc tế đương đại, một số vấn đề cơ bản trong đời sống chính trị quốc tế hiện nay và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về những vấn đề chính trị quốc tế

“Một số vấn đề lý luận quan hệ quốc tế dưới góc nhìn lịch sử” (2014), Hoàng Khắc Nam, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Cuốn sách phân tích về quan hệ quốc tế trên phương diện lý thuyết, xác định các xu hướng vận

Trang 9

động trong quan hệ quốc tế, những điều kiện chi phối sự tương tác giữa các chủ thể, dự báo hành vi và phản ứng của chúng trong quan hệ quốc tế

“Đại cương về chính trị học quốc tế”,(2015), Ngô Phương Nghị, Nguyễn Thanh Tùng, Đào Ngọc Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Cuốn sách trình bày những khái niệm công cụ, những lí thuyết căn bản làm cơ sở phân tích hiện thực chính trị quốc tế, từ đó đưa ra cái nhìn toàn cảnh và diện mạo cũng như xu hướng vận động của thế giới đương đại

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến chính trị Hàn Quốc

“ Tìm hiểu nền hành chính Hàn Quốc và Việt Nam” (2001), Ngô Xuân Bình, Nxb Thống kê, Hà Nội Đây là một tập hợp các bài viết của các học giả

Việt Nam và Hàn Quốc trong Hội thảo khoa học Cuốn sách được chia thành bốn phần chính theo bốn chủ đề sau: Thể chế, chính quyền trung ương và địa phương, đào tạo công chức, đặc điểm và xu hướng cải cách Trong mỗi phần lại tập hợp nhiều bài viết của các tác giả phù hợp với chủ đề đó

“Hệ thống chính trị Hàn Quốc hiện nay” ( 2006), Hoàng Văn Việt, Nxb ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh Cuốn sách trình

bày một cách trình tự các nội dung của hệ thống chính tri xã hội Hàn Quốc cụ thể như: Văn hoá chính trị, chế độ dân chủ, chế độ độc tài, cơ sở kinh tế, hệ thống các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương và hệ thống đảng chính trị Hàn Quốc hiện nay

“Nghiên cứu Đông Bắc Á năm 2013” (2014), Trần Quang Minh, Phạm Hồng Thái , Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Nội dung của cuốn sách

đề cập đến các vấn đề cơ bản và nổi bật trên tất cả các lĩnh vực của khu vực Đông Bắc Á hiện nay Về chính trị - an ninh, các nhà nghiên cứu tập trung vào việc sửa đổi Hiến pháp Nhật Bản và tác động đến chính trị - an ninh

Đông Bắc Á, vấn đề Trung Quốc và an ninh Đông Bắc Á Về kinh tế, các tác

giả đi sâu vào vấn đề liên quan đến công nghiệp phụ trợ của Nhật Bản, Hàn

Trang 10

Quốc và Đài Loan, vấn đề chính sách quản lý thân thiện gia đình trong các doanh nghiệp Hàn Quốc Về kinh tế quốc tế, các bài viết nhấn mạnh đến vấn

đề liên kết kinh tế Đông Á và sự tham gia của Nhật Bản, vấn đề quan hệ kinh

tế ASEAN - Đài Loan trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, vấn đề quan hệ kinh tế Nhật - Trung từ năm 2000 đến nay Về môi trường, đó là vấn đề phát triển năng lượng xanh và chiến lược tăng trưởng xanh của Hàn Quốc Về văn hóa, các nhà nghiên cứu đi sâu phân tích vấn đề hành vi từ chối lời cầu khiến trong tiếng Nhật, vấn đề vai trò của điện ảnh trong Làn sóng Hàn Quốc Về xã hội, đó là vấn đề gia đình tại các đô thị lớn của Nhật Bản từ năm 1990 đến

nay, vấn đề thực trạng người lao động nước ngoài tại Nhật Bản

“Nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt Nam - Thành quả và phương hướng” (2015), Nguyễn Thị Thắm, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Trong cuốn

sách “Nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt Nam- Thành quả và phương

hướng” này, tập trung những bài tham luận của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, giảng viên đến từ nhiều nơi như: Viện Nghiên cứu Hàn Quốc học Trung Ương (Hàn Quốc), Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á và các Viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam…về lĩnh vực Hàn Quốc học Những bài viết tham luận này đều dựa trên cơ sở mục đích tổng quan và đánh giá đầy đủ hệ thống, khoa học và các công trình nghiên cứu về Hàn Quốc học

ở Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lịch sử, văn học ; Đồng thời đề xuất các định hướng thích hợp với tình hình hiện tại và hướng tới tương lai trong nghiên cứu Hàn Quốc trên tất cả các lĩnh vực tại Việt Nam Cuốn sách cũng đưa ra tổng quan đánh giá về các công trình nghiên cứu Hàn Quốc tại khu vực phía Nam và đưa ra kết luận rằng:các công trình nghiên cứu về Hàn Quốc trên nhiều lĩnh vực rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, qua phân tích cho thấy, những công trình nghiên cứu chuyên sâu

vẫn còn thiếu nhiều, có sự mất cân đối giữa các lĩnh vực nghiên cứu với nhau

Trang 11

Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc

“Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 1992 - 2002 , Đặc điểm và Khuynh hướng”, (2004), Nguyễn Nam Thắng, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Trong luận văn của mình, tác giả tập hợp, xử lý và hệ thống hóa tư liệu nhằm tái hiện lại quá trình, diễn biến cơ bản của quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc Nghiên cứu cấu trúc cấu trúc và cơ chế vận hành của quan hệ này Từ đó tìm hiểu và phân tích các nhân tố ảnh hưởng và tác động đến quan hệ hai nước, những thuận lợi và khó khăn và các vấn đề đang tồn tại Rút ra bài học và đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của quan hệ hai nước

“ Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 1992 đến nay”, (2008), Nguyễn Văn Dương, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Luận văn phân tích những yếu tố chủ yếu tác động đến quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc sau chiến tranh lạnh bao gồm: tình hình thế giới và khu vực, chính sách đối ngoại, công cuộc cải cách ở Hàn Quốc và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam Nghiên cứu thực trạng quan hệ Việt – Hàn trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị - ngoại giao, văn hóa - giáo dục, khoa học - công nghệ từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (12/1992) đến năm 2008 Đồng thời đưa ra một số kiến nghị để thúc đẩy quan hệ hai nước

“Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 1992 đến nay và triển vọng phát triển đến năm 2020” (2011), Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Văn Dương , Nxb Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội Với cái nhìn khái quát, cuốn sách đã góp phần tái hiện một bức tranh tổng thể, đa chiều về mối quan hệ Việt - Hàn cũng như những quan điểm và nhân tố chủ yếu tác động đến quan hệ Việt - Hàn thời kỳ sau chiến tranh lạnh, từ đó thấy

rõ những thuận lợi, khó khăn, hạn chế; trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp

Trang 12

nhằm tăng cường mối quan hệ này cả về chiều rộng và về chiều sâu, phục vụ đắc lực cho chiến lược phát triển của hai nước trong tình hình mới

“Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc - KOICA và những đóng góp cho quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc thông qua các hoạt động tại Việt Nam”, (2011), Nguyễn Hương Giang, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ Quốc

tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Luận văn trình bày những định hướng chủ yếu trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc và quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc Khái quát

về cơ quan hợp tác quốc tế của Hàn Quốc - KOICA như: Sự ra đời của KOICA; mục tiêu và định hướng chính sách chủ yếu của KOICA; cơ cấu tổ chức; lĩnh vực hoạt động và khu vực hoạt động Nghiên cứu, đánh giá hoạt động và những đóng góp của KOICA trong quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc

“Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới” (2012), Ngô Xuân Bình ( chủ biên ), Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Cuốn sách tập trung phân tích, đánh giá quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc kể từ sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (1992) cho đến cuối thập niên đầu thế kỷ XXI Lịch sử quan hệ hai nước trước 1992 cũng được xem xét trong mối tương tác với thời kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức Đồng thời, việc nghiên cứu vấn đề cũng xuất phát từ cách tiếp cận hệ thống Việt Nam – Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới, trên tất cả các khía cạnh chủ yếu bao gồm chính trị - ngoại giao, kinh tế, thương mại, phát triển nguồn nhân lực và hợp tác văn hóa, khoa học – công nghệ

“Việt Nam - Hàn Quốc: Một phần tư thế kỷ chia sẻ cùng phát triển” (2015), Lee Han Woo, Bùi Thế Cường đồng chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Cuốn sách cuốn sách đã cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về lịch sử và diễn biến quan

hệ Việt Nam - Hàn Quốc trên nhiều lĩnh vực trong hơn 20 năm qua, bao gồm quá trình bang giao và triển khai quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc; quan hệ

Trang 13

kinh kế giữa hai nước, trong đó, nhấn mạnh về các lĩnh vực cụ thể là giao dịch thương mại, đầu tư, hỗ trợ hợp tác phát triển Các tác giả cũng trình bày khái quát về văn hóa Hàn Quốc ở Việt Nam và văn hóa Việt Nam ở Hàn Quốc Bên cạnh đó, các tác giả cũng đi sâu phân tích vấn đề giảng dạy và nghiên cứu về Hàn Quốc ở Việt Nam và vấn đề giảng dạy và nghiên cứu về Việt Nam tại Hàn Quốc Cuối cùng, các tác giả trình bày khái quát về thực trạng người Hàn Quốc đến Việt Nam cũng như người Việt Nam đến Hàn Quốc Đồng thời, các tác giả cũng đưa ra vấn đề kết hôn giữa người Việt Nam và người Hàn Quốc trong quan

hệ giao lưu nhân dân và nâng cao hiểu biết giữa hai nước

“Tác động của đầu tư trực tiếp Hàn Quốc vào Việt Nam tới quan hệ ngoại giao Hàn - Việt tới năm 2020” (2015), Kim Jee Hae, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quan hệ quốc tế, Học viện ngoại giao, Hà Nội Luận văn trình bày Các nhân tố chủ yếu thúc đẩy đầu tư trực tiếp Hàn Quốc vào Việt Nam, bao gồm các nhân tố quốc tế, chính sách đổi mới của Việt Nam, các nhân tố nội tại của Hàn Quốc cũng như tổng quan sự phát triển mạnh mẽ quan

hệ chính trị - ngoại giao Hàn Quốc – Việt Nam Thực trạng đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc tại Việt Nam và tác động của nó tới quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam ở các khía cạnh quan hệ ngoại giao, hợp tác văn hóa giáo dục và hợp tác

về khoa học kỹ thuật.Triển vọng đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào Việt Nam

và mối quan hệ Hàn Quốc – Việt Nam tới năm 2020, và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy cũng như chia sẻ hợp tác

Các công trình nghiên cứu nói trên ở từng góc độ tiếp cận khác nhau cũng đã có ít nhiều đề cập đến quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Hàn Quốc Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và dưới góc độ chính trị học về quan hệ chính trị Việt Nam - Hàn Quốc kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay mà tập trung về quan hệ kinh tế,

văn hóa, tôn giáo Vì vậy mà em quyết định thực hiện đề tài “Quan hệ chính trị Việt Nam – Hàn Quốc từ năm 1992 đến nay”

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa hệ chính trị song phương Việt Nam và Hàn Quốc từ năm 1992 đến nay, đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn tại, từ đó đưa ra khuyến nghị cho Việt Nam nhằm thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ chính trị giữa

hai nước

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu quan hệ chính trị Việt Nam- Hàn Quốc trong quá khứ và quan hệ chính trị hai nước kể từ khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, phân tích các nhân tổ chủ quan và khách quan góp phần thúc đẩy quan hệ chính trị hai nước

- Phân tích thực trạng quan hệ chính trị hai nước, đưa ra nhận xét về đặc điểm cũng như một số vấn đề đặt ra trong quan hệ chính trị hai nước

- Phân tích triển vọng phát triển quan hệ chính trị hai nước, đề xuất các giải pháp cơ bản để thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ chính trị Việt Nam - Hàn Quốc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu quan hệ chính trị song phương Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 1992 đến nay (2017)

Luận văn thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan

hệ chính trị quốc tế Dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, đánh giá

Trang 15

các sự kiện chính trị giữa hai nước trong lịch sử cũng như kể từ sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay

5.2 Cơ sở thực tiễn

Thực trạng quan hệ chính trị song phương Việt Nam - Hàn Quốc từ 1992 đến nay

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin

Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như: lịch sử - lôgíc, phân tích - tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn

6 Đóng góp của luận văn

Đánh thực trạng quan hệ chính trị Việt Nam - Hàn Quốc , phân tích các nhân tố chủ quan góp phần thúc đẩy quan hệ chính trị hai nước, phân tích triển vọng phát triển quan hệ chính trị hai nước từ đó đưa ra các gợi mở để thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ chính trị Việt Nam - Hàn Quốc

Bài luận văn có thể được sử dụng như là một tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc

7 Ý nghĩa của đề tài

Về mặt lý luận: Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo đối với việc nghiên

cứ lý luận về quan hệ chính trị quốc tế

Về mặt thực tiễn: Những nhận xét và đánh giá mà đề tài rút ra qua nghiên cứu quan hệ chính trị Việt Hàn kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay góp phần cho những người nghiên cứu sau này có một cái nhìn tổng quát cũng như hiểu rõ hơn về quan hệ chính trị hai nước, những khuyến nghị mà đề tài đưa ra cũng giá trị tham khảo nhất định cho các nhà hoạch định chính sách nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ giữa hai nước xứng tầm với tiềm năng hợp tác giữa hai nước

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương 07 tiết

Trang 16

đi sâu nghiên cứu về nghệ thuật cai trị như: Đạo đức trị ( Khổng Tử), Pháp trị ( Hàn Phi Tử), Vô vi trị ( Lão Tử)

Đến thời kỳ trung đại, phương Tây chìm trong “ Đêm trường trung cổ”, các tư tưởng về chính trị thời kỳ này chịu ảnh hưởng bởi thần học, tử tưởng nổi bật thời kỳ này là “Chính trị có nguồn gốc từ quyền lực tối cao của Thượng đế” của Thomas Aquinas ( phiên âm từ tiếng Pháp là Tômát Đacanh)

Ở phương Đông, tư tưởng chính trị thời kỳ này chủ yếu được kế thừa và phát triển từ thời cổ đại

Bước sang thời kỳ cận đại, các học thuyết, tư tưởng về chính trị rất phát triển, điển hình là tư tưởng các các học giả như J Looker được thể hiện qua tác phẩm “ Hai luận thuyết về chính quyền”, Montesquie với học thuyết “Tam quyền phân lập” được kế thừa và áp dụng rộng rãi ở các nước tư sản hiện nay

Các tư tưởng về chính trị của các học giả kể trên đã đề cập được những vấn đề cơ bản của chính trị như vấn đề tổ chức Nhà nước, các hình thức Nhà nước và các chính thể, quyền lực Nhà nước, thủ lĩnh chính trị tuy nhiên các

tư tưởng này mang tính phiến diện thậm chí một số còn sai lầm

Trang 17

Chủ nghĩa Mác - Lênin nhận định, chính trị là lợi ích, là quan hệ lợi ích, là đấu tranh giai cấp trước hết vì lợi ích giai cấp; vấn đề căn bản nhất của chính trị là việc tổ chức quyền lực nhà nước, là sự tham gia vào công việc Nhà nước, là định hướng cho nhà nước, xác định hình thức, nội dung, nhiệm

vụ của Nhà nước; chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Đồng thời, chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế; chính trị là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm nhất, liên quan tới vận mệnh hàng triệu người, giải quyết những vấn đề chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật

Tổng kết lại, có thể hiểu: “chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồng xã hội về vấn đề nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc nhà nước; là tổng hợp những phương hướng, những mục tiêu được quy định bởi lợi ích giai cấp, của đảng phái; là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái, các nhà nước để thực hiện đường lối đã được lựa chọn nhằm đạt mục tiêu đặt ra” [9, tr.8]

* Khái niệm chính trị quốc tế

Dựa vào khái niệm chính trị vừa nêu trên, ta có thể đưa ra khái niệm chuẩn xác nhất về chính trị quốc tế, đó là “chính trị quốc tế (chính trị thế giới)

là nền chính trị được triên khai trên quy mô toàn thế giới Nó là sản phẩm của

sự cộng tác qua lại giữa các chủ thể chính trị quốc tế trong hoạt động vì các mục tiêu quốc gia, khu vực và quốc tế Cũng chính trong quá trình hoạt động thực hiện các mục tiêu, lợi ích cục bộ và toàn cục của các chủ thể này mà đời sống chính trị - xã hội quốc tế được thiết lập”[20, tr.7]

Về bản chất, chính trị quốc tế chính là sự tham gia vào đời sống quốc tế của nhà nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các phong trào chính trị, các tập đoàn xuyên quốc gia với mức độ khác nhau và vì mục tiêu, lợi ích quốc gia, dân tộc, tổ chức,khu vực và quốc tế

Có năm chủ thể chính của chính trị quốc tế, đó là: Quốc gia có chủ quyền, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các phong trào chính trị, các tập đoàn xuyên quốc gia

Trang 18

Quốc gia: Công ước Montevideo về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia (1933) đã đưa ra khái niệm về quốc gia như sau: “Quốc gia là một thực thể pháp lý quốc tế và phải có các đặc tính sau: một dân cư thường xuyên, một lãnh thổ xác định và một chính phủ có khả năng duy trì sự kiểm soát hiệu quả trên lãnh thổ của nó và tiến hành quan hệ quốc tế với quốc gia khác” Đây được coi là định nghĩa chính thức về quốc gia

Tổ chức quốc tế: Tổ chức quốc tế là tổ chức được thành lập trên cơ sở những thỏa thuận quốc tế giữa các quốc gia độc lập có chủ quyền, các đảng phái, các tổ chức chính trị, xã hội vì mục tiêu và lợi ích chung Đó là một cấu trúc ổn định của quan hệ quốc tế đa phương, có mục tiêu, quyền hạn, quy định

về cấu trúc tổ chức khác nhau (như điều lệ, tiêu chuẩn thành viên ) do các thành viên của tổ chức thỏa thuận Tổ chức lớn nhất, có tầm ảnh hưởng nhất, quy tụ nhiều thành viên nhất hiện nay là Liên hợp quốc với 193 thành viên Ngoài ra còn có các tổ chức kinh tế, quân sự, khu vực có tầm ảnh hưởng khác: Các tổ chức về kinh tế, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC); Các tổ chức quân sự, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO); Các tổ chức khu vực, Liên minh Châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ ( NAFTA)

Tổ chức phi chính phủ: Các tổ chức phi (NGOs) chính phủ được quan niệm là những tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận, tham gia vào các sinh hoạt phát triển xã hội Liên hợp quốc đưa ra khái niệm như sau: Tổ chức phi chính phủ là thuật ngữ dùng để chỉ một tổ chức, hiệp hội, ủy hội văn hóa xã hội, ủy hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác mà theo pháp luật không thuộc khu vực nhà nước và không hoạt động vì lợi nhuận Nghĩa là, khoản lợi nhuận nếu có, không thể phân chia theo kiểu chia lợi nhuận Tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hợp

Trang 19

tác xã phân chia lợi nhuận, hay nhà thờ hoặc chùa NGOs chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực: Xây dựng tổ chức cộng đồng, Tăng cường dân chủ hoá, Giáo dục ,Xây dựng doanh nghiệp, Bảo vệ môi trường ,Y tế Nhà ở, Nhân quyền, Hạ tầng cơ sở, Xoá đói giảm nghèo Có thể kể đến một số NGOs lớn trên thế giới như: Hội Chữ thập đỏ (Red Cross), Heifer International Clinton Health Access Initiative, Mercy Corps

Phong trào chính trị: Phong trào chính trị - xã hội có tác động to lớn đến đời sống quan hệ quốc tế và sự phát triển của xã hội loài người Các phong trào chính trị - xã hội thiếu một hệ thống cơ chế, thiết chế chặt chẽ, nhưng ngày càng khẳng định là một chủ thể quan trọng trong nền chính trị thê giới, tiêu biểu là phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế Hiện có 5 đảng cộng sản và công nhân đang trực tiếp lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước mình - đó là Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Cu-ba, Đảng Lao động Triều Tiên và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Phong trào Không liên kết (Phong trào đã tập hợp được rất nhiều nước đang phát triển với 120 thành viên, chiếm 2/3 tổng số thành viên của Liên hợp quốc, Phong trào không liên kết có 17 nước và 9 tổ chức quốc tế là quan sát viên), phong trào dân chủ - xã hội, phong trào đấu tranh

vì hoà bình, phong trào đấu tranh chống vũ khí hạt nhân

Công ty xuyên quốc gia: công ty xuyên quốc gia là những tổ chức kinh doanh có quyền sở hữu hoặc hoạt động kinh doanh diễn ra trên địa bàn nhiều quốc gia Các công ty xuyên quốc gia là cầu nối để thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia, cùng với đó, nhờ tiềm lực tài chính khổng lồ của mình, những công

ty này có tầm ảnh hưởng cực kỳ lớn đến chính trị quốc tế khi mà sự chi phối của kinh tế đối với chính trị ngày càng cao Mười công ty xuyên quốc gia lớn nhất trên thế giới năm 2016 theo xếp hạng của Forbes Global 2000 đó là: Walmart, Exxonmobile, Royal Dutch Shell, Apple, Glencore, Samsung, Amazon, Microsoft, Nestle, Alphabet

Trang 20

* Quan hệ chính trị quốc tế

Quan hệ chính trị quốc tế được hình thành như một tất yếu của lịch sử,

ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước, thông qua chức năng đối nội và đối ngoại của mình, nhà nước khẳng định vị thế, vai trò của mình, cùng với đó

mở rộng tầm ảnh hưởng ra khỏi phạm vi quốc gia

Quốc gia có chủ quyền - chủ thể quan trọng nhất của chính trị quốc tế

sử dụng quyền lực của mình thông qua nhà nước để hoạch định và thực thi chính sách đối nội, đối ngoại,các hoạt động quan hệ chính trị quốc tế Nhìn chung, các hoạt động quan hệ chính trị quốc tế, đều xuất phát từ các hoạt động thực hiện nhu cầu và lợi ích của các quốc gia, vì vậy, có thể nhận định rằng quan hệ chính trị quốc tế có cơ sở từ quan hệ chính trị quốc gia, các quốc gia xây dựng chính sách đối nội, đối ngoại của mình để tham gia vào đời sống chính trị quốc tế vì mục tiêu của quốc gia, chính từ đó, những quan hệ chính trị quốc tế được thiết lập và chính trị quốc tế là sự tiếp tục hoạch định

và thực thi chính sách đối nội của các nhà nước - dân tộc trên phạm vi quốc tế; quan hệ chính trị quốc tế là kết quả của việc hoạch định và thực hiện chính sách đối nội và đối ngoại của quốc gia

Quan hệ chính trị quốc tế phản ánh và là biểu hiện tập trung của quan

hệ kinh tế quốc tế, là cốt lõi của đời sống chính trị quốc tế Trong tiến trình phát triển của lịch sử đã tồn tại quan hệ chính trị quốc tế của xã hội chiếm hữu

nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở mỗi thời kỳ phát triển của lịch sử, quan hệ chính trị quốc tế có những đặc trưng khác nhau, song xuyên suốt vẫn là quan hệ chính trị chịu sự chi phối bởi các nước lớn

Quan hệ chính trị quốc tế ngày nay vẫn chịu sự tác động mạnh mẽ của quan hệ chính trị trong nước của một số nước lớn, quan hệ được hình thành, phát triển trước hết bởi hệ thống các chính sách và những nguyên tắc, cơ chế qui định sự vận hành của các chính sách đối nội Sự vận hành cơ chế tác động

Trang 21

đến quan hệ chính trị trong nước chủ yếu phụ thuộc vào sự cai trị của nhà nước tuỳ thuộc vào sự “trưởng thành” về chính trị và nghệ thuật cai trị của nhà nước

Từ những nhận định trên, quan hệ chính trị quốc tế có thể được hiểu là

“quan hệ được nảy sinh, hình thành và phát triển do sự tác động tương tác giữa các chủ thể chính trị quốc tế, trước hết và quan trong nhất là các quốc gia - dân tộc, trong quá trình tham gia vào công việc chính trị quốc tế vì mục đích, lợi ích quốc gia, khu vực và quốc tế” [20, tr.14]

Quốc gia- dân tộc có chủ quyền là chủ thể quan trọng nhất trong quan

hệ chính trị quốc tế Quốc gia có chủ quyền là nét đặc trưng và là cơ sở của quan hệ chính trị quốc tế Đại diện cho quốc gia là nhà nước, Ăngghen gọi nhà nước là đại biểu chính thức của toàn thể xã hội, là sự tổng hợp của xã hội thành một hiệp hội rõ ràng

Kết cấu chính trị quốc tế là một chỉnh thể hữu cơ được hình thành bởi những quan hệ chính trị giữa các nước Chủ quyền lại là thuộc tính cơ bản của nhà nước, trong quan hệ đối ngoại, nó thể hiện ở tính độc lập tự chủ, không bị

lệ thuộc Tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau là nguyên tắc cơ bản của quan

hệ chính trị quốc tế

Tổ chức quốc tế là một chủ thể của quan hệ chính trị quốc tế , trong

điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, xu thế toàn cầu hoá đang tác động mạnh mẽ đến nền chính trị của tất cả các quốc gia

và của thế giới Với tư cách là chủ thể của quan hệ chính trị quốc tế, các tổ chức quốc tế xuất hiện ngày càng nhiều và ngày càng thể hiện vai trò không thể thiếu của đời sống chính trị quốc tế

1.1.2 Quan hệ song phương

Quan hệ song phương là một trong hai dạng của quan hệ chính trị quốc

tế (quan hệ song phương, quan hệ đa phương) Trong quan hệ chính trị quốc

tế, mọi quan hệ song phương đều có tác động khu vực thậm chí quốc tế Quan

Trang 22

hệ song phương theo cách hiểu đơn giản là quan hệ giữa hai quốc gia, quan hệ song phương được biểu hiện dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau

Các khuôn khổ quan hệ được xác lập như trên được hình thành trên cơ

sở các văn kiện ngoại giao nhà nước, thường là thông qua việc ký các tuyên

bố chung của nguyên thủ quốc gia, do đó xét về hình thức, chúng có ý nghĩa mang tính pháp lý chỉ đạo quan hệ giữa các quốc gia hữu quan

Mục tiêu của quan hệ chính trị song phương chính là lợi ích quốc gia Lợi ích quốc gia là các mục tiêu mà quốc gia theo đuổi để bảo đảm sự tồn tại

và phát triển của mình, bao gồm: Giữ vững chủ quyền lãnh thổ; ổn định chế

độ chính trị; bảo đảm an ninh và an toàn cho người dân; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; bảo đảm các điều kiện cho quốc gia phát triển kinh tế, xã hội, Các lợi ích này thường được chia thành hai nhóm: nhóm lợi ích an ninh và nhóm lợi ích phát triển Nhóm lợi ích an ninh là những mục tiêu bảo đảm cho quốc gia tiếp tục tồn tại Nhóm lợi ích phát triển bao gồm các lợi ích bảo đảm cho quốc gia ngày càng lớn mạnh, có vị thế quốc tế ngày càng cao, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện

Quan hệ chính trị song phương là mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, thể hiện trước hết tập trung thông qua nhà nước Về nội dung, quan hệ chính trị song phương bao gồm: Đầu tiên, những hoạt động thúc đẩy sự hợp tác về chính trị giữa hai nước, nâng tầm quan hệ song phương hai nước lên các cấp độ như “quan hệ đối tác toàn diện”, “đối thoại chiến lược”, “hợp tác chiến lược”, “quan hệ đối tác chiến lược” từ đó, tạo tiền đề cũng như điều kiện, môi trường cho sự phát triển ở các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa, giáo dục- đào tạo, quốc phòng - an ninh, khoa học - công nghệ…

Kể từ năm 2009, Việt Nam và Hàn Quốc đã nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên thành “đối tác chiến lược” Đối tác chiến lược là thuật ngữ dùng

để chỉ mối quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia có sự tương đồng trong quan điểm về nhận thức lợi ích chiến lược, mang tính chất toàn cục, then chốt và ổn

Trang 23

định lâu dài Mối quan hệ này gắn liền với nhiều lĩnh vực phát triển cùng có lợi có thể bao gồm cả lĩnh vực an ninh quân sự Đặc trưng của đối tác chiến gồm: thứ nhất, có một khuôn khổ quan hệ với những nội hàm hợp tác rộng lớn tùy thuộc vào ý chí chính trị và nguyện vọng hợp tác của các bên, được chính thức hóa thông qua các tuyên bố cấp cao, thông cáo chính thức… Thứ hai, phải có các cơ chế vận hành thông qua các cuộc gặp gỡ, giao lưu… nhất

là ở cấp cao, kể cả định kỳ và đột xuất, để xây dựng lòng tin chiến lược, tăng cường hữu nghị, sự hợp tác toàn diện Thứ ba, khi xây dựng và triển khai đối tác chiến lược, các chủ thể thường coi trọng hợp tác về chính trị, an ninh và quốc phòng, nhưng hiện nay xu thế chỉ chọn một hoặc một vài lĩnh vực hẹp hoặc đa dạng hóa nội hàm để xây dựng đối tác chiến lược đang trở nên ngày càng phổ biến, miễn là có lợi cho cả hai phía và không đi tới liên minh về quân sự Cuối cùng, có sự hợp tác kinh tế sâu rộng, mật thiết hơn mức thông thường, tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa hợp tác và đối tác, tạo ra sự đan xen

và gắn kết lợi ích tương đối bền vững trong một thời gian nhất định

Nhìn lại việc thiết lập và triển khai quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam và Hàn Quốc từ năm 2009 đến nay, hai nước đều đã có những đóng góp tích cực cho quan hệ song phương cũng như tới chiến lược đối ngoại của Việt Nam Việc nâng cấp lên quan hệ đối tác chiến lược đã giúp xây dựng và củng

cố lòng tin chiến lược giữa Việt Nam và Hàn Quốc, đặc biệt, khuôn khổ đối tác chiến lược mở ra nhiều kênh đối thoại quan trọng đặc biệt ở cấp chiến lược, vừa giúp thúc đẩy quan hệ vừa giúp xử lý các bất đồng cũng như khác biệt, đưa quan hệ đối ngoại của Việt Nam đi dần vào ổn định, ngày càng có chiều sâu và bền vững Đồng thời, chúng ta vẫn giữ vững được đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ đa dạng hóa, đa phương hóa và ngày càng chủ động trong hội nhập quốc tế; và góp phần gia tăng cả về số lượng và chất lượng các

dự án, các cơ chế hợp tác quốc tế, từng bước góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam ở khu vực và thế giới

Trang 24

Quan hệ chính trị song phương góp phần đẩy mạnh quá trình hội nhập

và tham gia vào đời sống quốc tế của mỗi nước vì mục tiêu quốc gia dân tộc, khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế, tiếng nói của quốc gia trên trường quốc

tế Về phương thức, quan hệ chính trị song phương được thực hiện thông qua

hệ thống chính trị của hai quốc gia, bao gồm: Nhà nước (ba chủ thể chính là Quốc hội (nghị viện), chính phủ và hệ thống tư pháp), đảng phái (đảng cầm quyền và các đảng khác) và các tổ chức chính trị xã hội

Một dạng nữa của quan hệ chính trị quốc tế đó là quan hệ đa phương Quan hệ đa phương là hình thức ngoại giao ra đời muộn hơn ngoại giao song phương với sự tham gia đại diện của trên hai quốc gia, người tham gia trở lên nhằm mục đích giải quyết những vấn để chung như chiến tranh, hòa bình, biên giới, lãnh thổ, hợp tác và đấu tranh để cùng tồn tại và phát triển Ngày nay, quan hệ đa phương có nhiệm vụ điều chỉnh mối quan hệ giữa nhiều chủ thể như quốc gia, tổ chức liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến hòa bình và an ninh quốc tế, phát triển và bảo vệ môi trường, chống bệnh tật, đói nghèo và tội phạm, khủng bố quốc tế…Thông qua quan hệ đa phương, các điều ước quốc tế nhiều bên, theo các nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế, được xây dựng và được khẳng định dưới dạng các quy phạm pháp luật quốc tế

1.1.3 Nội dung và phương thức biểu hiện của quan hệ chính trị Việt Nam - Hàn Quốc

1.1.3.1 Nội dung của quan hệ chính trị Việt – Hàn

* Quan hệ chính trị nhằm giải quyết vấn đề phát triển ở mỗi quốc gia

Mục đích của quan hệ chính trị song phương là lợi ích quốc gia, và nhu cầu phát triển chính là một trong những lợi ích đó, quan hệ chính trị Việt - Hàn cũng không ngoại lệ

Sau khi Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp

đổ, trật tự hai cực tan rã, chấm dứt sự đối đầu Đông - Tây, nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, hầu như tất cả các quốc gia đều ra sức điều

Trang 25

chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm, bởi ngày nay kinh tế

đã trở thành nội dung căn bản trong quan hệ quốc tế Xây dựng sức mạnh tổng hợp của các quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành hình thức chủ yếu trong cuộc chiến tranh giữa các cường quốc Ngày nay, sức mạnh của mỗi quốc gia là dựa trên một nền sản xuất phồn vinh, một nền tài chính vững chắc, một nền công nghệ có trình độ cao cùng với một lực lượng quốc phòng hùng mạnh Cả Việt Nam và Hàn Quốc đều đang coi mục tiêu phát triển đất nước là lợi ích cốt lõi

Thêm vào đó, một nhà nước muốn tồn tại, nhu cầu phát triển là nhu cầu tất yếu, một nhà nước không thể tồn tại nếu duy trì một nền kinh tế tự cung tự cấp, lạc hậu, tách biệt với thế giới bên ngoài Sự hợp tác giữa Việt Nam đáp ứng được nhu cầu phát triển của cả hai nước, đối với Việt Nam, Việt Nam cần vốn và khoa học công nghệ, cũng như cần phải tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, Hàn Quốc là một nước công nghiệp phát triển, sẽ giúp Việt Nam nâng cao trình độ lao động cả về chuyên môn lẫn tác phong làm việc, về phần Hàn Quốc, là một quốc gia phát triển, không có nghĩa là Hàn Quốc không cần

sự giúp đỡ của các quốc gia đang phát triển để tiếp tục ổn định và tang cường sức mạnh kinh tế đất nước, Việt Nam là một thị trường lớn với hơn 90 triệu dân, có lực lượng lao động trẻ dồi dào và nguồn nhân công giá rẻ, ngoài ra, các chính sách thu hút FDI của Việt Nam rất hấp dẫn với các nhà đầu tư Hàn Quốc, hàng hóa Hàn Quốc được sản xuất tại Việt Nam sẽ có ưu thế về giá cả,

do chi phí thấp hơn, như vậy, sẽ tang sức cạnh tranh với hàng hóa của các nước khác như Mỹ, Nhật Bản, các quốc gia Liên minh Châu Âu…

Như vậy, có thể thấy, sự hợp tác về chính trị giữ hai nước góp phần giải quyết các vấn đề phát triển ở mỗi quốc gia, hợp tác chính trị chính là cơ sở để hợp tác phát triển toàn diện giữa hai nước

* Quan hệ chính trị nhằm giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục có bước tiến nhảy vọt tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và quan hệ quốc tế

Trang 26

Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại làm bùng nổ những thành tựu trong các ngành mũi nhọn như điện tử - tin học, vật liệu mới, năng lượng mới, công nghệ sinh học, tự động hoá , thúc đẩy lực lượng sản xuất của thế giới phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy; đồng thời đưa đến sự phát triển, biến đối theo chiều sâu các lĩnh vực đời sống xã hội Các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, do những hạn chế về nhiều mặt nên không dễ dàng có thể tiếp cận những thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến, thậm chí đứng trước nguy cơ trở thành nơi thu nhận những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường được chuyển giao từ các nước phát triển

Việt Nam và Hàn Quốc cũng như nhiều quốc gia khác đang phải chạy đua để giatăng phát triển khoa học - công nghệ Việt Nam quyết tâm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đất nước, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển Để thực hiện nhiệm vụ này, việc phát triển quan hệ với Hàn Quốc có một vị trí khá quan trọng, bởi tiềm năng to lớn của Hàn Quốc về nhiều mặt, nhất là trên lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại Đứng trước xu thế toàn cầu hóa, cả Việt Nam và Hàn Quốc đều phải chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tranh thủ cơ hội, tìm kiếm vị trí

có lợi nhất cho mình, đồng thời hạn chế thấp nhất những nguy cơ, thách thức Phát triển quan hệ chính trị Việt - Hàn giúp hai nước có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình tham gia toàn cầu hóa

Hiện nay, nhân loại đang đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu hết sức bức xúc mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết được nếu không

có sự hợp tác đa phương Đây là một đặc điểm quan trọng chi phấi đến tập hợp lực lượng quốc tế và quan hệ quốc tế hiện nay.Những vấn đề toàn cầu cấp bách nhất đe dọa đến sự sống và sự phát triển bền vững của nhân loại, trước hết là tình trạng ô nhiễm môi trường, sự bùng nổ dân số, những bệnh dịch hiểm nghèo, tội phạm quốc tế Những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế nhiều năm qua đã đưa lại một số kết quả trong việc làm giảm thiểu hiệu ứng

Trang 27

nhà kính, xử lý nguồn nước và rác thải, chữa trị các bệnh lây nhiễm HIV/AIDS, dịch cúm gia cầm Nhưng, tính chất nghiêm trọng và phức tạp của những vấn đề toàn cầu rõ ràng đang đòi hỏi các nước, nhất là các nước phát triển cần đóng góp tích cực hơn nữa trong sự phối hợp, hợp tác hành động một cách hiệu quả thiết thực Trên lĩnh vực này, Việt Nam và Hàn Quốc hoàn toàn có cơ sở và điều kiện thực tế để tăng cường các quan hệ hợp tác trong khuôn khổ song phương cũng như đa phương

1.1.3.2 Phương thức biểu hiện của quan hệ chính trị Việt Nam – Hàn Quốc

* Quan hệ giữa hai nhà nước

Quan hệ chính trị Việt - Hàn được biểu hiện rõ ràng và trước hết là thông qua quan hệ giữa hai nhà nước Nhà nước là đại diện pháp lý lớn nhất của một quốc gia, thể hiện ý chí, lợi ích chung của cả quốc gia, dân tộc Trong quan hệ chính trị quốc tế, nhà nước cũng là chủ thể quan trọng nhất, trực tiếp tham gia vào hoạt động quan hệ chính trị quốc tế, các quốc sử dụng quyền lực của mình thông qua nhà nước để hoạch định và thực thi chính sách đối nội, đối ngoại, các hoạt động quan hệ chính trị quốc tế

Quan hệ chính trị giữa hai nhà nước được thực hiện thông qua mối quan hệ của các cơ quan trong nhà nước, cụ thể là thông quan cơ quan lập pháp - Quốc hội ( Nghị viện), cơ quan hành pháp Chính phủ, cơ quan tư pháp

- Tòa án, Viện kiểm sát Quan hệ chính trị giữa hai nhà nước còn được thể hiện thông qua quan hệ giữa chính quyền địa phương hai nước

Thứ nhất, quan hệ giữa Quốc hội- Nghị viện hai nước

Với tư cách là cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước, có chức năng lập pháp, Quốc hội - Nghị viện hai nước có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện và thúc đẩy hợp tác giữa hai nước Với vai trò là cơ quan lập pháp

và giám sát tối cao, Quốc hội - Nghị viện đóng vai trò quyết định trong việc tạo môi trường pháp lý để triển khai các chính sách đối ngoại của Nhà nước Trong nhiều trường hợp, Quốc hội - Nghị viện quyết định các chủ trương,

Trang 28

chính sách lớn về đối ngoại như tham gia các tổ chức quốc tế, phê chuẩn các điều ước quốc tế đặc biệt quan trọng Đồng thời, Quốc hội - Nghị viện giám sát Chính phủ trong việc thực hiện các chính sách đối ngoại và quyết định phân bổ ngân sách cho toàn bộ công tác đối ngoại Do vậy có thể nói đối ngoại của Quốc hội - Nghị viện tham gia vào mọi khâu của đối ngoại quốc gia Bàn về tầm quan trọng của quan hệ giữa Quốc hội - Nghị viện giữa hai quốc gia, đã có nhà nghiên cứu nhận định : “Ngoại giao nghị viện là hình thức hoạt động đối ngoại của nghị viện (Quốc hội) hay nghị sỹ (đại biểu Quốc hội) nhằm hỗ trợ hoạt động ngoại giao nhà nước và các hoạt động ngoại giao khác góp phần thực hiện mục tiêu đường lối, chính sách đối ngoại của quốc gia Khi tham gia các quan hệ quốc tế, các nghị sỹ, những người được nhân dân trực tiếp bầu ra, thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân, đồng thời đóng vai trò cầu nối giữa cử tri nước mình với thế giới Bên cạnh đó, nghị sỹ có những đóng góp hiệu quả vào việc hình thành, phát triển các tổ chức liên nghị viện quốc tế và khu vực, góp phần vào việc dân chủ hóa quan hệ quốc tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia trên thế giới thông qua các hoạt động ngoại giao song phương và đa phương Hoạt động ngoại giao song phương giúp cho các nghị viện có những mối liên hệ ban đầu thông qua việc trao đổi đoàn các cấp từ cấp chủ tịch nghị viện, chủ tịch hạ viện, thượng viện, cấp phó chủ tịch đến các cấp lãnh đạo ủy ban thường trực, nhằm trao đổi thông tin, trao đổi kinh nghiệm về các vấn đề cùng quan tâm, hoạt động của các nhóm nghị sỹ hữu nghị… Bên cạnh các hoạt động ngoại giao song phương, hoạt động ngoại giao đa phương của các nghị viện thông qua việc tham dự các diễn đàn, tổ chức liên nghị viện, các nghị viện để chia sẻ kinh nghiệm công tác lập pháp, cập nhật thông tin, đóng góp vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực, gia tăng việc trao đổi, giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới” [15]

Trang 29

Thứ hai, quan hệ giữa chính phủ hai nước

Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất của nhà nước, Chính phủ có vai trò và quyền hạn như: Tổ chức thực hiện đường lối đối ngoại quyết định các chủ trương và biện pháp để tăng cường và mở rộng quan hệ với nước ngoài và các tổ chức quốc tế; bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế Tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền Quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ Quyết định và chỉ đạo việc thực hiện chính sách cụ thể

về hợp tác kinh tế, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa và các lĩnh vực khác với các quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế; phát triển, tăng cường công tác thông tin đối ngoại.Tổ chức và chỉ đạo hoạt động của các cơ quan đại diện của Nhà nước tại nước ngoài và tại các tổ chức quốc tế; bảo vệ lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân

Từ chức năng và vai trò, quyền hạn của Chính phủ trong quan hệ chính trị quốc tế, có thể nhận định rằng quan hệ giữa chính phủ chính là biểu hiện tập trung nhất cho quan hệ về mặt nhà nước trong quan hệ chính trị Việt - Hàn, có vai trò và tác động quyết định đến quan hệ song phương Việt- Hàn về mặt Nhà nước

Thứ ba, quan hệ giữa cơ quan tư pháp hai nước

Đối với Việt Nam, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp

là một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước

ta thời kỳ đổi mới Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” xác định tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp là một trong tám nhiệm vụ cải cách tư pháp Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 09-12-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định các nguyên tắc, định hướng, nhiệm vụ và giải pháp trong hợp tác với nước ngoài

về pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp Cơ sở pháp lý để thực hiện

Trang 30

có hiệu quả các điều ước quốc tế được hoàn thiện với việc Nhà nước ban hành Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, Pháp lệnh ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế năm 2007, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Luật Điều ước quốc tế năm 2016 và nhiều văn bản pháp luật liên quan khác Nhà nước ta cũng đã ký hơn 40 Hiệp định tương trợ

tư pháp song phương, tham gia hàng chục Điều ước quốc tế đa phương về tương trợ tư pháp

Trong bối cảnh quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa của hai nước ngày càng phát triển nhanh chóng, dòng đầu tư, thương mại, di cư giữa hai quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ Việc hợp tác và xích lại gần nhau giữa các hệ thống tư pháp và pháp luật của hai quốc gia dựa trên các chuẩn mực chung được thừa nhận rộng rãi, sẽ giúp giảm bớt chi phí thực thi pháp luật, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và người dân ở hai nước, tăng cường tính minh bạch và khả năng dự đoán trước của hệ thống tư pháp, giúp củng cố niềm tin của các nhà đầu tư, tạo cơ hội tiếp cận nguồn vốn và cạnh tranh bình đẳng giữa hai nước

Thứ tư, quan hệ giữa chính quyền địa phương hai nước

Mỗi địa phương là bộ phận cấu thành của một quốc gia, Chính quyền địa phương là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những thiết chế nhà nước, có tư cách quyền lực công, được thành lập một cách hợp hiến, hợp pháp để quản lý điều hành mọi mặt đời sống, kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội trên một đơn vị hành chính - lãnh thổ của một quốc gia, trong giới hạn thẩm quyền, cách thức, thủ tục do pháp luật quy định

Trong công tác đối ngoại không thể thiếu sự tham gia của các địa phương, thông qua sự chủ động triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới, đưa quan hệ giữa Việt Nam với Hàn Quốc đi vào chiều sâu và ngày càng hiệu quả hơn

Trang 31

Chính quyền địa phương ngoài thúc đẩy ký kết các thỏa thuận quốc

tế, đã chủ động đẩy mạnh, làm sâu sắc và mở rộng quan hệ với các đối tác theo hướng “đa phương hóa, đa dạng hóa” nhằm tranh thủ các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội Chính quyền địa phương cũng tích cực phối hợp chặt chẽ với các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở Hàn Quốc, nắm bắt thông tin, tìm kiếm cơ hội đầu tư - thương mại, triển khai

kế hoạch quảng bá, xúc tiến đầu tư, du lịch, thương mại trong và ngoài nước Nhờ vậy, đã mở ra nhiều không gian hợp tác, phát triển cũng như

cơ hội tiếp cận thị trường và tăng cường xúc tiến đầu tư của Hàn Quốc nói chung, của các địa phương Hàn Quốc nói riêng đến với Việt Nam, với các địa phương của Việt Nam

* Quan hệ giữa các đảng chính trị hai nước

Đảng chính trị là một nhân tố hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị của các nước Nó có vai trò là một trong những thành phần cơ bản của chế

độ chính trị, của xã hội công dân hiện đại, có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, từ cơ cấu tổ chức đến sự vận hành của hệ thống chính trị Đây là một tổ chức chính trị phản ánh lợi ích của giai cấp, của tầng lớp xã hội, nó liên kết, lãnh đạo những người đại diện tích cực nhất của tầng lớp hay xã hội

đó để cùng thực hiện đạt những mục tiêu và lý tưởng nhất định Sự ra đời và phát triển của các Đảng chính trị có liên quan chặt chẽ với quyền tồn tại của các nhóm khác nhau trong xã hội, quyền các nhóm được kiểm soát, chi phối lãnh đạo và hạn chế quyền của Đảng cầm quyền Chúng phải có tổ chức, phải luôn tìm kiếm sự ủng hộ từ dân chúng và phải khác biệt với các nhóm khác

Ở Việt Nam, với đặc thù là quốc gia chỉ có một đảng chính trị, và đồng thời cũng là đảng cầm quyền, còn tại Hàn Quốc, theo thể chế đa nguyên đa đảng, các đảng thay nhau cầm quyền, các đảng khác mặc dù đang không cầm quyền nhưng vẫn có vị trí, vai trò nhất định trong đời sống chính trị xã hội Hàn Quốc, cầm quyền ở mỗi giai đoạn khác nhau nên Đảng Cộng sản Việt

Trang 32

Nam phải giữ quan hệ tốt đẹp không chỉ đảng cầm quyền mà cả các đảng không cầm quyền Quan hệ giữa các đảng chính trị hai nước gồm quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và đảng cầm quyền ở Hàn Quốc qua mỗi thời

kỳ, quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và các đảng chính trị khác

* Quan hệ giữa các tổ chức chính trị xã hội hai nước

Quan hệ của các tổ chức chính trị xã hội (ngoại giao nhân dân) là một nội dung quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam, hoạt động theo đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam với phương châm: “Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường quan hệ song phương và đa phương với các tổ chức và nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân ta và nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới … Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của Nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng

và hoạt động đối ngoại nhân dân, … làm cho thế giới hiểu rõ hơn đất nước, con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước ta”[5, tr 122-123]

Ở Việt Nam, công tác đối ngoại nhân dân là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, mà nòng cốt là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể và các tổ chức nhân dân; hoạt động trên nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước Sự phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại nhân dân với đối ngoại của Đảng và ngoại giao Nhà nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp của mặt trận đối ngoại Do tính đặc thù, hoạt động đối ngoại nhân dân rất phong phú, đa dạng

Đối ngoại nhân dân do các tổ chức, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương của hai nước tiến hành, nhằm tăng cường quan hệ giữa nhân dân hai nước, tiến hành những công việc mà ngoại giao Chính phủ và ngoại giao đảng

không thực hiện được Đối ngoại nhân dân cùng với ngoại giao Nhà nước và

Trang 33

ngoại giao của Đảng đã xây dựng nên quan hệ hữu nghị, hợp tác ngày càng phát triển giữa Việt Nam và Hàn Quốc Hàng năm, hai nước tổ chức nhiều hoạt động ngoại giao nhân dân giữa các tổ chức chính trị - xã hội hai nước nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Quan hệ chính trị Việt Nam – Hàn quốc trước năm 1992

1.2.1.1 Quan hệ chính trị Việt Nam – Hàn Quốc trước năm 1955

Do điều kiện địa lý cách xa nhau nên giữa Việt Nam và Hàn Quốc không có quan hệ trực tiếp về chính trị và kinh tế Hai nước chỉ biết đến nhau qua một nước thứ ba: đó là Trung Quốc phong kiến Việc các sứ thần hai nước gặp nhau tại Yên Kinh (Bắc Kinh) như trường hợp tiêu biểu của Phùng Khắc Khoan và Lý Tối Quang (hiệu là Lý Chỉ Phong), hay Lê Quý Đôn và Hồng Khải Hy đã để lại những dấu ấn tốt đẹp trong quan hệ hai nước không chỉ trong quá khứ mà còn lưu lại cho đến tận ngày nay Các sứ thần đã làm thơ, viết lời tựa tặng nhau, rồi cùng đem những ký ức đó về nước của mình và hình thành nên tình cảm tốt đẹp giữa nhân dân hai nước

“ Vua quan và nhân dân trên bán đảo Triều Tiên còn có một ấn tượng khác đầy thiện cảm và biết ơn về con người Việt Nam Đó là sự kiện hai dòng

họ Lý (Lý Tinh Thiện và Lý Long Tường) đến định cư và sinh sống tại Hàn Quốc vào thể kỷ thứ XII và XIII Trong quá trình sinh sống, con cháu dòng họ

lý đều góp sức lực, tài chí của mình để bảo vệ và phát triển mảnh đất đã cưu mang mình” [23,tr.19] Sự kiện Hoàng thân Lý Long Tường mộ quân cùng người dân bản địa đánh đuổi quân xâm lược Mông Cổ vào thế kỷ XIII đã được nhân dân bán đảo Triều Tiên ghi nhận và biết ơn sâu sắc Vua Triều Tiên lúc đó là Cao Tông (Kojong) (1213-1259) rất ngợi khen và cho đổi tên Trấn Sơn (nơi Lý Long Tường đang sinh sống) là Hoa Sơn, phong cho ông tước Hoa Sơn Quân lấy nghía là nước Nam có núi Hoa Sơn Đồng thời vua cấp 30 dặm đất, 2.000 hộ cho Hoàng thân Lý Long Tường lập ấp ăn lộc và

Trang 34

phụng thờ tổ tiên Vua lại cho dựng nhà lưu niệm gọi là Thụ Hàng Môn, đề biển ghi công đức của Hoàng thân Những kỷ niệm và di tích đó hiện vẫn đang được người dân trên bán đảo Triều Tiên trân trọng và giữ gìn

Sứ thần Mạc Đĩnh Chi của Đại Việt từng được sứ thần Cao Ly rất trọng vọng, mời sang tân Cao Ly và cho kết hôn với người cháu gái Cuộc hôn nhân Việt - Triều này đã để lại trên “Xứ sở của ban mai êm đềm” những di duệ họ Mạc [12, tr.3]

Về phía Việt Nam, sự kiện người dân đảo Tế Châu của Triều Tiên trôi dạt đến Hội An năm 1689 đã được chúa Nguyễn giúp đỡ và tạo điều kiện để trở về nước Sự kiện này theo một nhà nghiên cứu Việt Nam học, giáo sư Hàn Quốc Cho Jae Hyun thì “đây là câu chuyện cảm động, tiêu biểu cho lòng mến khách, nhân đạo, ngoại giao chu đáo của người Việt Nam đối với người Hàn Quốc” [2, tr.57] Những năm sau này của thế kỷ XX Các nhà cách mạng Việt Nam và Triều Tiên cùng chí hướng đã gặp nhau, kề vai sát cánh trong việc đi tìm đường cứu nước khi hai nước đều bị thực dân đế quốc đô hộ Tiêu biểu là Nguyễn Ái Quốc trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước Người rất quan tâm đến những đất nước đang nằm trong ách thống trị của đế quốc thực dân như Trung Hoa, Triều Tiên Trong các tác phẩm của mình Hồ Chủ tịch đã nhắc tới Triều Tiên khoảng 100 lần Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ bài

viết thứ hai của mình với tựa đề Đông Dương và Triều Tiên: Một sự so sánh thú vị đăng trên báo Le Popularie ngày 4-9-1919, Nguyễn Ái Quốc đã so sánh

chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương với đế quốc Nhật ở Triều Tiên Người phân tích “ việc chính phủ Nhật nhìn thấy trước hậu quả đáng buồn khi mở ra một cuộc chinh phục rất lớn của chủ nghía quân phiệt, nên đang thừa nhận phải cải cách chế độ ở Triều Tiên theo một tinh thần khoan dung” [21, tr.12], trong lúc đó thì “thật đáng buồn thay khi thấy rằng sau 50 năm thống trị mà những người đại diện cho nước Cộng hoà Pháp ở Đông Dương vẫn cứ ngoan cố kìm chân người bản xứ trong vòng nô lệ, không cho

Trang 35

họ hường một chút quyền tự do nào, cũng như các quyền khác theo luật pháp quy định [21, tr.12] Nhưng Nguyễn Ái Quốc cũng không ủng hộ chế độ quân phiệt Nhật Bản và khẳng định “Thế giới sẽ chỉ có nền hoà bình cuối cùng khi tất

cả các dân tộc tự mình thoả thuận với nhau tiêu diệt con quái vật đế quốc chủ

nghĩa ở khắp mọi nơi mà họ gặp” [21, tr.11]

Những năm đầu thế kỷ XIX, Việt Nam và Hàn Quốc cùng chung hoàn cảnh mất nước, chịu sự xâm lược và cai trị bởi các đế quốc thực dân Nhật Bản, Pháp, nên những nhà yêu nước của hai dân tộc như: Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc của Việt Nam và Triệu Tố Ngang, Kim Khuê Thực của Triều Tiên ( bao gồm cả Hàn Quốc và Triều Tiên ngày nay) đã hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của Pháp và Nhật Bản Tháng 8-1945, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã tạo thời cơ cho nhân dân hai nước vùng lên giành độc lập Quan

hệ Việt - Hàn trong giai đoạn này chủ yếu là những mối quan hệ mang tính chất cá nhân, hoặc được xác lập gián tiếp thông qua nước thứ ba chứ chưa phải là mối quan hệ bang giao cấp nhà nước theo công pháp quốc tế hay những phương thức ngoại giao phương Tây như đặt đại sứ quán, lãnh sự quán Quan hệ hai nước cũng chưa thực sự thường xuyên, nhưng tình hữu nghị giữa hai dân tộc vẫn được duy trì tốt đẹp

1.2.1.2 Quan hệ Việt – Hàn trong giai đoạn 1955- 1992

* Giai đoạn 1955-1963: Hàn Quốc chưa tham chiến tại Việt Nam

Việt Nam cộng hoà ( thành lập năm 1955, tiền thân là chính phủ Quốc gia Việt Nam – 1949 - 1955) và Đại Hàn Dân Quốc (8/1945) đều là sản phẩm của chiến lược toàn cầu của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh Ngay sau khi Ngô Đình Diệm công bố kết quả cuộc “trưng cầu dân ý” giả hiệu vào ngày 26/10/1955, ngày 27/10/1955, Đại Hàn Dân Quốc đã vội vã công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa Tháng 9-

1957, trong chuyến thăm Hàn Quốc của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Lý

Trang 36

Thừa Vãn đã chính thức gợi ý về việc thành lập một liên minh quân sự chống Cộng ở châu Á bao gồm Đại Hàn Dân Quốc, Trung Hoa dân quốc và Việt Nam Cộng hòa Sau đó, Hàn Quốc và Việt Nam cộng hòa ra Tuyên bố chung, cam kết phát triển quan hệ và khẳng định quyết tâm chống Cộng Lý Thừa Vãn nhấn mạnh lại trong chuyến thăm Việt Nam Cộng hòa vào tháng 11-

1958: “Cần phải khẩn thiết thành lập một đạo thập tự quân chiến đấu cho tự do” Ý định gửi quân đội sang Việt Nam tham chiến của Chính phủ Hàn

Quốc có từ rất sớm Đầu năm 1954, Tổng thống Lý Thừa Văn đã đề nghị gửi quân đội Hàn Quốc đến Việt Nam để hỗ trợ cuộc chiến đấu chống chủ

nghĩa Cộng sản ở Việt Nam Những năm 1957-1958, Chính quyền Lý Thừa

Văn còn tổ chức các đoàn khảo sát tình hình chiến trường miền Nam Việt Nam, chuẩn bị sẵn sàng mọi điều kiện nếu đề nghị gửi quân được chấp thuận Tháng 11-1961, trong chuyến thăm Washington, Chủ tịch Hội đồng tối cao tái kiến thiết Quốc gia Park Chung Hee xin Mỹ cho quân đội Hàn Quốc đến Việt Nam, nhưng khi đó Mỹ chưa chính thức đưa quân vào Việt Nam

Tóm lại, quan hệ giữa Việt Nam cộng hoà và Đại Hàn Dân Quốc trong những năm 1953-1963 được đặt trên nền tảng của chủ nghĩa chống cộng, về đối nội, quan hệ ấy nhằm củng cố hai chế độ ở Sài Gòn và Seoul trên tết cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá về đối ngoại, “quan hệ này còn muốn biến Việt Nam cộng hoà và Đại Hàn Dân Quốc thành hai tiền đồn của “thế giới

tự do” nhằm thực hiện “chính sách ngăn chặn cộng sản” của Mỹ” [10, tr.53]

* Giai đoạn 1964- 1975: Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam

Đầu năm 1962, diễn biến chiến trường tiếp tục có những bất lợi đối với quân đội VNCH, Mỹ phải tập trung cứu nguy cho ngụy quyền Sài Gòn khiến Hàn Quốc lo lắng bị bỏ rơi, càng thúc đẩy quyết tâm gửi lính đánh thuê sang Việt Nam của Chính phủ Hàn Quốc Sau khi L.Johnson nhậm chức Tổng thống Mỹ, nhằm giảm bớt gánh nặng xương máu, ngày 9-5-1964, Mỹ chính thức gửi công hàm cho 25 nước đồng minh, yêu cầu cùng chia sẻ trách nhiệm

Trang 37

với Mỹ ở Việt Nam Tháng 6-1964, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Khánh đề nghị 34 nước chi viện, song nhiều nước phản ứng khá dè dặt Chỉ

có Hàn Quốc nhiệt tình hưởng ứng cùng các nước Úc, New Zealand, Thái Lan, Philipines gửi quân tham chiến tại Việt Nam, với sự hỗ trợ hậu cần của Nhật Bản, Singapore,…

5/9/1964, đại sứ Mỹ tại Hàn Quốc chuyển bức thư của Tổng thống Mỹ Johnson tới Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee, yêu cầu Hàn Quốc gửi quân sang Việt Nam giúp Mỹ, 9/1964, sau khi được Quốc hội thông qua với 100% số phiếu, Park Chung Hee đã ra lệnh cho Bộ Quốc phòng xúc tiến kế hoạch đưa quân sang Việt Nam, từ tháng 2 - 3/1965, Hàn Quốc mới cử các đơn vị quân và dân y, vận tải, an ninh đến Việt Nam, Có hai lý do chính đằng sau quyết định đưa dân binh sang tham chiến của Hàn Quốc, thứ nhất, có thể loại bỏ được lỗ hổng về an ninh phát sinh do điều quân chính quy sang Việt Nam Một lý do khác nữa là: bằng việc đưa lính giải ngũ, không có việc làm

ra nước ngoài, Hàn Quốc vừa có được nguồn thu ngoại tệ vừa có thể giảm được tỷ lệ thất nghiệp trong nước” [30, tr.435] Tới tháng 10/1965, các đơn

vị chiến đấu của Hàn Quốc gồm: Sư đoàn Mãnh Hổ, Lữ đoàn Rồng Xanh và

Sư đoàn Bạch Mã chính thức tham chiến tại Việt Nam

“Cũng như các quan thầy Mỹ, quân đội Hàn Quốc đã gây ra nhiều vụ thảm sát thường dân Việt Nam, để lại những trang sử đen tối trong lịch sử quan

hệ hai dân tộc Lý giải cho thái độ tích cực và nhiệt tình đó của Hàn Quốc, ngoai

sự tương đồng của hai chính phủ Sài Gòn và Seoul (cùng chống cộng một cách cực đoan, cùng dựa vào Mỹ), người ta không thể không tính đến tính chất vụ lợi: Hàn Quốc kiếm thêm được nhiều quyền lợi về kinh tế - tài chính, nhận được sự bảo đảm về an ninh và quân sự từ phía Mỹ Đó là lý do khiến phía kháng chiến

Việt Nam gọi quân đội Hàn Quốc tham chiến ở miền Nam Việt Nam là “lính

đánh thuê” (mercenaries)” [26, tr.32] Và thực tế là “ khi đánh giá về việc chính

phủ Hàn Quốc quyết định đưa quân sang tham chiến tại Việt Nam, không ít

Trang 38

người trong đó có cả người Hàn Quốc đều cho rằng, quyết định trên đã mang lại cho nước này không ít lợi ích ” [11,tr.5]

Trong những năm Hàn Quốc can dự vào chiến tranh Việt Nam, quan hệ chính trị, kinh tế giữa Đại Hàn Dân Quốc với Việt Nam cộng hoà ngày càng gắn bó Từ tháng 7-1969, Mỹ bắt đầu rút quân về nước Nhưng mãi đến cuối năm 1972 quân Hàn Quốc mới bắt đầu rút khỏi miền Nam Việt Nam và chỉ rút hết sau khi có Hiệp định Pari Sau đó, Hàn Quốc vẫn duy trì mối quan hệ chính trị và kinh tế với Việt Nam cộng hoà cho đến khi chế độ Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ

* Giai đoạn 1976-1992: Hai nước cắt đứt quan hệ ngoại giao

Đây là thời kỳ gián đoạn quan hệ ngoại giao giữa hai nước, do cả hai quốc gia đều coi nhau là kẻ thù, những tội ác của lính Hàn gây ra đối với Việt Nam mà cụ thể ở vùng Duyên hải miền Trung Việt Nam vẫn còn là nỗi kinh hoàng của bao nhiêu người dân Việt Mặc dù vậy, trong giai đoạn này vẫn có những quan hệ không chính thức về kinh tế

Từ năm 1975 -1982, Hàn Quốc và Việt Nam có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian (Hồng Kông, Nhật Bản ) Từ năm 1983, hai bên bắt đầu

có quan hệ buôn bán trực tiếp và một số quan hệ phi chính phủ Năm 1985, Công ty quốc doanh xuất nhập khẩu tổng hợp (The National General Export - Import Corporation) của miền Trung Việt Nam lần đầu tiên đưa ra danh mục các mặt hàng mà Việt Nam muốn xuất khẩu sang Hàn Quốc là nông sản phẩm (đậu nành, đậu xanh, bắp ) và gỗ sơ chế “Còn những mặt hàng mà Việt Nam muốn nhập khẩu từ Hàn Quốc là: xe tải nhỏ, lốp, ruột xe, kính xây dựng, phân bón, xi-măng, tivi trắng đen, đồ điện gia dụng ” [25, tr.5-6] Về hình thức giao dịch, phía Việt Nam đề nghị áp dụng hình thức thương mại hoán vật (hàng đổi hàng) và xuất khẩu trả dần đối với các một hàng nhập khẩu từ Hàn Quốc “Còn đối với các mặt hàng xuất khẩu thì vì thiếu đồng tiền mạnh nên Việt Nam yêu cầu Hàn Quốc thanh toán bằng đồng Phrăng Thuỵ Sĩ, đồng

Trang 39

Mác Đức và đồng Đôla Hồng Kông” “Năm 1986, Hàn Quốc đã nhập khẩu từ Việt Nam khoảng 20 triệu USD than đá và nông sản, còn Việt Nam nhập khẩu

từ Hàn Quốc khoảng 18 triệu USD các mặt hàng tivi đen trắng, thuốc sát trùng, phân bón ”[28, tr.138] Cùng thời gian này, Công ty điện tử Samsung

là công ty Hàn Quốc đầu tiên xây dựng nhà máy tại Việt Nam để lắp ráp tivi trắng đen”[27, tr.223]

“Trong thập niên 1980, một mặt Chính phủ Hàn Quốc quy định nghiêm cấm, nhưng thực tế họ lại làm ngơ khi các doanh nghiệp xâm nhập thị trường Việt Nam Giới doanh nhân Hàn Quốc không bằng lòng với tình trạng “đi đêm” này Họ cũng bất mãn trước thái độ nước đôi của các nước ASEAN vừa phản đối việc bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc lại mở rộng giao dịch với Việt Nam” [22, tr.5-6] Mặc dù vậy, Chính phủ Hàn Quốc không thể không để ý đến mối quan hệ với các nước ASEAN, Trung Quốc và

Mỹ Việc giao thương giữa doanh nhân hai nước vì thế gặp nhiều khó khăn và hạn chế Tháng 2-1989, nhận lời mời của Chủ tịch tập đoàn Hãng hàng không Korea Cho Jung Hun, Cố vấn kinh tế của Chính phủ Việt Nam Nguyễn Xuân Oanh đã sang thăm Seoul Để đáp lại, tháng 3 cùng năm, một phái đoàn kinh

tế tư nhân Hàn Quốc, trong đó có Chủ tịch Cho Jung Hun dự định sang thăm Việt Nam “Nhưng chuyến viếng thăm này không được Chính phủ Hàn Quốc cho phép và bị hoãn lại” [29, tr.140] Từ năm 1991, Hàn Quốc và Việt Nam cũng bắt đầu bàn đến vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước thông qua hai đại sứ tại Băng Cốc Từ ngày 17 đến ngày 23-12-1991, phái đoàn đàm phán thiết lập quan hệ của Hàn Quốc do Đại sứ Hàn Quốc tại Băng Cốc Jeong Ju Nyon dẫn đầu đã đến Việt Nam thực hiện cuộc hội đàm lần thứ nhất với Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Lê Đức Cang và đến tháng 1-1992, Chính phủ Hàn Quốc lần đầu tiên cho phép doanh nghiệp của mình trực tiếp đầu tư vào Việt Nam Từ ngày 30-3 đến ngày 2-4-1992, hai bên tiếp tục có cuộc hội đàm lần thứ hai cũng tại Việt Nam Từ kết quả đó, hai nước tiến tới ký thoả thuận

Trang 40

trao đổi Văn phòng liên lạc (ngày 20-4-1992) Cũng trong giao đoạn này, Mỹ chủ trương tiến hành một chính sách bao vây, cấm vận Việt Nam Là đồng minh thân cận của Mỹ nên Hàn Quốc không thể thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của chính sách thù địch đó “Quan hệ Việt - Hàn vì vậy đã có lúc bị phủ lên

“không khí băng giá” Sự gián đoạn này vì nhiều lẽ, trước tiên là do ảnh hưởng bởi chiến tranh lanh, sau là vì một bộ phận quốc tế vẫn còn thái độ e dè với Việt Nam từ những “vấn đề nhạy cảm” như: vấn đề Campuchia, xung đột biên giới Việt - Trung ” [10, tr 59]

Sau khi chiến tranh Lạnh trên kết thúc, xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác hoà bình trở thành xu hướng tất yếu của các nước trên thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam và Hàn Quốc bình thường hoá quan hệ Chính đường lối ngoại giao độc lập, rộng mở của Việt Nam trên cơ sở “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, là bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới và chính sách ngoại giao phương Bắc của Hàn Quốc - Hàn Quốc chủ trương “thiết lập mối quan hệ ngoại giao với tất cả các nước không đôi đầu với mình bất chấp thể chế chính trị” đã mở đường cho hai nước xích lại gần nhau

Ngày 22-12-1992 là một cột mốc thời khắc đáng ghi nhớ trong quan hệ của Việt Nam và Hàn Quốc - ngày hai nước chính thức thiết lập ngoại giao cấp cao nhất sau những năm tháng thăng trầm trong quan hệ bằng việc ra Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế Sự kiện nàv có ý nghía sâu sắc trong lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc, thể hiện ý chí nguyện vọng của lành đạo và nhân dân hai nước với mong muốn khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, xây dựng mối quan

hệ hữu nghị hợp tác trên cơ sờ hai bên cùng có lợi Quyết định này hoàn toàn phù hợp với xu thế của tình hình quốc tế và góp phần tích cực vào hoà bình, ổn định - hợp tác và phát triền ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như trên thế giới Ngay sau khi thiết lập ngoại giao, hàng loạt những sự kiện quan trọng

Ngày đăng: 24/11/2021, 11:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
2. Cho Jae Hyu: Câu chuyện những người dân đảo Tế Châu ( Je-ju) Hàn Quốc trôi dạt đến An Nam, Tạp chí Xưa và nay, số 107, 1/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện những người dân đảo Tế Châu ( Je-ju) Hàn Quốc trôi dạt đến An Nam
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
6. Đảng Cộng sản Việt Nam :Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI; Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
9. Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên) Tái bản lần 2, Một số vấn đề chính trị trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chính trị trong giai đoạn hiện nay
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
10. Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế, Nguyễn Văn Dương: Quan hệ Việt Nam- Hàn Quốc từ năm 1992 đến nay và triển vọng phát triển đến năm 2020, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam- Hàn Quốc từ năm 1992 đến nay và triển vọng phát triển đến năm 2020
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
11. Lê Đức Hạnh: Quân đội Hàn Quốc trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam giai đoạn 1964-1973, luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quân đội Hàn Quốc trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam giai đoạn 1964-1973
12. Vũ Hiệp: Trạng nguyền Mạc Đĩnh Chi có hậu duệ ở Cao Ly từ thế kỷ XIV đến nay, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2-1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trạng nguyền Mạc Đĩnh Chi có hậu duệ ở Cao Ly từ thế kỷ XIV đến nay," Tạp chí "Nghiên cứu lịch sử
13. Vũ Đình Hòe, Nguyễn Hoàng Giáp: Hợp tác chiến lược Việt - Nga: Những quan điểm, thực trạng và triển vọng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác chiến lược Việt - Nga: "Những quan điểm, thực trạng và triển vọng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
15. Vũ Dương Huân, Bàn về ngoại giao nghị viện và thực tiễn tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 (72), tháng 3 - 2008, Học viện Ngoại giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về ngoại giao nghị viện và thực tiễn tại Việt Nam
16. Vũ Khoan, Ngoại giao Việt Nam - Truyền thống và Hiện đại. Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển bền vững, ICVNS 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam - Truyền thống và Hiện đại
17. Phạm Quý Long : Đại cương quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc: tiến trình phát triển. Đăng trên website của Trung tâm nghiên cứu Hàn Quốc – Viện Nghiên cứu Đông bắc Á, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quý Long
32. Hoàng Anh Tuấn: Doi Moi and Remaking of Viet Nam. Đăng trên http://wwwglobalasia.org,2009 Link
39. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục đầu tư nước ngoài, trang thông tin điện tử đầu tư nước ngoài: http://fia.mpi.gov.vn Link
40. Đại sứ quán Đại Hàn Dân Quốc tại Việt Nam:http://vnmhanoi.mofa.go.kr Link
41. Đài tiếng nói Hàn Quốc KBS World Radio: world.kbs.co.kr 42. Tạp chí Cộng sản: http://www.tapchicongsan.org.vn Link
44. Tổng cục du lịch - Bộ VHTT&DL: http://vietnamtourism.gov.vn 45. Trang tin điện tử Thủ tướng chính phủ Việt Nam:thutuong.chinhphu.vn Link
46. Trung tâm xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch - Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội: http://hpa.gov.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w