Trong tác phẩm, tác giả đã đề cập đến một số thông tin về quan hệ hợp tác giữa hai nước; truyền thông quốc tế đánh giá cao quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản; đổi mớ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Người hướng dẫn khoa học:
TS Hoàng Thị Hải Yến
Nghệ An - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn “Quan hệ Nhật
Bản – Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2014”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của các thầy giáo, cô giáo, các cấp lãnh đạo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Lịch sử
Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới cô giáo, TS Hoàng Thị Hải Yến đã dành nhiều
thời gian, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và tất cả những người thân đã luôn động viên, khích lệ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc rằng luận văn sẽ không tránh khỏi những sót, kính mong nhận được nhiều góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các anh chị, bạn bè để luận văn hoàn thiện hơn
Xin chân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Lê Văn Hùng
Trang 4MỤC LỤC
Trang DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục của luận văn 6
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ NHẬT BẢN – VIỆT NAM TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2014 7
1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực 7
1.2 Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam trước năm 2010 10
1.3 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản và Việt Nam trong bối cảnh mới 12
1.4 Nhân tố Mỹ, Trung Quốc 19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27
Chương 2 QUAN HỆ NHẬT BẢN – VIỆT NAM TRONG CÁC LĨNH VỰC TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2014 29
2.1 Lĩnh vực chính trị – ngoại giao, an ninh – quốc phòng 29
2.1.1 Chính trị – ngoại giao 29
2.1.2 An ninh – quốc phòng 41
2.2 Lĩnh vực kinh tế 49
2.2.1 Thương mại 49
2.2.2 Đầu tư 56
2.2.2.1 Viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam 56
2.2.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật Bản vào Việt Nam 61
2.3 Các lĩnh vực khác 66
2.3.1 Du lịch – Dịch vụ 66
2.3.2 Văn hóa – giáo dục – khoa học công nghệ 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 91
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ NHẬT BẢN – VIỆT NAM TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2014 93
3.1 Thành tựu và hạn chế 93
Trang 53.1.1 Thành tựu 93 3.1.2 Hạn chế 98 3.2 Xu thế của mối quan hệ Nhật Bản – Việt Nam 102 3.3 Một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản 111
KẾT LUẬN 114 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 PHỤ LỤC LUẬN VĂN
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 ADB Ngân hàng phát triển châu Á
2 ADMM+ Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng
3 AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
4 APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
5 ARF Diễn đàn khu vực ASEAN
6 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
7 ASEM Diễn đàn hội nghị Á – Âu
8 COC Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông
9 DOC Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông
10 EAS Hội nghị cấp cao Đông Á
12 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
13 GDP Tổng sản phẩm quốc nội
14 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
15 JAEA Cơ quan năng lượng nguyên tử Nhật Bản
16 JETRO Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản
17 JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
18 KNNK Kim ngạch nhập khẩu
19 KNXK Kim ngạch xuất khẩu
21 METI Bộ kinh tế, thương mại và công nghiệp
22 ODA Viện trợ phát triển
23 TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
24 UNCLOS Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982
25 UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc
27 VJEPA Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
28 VKCO Văn phòng hợp tác Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Kyoto
29 WB Ngân hàng thế giới
30 WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa ngày càng phát triển nhanh và mạnh mẽ, không một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển lại có thể tách biệt với thế giới, nhu cầu mở rộng sự giao lưu, phát triển quan hệ với bên ngoài của mọi quốc gia, mọi dân tộc là một nhu cầu tất yếu Vì vậy, trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng, mỗi quốc gia cần phải nhận thức đầy
đủ về thế giới và vị thế của mình, từ đó xác định cho mình hướng đi đúng đắn đưa đất nước phát triển, tiến kịp với thời đại
Chính sách đối ngoại của Việt Nam là mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì độc lập và phát triển Việc mở rộng quan hệ hợp tác với các nước sẽ giúp Việt Nam không chỉ có vị trí cao hơn trên trường quốc tế mà còn giúp Việt Nam phát triển tiềm lực trên mọi lĩnh vực, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhật Bản là cường quốc kinh tế thứ 3 thế giới, có nhiều điểm tương đồng về lịch sử và văn hóa Hợp tác với Nhật Bản mang lại cho Việt Nam nguồn lực vốn dồi dào, nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục, khoa học – công nghệ, học hỏi kinh nghiệm, hội nhập quốc tế… Với sự giúp đỡ của Nhật Bản để Việt Nam thực hiện mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020
Trong những năm gần đây, Nhật Bản tăng cường chiến lược “Trở lại châu
Á”, phát huy vai trò của người đại diện ở châu lục này trong khối G7, lấy châu Á
làm bàn đạp để từng bước đưa Nhật Bản trở thành cường quốc về chính trị Với vị thế địa – chính trị và địa – kinh tế chiến lược, Việt Nam đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong chính sách hướng về châu Á của Nhật Bản Chính vì vậy, thông qua quan hệ Nhật Bản – Việt Nam, giúp chúng ta hiểu hơn về cách lựa chọn đối tác, hiểu hơn về chính sách của Nhật Bản trong việc vươn ra thế giới, đặc biệt là khu vực trong Đông Nam Á
Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam là cặp quan hệ giữa một quốc gia phát triển với một đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở khu vực châu Á Hai nước có mối quan hệ truyền thống từ lâu, điều này đã tạo thêm nền tảng để Nhật Bản tiếp tục giúp đỡ Việt Nam hiện tại cũng như trong tương lai Chính vì vậy, trong những năm gần đây, Nhật Bản và Việt Nam luôn có mối quan
hệ tốt đẹp và thường xuyên có các hoạt động viếng thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai nước Tiêu biểu như tháng 1/2013 Thủ tướng Shindo Abe sang viếng thăm Việt Nam Trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Abe
đã nói “Đối với Nhật Bản, Việt Nam là đối tác quan trọng có những mối quan tâm
Trang 8chung trong vấn đề của khu vực và cùng hỗ trợ lẫn nhau trên lĩnh vực kinh tế” [40;
tr.330] Tháng 3/2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viếng thăm Nhật Bản Hai
nhà lãnh đạo đã ký Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa
bình và phồn vinh ở châu Á – Thái Bình Dương Những chuyến thăm của lãnh đạo
cấp cao hai nước Việt Nam – Nhật Bản đã mở ra xu thế phát triển mới trong những thập niên tiếp theo của thế kỷ XXI
Hiện nay, Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia nằm trong nhiều tổ chức khu vực và thế giới như: Liên Hợp Quốc, ASEAN+3, ASEM, ARF, APEC… thì mối quan hệ đó càng có ý nghĩa hơn
Nghiên cứu “Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2014”
không chỉ góp phần làm sáng tỏ quá trình vận động và phát triển liên tục của mối quan hệ hai nước, qua đó để thấy được những thuận lợi, những khó khăn cũng như
xu thế về mối quan hệ hợp tác này
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn “Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2014” làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam là một vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc Do vậy, từ trước tới nay đã có không ít tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, trong điều kiện cho phép, chúng tôi chỉ tiếp cận được các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước Nguồn tư liệu mà chúng tôi tiếp cận được gồm: Sách tham khảo, sách chuyên khảo, luận văn, luận án, các bài đăng trên các báo và tạp chí (Nghiên cứu quốc tế, Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Đông Bắc Á, Tạp chí Đông Nam Á), tư liệu thông tấn xã, các tư liệu lưu hành nội bộ (văn hóa thể thao, thương mại –
kế hoạch và đầu tư, ngoại giao…)
Dưới đây là một số tài liệu nghiên cứu về quan hệ hợp tác Việt Nam và Nhật Bản từ năm 2010 đến năm 2014 mà chúng tôi tiếp cận được
Cuốn sách “Vị thế Việt Nam: Việt Nam – Nhật Bản quan hệ đối tác chiến
lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” của Nguyễn Tấn Phát, NXB tổng
hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8/2014 Trong tác phẩm, tác giả đã đề cập đến một số thông tin về quan hệ hợp tác giữa hai nước; truyền thông quốc tế đánh giá cao quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản; đổi mới và sáng tạo
để thích ứng một thế giới đang thay đổi; và các hoạt động đối ngoại tiêu biểu của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng
Trang 9Cuốn “Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan hệ với Việt Nam trong
hai thập niên đầu thế kỷ XXI”, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2006 do Nguyễn
Xuân Sơn – Nguyễn Văn Du chủ biên đã đề cập đến chiến lược đối ngoại của các nước lớn, trong đó đề cập khái lược chính sách của Nhật Bản đối với Việt Nam
Cuốn “Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản: Quá khứ, hiện tại và tương lai”, NXB
Khoa học xã hội, 2005 do tác giả Ngô Xuân Bình – Trần Quang Minh chủ biên, tác giả đã đánh giá một cách khách quan chặng đường lịch sử trong quan hệ của hai nước Việt Nam – Nhật Bản, về những kết quả mà hai bên đã đạt được cũng như những hạn chế cần được khắc phục nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ hai nước trên mọi lĩnh vực để có thể đóng góp tốt hơn, có hiệu quả hơn vào sự thịnh vượng của mỗi dân tộc, nâng cao sự tin cậy lẫn nhau giữa nhân dân hai nước cũng như tạo không khí hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới
Cuốn “Quan điểm và đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á
về triển vọng hình thành mô hình Cộng đồng Đông Á”, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2014 do Dương Minh Tuấn chủ biên đã trình bày tổng quan về liên kết và hội nhập quốc tế Đông Á trong những năm gần đây, những quan điểm, đối sách chủ yếu
của các nước Đông Bắc Á về triển vọng hình thành Cộng đồng Đông Á, phương hướng
hình thành Cộng đồng Đông Á, các tác động đối với thế giới, khu vực và Việt Nam
Bài viết “Quan hệ đối tác chiến lược Nhật Bản – Việt Nam: Quá trình hình
thành và triển vọng”, của GS Shiraishi Masaya, trong Kỷ yếu hội thảo khoa học
quốc tế “Lịch sử, văn hóa và ngoại giao văn hóa: Sức sống của quan hệ Việt Nam –
Nhật Bản trong bối cảnh mới của quốc tế và khu vực”, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2014 Tác giả đã xem xét về “quan hệ đối tác chiến lược” giữa hai quốc gia là mối quan hệ như thế nào, đã được triển khai ra sao, và mối quan hệ hai nước dựa trên cơ sở đó sẽ được triển khai như thế nào trong tương lai
Bài viết dưới nhan đề “Một vài nhận xét về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản
giai đoạn từ 1973 đến nay” của tác giả Nguyễn Cảnh Huệ, trong Kỷ yếu hội thảo
khoa học“40 năm quan hệ Việt Nam – Nhật Bản thành quả và triển vọng”, NXB
Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2013 Tác giả đã rút ra một số nhận xét nổi bật về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn từ 1973 đến nay
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí trong nước liên quan đến
những vấn đề mà đề tài quan tâm như: Phan Cao Nhật Anh với bài viết “Triển vọng
gia tăng lưu học sinh Việt Nam ở Nhật Bản” trên Tạp Chí nghiên cứu Đông Bắc Á,
số 3(157) 3/2014; Hoàng Minh Lợi có bài viết với nhan đề “Hợp tác Việt Nam –
Nhật Bản trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực” trên Tạp Chí nghiên
cứu Đông Bắc Á, số 2(144) 2/2013; Ngô Hương Lan với bài viết “Hợp tác và giao
Trang 10lưu văn hóa, giáo dục Việt Nam – Nhật Bản trong bối cảnh mới” trên Tạp Chí
nghiên cứu Đông Bắc Á, số 11(153) 11/2013; Nguyễn Đức Minh với “Việt Nam –
Nhật Bản: Đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” trên Tạp Chí
Cộng sản, số 850 (tháng 8/2013); Nguyễn Thị Hồng Minh với bài “Vị trí của Việt
Nam và Nhật Bản trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia sau Chiến tranh lạnh” trên Tạp Chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 10(128) 10/2011; Toshiharu Tsuboi
với bài viết “Khả năng và những vấn đề trong hợp tác phòng vệ Việt Nam và Nhật
Bản” trên Tạp Chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 3(157) 3/2014; Đặng Xuân Thanh
với bài “Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản trong bối cảnh mới” trên
Tạp Chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 9(151) 9/2013…
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết đề cập đến những khía cạnh khác nhau và có liên quan trực tiếp đến vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu, sẽ là cơ
sở, nguồn tài liệu để chúng tôi tham khảo và thực hiện đề tài của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Tìm hiểu mối quan hệ Nhật Bản – Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2014 nhằm dựng lại bức tranh tổng thể về quan hệ hai nước trên lĩnh vực chính trị – ngoại giao, an ninh – quốc phòng, kinh tế, du lịch – dịch vụ, văn hóa – giáo dục – khoa học công nghệ Trên cơ sở đó, bước đầu rút ra một số nhận xét về thành tựu và hạn chế, xu thế của mối quan hệ và một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản
- Đưa ra những nhận xét về quan hệ hai nước Nhật Bản và Việt Nam từ năm
Trang 11* Nội dung: Đề tài chủ yếu nghiên cứu quan hệ Nhật Bản – Việt Nam trên
một số lĩnh vực: chính trị – ngoại giao, an ninh – quốc phòng; kinh tế; và một số lĩnh vực hợp tác khác (du lịch – dịch vụ, văn hóa – giáo dục – khoa học công nghệ) Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu về mối quan hệ Nhật Bản – Việt Nam từ năm
2010 đến năm 2014, chúng tôi không thể không tìm hiểu những nhân tố tác động và đưa ra một số nhận xét về mối quan hệ hai nước
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Khi tiến hành thực hiện luận văn này, nguồn tư liệu chủ yếu tác giả khai thác
và sử dụng gồm:
- Tài liệu gốc: các Tuyên bố chung; các hiệp ước kí kết giữa Nhật Bản và Việt Nam; các nghị định, công hàm trao đổi giữa hai bên; các báo cáo của các bộ, ngành gửi ngoại trưởng hai nước
- Các công trình chuyên khảo có nội dung phản ánh trực tiếp quan hệ Nhật Bản – Việt Nam
- Các bài báo khoa học có liên quan đến đề tài được công bố trên các tạp chí khoa học trong nước
- Các trang Web
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh để giải quyết vấn đề mà đề tài đặt ra
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, luận văn sẽ dựng lại mối quan
hệ Nhật Bản – Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2014 trên tất cả các lĩnh vực: chính trị – ngoại giao, an ninh – quốc phòng; kinh tế; văn hóa – giáo dục – khoa học công nghệ… một cách có hệ thống, giúp người đọc có cái nhìn tổng thể và hiểu biết thêm
về lịch sử quan hệ Nhật Bản – Việt Nam
6.2 Luận văn chỉ ra những nhân tố tác động đến mối quan hệ Nhật Bản – Việt Nam qua từng giai đoạn cụ thể Đồng thời, đưa ra một số nhận xét về thành tựu hạn chế, xu thế phát triển cũng như những giải pháp thúc đẩy quan hệ hai nước trong thời gian tới
6.3 Luận văn có thể bổ sung, cập nhật những tư liệu mới phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ Nhật Bản – Việt Nam nói riêng
Trang 127 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ Nhật Bản – Việt Nam
Trang 13Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ NHẬT BẢN – VIỆT
NAM TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2014 1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
Chiến tranh lạnh kết thúc đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ quốc tế
Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành xu thế chủ đạo chi phối các mối quan hệ trên thế giới Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong kỷ nguyên toàn cầu hóa tạo ra tình thế buộc các nước phải vừa hợp tác vừa cạnh tranh, tránh đối đầu, xung đột và gây chiến tranh Bên cạnh đó, những xung đột khu vực, tôn giáo, sắc tộc, chủ nghĩa khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, chạy đua sản xuất vũ khí hạt nhân, vấn đề ô nhiễm môi trường… cũng là những thách thức không nhỏ đối với tất
cả các nước trên thế giới Tình hình đó đặt ra cho mỗi nước phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình để thích ứng với hoàn cảnh mới Các nước đều nhận thấy: muốn hòa nhập vào thế giới thì phải đẩy mạnh sự hợp tác phát triển trên tất cả các lĩnh vực giữa các nước Đó là cơ sở khách quan thuận lợi cho sự phát triển mối quan hệ Nhật Bản – Việt Nam
Cuộc cách mạnh khoa học – công nghệ đang phát triển như vũ bão đã tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống quốc tế, làm thay đổi cục diện chính trị thế giới, tạo nên cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các nước và khu vực để giành ưu thế về kinh
tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ, thị trường xuất khẩu và dự trữ năng lượng chiến lược Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, đầu thế kỷ XXI, quá trình toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế phát triển và ngày càng lan rộng mạnh mẽ hơn Sự tự do hóa thương mại, đầu tư, dịch vụ, chuyển giao công nghệ, phân công lao động quốc tế đã thúc đẩy các quan hệ song phương và đa phương, tăng cường sự liên kết giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới Tự do hóa thương mại và mở cửa thị trường tạo điều kiện cho những nước có năng lực sản xuất cao mở rộng các thị trường, đa dạng hóa các sản phẩm Quá trình toàn cầu hóa đẩy Nhật Bản và Việt Nam xích lại gần nhau hơn vì những mục tiêu chung của hai nước
Bước sang thế kỷ XXI, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế ngày càng gia tăng, sức mạnh kinh tế của các quốc gia, khu vực đang ngày dần trở thành yếu tố quyết định vị thế của họ trong cấu trúc quyền lực của thế giới Cục diện thế giới đã và đang trải qua những thời điểm biến động với sự nổi lên của các cường quốc với xu thế hình thành trật tự thế giới đa cực ngày càng hiện rõ Trong bối cảnh đó, cạnh tranh chiến lược nhằm lôi kéo các quốc gia trung gian, xác định vị trí địa chính trị của các nước lớn trong khu vực trở nên hết sức quan trọng Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam với cấu
Trang 14trúc quan hệ giữa một siêu cường với một quốc gia đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á – khu vực có vị trí địa chiến lược quan trọng đối với hai nước
Bên cạnh đó, thế giới cũng trải qua các cuộc khủng hoảng về lương thực, về năng lượng, nghèo đói và dịch bệnh diễn ra tràn lan cùng với sự gia tăng về bất bình đẳng, giàu nghèo Cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu diễn ra từ tháng 9/2008 đã tác động nặng nề đến kinh tế thế giới Khủng hoảng từ nguồn lương thực đến nhiên liệu, từ tài chính đến chính trị, từ môi trường đến an ninh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của nhân loại Tại châu Á, lạm phát đã lên tới 7,5% Càng về
cuối năm, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ việc “vỡ nợ” tín dụng bất
động sản càng chứng tỏ sự tàn phá ghê gớm của nó với hệ thống tài chính thế giới Nước Mỹ chiếm tới 25% GDP của toàn cầu và một tỷ lệ lớn hơn trong các giao dịch tài chính quốc tế Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã lần lượt lan sang các nước Singapore, Nhật Bản, rồi đến các nước dùng đồng euro cùng tuyên bố suy thoái Một loạt các nước phải tung ra những gói hỗ trợ kinh tế nhiều tỷ USD mà đỉnh điểm
là hồi tháng 10, Cục dự trữ Liên bang Mỹ, Ngân hàng Trung ương châu Âu và 4 ngân hàng Trung ương các nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất, nhằm giảm ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từ sau cuộc Đại suy thoái năm (1929 - 1933) Khủng hoảng xảy ra đã đặt ra những thách thức mới, những vấn đề mới buộc tất cả các nước vừa phải hợp tác đối phó vừa phải có những điều chỉnh sâu sắc trong chiến lược phát triển của mình
Châu Á – Thái Bình Dương là một khu vực quan trọng về chính trị và kinh
tế, với những khác biệt về tốc độ phát triển giữa các nước Bên cạnh những nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Canada… còn có các nước công nghiệp hóa mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông… và các nước đang phát triển trỗi dậy mạnh mẽ, với tiềm lực kinh tế đáng gờm như Trung Quốc, Ấn Độ… cũng như các nước có nhiều tiềm năng như Thái Lan, Malaysia, Việt Nam… Sau chiến tranh lạnh, châu Á – Thái Bình Dương nổi lên như một khu vực tăng trưởng nhanh và năng động nhất thế giới Sự phát triển năng động, đầy tiềm năng của khu vực này đã thu hút sự quan tâm, đầu tư của các cường
quốc và các tập đoàn lớn trên thế giới Do vậy, thế kỷ XXI được xem là “thế kỷ
châu Á – Thái Bình Dương” Với sự hiện diện của các nền kinh tế hàng đầu thế giới
như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và hàng loạt các nền kinh tế mới nổi trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương Những thay đổi trong quan hệ quốc tế từ sau Chiến trạnh lạnh có tác động to lớn tới quan hệ giữa các nước trong khu vực cũng như việc hoạch định đường lối của mỗi quốc gia
Trang 15Khu vực Đông Á thời kỳ sau Chiến trạnh lạnh vẫn còn những điểm nóng có thể bùng nổ thành xung đột hoặc đối đầu quân sự, ảnh hưởng đến an ninh khu vực
Sự trỗi dậy của Trung Quốc là một thách thức không nhỏ đối với Nhật Bản tại khu vực Đông Á nói riêng và châu Á – Thái Bình Dương nói chung Từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã không ngừng tăng lên, đạt khoảng 50 tỷ USD, chưa tính đến những chi phí khác cho mục đích quân sự
và cho các khoản chi ngân sách khác Trong những năm gần đây, kinh tế Trung Quốc liên tục tăng trưởng với tốc độ nhanh, địa vị quốc tế được nâng cao rõ rệt Năm 2010, nền kinh tế Trung Quốc vượt qua Nhật Bản, trở thành nền kinh tế đứng thứ hai thế giới sau Mỹ Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh tế – chính trị Trung Quốc sẽ có tác động lớn đến Nhật Bản Bên cạnh đó, vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ Nhật Bản – Nga, Nhật Bản – Trung Quốc, Nhật Bản – Hàn Quốc chưa được giải quyết, vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông, cạnh tranh chiến lược ở Lào và vấn đề an ninh lương thực, môi trường sinh thái ở hạ lưu sông Mêkông… là những thách thức an ninh buộc Nhật Bản phải quan tâm đặc biệt đến châu Á Trong bối cảnh đó, Nhật Bản phải đẩy mạnh chiến lược đối ngoại nhằm mở rộng và phát huy vai trò nước lớn ở
khu vực cũng như trên thế giới, thay đổi hình tượng “nước lớn kinh tế, nước nhỏ
chính trị” Muốn đạt được mục tiêu này, Nhật Bản chú trọng hợp tác với các nước ở
châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á, củng cố mạnh mẽ khu vực này, xem như là “sân
sau an toàn” cho Nhật Bản trong chiến lược cạnh tranh quốc gia
Nhật Bản rất chú trọng đến vị trí chiến lược của Việt Nam ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói chung và ở khu vực Đông Nam Á nói riêng Đây là cầu nối giữa Đông Bắc Á với Đông Nam Á, giữa Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo; là nơi đan xen lợi ích của 4 cường quốc lớn Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, bởi vậy Việt Nam có quyền lựa chọn, đa dạng hóa các mối quan hệ có lợi nhất cho kinh tế, quốc phòng và an ninh quốc gia Việt Nam lại nằm ở vị trí quan trọng của khu vực Đông Nam Á, khu vực được hình dung là bản lề hay tuyến phòng ngự vòng ngoài của nhiều quốc gia, là nơi nắm nguồn tài nguyên địa chính trị lớn, với hơn 3000 km đường bờ biển, với nhiều hải cảng quan trọng, có nhiều đảo, quần đảo giúp Việt Nam là nước có nhiều lợi thế về mặt địa lý trong việc khống chế Biển Đông, nơi đường hàng hải quốc tế quan trọng từ Tây sang Đông mà có tới hơn ¾ hàng hóa của Nhật Bản đi qua
Sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc trong những năm gần đây đã khiến
giới chính trị Nhật Bản lo ngại Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng là nơi cạnh tranh phạm vi ảnh hưởng khá gay gắt giữa các nước lớn, trong đó, Trung Quốc
Trang 16là một đối thủ lớn có khả năng chi phối cả chính trị lẫn kinh tế ở khu vực này Nhật Bản muốn củng cố vị thế và chứng minh vai trò nước lớn tất phải quan tâm và cam kết mạnh mẽ tới các nước trong khu vực Hơn nữa, việc mở rộng quan hệ hợp tác
với Việt Nam nằm trong chiến lược “trở lại châu Á” của Nhật Bản, là cơ hội để
Nhật Bản có thể xâm nhập và nâng cao vị thế của mình ở thị trường rộng lớn châu
Á, Đông Nam Á, hạn chế sự trỗi dậy của Trung Quốc hiện nay Thúc đẩy quan hệ hợp tác với Nhật Bản giúp Việc Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế, tiếp thu khoa học
kỹ thuật, tận dụng nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế, bảo vệ đất nước
Có thể nói, bối cảnh quốc tế và khu vực trong gần hai thập niên đầu thế kỷ XXI trở thành nhân tố thúc đẩy quan hệ giữa Nhật Bản với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ
1.2 Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam trước năm 2010
Trong lịch sử, quan hệ Nhật Bản – Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm Sau khi Việt Nam giành độc lập, công cuộc đổi mới được xúc tiến, đẩy mạnh theo hướng “đa phương hóa, đa dạng hóa” quan hệ quốc tế và thu được nhiều kết quả quan trọng đã tạo ra hình ảnh tích cực và niềm tin cho các đối tác, trong đó có Nhật Bản
Đối với Nhật Bản, sau Chiến tranh lạnh đã có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại, từ chỗ gắn chặt với Mỹ và phương Tây chuyển sang chủ trương quay trở lại châu Á theo hướng coi trọng khu vực này hơn, chủ động hơn trong quan hệ đối ngoại nhằm phát huy ảnh hưởng ở khu vực, đặc biệt là Đông Nam Á
Trên những cơ sở nền tảng đó, quan hệ Nhật Bản – Việt Nam có những bước chuyển biến rõ rệt Tháng 10/1990, Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đã sang thăm Nhật Bản, đánh dấu bước khởi đầu cho giai đoạn mới trong quan hệ giữa Việt Nam – Nhật Bản Đến tháng 6/1991, Ngoại trưởng Nhật Bản Nakayama đến thăm Việt Nam mở ra một thời kỳ phát triển mới trong quan hệ giữa hai nước Việc khai thông quan hệ chính trị đã tạo điều kiện cho các mối quan hệ khác mở rộng và phát triển
Đặc biệt, sau khi Hiệp định Paris về Campuchia được ký kết vào tháng 1/1991, Nhật Bản đã có những bước đi tích cực nhằm cải thiện quan hệ với Việt Nam Tháng 11/1992, Chính phủ Nhật Bản mở lại viện trợ ODA phát triển chính thức cho Việt Nam với khoản viện trợ lớn 45,5 tỷ yên Tháng 8/1994 Thủ tướng Murayama Tomichi đến thăm Việt Nam Trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Võ
Văn Kiệt, Thủ tướng Nhật Bản Murayama Tomichi đã nói rằng “Tôi rất hạnh phúc
nếu cuộc viếng thăm này giúp mở ra một kỷ nguyên mới cho quan hệ Việt Nam – Nhật Bản” [32; tr.34] Về phía Việt Nam, Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng “hy vọng
Trang 17hai nước sẽ đóng lại quá khứ, và cùng tiến về tương lai vì lợi ích của nhân dân hai nước chúng ta” [32; tr.34]
Tháng 4/1995, Tổng bí thư Đỗ Mười sang thăm chính thức Nhật Bản theo lời mời của Thủ tướng Murayama Cũng trong năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN, từ đó mở ra một bước ngoặt mới cho sự phát triển
quan hệ hợp tác của Việt Nam với tất cả các nước trên thế giới với tinh thần “Việt
Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới” Đến tháng
1/1996, Hội nghị “Hợp tác kinh tế Nhật Bản – Việt Nam” lần thứ nhất đã khai mạc
ở Tôkyô, mở ra bước ngoặt quan trọng trong quan hệ hợp tác kinh tế
Tiếp theo đó là các cuộc viếng thăm của các quan chức cấp cao hai nước Tháng 1/1997, chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Hashimoto, đến tháng 12/1998, nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ
6 diễn ra tại Việt Nam, Thủ tướng Nhật Bản K.Obuchi đã sang thăm Việt Nam, và đến tháng 3/1999, một phái đoàn cấp cao do Thủ tướng Phan Văn Khải dẫn đầu sang thăm chính thức Nhật Bản
Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI, quan hệ hai nước Nhật Bản – Việt Nam tiếp tục phát triển, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực
Quan hệ chính trị – ngoại giao giữa hai nước ngày càng được củng cố, mở rộng bằng các cuộc gặp cấp cao và thăm viếng lẫn nhau Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koirumi thăm Việt Nam tháng 4/2002, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm Nhật Bản tháng 10/2002, chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Nhật Bản vào tháng 7/2004, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sang thăm chính thức Nhật Bản vào tháng 10/2006, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sang thăm Nhật Bản tháng 11/2007 Đặc biệt là chuyến thăm Nhật Bản của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tháng
4/2009, lãnh đạo hai nước đã phát biểu Tuyên bố chung về quan hệ “Đối tác chiến lược
vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á”
Nhật Bản ủng hộ đường lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới thông qua các tổ chức quốc tế như: APEC, WTO, ASEM, ARF… hai bên ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế quan trọng
Hợp tác kinh tế giữa hai nước liên tục phát triển, Nhật Bản trở thành một trong những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam
Trong lĩnh vực thương mại, Nhật Bản đã nhanh chóng vượt lên trở thành bạn hàng, thị trường lớn nhất của Việt Nam Trong giai đoạn 2000 – 2005, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản tăng gấp 2 lần (từ 4,871 tỷ USD năm 2000 lên 8,503 tỷ USD năm 2005) Năm 2006 đạt 9,932 tỷ USD, đạt 12,25 tỷ năm 2007 và đã nhanh chóng tăng lên đạt mức 17,3 tỷ USD năm 2008 [72]
Trang 18Trong lĩnh vực đầu tư, FDI vào Việt Nam tăng nhanh qua các năm: từ 39 triệu USD năm 2000 lên 153 triệu USD năm 2005; năm 2006 đạt tổng số vốn đăng
ký hơn 1,5 tỷ USD với 160 dự án bao gồm các dự án đăng ký mới và dự án tăng vốn; năm 2007 số lượng các dự án FDI được cấp phép mới từ Nhật Bản là 156 dự
án với tổng số vốn đăng ký gần 910 triệu USD; đến năm 2008 với 147 dự án và tổng số vốn lên tới gần 7,3 tỷ USD [39; tr.307]
Nhật Bản luôn là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, chiếm hơn 30% tổng cam kết ODA của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam ODA của Chính phủ Nhật Bản giành cho Việt Nam năm 2001 là 91,6 tỷ yên, trong đó viện trợ không hoàn lại đạt 17,3 tỷ yên; năm 2002 là 92,4 tỷ yên, đến năm 2005 đã tăng lên đạt 100,9 tỷ yên; năm 2006 đạt 103,9 tỷ yên, không hoàn lại 8,8 tỷ yên [39; tr.293] Năm 2008, mặc dù Chính phủ Nhật Bản gặp nhiều khó khăn, thách thức về kinh tế, chính trị, xã hội nhưng vẫn ưu tiên vốn ODA dành cho Việt Nam là 84,6 tỷ yên Nguồn vốn ODA của Nhật Bản có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam
Đặc biệt, ngày 1/10/2009, Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ hợp tác kinh tế hai nước Cùng với Hiệp định đối tác toàn diện Nhật Bản – ASEAN, VJEPA sẽ tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước
Bên cạnh những kết quả đạt được trong quan hệ hợp tác giữa hai nước về chính trị – ngoại giao, kinh tế thì hai nước còn đẩy mạnh hợp tác và đạt được những thành tựu quan trọng trên lĩnh vực an ninh – quốc phòng, văn hóa – giáo dục – khoa học công nghệ và một số lĩnh vực hợp tác khác
Có thể nói, kể từ khi hai nước có những hoạt động giao thương đầu tiên, quan hệ Nhật Bản – Việt Nam đã trải qua nhiều cung bậc thăng trầm Mối quan hệ
đó để lại những di sản khó khăn, thách thức, những bài học kinh nghiệm quý báu giúp hai nước hiểu nhau để ngày càng xích lại gần nhau hơn Sau hơn 40 năm bình thường hóa quan hệ, trước những yếu tố thuận lợi về tình hình quốc tế, khu vực và nội bộ hai nước, quan hệ Nhật Bản – Việt Nam đứng trước những vận hội để phát triển lên tầm cao mới
1.3 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản và Việt Nam trong bối cảnh mới
* Chính sách đối ngoại của Nhật Bản
Chiến tranh lạnh kết thúc khiến ván bài của trật tự thế giới bị xáo trộn lại Sự
lộ diện của những khoảng trống quyền lực cùng sự mất an toàn do “thế cân bằng”
bị phá vỡ khiến Nhật Bản buộc phải xem xét lại vị thế của mình
Trang 19Sau những bước phát triển thần kỳ và liên tục trong nhiều thập kỷ, cộng với
sự lệ thuộc vào Mỹ, Nhật Bản được ví như “một người khổng lồ kinh tế” nhưng lại
là “chú lùn chính trị” Một sự khập khiễng giữa khả năng và hiện thực không làm
thỏa lòng người Nhật Đặc biệt sau Chiến tranh lạnh, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế càng làm cho trọng lực của cán cân quốc tế nghiêng về những quốc gia
có tiềm lực về kinh tế Nắm bắt được xu thế này cộng với khát vọng ấp ủ bấy lâu đã thôi thúc Nhật Bản tiến hành một bước ngoặt quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình Tất cả được gói gọn trong một khái niệm có phần đa nghĩa:
“Quốc gia bình thường” Ý nghĩa cơ bản của nó được giải thích: Quốc gia bình
thường là quốc gia có quân đội riêng, có nền chính trị tự chủ, có tiếng nói cũng như trách nhiệm trước các vấn đề quốc tế, và có một vị thế tương xứng với tiềm lực kinh
tế trong cán cân quyền lực thế giới Tuy nhiên, con đường Nhật Bản trở thành “Quốc
gia bình thường” còn nhiều khúc quanh co bởi những hạn chế từ Hiến pháp; sự suy
thoái của nền kinh tế Nhật trong những năm gần đây và sự cạnh tranh, kiềm chế của các đối thủ như Mỹ, Nga, Trung Quốc, và Tây Âu Nhận thức rõ ba lực cản này, Nhật Bản đã điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình theo ba hướng – còn được gọi là
chính sách “đa phương vị” Chính sách đa phương vị gồm có 3 hướng chính:
Thứ nhất, duy trì và nâng cấp Hiệp ước an ninh Nhật – Mỹ và tăng cường
quan hệ với các nước phương Tây trong nhóm G7
Thứ hai, quay trở lại châu Á nhằm giành vai trò chủ đạo ở khu vực
Thứ ba, tham gia hợp tác tích cực trong khuôn khổ Liên Hợp quốc, gánh
trách nhiệm trước các vấn đề toàn cầu và giành ghế Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an của tổ chức này
Chiến tranh lạnh kết thúc không kéo theo sự chấm dứt của Liên minh Mỹ – Nhật Một liên minh vững chắc và bình đẳng với Mỹ là cơ sở quan trọng để Nhật Bản hướng tới các mục tiêu đối ngoại khác Thứ nhất, dựa vào sự hậu thuẫn của
Mỹ, Nhật Bản sẽ không ngừng tranh thủ sự ủng hộ của đồng minh này nhằm tranh giành một ghế trong Hội đồng Bảo an; thứ hai, liên minh sẽ giúp Nhật Bản tự tin hơn trên con đường chinh phục châu Á và cạnh tranh với đối thủ có cùng mục tiêu
là Trung Quốc Dĩ nhiên, điều này chỉ là một trong những điều kiện cần, quan trọng hơn vẫn là sự ủng hộ của cộng đồng châu Á, trong đó có Đông Nam Á với hơn 10 quốc gia thuộc tổ chức ASEAN
Nhu cầu đóng vai trò chủ đạo ở châu Á có thể coi là một trong ba trụ cột quan trọng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản Trong Chiến tranh lạnh, Nhật
Bản thi hành chính sách “thoát Á, nhập Âu”, tự coi mình là thành viên của phương
Tây Chiến tranh lạnh kết thúc, ranh giới giữa các quốc gia không còn là ý thức hệ
Trang 20mà là sức mạnh kinh tế Nhận thấy những tiềm năng to lớn của châu Á, ngay từ đầu thập niên 1990, Nhật Bản đã có chính sách quay trở lại châu Á mong muốn tìm kiếm vai trò chủ đạo ở khu vực này và coi đây là cơ sở để vươn lên thành một quốc gia toàn diện Nhật Bản hướng tới mục tiêu này trước hết bằng các chính sách đầu
tư, buôn bán, viện trợ nhằm duy trì vai trò chủ đạo kinh tế Từ mục tiêu kinh tế, nước này hướng sang mục tiêu chính trị – an ninh bằng sáng kiến an ninh khu vực, tham gia giải quyết vấn đề Campuchia và duy trì Diễn đàn phát triển toàn diện Đông Dương Những nỗ lực này được phần lớn cộng đồng châu Á ủng hộ, tuy nhiên mức độ ủng hộ là không giống nhau Vì vậy, Nhật Bản đã thông qua một biện
pháp mang tính lâu dài: Xây dựng lòng tin giữa Nhật Bản với các nước trong khu
vực [47; tr.15] Ở đó, Đông Nam Á đóng một vị trí vô cùng quan trọng giúp Nhật
Bản đạt được mục tiêu đối ngoại của mình
Đông Nam Á vừa là một trong những thị trường chủ chốt của Nhật Bản, lại vừa là mỏ nguyên liệu cho các ngành công nghiệp của xứ sở này Đông Nam Á đã từng cung cấp cho Nhật 99% cao su thiên nhiên, 99% thiếc, 99% Niken, 42% gỗ, 32% đồng, 31% khí đốt và 18% dầu thô Mặc dù ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, nhưng nhân tố này rất quan trọng với Nhật vì Nhật là nước nghèo về tài nguyên thiên nhiên Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, Đông Nam Á lại càng trở nên quan trọng khi trở thành khu vực tiếp nhận phần lớn đầu tư, buôn bán và viện trợ của Nhật Mối quan hệ mà Nhật Bản đang xây dựng với các nước ASEAN xét
về kinh tế chính là quan hệ giữa trung tâm và ngoại vi Trung tâm muốn phồn thịnh
cần phải có ngoại vi giàu có về năng lượng, nhân công rẻ và thị trường dồi dào Đông Nam Á hội tụ được tất cả những điều kiện đó
Tuy nhiên, nước cờ Đông Nam Á không chỉ đưa Nhật đến một mục tiêu duy nhất là về kinh tế, mà còn bởi con đường đi tìm một ghế Ủy viên thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc đang chờ đợi những lá phiếu từ những quốc gia này Hơn thế, từ góc nhìn địa chính trị, Đông Nam Á còn được coi là tuyến phòng ngự vòng ngoài của Nhật Bản và là cửa ngõ trên con đường huyết mạnh dẫn Nhật Bản tới vùng Trung Á và châu Âu, do đó nó có ý nghĩa về an ninh quân sự lẫn an ninh kinh tế đối với xứ Phù Tang Đây là lý do khiến Nhật Bản chủ trương thúc đẩy quan hệ mọi mặt với ASEAN cũng như quan hệ song phương với các nước thành viên, qua đó chuyển mối quan hệ này từ viện trợ và nhận viện trợ sang quan hệ hợp tác bình đẳng trên mọi lĩnh vực
Đông Nam Á giữ vai trò quan trọng đối với Nhật Bản trong việc duy trì an toàn và tự do hàng hải qua Biển Đông Trong thời gian gần đây, Trung Quốc ngày càng quyết đoán và hung hăng hơn trong vấn đề Biển Đông Tháng 5/2009, Phái
Trang 21đoàn thường trực Trung Quốc tại Liên hợp quốc chính thức công bố bản đồ đường
đức khúc chín đoạn “đối với chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên
các đảo trong Biển Đông và các vùng nước kế cận, cũng như các quyền chủ quyền
và tài phán đối với các vùng nước, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng” [6; tr.245] Tháng 4/2010, Trung Quốc tuyên bố không cho phép bất cứ
nước nào can thiệp vào vùng Nam Hải, tức Biển Đông, bởi vì những vùng biển này
đã trở thành một phần trong cái gọi là “quyền cốt lõi về chủ quyền” của Trung
Quốc Ngày 23/11/2012, Trung Quốc xuất bản bản đồ “Tam Sa”, phạm vi bao gồm
2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam Tháng 5/2014, Trung Quốc đã đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam… Trong thời gian gần đây, Trung Quốc tiếp tục tiến hành bồi đắp, xây dựng đảo nhân tạo, đưa vũ khí quân
sự tới các vùng đang có tranh chấp
Trước những hành động của Trung Quốc tại Biển Đông đã đe dọa đến hòa bình, ổn định khu vực cũng như tự do hàng hải của các nước, trong đó có Nhật Bản Hàng năm, khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Đông Chính vì vậy, Nhật Bản cần phải tăng cường hợp tác chặt chẽ với các nước trong khu vực Đông Nam Á nhằm hạn chế sự bành trướng ngày càng gia tăng của Trung Quốc
Đông Nam Á có ý nghĩa với Nhật Bản ở châu Á như thế nào thì Việt Nam cũng có tầm quan trọng đối với quốc gia này trong khối ASEAN như thế Hiện nay, Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong các mục tiêu đối ngoại của Nhật Bản
Thứ nhất, Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong mục tiêu trở lại châu Á
Trong chiến lược “hướng về châu Á” của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh, Đông Nam Á có vị trí chiến lược quan trọng Quan hệ giữa Nhật Bản với Đông Nam Á nói chung, với Việt Nam nói riêng có từ lâu đời và phát triển mạnh mẽ từ sau Chiến tranh lạnh Có thể nói, Việt Nam có lịch sử quan hệ lâu dài nhất với Nhật Bản, trên dưới 400 năm mà bằng chứng sinh động là đô thị Hội An (Quảng Nam) đã được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới Việt Nam chiếm vị thế quan trọng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản
- Quy mô dân số Viêt Nam lớn nhất trong Tiểu vùng sông Mêkông với khoảng
90 triệu người, nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng phong phú, là thị trường tiêu thụ khá lớn, nguồn nhân công rẻ cho nền kinh tế Nhật Bản, là điểm hấp dẫn nguồn đầu tư và buôn bán của các công ty Nhật Bản có tham vọng với mảnh đất này
Trang 22- Việt Nam có truyền thống lịch sử hào hùng, uy tín trong Đông Nam Á và quốc tế, có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, có khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc
- Việt Nam là một trong những thành viên của các tổ chức kinh tế, chính trị quan trọng của châu Á và Đông Nam Á Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức ASEAN (1995); thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác Kinh
tế châu Á – Thái Bình Dương APEC (1998); tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và từng bước tiến nhanh, hội nhập vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); đăng cai, đảm nhận tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (1998) và Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN lần thứ 33 (2001) tại Hà Nội, nhất là đang làm tốt vai trò Chủ tịch ASEAN (2010) … Việt Nam có quan hệ tốt với các cường quốc thế giới Ngoài với Nhật Bản, Việt Nam là đối tác chiến lược với Nga, Trung Quốc, Anh, Ấn Độ, EU, Mỹ và một số nước khác
Trước vị thế quan trọng của Việt Nam, Nhật Bản hẳn rất cần sự ủng hộ của Việt Nam trong mỗi bước đi tìm sự ủng hộ của cộng đồng châu lục này Bởi vậy, Việt Nam có thể đóng vai trò là cầu nối cho Nhật Bản củng cố và nâng cao vị thế của mình ở khu vực Đông Nam Á
Thứ hai, Việt Nam có vị trí địa – chính trị quan trọng đối với Nhật Bản
- Việt Nam có vị trí địa lý không xa Ấn Độ, một cường quốc đang nổi, là đối tác chiến lược của Nhật Bản và Việt Nam Chính vị trí địa lý này đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa Nhật Bản hướng đến Ấn Độ thông qua thị trường Việt Nam
- Việt Nam kiểm soát một diện tích lớn trên con đường biển ngắn nhất nối hai đại dương qua Nhật Bản và Trung Quốc Đại diện Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã
đánh giá vai trò của Việt Nam như sau: “Việt Nam sẽ là nước đóng vai trò quan
trọng về mặt chính trị, kinh tế trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương ở thế kỷ XXI này”…“Nhật Bản, Việt Nam là hai nước đều giữ vị trí quan trọng với nhau nên Nhật Bản sẽ không ngần ngại hợp tác với Việt Nam trong khi Việt Nam đang tiếp tục cố gắng xây dựng đất nước theo tinh thần hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương vì Việt Nam là nước có khả năng giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp này” [47; tr.16] Chính vì lẽ đó, hiện Việt Nam đang là một
trong những nước đứng đầu trong việc thu hút các nguồn vốn FDI và ODA của Nhật Bản Đặc biệt, tỷ lệ đầu tư này đang có xu hướng tăng mạnh và nguồn vốn của Nhật Bản đang chảy từ Trung Quốc sang Việt Nam Điều này có nguyên nhân từ việc thị trường nhân công ở Việt Nam rẻ hơn Trung Quốc, và với số dân khoảng 90 triệu người cùng số nhà đầu tư còn khiêm tốn Hơn thế, Nhật cho rằng, dù sao đầu tư vào Việt Nam vẫn tốt hơn việc góp phần làm giàu cho chính đối thủ của mình
Trang 23Ngoài ra, mục tiêu duy trì an toàn và tự do hàng hải trên Biển Đông mang ý nghĩa chiến lược đối với Nhật Bản Chính vì vậy, Nhật Bản cần phải hợp tác chặt chẽ với các nước trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam – với tư cách
là quốc gia chiếm nhiều lợi thế trong việc giành quyền kiểm soát trên các đường biển thuộc khu vực Biển Đông
*Chính sách đối ngoại của Việt Nam
Sự thay đổi lớn của cục diện thế giới thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh buộc mọi quốc gia phải thay đổi tư duy đối ngoại của mình, và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Cơ sở của sự đổi mới nhận thức bắt nguồn từ Đại hội lần thứ VI năm 1986 và được bổ sung ở các Đại hội tiếp theo Một trong những luận điểm quan trọng quy định sự chuyển hướng tư duy đối ngoại của Việt Nam chính là vấn
đề: cơ sở của tập hợp lực lượng quốc tế Là một trong những thành viên thuộc các
nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam cảm nhận sâu sắc về ý thức hệ phân chia thế giới
về hai cực khác nhau trong thời kỳ Chiến tranh lạnh Bởi vậy, sau khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, ý thức hệ không còn là vật cản ngăn cách các nước thúc đẩy hợp tác với nhau, ở đó lợi ích dân tộc trở thành cội nguồn cho mọi mối quan hệ quốc tế Nếu lợi ích song trùng thì đó là mối quan hệ hữu hảo, còn lợi ích trái ngược thì quan hệ trở nên phức tạp và dễ dẫn tới xung đột dưới nhiều hình thức và cấp độ biểu hiện khác nhau Cuối cùng xung đột được giải quyết theo hướng nào phụ thuộc chủ yếu vào tương quan sức mạnh của mỗi bên thông qua lực lượng kinh tế và quân sự
Nhận thức được sự thay đổi đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
tháng 7/1991, Đảng đã đưa ra phương châm “đa phương hóa, đa dạng hóa” Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: “Việt Nam muốn làm bạn
với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì độc lập và phát triển”
[21; tr.126]; “Việt Nam chủ trương tạo ra những chuyển biến căn bản trong quan
hệ với các nước lớn trong khu vực vì những mục tiêu phát triển đất nước” [14] Do
kinh tế trở thành cơ sở quan trọng của các mối quan hệ với các quốc gia, nên đường lối đối ngoại của Việt Nam cũng theo mục tiêu chung này: Lấy kinh tế đối ngoại làm ưu tiên hàng đầu, từ đó định hình các mối quan hệ, cũng như sắp xếp các mối quan hệ đó theo thứ tự ưu tiên
Bước sang thế kỷ XXI, bối cảnh quốc tế và khu vực đặt ra những thách thức cũng như cơ hội mới cho các quốc gia Sự chuyển dịch cán cân quyền lực toàn cầu
về phía châu Á – Thái Bình Dương đòi hỏi phải củng cố cấu trúc an ninh khu vực Đông Á, tăng cường phối hợp chính sách để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các thách thức mới cả về an ninh truyền thống và phi truyền thống đang ngày càng phức
Trang 24tạp Bên cạnh đó, hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 – 2009 cũng như nguy cơ khủng hoảng năng lượng, lương thực và môi trường đòi hỏi phải tái cấu trúc lại nền kinh tế thế giới cũng như các nền kinh tế quốc dân
Trong bối cảnh phức tạp đó, Đại hội Đảng lần IX (2001) của Đảng ta chỉ rõ:
đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại Việt Nam sẵn sàng là bạn,
là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, và phát triển Đường lối này được cụ thể hóa trong Nghị quyết hội nghị Trung ương 8 (7/2003) với cách nhìn nhận mới và thống nhất về các vấn đề đối tác
và đối tượng, định hướng cho chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong
giai đoạn mới Tại Đại hội lần XI (2011) Đảng đã đề ra chủ trương: “Thực hiện
nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam XHCN giàu mạnh” [67; tr.27]
Với những thay đổi quan trọng trong tư duy chiến lược đối ngoại, Việt Nam
đã có những bước đi đúng đắn, bắc những nhịp cầu đưa đất nước hội nhập với khu vực và thế giới Mở đầu là Hiệp định bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1992); tiếp đến đạt bường thường hóa quan hệ với Mỹ, xóa bỏ lệnh cấm vận của
Mỹ (1994); gia nhập khối ASEAN (1995), APEC (1998); thay đổi về chất mối quan
hệ với Nga và châu Âu; là thành viên của tổ chức thương mại WTO; là ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và là Chủ tịch ASEAN trong năm 2010… Tất cả cho thấy, từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, Việt Nam theo
đuổi xu hướng đối ngoại khá táo bạo nhưng hợp quy luật đó là “Chủ động dấn
thân” Đây cũng là thời kỳ Việt Nam đạt được vị thế cao nhất trong lịch sử của
mình với tư cách là một quốc gia độc lập có chủ quyền
Chính sự thay đổi tư duy và chính sách đối ngoại của Việt Nam là một trong những nhân tố thuận lợi thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác Việt Nam với các nước, các tổ chức ở tất cả các khu vực và châu lục, đặc biệt là Nhật Bản
Vị trí quan trọng của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản tất yếu không phải là quan hệ lợi ích một chiều Hơn ai hết, với tư cách là một nước nhỏ và có ý thức về vị trí chiến lược của mình, Việt Nam cảm nhận sâu sắc những lợi ích lâu bền từ mối quan hệ “có duyên” này
Về kinh tế, hiện Nhật Bản là nhà đầu tư hàng đầu vào Việt Nam với các khoản FDI và tài trợ ODA trên nhiều lĩnh vực: khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng… Tính riêng trong năm 2014, Nhật Bản đứng vị trí thứ
Trang 254 sau Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapo đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm 2,05 tỷ USD, chiếm 10,1% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam trong 12 tháng năm 2014; về ODA, trong năm tài khóa 2014 viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt Nam lên đến 82,628 tỷ Yên Với những lợi ích này, Nhật Bản đã đóng góp quan trọng vào quá trình đi lên của nền kinh tế Việt Nam
Nếu như Nhật Bản cần Việt Nam như một đồng minh trong công cuộc khẳng định vai trò dẫn dắt ở châu Á, và là nhịp cầu đưa Nhật Bản gần gũi hơn với khối ASEAN thì hiệu ứng từ sự nghiệp này cũng tác động không nhỏ đến vị thế của Việt
Nam Có thể nói, sức mạnh kinh tế của Nhật Bản cùng với quá trình nhập Á đã giúp
cho vai trò của đất nước Mặt trời mọc được nhiều nước trong khu vực công nhận
Uy tín của Nhật Bản được củng cố đồng nghĩa với Việt Nam có thêm tiếng nói ủng
hộ trong quan hệ quốc tế Thực tiễn đối ngoại trong gần 30 năm qua đã chứng minh điều đó Nhật Bản luôn là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu, là quốc gia tích cực ủng hộ Việt Nam gia nhập tổ chức ASEAN, Nhật Bản cũng là chất xúc tác đưa tới bản ký kết bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, ủng hộ Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Trên lĩnh vực an ninh biển, Việt Nam và Nhật Bản đều có cùng lợi ích chiến lược ở khu vực Biển Đông Song, nếu như Việt Nam là quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn đối với Biển Đông thì khu vực này lại nằm ngoài tầm kiểm soát 1000 hải lý đối với Nhật Bản Do vậy, nếu Nhật Bản cần Việt Nam trong việc đảm bảo sự lưu thông trên tuyến hàng hải quan trọng này thì Việt Nam cũng rất cần sự ủng hộ của Nhật Bản trong quá trình khẳng định chủ quyền ở Biển Đông, nơi đang diễn ra sự tranh chấp giữa nhiều bên liên quan, nổi bật là nhân tố Trung Quốc Chính vì vậy, hợp tác quan hệ Việt Nam – nhật Bản phù hợp với xu thế phát triển của thế giới cũng như đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân hai nước Việt Nam – Nhật Bản
1.4 Nhân tố Mỹ, Trung Quốc
* Nhân tố Mỹ
Mỹ là cường quốc kinh tế đứng đầu thế giới và là một trong những nhân tố chi phối mạnh mẽ tới quan hệ Nhật Bản – Việt Nam
Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Nhật Bản đứng về phía Mỹ và phụ thuộc vào
Mỹ trong chính sách đối với Việt Nam Chiến tranh lạnh là sự đối đầu giữa hai cực
Xô – Mỹ, trật tự hai cực Xô – Mỹ thường xuyên bị đặt trong trạng thái căng thẳng của sự đối đầu Đông – Tây Việt Nam và Nhật Bản thuộc hai hệ thống Đông – Tây đối lập, chịu sự chi phối của những quan hệ đồng minh truyền thống khác nhau nên
sự hợp tác bình đẳng, cùng có lợi trên tất cả các lĩnh vực giữa hai nước trong thời
kỳ này khó có thể được đẩy mạnh
Trang 26Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh nóng Đông – Tây trong Chiến tranh lạnh Đây là cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam, là công việc nội bộ của Việt Nam Tuy nhiên, xuất phát từ vị trí chiến lược của bán đảo Đông Dương và do ảnh hưởng của cuộc Chiến tranh lạnh nên sự tham gia của Mỹ, Liên Xô đã phản ánh diễn biến của quan hệ quốc tế thời kỳ này
Đối với Mỹ, Nhật Bản có tầm quan trọng hàng đầu trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á – Thái Bình Dương Mỹ muốn lôi kéo Nhật Bản trở thành đồng minh để mở rộng biên giới của chủ nghĩa tư bản, muốn tăng cường sức mạnh của chủ nghĩa tư bản bằng việc khôi phục sức mạnh kinh tế của Nhật Bản Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, Mỹ đã trao trả độc lập cho Nhật, ký hòa ước San Francissco và Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật Thông qua đó,
Mỹ chi phối mọi đường lối chính sách đối ngoại của Nhật Bản
Về phía Nhật Bản, do thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã đặt Nhật vào một vị trí vô cùng khó khăn Nền kinh tế bị kiệt quệ, đất nước bị quân đồng minh chiếm đóng Nhật không thể quay trở lại với vai trò một cường quốc quân sự do bị hạn chế bởi điều 9 Hiến pháp quy định Nhật từ bỏ chiến tranh, không được phép duy trì các lực lượng quân sự hay các tiềm lực chiến tranh khác, không
sử dụng vũ lực trong tranh chấp quốc tế Các chính phủ Nhật Bản đều thi hành chính sách tiếp tay cho Mỹ chống Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, cho phép
Mỹ sử dụng các căn cứ quân sự của Mỹ trên đất Nhật làm căn cứ hậu cần phục vụ chiến tranh Việt Nam
Đến đầu thập niên 70, tình hình quốc tế và khu vực có những thay đổi nhanh chóng, mạnh mẽ Trên chiến trường Đông Dương nói chung và chiến trường Việt Nam nói riêng, thế và lực cách mạng Việt Nam, cách mạng Đông Dương đã trở nên
áp đảo, Mỹ sa lầy và liên tiếp thất bại Để chuẩn bị cho thời kỳ hậu chiến tranh Việt Nam, Chính phủ Nhật Bản đã nhanh chóng điều chỉnh chính sách đối với Việt Nam
Tháng 10/1972, Ngoại trưởng Nhật Chira nói: “Có thể thấy rằng cuộc chiến tranh
Việt Nam đang đi tới chỗ kết thúc Nhật mong mỏi các bên liên quan có thái độ thương lượng nghiêm chỉnh để nhanh chóng đi tới thỏa thuận sớm lập lại hòa bình trên bán đảo Đông Dương” [39; tr.92] Do vậy, không lâu sau khi ký Hiệp định
Paris ở Việt Nam tháng 1/1973, Nhật Bản đã thực hiện bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa Tuy nhiên, cũng phải cần nhìn nhận rằng, việc Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng nằm trong chủ trương chiến lược của Nhật Bản và Mỹ
Đến cuối năm 1978, Mỹ đơn phương chấm dứt đàm phán bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, đồng thời lôi kéo Nhật vào mặt trận cô lập Việt Nam Chính
Trang 27điều này đã tác động làm cho quan hệ Việt – Nhật thu hẹp đến mức tối đa Trong
khoảng thời gian này, Nhật Bản đơn phương thi hành chính sách đối ngoại “lạnh
nhạt” với Việt Nam, mà hành động đầu tiên là tuyên bố ngừng viện trợ ODA cho
Việt Nam kể từ ngày 8/1/1980 Việt Nam và Nhật Bản bị lôi kéo vào cuộc đối đầu gay gắt giữa hai cực nên nhu cầu phát triển kinh tế, nhu cầu tìm kiếm sự hợp tác giữa hai nước bị lấn áp Thái độ của Việt Nam đối với Nhật Bản chịu sự tác động của quan hệ Xô – Nhật, Xô – Trung; chính sách của Liên Xô ở khu vực châu Á cũng như chịu tác động của việc tăng cường quan hệ giữa Nhật Bản với các nước có chính sách thù địch chống Việt Nam Có thể thấy, thực chất Nhật Bản chống Việt Nam vì Nhật Bản là đồng minh của Mỹ và Việt Nam là đồng minh của Liên Xô
Song, dù vẫn xem xét thái độ của Mỹ và ASEAN nhưng do lợi ích của mình, Nhật Bản cảm thấy cần phải giữ cầu quan hệ với Việt Nam và nối lại viện trợ nhân đạo sau khi Việt Nam tuyên bố rút quân ra khỏi Campuchia Tuy vậy, quan hệ Nhật – Việt chưa có tiến triển rõ nét do Nhật còn trông chờ vào thái độ của Mỹ, Trung Quốc và ASEAN
Một trong những sự kiện quan trọng sau Chiến tranh lạnh tác động đến quan
hệ tốt đẹp Nhật Bản – Việt Nam chính là quyết định của Mỹ trong việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam Bước đi quyết định này nằm trong sự tính toán đảm bảo các lợi ích cơ bản về chính trị, kinh tế của Mỹ ở khu vực, được thực hiện từng bước
theo bản “lộ trình” kể từ khi Tổng thống George H.W.Bush (cha) đưa ra (1991)
cho đến Tổng thống B.Clinton (1995) Việt Nam cũng nhận thức được Mỹ là siêu cường duy nhất sau Chiến tranh lạnh, có ảnh hưởng chính trị và sức mạnh kinh tế,
có tiếng nói quan trọng ở tất cả các tổ chức và khu vực Vì vậy, bình thường hóa quan hệ với Mỹ nhằm góp phần tăng cường vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế, giúp bình thường hóa và cải thiện quan hệ của ta với các tổ chức tài chính quốc tế và khu vực Quá trình bình thường hóa quan hệ Mỹ – Việt Nam đã thúc đẩy quan hệ Nhật Bản – Việt Nam phát triển theo chiều hướng ngày càng tốt đẹp hơn
Vào cuối thế kỷ XX, bước sang thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa ngày càng gia tăng, buộc tất cả các tổ chức, quốc gia trên thế giới muốn tồn tại
và phát triển phải hợp tác, liên kết với nhau Nắm bắt được xu thế đó, tháng 1/1995, Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO Đến tháng 11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức WTO
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó không thể không nói đến vai trò và ảnh hưởng của Mỹ trong WTO là rất lớn Mặc cho sự gia tăng về tầm quan trọng của kinh tế Nhật Bản
và Tây Âu, nước Mỹ có ảnh hưởng đặc biệt tới kết quả các thương lượng trong
Trang 28WTO Vị thế toàn cầu của Mỹ làm cho một số nước đồng minh thân cận cũng tiếp tục dây dưa chưa dứt điểm trong đàm phán với Việt Nam vì chờ quyết định của Mỹ Cho đến tháng 6/2005, Nhật Bản mới chính thức mở cửa thị trường để Việt Nam gia nhập WTO, và đến ngày 31/5/2006, Việt Nam và Mỹ chính thức đạt thỏa thuận
về việc mở cửa thị trường để Việt Nam gia nhập WTO
Có thể nói, việc Nhật Bản đồng ý cho Việt Nam gia nhập WTO cũng nằm trong chủ trương chiến lược của Mỹ, phụ thuộc vào Mỹ
Trong những năm gần đây, Chính quyền của Tổng thống Obama chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương là hệ quả lôgích của
việc Mỹ quyết rút khỏi hai “bãi lầy” Irắc và Apganixtan; đảm bảo lợi ích của Mỹ;
và kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc Trong đó, Việt Nam có một ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với Mỹ: Việt Nam là một nhân tố then chốt ở Đông Nam Á với
số dân đứng thứ hai, lực lượng quân sự lớn và trữ lượng dầu mỏ ước tính 600 triệu thùng; Việt Nam có chung biên giới với Trung Quốc, có cảng nước sâu Cam Ranh
và Hải Phòng tạo điều kiện cho tàu quân sự của Mỹ leo đậu, tiếp nguyên liệu và là một trong sáu nước có tranh chấp chủ quyền ở Trường Sa Vì vậy, Hoa Kỳ tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác với Việt Nam Đồng thời, sử dụng đồng minh truyền thống của mình là Nhật Bản – đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam tác động đến Việt Nam nhằm đẩy mạnh việc thực hiện chính sách tái cân bằng nói chung và chính sách đối với Biển Đông nói riêng của Mỹ Như vậy, Mỹ chính là một trong những nhân tố khá quan trọng trong sự phát triển của mối quan hệ Nhật Bản – Việt Nam
Mặc dù xu hướng hợp tác giữ vai trò chủ đạo làm mờ đi sự khác biệt về ý thức hệ, song sự khác biệt về hệ thống chính trị và thể chế của Việt Nam và Nhật Bản vẫn tạo ra những cản trở nhất định trong quá trình xây dựng và củng cố quan hệ song phương Nhật Bản – Việt Nam Nhật Bản là một nước lớn và vẫn là đồng minh chiến lược của Mỹ nên chính sách của Nhật Bản đối với Việt Nam vẫn chịu sự tác động của bên ngoài, Nhật Bản vẫn thường đặt quan hệ với Việt Nam sau quan hệ với các nước lớn
* Nhân tố Trung Quốc
Bên cạnh nhân tố Mỹ, Trung Quốc là một trong những nhân tố hàng đầu tác động đến quan hệ Nhật Bản – Việt Nam Trung Quốc là một quốc gia ở khu vực Đông Á, có nền văn minh lâu đời và là một trong những cường quốc kinh tế thế giới Đặc biệt, năm 2010, Trung Quốc vượt qua Nhật Bản vươn lên trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới (sau Mỹ) Sự phát triển của Trung Quốc trong những năm gần đây, là nỗi đe dọa lớn đối với an ninh – chính trị, cũng như kinh tế
Trang 29của Nhật Bản, đe dọa đến chủ quyền lãnh thổ đối với các quốc gia láng giềng, trong đó có Việt Nam
Trung Quốc bước vào thế kỷ XXI với một tâm thế của một nước lớn, chính
sách “thao quang dưỡng hồi” 1 dường như đã đi vào quá khứ, thay vào đó là một Trung Quốc với những tuyên bố thiếu thiện chí, đồng thời đã có những hành động khiến các nước láng giềng cảm thấy bất an Năm 2008, các chính trị gia và các nhà
nghiên cứu đều có cái nhìn chung về một “con rồng” Trung Quốc đang thực sự trỗi
dậy Từ sau năm 2008, Bắc Kinh liên tục có những hành động gây hấn đe dọa đến hòa bình, an ninh cho các nước trong khu vực Biển Đông, trong đó có Việt Nam Cùng lúc đó, Trung Quốc và Nhật Bản đều khẳng định chủ quyền quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) Chính những bước đi đầy toan tính cùng với những hành động thiếu kiềm chế, Trung Quốc đã đẩy các nước trong khu vực
có cùng tranh chấp với quốc gia này quan ngại về chính sách trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc Việt Nam và Nhật Bản đều là những quốc gia đang có tranh chấp với Trung Quốc tại hai khu vực Biển Đông và Biển Hoa Đông Cả hai đều ý thức rất rõ
chính sách diều hâu 2 của Bắc Kinh tại hai khu vực biển này
Biển Đông được bao bọc bởi tám nước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia Không chỉ với các nước trong khu vực, Biển Đông còn là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước châu Á – Thái Bình Dương và Hoa Kỳ
Có thể nói Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương, châu Âu, châu Á, Trung Đông – châu Á Nằm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á,
Úc, Newdealand; tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi Úc và Newdealand, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới Mỗi ngày có khoảng từ 150 – 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên Trong khu vực Đông Nam Á khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore
Trang 30Tuy nhiên, giới chính trị – quân sự Bắc Kinh nhìn nhận Biển Đông chủ yếu ở góc độ địa chính trị và địa chiến lược Theo đó, Biển Đông là khu vực có lợi ích sống còn, là cửa ngõ để tiến xuống khu vực Đông Nam Á và vươn xa hơn trở thành cường quốc đại dương Trung Quốc ngày càng thể hiện rõ tham vọng kiểm soát
Biển Đông, biến khu vực này trở thành “ao nhà” qua nhiều tuyên bố, biện pháp và
hành động ngang ngược nhằm xác lập từng bước chủ quyền pháp lý cùng khả năng kiểm soát toàn bộ khu vực Biển Đông Với Trung Quốc, Biển Đông còn có ý nghĩa
là khu vực ảnh hưởng sống còn và là cửa ngõ chiến lược đầu tiên để Trung Quốc
thực hiện chính sách “đi ra ngoài” của mình trong thế kỷ “giấc mơ Trung Hoa”
Ý thức được vai trò và tầm quan trọng của Biển Đông, đồng thời từng bước hạn chế sự can thiệp của Trung Quốc tại khu vực này, vào tháng 11/2004, các nước ASEAN và Trung Quốc ký kết Tuyên bố về Ứng xử các bên ở Biển Đông (DOC),
mở ra hy vọng mới về khả năng quản lý xung đột, thúc đẩy hợp tác, và sự hình thành cơ sở chính trị pháp lý mới nhằm đảm bảo hòa bình và ổn định ở Biển Đông nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung Tuy nhiên, bất chấp dư luận quốc tế, Trung Quốc có những tuyên bố, hành động đi ngược hoàn toàn với DOC An ninh khu vực châu Á đang ngày càng bị đe dọa kể từ khi Trung Quốc ban hành cái gọi là
“Đường 9 đoạn” bao phủ đến 90% Biển Đông Ngoài ra, Trung Quốc đã cho cải
hoán các tàu quân sự thành tàu tuần tra dân sự, điều một số tàu này đến hoạt động ở Biển Đông Với những hành động trên, Trung Quốc đã biến nơi đây trở thành điểm nóng của cả khu vực với sự tham gia của nhiều nước lớn Mấy năm gần đây, Biển Đông là đề tài chính trị và là một trong những mối quan tâm hàng đầu của cả thế giới Ngày 3/7/2007, Quốc Vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam sa thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý 3 quần đảo: Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa của Việt Nam (Trung Quốc gọi là Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa), tiếp tục đơn phương áp đặt các lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông vào mùa đánh bắt cá cao điểm, tiến hành san lấp, mở rộng đảo Tri Tôn Đặc biệt là tháng 5/2014, Trung Quốc đã đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam
Trước những hành động của Trung Quốc tại Biển Đông trong thời gian gần đây bất chấp công luận và luật pháp quốc tế đã đe dọa đến hòa bình, ổn định khu vực cũng như tự do hàng hải của các nước, trong đó có Nhật Bản Là một quốc gia không có hải phận ở Biển Đông, tuy nhiên Nhật Bản có rất nhiều lợi ích tại khu vực này Trong đó lợi ích quan trọng nhất của một quốc gia biển như Nhật Bản ở Biển Đông là quyền tự do hàng hải Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản được vận
Trang 31chuyển qua Biển Đông Đặc biệt là sau sự cố 11/3/2011, nhà máy năng lượng hạt nhân đã dừng hoạt động hoàn toàn, để bù đắp cho việc đó, các nhà máy nhiệt điện
đã phát triển nhanh chóng (chiếm khoảng 90% tổng sản lượng điện), nhưng gần 90% lượng dầu nhập khẩu được sản xuất ở Trung Đông, và vận chuyển thông qua
Ấn Độ Dương, eo biển Malacca và Biển Đông bằng các tàu chở dầu Vì vậy, sự an toàn của các chuyến tàu trên Biển Đông là vấn đề sống còn đối với Nhật Bản Ở khía cạnh nào đó, nếu Trung Quốc thực thi chủ quyền hoặc giành được ưu thế trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đối với các quốc gia láng giềng, trong đó có Việt Nam thì Nhật Bản chắc chắn nằm trong vòng kiềm tỏa của Trung Quốc Ngoài ra, can dự vào vấn đề Biển Đông cũng là một cách để Nhật Bản phân tán sự chú ý và nguồn lực trong tranh chấp Biển Hoa Đông với Trung Quốc Chính vì vậy, Nhật Bản cần hợp tác chặt chẽ với các nước trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam – với tư cách là quốc gia chiếm nhiều lợi thế trong việc giành quyền kiểm soát trên các đường biển thuộc khu vực Biển Đông
Cùng lúc đó, tại Biển Hoa Đông, Trung Quốc và Nhật Bản đã liên tiếp xảy ra tranh chấp và cả hai đều khẳng định chủ quyền ở quần đảo Senkaku, hay còn gọi là Điếu Ngư Quần đảo Senkaku là trung tâm của những tranh cãi về lãnh thổ trong nhiều thập kỷ qua Cùng với vấn đề Biển Đông, Senkaku nổi lên như là một điểm nóng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương Nó có nguy cơ châm ngòi cho một cuộc đụng độ quân sự, đặc biệt sau khi thị trưởng Tôkyô, Ông Shintaro Ishihara, tuyên bố sẽ mua lại
3 hòn đảo thuộc quần đảo này Động thái trên khiến cho mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Tôkyô không ngừng leo thang và căng thẳng hơn bao giờ hết
Tất cả những tuyên bố, cách ứng xử thiếu tôn trọng Luật pháp quốc tế của Bắc Kinh đã tạo động lực và cơ hội để Việt Nam và Nhật Bản xích lại với nhau Cả hai đã nỗ lực hợp tác trên nhiều lĩnh vực, từ kinh tế thương mại đến quốc phòng an ninh Việc Việt Nam và Nhật Bản cùng nhau củng cố và xây dựng mối quan hệ chặt chẽ trên nhiều mặt giúp cho cả hai hỗ trợ nhau về tài và khí lực, tạo sức mạnh cho mỗi bên; giảm bớt vai trò, hình ảnh của Trung Quốc tại hai khu vực biển tranh chấp, hợp tác ứng phó với các hoạt động hải quân gia tăng của trung Quốc
Mặt khác, kinh tế Trung Quốc chiếm phần lớn ở Đông Nam Á Theo báo cáo của hội đồng thương mại Trung quốc – ASEAN, kim ngạch thương mại hai chiều giữa ASEAN – Trung Quốc trong năm 2014 đạt mức 480 tỷ USD, tăng 8,3% so với năm 2013 và mức tăng này cao gấp 2,5 lần so với mức tăng trưởng thương mại chung của Trung Quốc ASEAN hiện là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Trung Quốc, đứng sau các nước EU và Mỹ Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn nhất của hầu hết các nước ASEAN, trong đó, Việt Nam là đối tác thương mại lớn
Trang 32thứ 2 (chỉ đứng sau Malaysia) và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc trong các nước ASEAN, với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2014 đạt hơn
83 tỷ USD, tăng 27%, trong đó Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam hơn 63 tỷ USD và nhập khẩu hơn 19 tỷ USD [22]
Với tầm ảnh hưởng lớn về kinh tế của Trung Quốc ở ASEAN, Trung Quốc là một đối thủ lớn có khả năng chi phối cả chính trị lẫn kinh tế ở khu vực này Nhận thức được điều đó, Nhật Bản đẩy mạnh hợp tác với các nước trong khu vực, trong
đó có Việt Nam Hiện nay, Việt Nam là 1 thị trường quan trọng đối với Nhật Bản,
là nơi cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân công rẻ cho nền kinh tế Nhật bản và là địa điểm hấp dẫn mạnh nguồn đầu tư và buôn bán của các công ty Nhật Bản Vì vậy, nếu tăng cường quan hệ với Việt Nam, Nhật Bản có thể giảm bớt ảnh hưởng nhiều mặt của Trung Quốc, đồng thời nâng cao vai trò, vị thế của Nhật Bản tại khu vực này, trong đó có Việt Nam Chiến lược linh hoạt này giúp Tôkyô vừa can dự, vừa giảm bớt ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của Trung Quốc Ngược lại, khi bắt tay với Tôkyô, Việt Nam sẽ bớt phụ thuộc vào Trung Quốc ở các mặt như kinh tế, thương mại và văn hóa
Có thể nói, trên con đường Việt Nam và Nhật Bản xích lại gần nhau nhằm hướng đến hợp tác đối tác chiến lược toàn diện Có rất nhiều nguyên nhân để cả hai trở nên gắn bó hơn bao giờ hết, tuy nhiên một trong những nguyên nhân quan trọng chính là Trung Quốc Chính Trung Quốc là nhân tố đẩy Việt Nam – Nhật Bản tìm đến nhau hơn trên nhiều lĩnh vực như an ninh – quốc phòng, hợp tác hàng hải, kinh
tế thương mại và nhiều lĩnh vực khác
Trang 33Tiểu kết chương 1
Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam là mối quan hệ giữa cường quốc kinh tế thứ 3 thế giới, tiềm lực kinh tế hùng mạnh, ngành công nghiệp hiện đại, tiềm năng kỹ thuật và công nghệ to lớn với một quốc gia đang phát triển, đang từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Với tư cách là cặp quan hệ ở khu vực châu Á, quan hệ Nhật Bản – Việt Nam thời gian qua chịu sự tác động thường xuyên từ những chuyển biến mạnh mẽ của môi trường quốc tế với những biểu hiện như toàn cầu hóa, khu vực hóa phát triển mạnh mẽ; cách mạng khoa học – công nghệ với quá trình tin học hóa sản xuất ngày càng lan rộng; khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu; vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông… Điều này phản ánh xu thế vận động mới của cục diện chiến lược quốc tế trong thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh: xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển Trong bối cảnh cục diện thế giới luôn luôn vận động, quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản chịu sự tác động của nhân tố quốc
tế càng trở lên mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn là điều dễ hiểu Hơn nữa, quá trình phát triển quan hệ Việt Nam – Nhật Bản được xây dựng trên nền tảng sự tương đồng về lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị và an ninh Cho nên, việc đẩy mạnh quan hệ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản là một xu thế tất yếu
Với tư cách là những quốc gia nằm ở khu vực châu Á, quan hệ Việt Nam – nhật Bản trong thế kỷ mới vẫn luôn chịu sự tác động của những di chứng do lịch sử
để lại: chủ nghĩa phát xít Nhật trong chiến tranh thế giới thứ II ở Việt Nam, đồng minh của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam… khiến cho lịch sử hai nước Việt Nam – Nhật Bản lúc thăng, lúc trầm, thậm chí đối đầu nhau Với sự gần gũi về phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng; Việt Nam – Nhật Bản không có sự tranh chấp lãnh thổ; hai bên đều có mục tiêu chung là góp phần thúc đẩy xu thế hòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và thế giới; và trên hết là lãnh đạo và nhân dân hai nước đã đạt được niềm tin chiến lược rất cao trong hàng loạt các lĩnh vực then chốt như kinh tế, chính trị,
an ninh, văn hóa – xã hội, con người Đây chính là cơ sở quan trọng để hai nước gác lại quá khứ, đẩy mạnh quan hệ hợp tác toàn diện, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân hai nước Việt Nam – Nhật Bản
Trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng, nhu cầu mở rộng sự giao lưu, phát triển quan hệ hợp tác với các quốc gia, dân tộc là một nhu cầu tất yếu Chính sách của hai nước Việt Nam – Nhật Bản trong bối cảnh mới cũng
là những nhân tố hết sức quan trọng, thúc đẩy mối quan hệ hai nước phát triển nhanh chóng trong thời gian qua Ngoài ra, trong khi cố gắng nâng cấp phát triển
Trang 34quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản, chúng ta không thể không tính tới vai trò, chính sách đối ngoại của một số nước lớn như Mỹ, Trung Quốc Đây là những nhân tố tác động mạnh mẽ có phần chi phối mối quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ Việt Nam – Nhật Bản nói riêng
Thực tế của mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản cho thấy, nhân tố bên trong, đặc biệt là những chính sách đối ngoại mà Việt Nam – Nhật Bản thực hiện trong bối cảnh mới luôn có tính quyết định đối với mối quan hệ đặc biệt này Bên cạnh đó, sự tác động mạnh mẽ của nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến chiều hướng phát triển quan hệ hai nước Do vậy, đòi hỏi Chính phủ Nhật Bản – Việt Nam phải năng động, kịp thời sáng tạo đưa ra quyết sách có tính chiến lược, sách lược đúng đắn, phù hợp với đối tác của mình nhằm huy động mọi tiềm năng cho sự phát triển của đất nước, chuẩn bị cho những dự báo về triển vọng và tương lai; thúc đẩy phát triển hơn nữa mối quan hệ, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi lợi ích lâu dài của hai nước
Trang 35Chương 2 QUAN HỆ NHẬT BẢN – VIỆT NAM TRONG CÁC LĨNH VỰC TỪ
Tháng 4/2009, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh sang thăm Nhật Bản lần thứ 2 với tư cách là khách mời cấp nhà nước Trong cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Aso Tarou và Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, hai nước đã
“nhất trí với việc tiếp tục phát triển mối quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” bằng sự tiến triển sâu rộng của quan hệ Nhật Bản – Việt
Nam trên các lĩnh vực từ trước đến nay Sau cuộc hội đàm, lãnh đạo hai nước đã
ra Tuyên bố chung Nhật Bản – Việt Nam về quan hệ đối tác chiến lược vì hòa
bình và phồn vinh ở châu Á
Quan hệ giữa hai nước ngày càng được củng cố và phát triển mạnh mẽ từ năm 2010 đến năm 2014 Trong giai đoạn này, quan hệ chính trị – ngoại giao giữa hai nước tiếp tục được tăng cường và phát triển thông qua các chuyến thăm và tiếp xúc giữa các nhà lãnh đạo cấp cao hai nước tại các diễn đàn quốc tế; các cơ chế đối thoại giữa hai nước thường xuyên được tổ chức; hai bên ủng hộ và hỗ trợ lẫn nhau trên diễn đàn song phương và đa phương
* Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì thường xuyên các chuyến thăm và tiếp xúc tại các diễn đàn quốc tế
Một trong những đặc điểm nổi bật trong quan hệ chính trị – ngoại giao hai nước Việt Nam – Nhật Bản là các quan hệ ngày được gia tăng Dấu hiệu về sự gia tăng quan hệ là hai nước đã duy trì các cuộc viếng thăm cấp cao lẫn nhau, đưa ra các sáng kiến và cách thức thực tế để thắt chặt hơn nữa hợp tác nói chung, chính trị – ngoại giao nói riêng
Mở đầu cho quan hệ chính trị – ngoại giao giữa hai nước trong giai đoạn
2010 – 2014 là chuyến viếng thăm của Hoàng thái tử Nhật Bản Naruhito vào tháng 2/2010, nhằm thể hiện tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân hai nước ngày càng phát triển Lãnh đạo và nhân dân Việt Nam ở mọi miền đất nước đã giành cho Hoàng thái tử sự đón tiếp trọng thị và những tình cảm hữu nghị thắm thiết
Trang 36Đáp lại chuyến thăm của Hoàng thái Tử Nhật Bản, đến tháng 5/2010, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân sang thăm Nhật Bản và có cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Okada tại Bộ ngoại giao Tại cuộc hội đàm, lãnh đạo hai nước Nhật Bản – Việt Nam đã nhiều lần đề cập tới việc làm sâu sắc và mở rộng mối quan hệ đối tác chiến lược Và như một phần của quá trình đó, hai nước đã trao đổi ý kiến về nhiều vấn đề trong khuôn khổ quan hệ giữa hai nước như 3 sáng kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đặc biệt là dự án xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Nam – Bắc,
dự án sử dụng điện hạt nhân vì mục đích hòa bình, việc phái cử y tá, hộ lý theo Hiệp định FPA, chống tham nhũng trong sử dụng ODA, và hỗ trợ đào tạo nhân lực… Ngoài ra, hai nước cũng đề cập đến những vấn đề khác như việc hợp tác Nhật Bản – Mêkông, vấn đề Triều Tiên, vấn đề biến đổi khí hậu và môi trường toàn cầu, vấn đề cải cách Liên Hợp Quốc…
Ngày 27/6/2010 Thủ tướng Kan Naoto và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự hội nghị thượng đỉnh G8 tại Muskoka và G20 tại Toronto, Canada Nhân dịp này, hai bên tái khẳng định việc phát triển hơn nữa mối quan hệ hữu nghị Nhật – Việt với tư cách mối quan hệ đối tác chiến lược, đồng thời cùng trao đổi ý kiến về các vấn đề liên quan đến tuyến đường sắt cao tốc Nam – Bắc và việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân
Trong thời gian tham dự cuộc họp Ngoại trưởng các nước ASEAN tại Hà Nội
từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 7 năm 2010, Ngoại trưởng Okada đã có cuộc hội đàm với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Thường vụ Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam Trương Tấn Sang, và Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm Hai bên khẳng định tăng cường hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược giữa hai
nước, đồng thời nhất trí việc khởi động “đối thoại đối tác chiến lược Nhật – Việt”
Đặc biệt, nhận lời mời của Thủ tướng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nguyễn Tấn Dũng, trong hai ngày 30 và 31 tháng 10 năm 2010, Thủ tướng Nhật Bản Kan Naoto thăm chính thức Việt Nam Tại cuộc hội đàm, hai bên hoan nghênh những bước phát triển lớn trong quan hệ giữa hai nước trong những năm gần đây và bày tỏ ý định phát triển toàn diện và mạnh mẽ hơn mối quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Nhật Bản Hai bên khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì các chuyến thăm cấp cao hàng năm cũng như tăng cường các kênh đối thoại ở tất cả các cấp và trên mọi lĩnh vực
Kết quả lớn nhất trong chuyến viếng thăm của Thủ tướng Kan Naoto đến Việt
Nam là hai nhà lãnh đạo đã ký "Tuyên bố chung Việt Nam – Nhật Bản về phát triển toàn
diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á"
Trang 37Việc hai nước nâng quan hệ lên thành đối tác chiến lược đánh dấu bước phát triển mới về chất trong quan hệ hai nước nói chung, lĩnh vực chính trị – ngoại giao nói riêng Đây là cơ sở để Việt Nam và Nhật Bản tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau trong mọi lĩnh vực vì lợi ích chung của hai nước và vì sự phát triển của châu Á Việc ký thỏa thuận trên cho thấy hướng điều chỉnh trong quan hệ với Việt Nam nói chung, chính trị đối ngoại nói riêng đã được khẳng định và từng bước hiện thực hóa trong từng lĩnh vực cụ thể Điều đó cũng chứng tỏ quan hệ hai nước đã được nâng cấp và là cơ sở quyết định cho việc phát triển ổn định, tin cậy bền vững và lâu dài
Nếu năm 2010, Việt Nam là nước chủ trì Hội nghị cấp cao các nước ASEAN thì Nhật Bản là nước chủ nhà của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Tháng 11/2010, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang tham dự Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tổ chức tại Ykohama Nhân dịp này, Ngoại trưởng Maehara Seiji đã có cuộc hội đàm song phương với Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm Hai bên tiếp tục thảo luận về vấn đề xây dựng nhà máy điện hạt nhân và việc khai thác đất hiếm
Ngày 11/3/2011, một trận động đất mạnh chưa từng thấy tấn công miền Đông Nhật Bản Lời thăm hỏi ân cần và sự hỗ trợ về vật chất của Việt Nam đối với các nạn nhân đã khiến người dân Nhật Bản cảm kích
Trong thời gian này, các hoạt động ngoại giao giữa hai nước thường xuyên diễn
ra như Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải trong thời gian sang Nhật tham dự Hội nghị quốc tế do báo Kinh tế Nhật Bản tổ chức ngày 25/5/2011 đã có cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Matsumoto Takeaki; Ngoại trưởng Matsumoto sang thăm Việt Nam tháng 7/2011… Nhân những dịp này, Nhật Bản bày tỏ lòng cảm ơn đối với sự hỗ trợ và đồng cảm của Việt Nam dành cho Nhật Bản trong đại thảm họa động đất Đồng thời,
hai bên tái khẳng định việc mở rộng “quan hệ đối tác chiến lược”, và thảo luận những
vấn đề như dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân và khai thác đất hiếm
Tiếp theo đó, trong chuyến thăm Nhật Bản tháng từ ngày 30 tháng 10 đến ngày 2 tháng 11 năm 2011của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, lãnh đạo cấp cao hai nước đã ra
“Tuyên bố chung triển khai hành động trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á giữa Việt Nam và Nhật Bản”
Trong tuyên bố chung lần này, hai bên đã đề cập đến “Hợp tác sau Đại thảm
họa động đất miền Đông Nhật Bản”; “Những thành tựu của Tuyên bố chung Nhật – Việt 2010 và định hướng phát triển”
Đặc biệt trong tuyên bố chung, hai bên đã đề cập vấn đề Biển Đông Hai nhà lãnh đạo khẳng định hòa bình và ổn định ở Biển Đông là lợi ích chung của cộng
Trang 38đồng quốc tế Hai bên hoan nghênh việc thông qua hướng dẫn thực hiện “Tuyên bố
về ứng xử của các bên tại Biển Đông” (DOC), kêu gọi thực hiện đầy đủ DOC và
sớm xây dựng Bộ qui tắc ứng xử (COC) theo luật pháp quốc tế Hai bên khẳng định
tự do hàng hải, giao thương không bị cản trở và tuân thủ Luật pháp quốc tế hiện hành gồm Công ước quốc tế về Luật Biển của Liên Hợp Quốc và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình là phù hợp với lợi ích của hai nước và toàn khu vực Hai nhà lãnh đạo cũng cùng nhận thức rằng những lợi ích chung này cần phải được thúc đẩy và bảo vệ trên Biển Đông [40; tr.326]
Ngoài tuyên bố chung nêu trên, hai bên đã ký kết thêm 3 văn bản gồm: “Bản
ghi nhớ về cơ chế tiếp nhận điều dưỡng viên, hộ lý viên đủ tiêu chuẩn của Việt Nam sang Nhật Bản”, “Thỏa thuận của Chính phủ Nhật Bản và Việt Nam trong việc hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận”, “Thỏa thuận của chính phủ Nhật Bản và Việt Nam trong việc hợp tác khai thác đất hiếm”[40; tr.327]
Tháng 4/2012, tại Tôkyô đã diễn ra hội nghị cấp cao Nhật Bản – Mêkông lần thứ tư Bên lề hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc hội đàm với Thủ tướng Noda Yoshihito Trong cuộc hội đàm này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bày tỏ lòng cảm ơn trước việc Nhật Bản trong năm tài khóa 2011 đã dành cho Việt Nam khoản vay ODA 300 tỷ yên lớn nhất trong thời gian trở lại đây, bất chấp việc Nhật Bản vừa trải qua đại thảm họa động đất miền Đông Nhật Bản Ngoài ra, hai bên cũng khẳng định những tiến triển trong dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân và hợp tác khai thác đất hiếm Đồng thời, hai bên cũng trao đổi ý kiến xung quanh vấn đề Bắc Triều Tiên và vấn đề Biển Đông
Đây cũng là cuộc gặp tạo điều kiện cho hai nước có hàng loạt các chuyến viếng thăm và hội đàm sau đó, tiêu biểu như Chánh văn phòng nội các Nhật Bản Fujimura Osamu đã có cuộc hội đàm với Chủ tịch nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt – Nhật trong thời gian ở thăm Nhật Bản tháng 5/2012; chuyến thăm của Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tháng 7/2012; cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Noda và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong thời gian tham dự hội nghị thượng đỉnh Á – Âu ASEM lần thứ 9 tại Viêng Chăn tháng 11/2012 Tại các chuyến thăm và hội đàm, hai bên tái khẳng định việc làm sâu sắc và mở rộng hơn nữa mối quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước ngày càng phát triển toàn diện hơn trên mọi lĩnh vực
Đặc biệt là chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng từ ngày
5 đến ngày 8/12/2012 sang Nhật Bản Chuyến thăm nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước ngày càng phát triển trên mọi lĩnh vực; đồng thời đẩy mạnh quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Thượng viện Nhật Bản
Trang 39Năm 2013 là mốc sự kiện quan trọng đánh dấu kỉ niệm 40 năm thiết lập quan
hệ ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản Trong năm nay, rất nhiều hoạt động cũng như các chuyến viếng thăm cấp cao hai nước được tổ chức
Tháng 1/2013, Thủ tướng Shindo Abe đã có chuyến thăm đến Việt Nam
Trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Abe đã nói “Đối
với Nhật Bản, Việt Nam là đối tác quan trọng có những mối quan tâm chung trong vấn đề của khu vực và cùng hỗ trợ lẫn nhau trên lĩnh vực kinh tế” [40; tr.330]
Cũng trong cuộc hội đàm này, Thủ tướng Abe giải thích thêm “Trong bối cảnh môi
trường chiến lược ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang thay đổi mạnh mẽ, quan điểm cơ bản của Nhật Bản là sánh bước cùng ASEAN trên con đường hòa bình, đóng vai trò tích cực trong việc xoa dịu căng thẳng và phồn vinh ở khu vực”
[40; tr.331] Ngoài ra, ông cũng đề cập đến tình hình Biển Đông và tình hình trên bán đảo Triều Tiên
Việc Thủ tướng Shindo Abe chọn Việt Nam là điểm đến đầu tiên trong chuyến công du nước ngoài khi mới nhậm chức đã cho thấy vị trí và tầm quan trọng của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản Chuyến thăm được coi như điểm mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hai nước trong thập niên thứ hai của thế kỷ XXI [39; tr.123]
Đến tháng 5/2013, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trong thời gian sang Nhật Bản tham dự hội nghị quốc tế do Báo Kinh tế Nhật Bản tổ chức, đã có cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Kishida Fumio Ngày 30/6/2013, trong thời gian tham dự hội nghị Ngoại trưởng các nước ASEAN tại Brunây, Ngoại trưởng Kishida đã tiến hành cuộc hội đàm song phương với Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh Nhân dịp này, hai bên khẳng định tiếp tục phát triển hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược và cùng trao đổi ý kiến về tình hình khu vực châu Á – Thái Bình Dương
Đặc biệt, Nhận lời mời của Thủ tướng Shindo Abe, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường thăm chính thức Nhật Bản
từ ngày 12 đến ngày 15/12/2013, dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 40 năm Quan hệ đối thoại ASEAN – Nhật Bản lần thứ 5 và Hội nghị cấp cao Mêkông – Nhật Bản tại Tôkyô Chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhằm góp phần tăng cường, làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản; thu hẹp khoảng cách phát triển của các nước ASEAN, ưu tiên cho hợp tác Tiểu vùng Mêkông, CLV (Campuchia – Lào – Việt Nam), Hành lang Đông Tây; và góp phần nâng cao hiệu quả cơ chế hợp tác Mêkông – Nhật Bản trong giai đoạn tới
Trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Shindo Abe, hai nhà lãnh đạo nhất trí về tầm quan trọng của việc duy trì thường xuyên các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao
Trang 40cũng như thực hiện hiệu quả các cơ chế hợp tác, hoan nghênh việc hai nước vừa qua
đã thiết lập cơ chế an ninh Hai bên khẳng định tiếp tục phối hợp chặt chẽ để triển khai hiệu quả các dự án hợp tác kinh tế quan trọng
Về các vấn đề quốc tế và khu vực, hai bên nhất trí về tầm quan trọng của bảo đảm hòa bình, ổn định, và phát triển ở khu vực, trong đó có bảo đảm hòa bình, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không trên cơ sở luật pháp quốc tế, khẳng định tiếp tục hợp tác chặt chẽ tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế, đóng góp tích cực, mang tính xây dựng vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phồn vinh tại khu vực
Một trong những dấu mốc quan trọng trong quan hệ Việt Nam – Nhật Bản là chuyến viếng thăm Nhật Bản của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng Phu nhân
và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam từ ngày 16 đến ngày 19/3/2014 Đây là chuyến thăm Nhật Bản cấp Nhà nước đầu tiên của Chủ tịch nước Việt Nam kể từ năm 2007
và là lần thứ hai kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1973
Trong cuộc hội đàm Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nhật Bản Shindo Abe, hai nhà lãnh đạo nhất trí nâng cao quan hệ Việt Nam – Nhật Bản lên
tầm cao mới: “Quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở
châu Á” giữa Việt Nam và Nhật Bản Hai bên đã trao đổi sâu rộng và nhất trí về những
định hướng lớn cũng như các biện pháp cụ thể để đưa quan hệ hai nước phát triển ngày càng toàn diện, thực chất, sâu sắc trên mọi lĩnh vực
Tiếp đó, từ ngày 9 đến ngày 11/10/2014, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam đã có chuyến thăm và làm việc tại Nhật Bản
Trong khuôn khổ của chuyến viếng thăm, Hai bên nhất trí duy trì thường xuyên các chuyến thăm, tiếp xúc ở các cấp, đặc biệt là cấp cao cũng như giao lưu giữa hai Quốc hội và các Nhóm nghị sỹ hữu nghị Đồng thời, hai bên nhất trí phối hợp trên các diễn đàn quốc tế và khu vực cũng như trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), nhất trí về tầm quan trọng của việc bảo đảm hòa bình ổn định, tự
do hàng hải, các tranh chấp cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình
* Một số cơ chế đối thoại giữa hai nước
Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên các cấp của hai nước trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh thường kỳ hàng năm là hướng điều chỉnh quan trọng nhằm tăng cường quan hệ Nhật Bản – Việt Nam Một số cơ chế đối thoại nổi bật giữa hai nước: thành lập Ủy ban hợp tác Việt Nam – Nhật Bản do hai bộ ngoại giao làm đồng Chủ tịch; đối thoại Đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản về ngoại giao – an ninh – quốc phòng cấp Thứ trưởng ngoại giao; đối thoại an ninh cấp Thứ trưởng