1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ chính trị việt nam singapore từ năm 2001 đến nay

96 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 895,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Singapore coi trọng quan hệ với Việt Nam và Việt Nam trở thành một trong những thị trường chính về thương mại, đầu tư của Singapore ở Đông Nam Á.Năm 2004, hai nước đã ký “Tuyên bố chung

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cánhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Tất Giáp Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong Luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình

NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN

Trần Việt Phương

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết

tắt

Asian Nation

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

South China Sea

Bộ quy tắc ứng xử ở Biển đông

the Parties in the South

China Sea

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông

Tariffs and Trade

Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch

Gosudarstv

Cộng đồng các Quốc gia Độc lập là các quốc gia thành viên cũ của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM - SINGAPORETỪ NĂM 2001 ĐẾN 2016 9

1.1.Cơ sở lý luận 9

1.2 Cơ sở thực tiễn 11

Chương 2:THỰC TRẠNG QUAN HỆ VIỆT NAM - SINGAPORETRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ TỪ NĂM 2001 – 2016 31

2.1 Đối thoại và hợp tác song phương Việt Nam - Singapore 31

2.2 Đối thoại và hợp tác chính trị đa phương 43

2.3 Nhận xét về quan hệ Việt Nam - Singapore trên lĩnh vực chính trị 48

Chương 3: TRIỂN VỌNG VÀ KHUYẾN NGHỊ QUAN HỆ VIỆT NAM - SINGAPORETRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ ĐẾN NĂM 2030 62

3.1 Cơ sở dự báo tình hình thế giới và khu vực tác động đến tình hình hai nước 62

3.2 Những triển vọng quan hệ chính trị Việt Nam - Singapore 70

3.3 Khuyến nghị đối với Đảng và Nhà nước nhằm tăng cường, phát triển mối quan hệ chính trị Việt Nam - Singapore 73

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 89

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam và Singapore là hai nước ở Đông Nam Á, đều là thành viên của của ASEAN, đồng thời có vị trí chiến lược quan trọng cùng với những đóng góp tích cực đối với sự phát triển của hiệp hội Hơn 46 năm qua kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (1973), hai nước nỗ lực tranh thủ khai thác tiềm năng, lợi thế của mỗi bên, thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Singapore ngày càng được củng cố, tăng cường trên các lĩnh vực, trở thành quan hệ đối tác chiến lược, đáp ứng nhu cầu phát triển của mỗi nước Được thiết lập từ năm

1973 đến nay, quan hệ hợp tác song phương Việt Nam - Singapore đã và đang ngày càng phát mạnh mẽ, mang lại hiệu quả thiết thực cho nhân dân hai nước

Kể từ năm 1991, đặc biệt từ khi Việt Nam là thành viên ASEAN (1995), quan hệ hai nước phát triển nhanh chóng Singapore coi trọng quan hệ với Việt Nam và Việt Nam trở thành một trong những thị trường chính về thương mại, đầu tư của Singapore ở Đông Nam Á.Năm 2004, hai nước đã ký

“Tuyên bố chung về Khuôn khổ Hợp tác Toàn diện trong thế kỷ 21”, tạo cơ sở

pháp lý và điều kiện thuận lợi thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước Tháng 9 năm 2013, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long thăm chính thức Việt Nam Hội đàm ngày 11 tháng 9, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Lý Hiển Long tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương lên đối tác chiến lược Tuyên bố chung về thiết lập quan hệ đối tác chiến lược

đề cập 5 trụ cột hợp tác

Không chỉ là hợp tác thương mại, đầu tư, Việt Nam và Singapore cũng

đã tích cực hợp tác trong các lĩnh vực khác Nội hàm hợp tác Đối tác Chiến lược Việt Nam - Singapore bao trùm 5 trụ cột, gồm: làm sâu sắc thêm quan hệ chính trị tin cậy lẫn nhau; tăng cường hợp tác kinh tế; nâng cao hợp tác an ninh quốc phòng; thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực khác (giáo dục, pháp

Trang 7

luật, y tế, văn hóa - nghệ thuật - thể thao); tăng cường hợp tác tại các diễn đàn quốc tế và khu vực

Bước vào thế kỷ XXI, tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng diễn ra nhanh chóng Singapore là nước chủ trương đẩy nhanh quá trình liên kết ASEAN vừa vì lợi ích riêng vừa muốn giữ được vai trò chủ đạo của ASEAN trong quan hệ quốc tế tại khu vực Về phần mình, Việt Nam cũng

thấy hội nhập khu vực là ưu tiên hàng đầu trong “đường lối đối ngoại độc lập

tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển” và“chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực” Trong bối cảnh đó, hai nước tăng cường trao

đổi đoàn cấp cao và giữa các Bộ Ngoại giao, Công an và Quốc phòng; quan

hệ hai nước ngày càng phát triển toàn diện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu theo tinh thần cùng có lợi và vì lợi ích chung của cả ASEAN

Rõ ràng, giữa Việt Nam và Singapore không chỉ là mối quan hệ hợp tác song phương, mà còn là sự hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ ASEAN, APEC, ASEM…, trong nỗ lực đẩy mạnh việc xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm

2015, nhằm tăng cường đoàn kết và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN ở khu vực, vì hòa bình, an ninh và phát triển Tuy vậy, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, quan hệ hai nước, nhất là trên lĩnh vực chính trị, cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức mới Bấy nhiêu đó đủ để khẳng định tầm quan trọng của quan hệ chính trị Việt Nam - Singapore Và hơn lúc nào hết, mối quan hệ tốt đẹp này cần tiếp tục được đẩy mạnh

Với những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài “Quan hệ chính trị Việt

Nam - Singaporetừ năm 2001 đến nay” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc

sĩ của mình

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Quan hệ Việt Nam - Singapore những năm đầu thế kỷ XXI đã trở thành một trong những mối quan hệ chiến lược trong khu vực ASEAN của Việt Nam Vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như rất nhiều sách, báo,luận văn Thạc sỹ, luận án Tiến sĩ và tạp chí đề cập đến mối quan hệ giữa hai nước Tuy nhiên, về vấn đề hợp tác trên lĩnh vực chính trị những năm đầu thế kỷ XXI vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào…

* Các công trìnhnghiên cứu trong nước tiêu biểu như sau:

- Cuốn Lịch sử quan hệ Việt Nam - Singapore (1965 - 2005) của TS

Phạm Thị Ngọc Thu (chủ biên), NXB Tổng hợp Thành phố Hồ chí Minh Cuốn sách đã tái hiện đầy đủ và hệ thống lịch sử quan hệ giữa hai nước từ năm 1965 - 2005, là cơ sở lý luận khoa học vô cùng quan trọng cho công tác nghiên cứu và dự báo, góp phần đem đến những thông tin bổ ích xác đáng về quan hệ hai nước Tuy nhiên, cuốn sách cũng chưa phân tích và đi sâu vào những vấn đề quan hệ hai nước, chỉ giới hạn trong giai đoạn (1965 - 2005) chưa làm rõ được vấn đề cần nghiên cứu của đề tài do đặc thù về tính khái quát cao của công trình này

- Cuốn SINGAPORE - đặc thù và giải pháp(2007), của PGS TS

Dương văn Quảng (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Đã phân tích bối cảnh, sự ra đời, quá trình hình thành phát triển và triển vọng của Singapore Có thể nói đây là một trong những công trình nghiên cứu mang tính toàn diện về sự phát triển của đảo quốc Sư Tử Tác giả đã nhấn mạnh về những nỗ lực phi thường, những đặc thù riêng của quốc đảo nhỏ bé này Cuốn sách cũng cũng đề cập đến chính sách đối ngoại của Singapore với các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam

- Cuốn “Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)nội dung và lộ trình”(2009)

do PGS.TS Nguyễn Hồng Son làm chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Trang 9

Nội.Tác phẩm đã đi sâu phân tích các nhân tố tác động đến quá trình hình thành AEC; trình bày những đặc trưng cơ bản của AEC như mục tiêu, nội dung và lộ trình thực hiện; những vấn đề đặt ra khi thực hiện AEC và triển vọng Tác phẩm đã dành 1 chương trình bày sự tham gia của Việt Nam và quá trình liên kết kinh tế ASEAN nói chung; AEC nói riêng và đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả tham gia vào AEC của Việt Nam

Cuốn Lịch sử quan hệ Việt Nam - Singapore (2012) của PGS TS Lê

Văn Đính (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội Cuốn sách tập trung nghiên cứu nền chính trị năng động, khá ổn định và một xã hội hòa hợp như hiện nay ở Singapore Cuốn sách đề cập đến vai trò tích cực của hệ thống chính trị - đặc biệt là Đảng Nhân dân hành động (PAP), nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội ở Singapore trong quá trình xây dựng quốc gia này

* Những đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án, công trình khoa học về quan hệ Việt Nam - Singapore, ASEAN:

Nguyễn Thị Diệu Hương(2017): Quan hệ Việt Nam - ASEAN trên lĩnh

vực chính trị - An ninh từ năm 1995 đến năm 2017, Luận văn Thạc sĩ, Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Luận văn sau khi trình bày một cách khái quát về tiến trình gia nhập ASEAN của Việt Nam trước năm 1991 đã đi sâu vào trình bày thực trạng quan hệ Việt nam - ASEAN trên lĩnh vực chính trị - an ninh từ năm 1995 đến 2017 và có đưa ra một số khuyến nghị đối với Việt Nam nhằm nâng cao vai trò của Việt Nam trong quan hệ hợp tác chính trị - An ninh với ASEAN trong thời gian tới

Phạm Phương Ly(2017): Quá trình xây dựng cộng đồng an ninh - chính trị của ASEAN từ năm 2007 đến năm 2017 và sự tham gia đóng góp của Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Luận văntập trung phân tích bối cảnh lịch sử, các nhân tố tác động đến quá trình hợp tác và liên kết ASEAN, quá trình hình thành trụ cột Cộng đồng an ninh -

Trang 10

chính trị của ASEAN, mục tiêu và lĩnh vực hợp tác của Cộng đồng An ninh - chính trị ASEAN, các khuôn khổ và lĩnh vực hợp tác chính trị - an ninh trong khối Trên cơ sở đó đưa ra một số nhận xét đánh giá tiến trình xây dựng cộng đồng an ninh - chính trị cũng như triển vọng và những khó khăn, thách thức đối với Việt Nam

* Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, có thể

kể đến:

Về quan hệ chính trị của Việt Nam - Singapore là vấn đề đã được nhiều học giả trong và ngoài Singapore nghiên cứu Trước hết, cần khẳng định trong những năm qua, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài và Việt Nam nói chung, trong đó có một số đề cập đến hoạt động đối ngoại Việt Nam

Một số công trình nghiên cứu, khi phân tích những bước điều chỉnh chính sách đối ngoại Việt Nam từ giữa thập niên 80 đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đã khẳng định những thành tựu đối ngoại chủ yếu của Việt Nam, đồng thời cũng chỉ ra một số điểm thay đổi chủ yếu trong quan hệ của Việt Nam, đồng thời cũng chỉ ra một số điểm thay đổi chủ yếu trong quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam Á

Tuy vậy, các công trình này mới chỉ tiếp cận một số mặt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam với ASEAN, chưa có được cái nhìn tổng thể, toàn diện

Ngoài ra, đề tài cũng tham khảo thêm những tác phẩm khác như:

Hussin Mutalib: Parties and Politics A Study of Opposition Parties and the PAP in Singapore (Đảng và Chính trị: Nghiên cứu của đảng Hành động Nhân dân và các đảng đối lập ở Singapore), Marshall Cavendish Academic, Hussin Mutalib, 2004;Public Administration & Public Policies: Aspects of good Governance, MDIS - Management Development Institute of Singapore (Hành chính công và chính sách công: Yếu tố quản lý, điều hành tốt của một

Trang 11

chính phủ, Viện Nghiên cứu Quản lý phát triển của Singapore) 2011; Carlyle Thayer - Ramses Amer: “Vietnam Foreign Policy in Transition”, The Journal

of Asian Studies, Vol.62, No.3, August 2003 (Carlyle Thayer - Ramses Amer:

“Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi”, Tạp chí Nghiên cứu châu Á, quyển 62, số 3, tháng 8-2003), v.v

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận thực tiễn; phân tích đánh giá thực trạng; đưa ra các khuyến nghị, dự báo

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ chính trị Việt Nam - Singapore trên lĩnh vực chính trị những năm đầu thế kỷ XXI

Trang 12

dụng những quan điểm cơ bản về đối ngoại, về đoàn kết và hợp tác quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tình hình thế giới, về hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại đổi mới (các văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI,XII và các Nghị quyết Hội nghị Trung ương về đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế), là nguồn cung cấp những căn cứ lý luận, những định hướng tư tưởng và khoa học để thực hiện đề tài

- Ngoài ra đề tài còn dựa trên khung lý thuyết về quan hệ quốc tế và những văn kiện, tài liệu chính thức, diễn văn của các nguyên thủ quốc gia hai nước về quan hệ Việt Nam - Singapore đây là nguồn cung cấp những căn cứ

để thực hiện đề tài

5.2.Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, liên ngành chủ yếu sau:

+ Phương pháp nghiên cứu kết hợp lịch sử với lôgic: Vận dụng quan

điểm lịch sử để nêu rõ tính kế thừa về quan hệ Việt Nam - Singapore qua các giai đoạn

+ Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Qua đó đem lại sự hiểu biết về hệ

thống các quan điểm đối ngoại, hệ thống các khái niệm trong nhận định tình hình khu vực và thế giới, về đường lối chính sách đối ngoại của nước ta thời

kỳ đổi mới, đặc biệt là từ năm 2001 đến nay và về chính sách đối ngoại của Singapore

+ Phương pháp nghiên cứu quốc tế: Đặt quan hệ của Việt Nam,

Singapore với các nước lớn, các khu vực chủ chốt và với Việt Nam trong những xu thế chung của quan hệ quốc tế, để từ đó phân tích các nhân tố tác động quá trình vận động của các mối quan hệ Việt Nam - Singapore

+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phân tích các sự kiện, các số liệu

và các cuộc tiếp xúc để đánh giá khách quan mặt được và mặt còn hạn chế

Trang 13

trong quan hệ Việt Nam - Singapore trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo

+ Phương pháp dự báo: Nêu xu hướng phát triển của tình hình thế giới

đến năm 2017 trên những cứ liệu khoa học tin cậy, từ đó đưa ra những dự báo

về triển vọng quan hệ chính trị Việt Nam - Singapore đến năm 2030

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần làm sâu sắc thêm nhận thức về quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại của Việt Nam và Singapore cũng như quan hệchính trị Việt Nam - Singapore những năm đầu thế kỷ XXI Góp phần cung cấp luận

cứ khoa học và thực tiễn đối với việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong củng cố, phát triển quan hệ với Singapore trong 10 năm tới đáp ứng yêu bảo đảm an ninh, phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích đối với những cán bộ hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại, học tập, giảng dạy, nghiên cứu về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Luân văn

có cấu trúc gồm 3 chương, tiết

Chương 1: Quan hệ chính trị Việt Nam - Singapore từ năm 2001 - 2016

Chương2: Thực trạng quan hệ Việt Nam - Singapore trên lĩnh vực chính trị từ năm 2001 đến năm 2017

Chương 3: Triển vọng và khuyến nghị quan hệ Việt Nam - Singapore trên lĩnh vực chính trị đến năm 2030

Trang 14

Chương 1 QUAN HỆ CHÍNH TRỊVIỆT NAM - SINGAPORE

TỪ NĂM 2001 ĐẾN 2016 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm

Theo Từ điển Tiếng việt:

Quan hệ là sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật

khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì có thể tác động đến

sự vật kia

Chính trị (nói tổng quan) là những vấn đề về tổ chức và điều khiển

bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước, và về quan hệ chính thức giữa

các nước với nhau

Dựa vào khái niệm của Từ điển Tiếng Việt, tác giả có đưa ra khái niệm về Quan hệ chính trị đó là sự gắn liền trong lĩnh vực chính trị về tổ chức và điều khiển bộ máy nhà nước với nhau, khiến lĩnh vực này có biến đổi, thây đổi

- Phương thức là cách dùng phương pháp

- Nội dung là mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa

đựng hoặ biểu hiện

1.1.2 Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Singapore

Trong năm qua, chúng ta đã thể hiện những nỗ lực rất lớn để đẩy mạnh

và làm sâu sắc hơn các mối quan hệ với các nước láng giềng, khu vực, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống Các đồng chí Lãnh đạo cấp cao nước

ta đã thực hiện nhiều chuyến thăm đến nhiều quốc gia khác nhau, tham dự đầy đủ các hội nghị quốc tế đa phương, tiến hành hàng trăm cuộc tiếp xúc song phương với Lãnh đạo, nguyên thủ các nước trên thế giới, đồng thời đón nhiều lượt nguyên thủ và thủ tướng các nước đến thăm Việt Nam

Trang 15

Nội dung các hoạt động đối ngoại của nước ta thời gian gần đây đều rất thực chất, thúc đẩy quan hệ với các đối tác ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững Thông qua các hoạt động kỷ niệm lớn trong quan hệ với Lào, Campuchia, các chuyến thăm cấp cao tới Indonesia, Mianma, Singapore, Thái Lan ta đã tăng cường mạnh mẽ tin cậy chính trị và đẩy mạnh hiệu quả hợp tác thực chất với các nước láng giềng khu vực Quan hệ với các đối tác chủ chốt khác như Trung Quốc, Nga, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ đều được nâng cao về chính trị và kinh tế Chúng ta đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện với Mianma và Canada

Chúng ta đã tiếp tục chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy vai trò trong các mối liên kết và hợp tác kinh tế khu vực và quốc tế, hoàn

thành tốt nhiệm vụ đối ngoại phục vụ phát triển của đất nước Các hoạt động

đối ngoại và hội nhập đã quán triệt rộng rãi Nghị quyết 06 của Trung ương khoá XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Ta cùng các nước thành viên kiên trì nền tảng

để tiếp tục thảo luận hướng tới một Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương toàn diện và tiến bộ (CPTPP), bảo đảm các lợi ích của Việt Nam Chúng ta cũng đang cùng các nước tích cực thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao vận động và thúc đẩy Liên minh Châu Âu đưa Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) sớm ký chính thức, tiến hành phê chuẩn

và triển khai thực hiện Lãnh đạo các nước đối tác cũng nhất trí cùng Việt Nam triển khai một cách hiệu quả Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu, Việt Nam - Hàn Quốc

Ngoài ra, trong năm qua công tác đối ngoại cũng đã được triển khai

toàn diện, hiệu quả và đạt nhiều kết quả trên nhiều lĩnh vực quan trọng

khác Ta đã tranh thủ quan hệ và hợp tác tốt với các nước để đẩy mạnh việc

Trang 16

bảo hộ công dân, ngư dân, bảo vệ địa vị pháp lý cho hơn 5.500 công dân và đưa gần 2.000 ngư dân bị nước ngoài bắt giữ về nước Ngoại giao văn hoá, thông tin đối ngoại tiếp tục nỗ lực nâng cao hình ảnh Việt Nam trên quốc tế Hiệu ứng từ tiềm năng tăng trưởng, từ các quyết tâm cải cách và hội nhập của Việt Nam thể hiện qua các hoạt động đối ngoại đa dạng, cùng các biện pháp quyết liệt xây dựng một Chính phủ kiến tạo đã góp một phần giúp cho các mối quan hệ kinh tế của chúng ta với các đối tác được tăng cường, các chỉ tiêu kinh tế đối ngoại của ta đều đạt và vượt mục tiêu Có thể nói cùng với những thành tựu xây dựng và bảo vệ đất nước, thành công của ngoại giao Việt Nam trong năm 2017 của đất nước đã góp phần gia tăng sức mạnh của đất nước, đưa thế chiến lược của Việt Nam ngày càng vững vàng để bước vào năm 2018, năm bản lề thực hiện các nhiệm vụ của Đại hội XII, nhằm tiếp tục tạo các chuyển biến tích cực theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát quan hệ Việt Nam - Singapore trước năm 2001

Sau hơn hai thập kỷ chạy đua vũ trang đầy tốn kém và nguy hiểm, tình hĩnh thế giới đã có những thay đổi căn bản khác trước Thế giới xuất hiện xu hướng hoà hoãn Đông - Tây với những cuộc thương lượng giữa hai nước đứng đầu hai cực là Liên Xô và Mỹ Vào những năm, 1980, Tổng thống Mỹ Reagan và các thế lực phản động quốc tế lại tăng cường chính sách chạy đua

vũ trang mạnh mẽ Tuy nhiên, vào cuối những năm 1980 đầu 1990 xu thế hoà hoãn lại được lặp lại Tháng 12/1989, tại cuộc gặp gỡ không chính thức ở Manta, Mỹ và Liên Xô đã cùng tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh kéo dài gần nửa thập kỷ Quan hệ Việt Nam - Singapore cũng chịu sự tác động mạnh của chiến tranh lạnh và bắt đầu có sự phát triển rất đáng ghi nhận khi chiến tranh lạnh kết thúc

Về kinh tế, thập niên 90 của thế kỷ 20 tiếp tục chứng kiến những triển vọng phát triển thương mại giữa Việt Nam - Singapore Đặc biệt, năm 1991,

Trang 17

Chính phủ Singapore đã xoá bỏ lệnh cấm đầu tư vào Việt Nam Tháng 4/1992, hai nước đã ký kết Hiệp định hàng hải về vận tải đường biển và thống nhất những quy chế có lợi nhất cho mỗi nước trong việc sử dụng hải cảng của nhau để phát triển thương mại.Với tư cách là thương cảng quốc tế quan trọng, việc Singapore mở rộng các ưu dãi với Việt Nam đã tạo điều kiện quan trọng nhất cho Việt Nam trong việc hội nhập vào thị trường thế giới Những ưu đãi này thúc đẩy ngoại thương giữa hai nước tăng lên một cách nhanh chóng, Singapore trở thành nước dẫn đầu về khối lượng buôn bán của các nước trong khu vực ASEAN với Việt Nam, Singapore thường xuyên chiếm 3/5 toàn bộ khối lượng buôn bán của các nước ASEAN với Việt Nam Năm 1993, Việt Nam xuất khẩu sang Singapore lượng hàng hoá có giá trị 568,932 SGD, nhập

từ Singapore lượng hàng hoá có giá trị 1.582,449 SGD

Bảng 1.2: Thương mại giữa Việt Nam - Singapore (1996 - 2000)

Nguồn: Cục phát triển thương mại Singapore các năm 1999 - 2001

Như vậy quan hệ kinh tế Việt Nam - Singapore giai đoạn này khá phát triển Các con số về trao đổi thương mại tuy không đáng kể so với Singapore nhưng lại tạo nên những tiền đề hết sức quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam

Xu thế hoà bình, hợp tác, tăng cường đối thoại sau Chiến tranh lạnh cộng với vấn đề Campuchia đang được giải quyết thuận lợi hứa hẹn một bước phát triển mới trong quan hệ Việt Nam - Singapore trong thế kỷ XXI

Trang 18

Quan hệ về chính trị ngoại giao: ngày 1/8/1973, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Singapore Đây là bước ngoặt lịch sử trong quan hệ giữa hai nước kể từ khi thành lập Từ hai nước khác nhau về chế độ chính trị, chính sách đối ngoại và chưa thiết lập quan hệ ngoại giao thì kể từ đây quan hệ hai nước bắt đầu bước sang một trang mới Tuy nhiên, giai đoạn từ 1973 - 1975 do Việt Nam vẫn còn duy trì hai chính quyền

và sự can thiệp của Mỹ vào Miền Nam Việt Nam nên mối quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Singapore vẫn chưa thực sự diễn ra mạnh mẽ Tháng 7/1976 Thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền đã có các cuộc tiếp xúc với các nhà lãnh đạo Singapore, khẳng định những nguyên tắc cơ bản của chính sách đối ngoại với khu vực của Việt Nam như: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau; cùng tồn tại hòa bình; không để lãnh thổ cho nước ngoài sử dụng; giải quyết các tranh chấp thông qua giải pháp thương lượng hòa bình; phát triển hợp tác khu vực… Những nguyên tắc này là cơ sở cho việc hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy quan hệ giữa hai nước phát triển

Từ tháng 1/1978 - 10/1978 lần lượt diễn ra các chuyến thăm ngoại giao của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh và Thứ trưởng Phạm Văn Đồng Sau các chuyến thăm này, hai bên đã ra tuyên bố chung về các nguyên tắc chỉ đạo quan hệ hợp tác cùng chung sống hòa bình giữa hai nước Ngoài

ra, Việt Nam còn cử một số phái đoàn để triển khai các hoạt động hợp tác cụ thể và đón các đoàn doanh nghiệp Singapore đến Việt Nam Những cuộc tiếp xúc này đã mở ra giai đoạn mới trong quá trình phát triển quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia, góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa quan hệ giữa Việt Nam - Singapore và các nước ASEAN nói chung, tạo điều kiện cho các bên hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau

Tháng 2/1990 tại diễn đàn kinh tế quốc tế ở Thụy Sỹ, phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt đã có cuộc gặp với Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu Tại đây, hai bên đã trao đổi, thảo luận về mối quan

Trang 19

hệ song phương giữa hai nhà nước và khi vấn đề Campuchia được giải quyết Ngày 23/10/1991, Hiệp định hòa bình về Campuchia được ký kết tại Paris Ngay trong tháng 10/1991, chính phủ Singapore đã tháo bỏ lệnh cấm vận kinh

tế đối với Việt Nam Sự kiện này khép lại quá trình đối đầu căng thẳng giữa Việt Nam - Singapore trong gần hai thập kỷ

Tháng 11/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt sang thăm chính thức Singapore đánh dấu bước phát triển của mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực nói chung trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại và mong muốn hòa bình Tháng 9/1992, Singapore cũng thiết lập Đại sứ quán tại Việt nam

Ngay sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp cao nhất, hàng loạt sự kiện ngoại giao đã diễn ra sau đó:

Tháng 1/1993, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Tế sang thăm và làm việc tại Singapore Trong dịp này, Việt Nam và Singapore đã ký Hiệp định hợp tác trong quản lý và bảo vệ môi trường

Tháng 8/1993 Bộ trưởng Bộ Giáo dục Singapore Lee Yock Suan thăm

và làm việc với Bộ Giáo dục - Đào tạo Việt Nam, mở ra thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác về giáo dục - đào tạo giữa hai nước

Đặc biệt là chuyến thăm của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười (10/1993) là sự kiện nổi bật trong quan hệ giữa hai nước sau 20 năm chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Tại buổi gặp mặt, hai bên đã trao đổi những quan điểm về các vấn đề quốc tế, vấn đề khu vực mà hai bên cùng quan tâm và về quan hệ hợp tác song phương giữa Việt Nam và Singapore

Về vấn đề Việt Nam chuẩn bị gia nhập ASEAN, Thủ tướng Goh Chok Tong nói: “Singapore thực sự vui mừng khi Việt Nam tham gia vào cộng đồng các nước Đông Nam Á”

Kể từ khi Việt Nam tham gia ngôi nhà chung ASEAN, hợp tác giữa hai nhà nước ngày càng được đẩy mạnh hơn thông qua các hoạt động của chính

Trang 20

phủ, các bộ, ngành chuyên môn của cả hai quốc gia như: chuyến thăm của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Singapore Tony Tan (11/1996); chuyến thăm của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Luật pháp Singapore Jayakumar (8/1996); cuộc gặp gỡ không chính thức tại Jakarta giữa Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt và thủ tướng Singapore Goh Chok Tong bên lề Hội nghị cấp cao không chính thức các nước ASEAN; Tháng 8/1997, Đoàn đại biểu Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Phan Thế Hùng - Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản đã có chuyến thăm, học hỏi và nghiên cứu kinh nghiệm của Đảng Hành động Nhân dân Singapore trong lĩnh vực chống tham nhũng

Năm 1998 việc ASEAN mở rộng và bao gồm cả hơn 10 quốc gia trong khu vực là minh chứng cho sự thay đổi hoàn toàn tư duy về quan hệ quốc tế Lối lập luận theo bạn thù và nặng về ý thức hệ đã nhường chỗ cho tư duy mới

về tập hợp lực lượng, đó là các nước trong khu vực mặc dù có sự khác biệt về

hệ thống chính trị và xã hội, vẫn có thể tập hợp nhau lại trong một cơ chế khu vực vì lợi ích của mỗi quốc gia và đồng thời vì lợi ích của cả hiệp hội

Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN tháng 7 năm 1995, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Nam Á Sự kiện này không chỉ xóa bỏ nghi kỵ giữa Việt Nam và các nước thành viên cũ,

mà nhất là khi nó còn chứng tỏ sự thay đổi cơ bản về tính chất của quan hệ quốc tế trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh Lợi ích dân tộc và sự gần gũi về địa lý đã giúp cho các nước vượt qua những khác biệt để cùng phát huy vai trò và lợi thế của một tổ chức khu vực trong quan hệ với các nước khác, đặc biệt là quan hệ với các nước lớn

Thế kỷ XXI, đánh dấu tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng diễn ra nhanh chóng Singapore là nước chủ trương đẩy nhanh quá trình liên kết ASEAN vừa vì lợi ích riêng vừa muốn giữ được vai trò chủ đạo của ASEAN trong quan hệ quốc tế tại khu vực Về phần mình Việt Nam cũng

Trang 21

thấy hội nhập khu vựa là yêu tiên hàng đầu trong “đường lối đối ngoại độc lập

tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển” và “chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam là bạn, đối tác, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực” Trong bối cảnh đó, hai nước càng tăng cường việc trao đổi đoàn cấp cao và các bộ như Ngoại giao, Công an và Quốc phòng, quan hệ hai nước ngày càng phát triển toàn diện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu theo tinh thần cùng có lợi và vì lợi ích chung của cả ASEAN

Việc hai nước quyết định miễn thị thực cho công dân của nhau vào tháng 12 năm 2003 mang một ý nghĩa chính trị to lớn không những tác động đến các nước trong khu vực, mà cả các nước khác quan tâm đến Đông Nam

Á Đồng thời quyết định này cũng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ kinh

tế và du lịch giữa hai nước

1.2.2 Tình hình thế giới và khu vực Đông Nam Á ảnh hưởng đến quan hệ Việt Nam - Singapore

- Tình hình thế giới

Nhìn nhận một cách tổng thể về tương quan sức mạnh toàn cầu, hầu hết các đánh giá đều cho rằng đến năm 2020, Mỹ vẫn giữ được vị trí vượt trội về sức mạnh so với các cường quốc khác Tuy nhiên, dù có ảnh hưởng lớn nhất trong hệ thống quốc tế trong vòng 10 - 20 năm tới nhưng vị trí, quyền lực của

Mỹ sẽ suy giảm tương đối so với nhiều thập kỷ qua; song song với đó là sự gia tăng sức mạnh của các cường quốc, các trung tâm quyền lực khác Trong

xu thế này, đáng chú ý nhất là ba sự trỗi dậy: thứ nhất là sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ - hai cường quốc châu Á; thứ hai là sự tái khẳng định vai trò của Liên minh châu Âu (EU) và thứ ba là sự trở lại của nước Nga hùng

mạnh hơn

Xét trên mối quan hệ giữa các trung tâm quyền lực lớn, thì hòa bình hợp tác được dự đoán sẽ vẫn là xu thế chủ đạo, do sự tính toán các mục tiêu,

Trang 22

ưu tiên trong chính sách đối nội, đối ngoại của các quốc gia; sự so sánh ưu thế cũng như những vấn đề mà các nước đang phải đối mặt; mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực; hay sự tìm kiếm vị trí, vai trò của mỗi nước trong khu vực và thế giới Mục tiêu chiến lược của Mỹ vẫn là duy trì vị trí siêu cường số 1 thế giới, tiếp tục tìm cách đóng vai trò chi phối quan hệ quốc tế, qua đó kiềm chế các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng khác Còn Trung Quốc, khẳng định vị trí cường quốc là mục tiêu lớn trong chính sách đối ngoại, từng bước vô hiệu hóa sức ép của Mỹ

Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 và toàn cầu hóa trở thành một đặc điểm nổi bật của thế giới trong giai đoạn hiện nay Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 4.0, với nội dung chủ yếu là là cách mạng trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano và công nghệ vật liệu mới, có đặc trưng nổi bật là sự xâm nhập ngày càng nhanh của tri thức và công nghệ cao và tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội trên thế giới Tri thức, khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thứ nhất, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, tạo ra bước ngoặt mạng ý nghĩa lịch sử hình thành một tiêu chí, thước đo hàng đầu về sự phát triển của mỗi quốc gia hiện nay Tuy nhiên, những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ lại chủ yếu thuộc về các nước phát triển do họ có thực lực kinh tế, tiềm lực khoa học hùng mạnh cùng với mạng lưới công ty xuyên quốc gia vươn rộng khắp hành tinh Các nước đang phát triển do những hạn chế về nhiều mặt nên không dễ dàng có thể tiếp cận được với những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, thậm chí đứng trước nguy cơ trở thành nơi thu nhận những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường được chuyển giao từ các nước phát triển

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa kinh tế xuất hiện với tư cách một cấp độ mới cao hơn về chất của quá trình quốc tế hóa của lực lượng sản xuất vốn có trước đó Toàn cầu hóa không

Trang 23

chỉ tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúc đẩy mối quan hệ liên quốc gia gia tăng cả về bề rộng lẫn bề sâu Tự do hóa kinh tế và cải cách thị trường trên toàn cầu diễn ra phổ biến Các nền kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng Toàn cầu hóa kích thích tăng tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy các doanh nghiệp cải tiến công nghệ và quản lý; cạnh tranh quốc tế và tự

do hóa thương mại trong các khối kinh tế khu vực và trên cả phạm vi toàn cầu tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại, sự thay đổi cơ cấu kinh tế - kỹ thuật và chính trị trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa, tạo nên một mạng lưới thương mại và chuyển dịch vốn đầu tư đan xen nhau chằng chịt, do vậy nền kinh tế mỗi nước ở mức độ khác nhau đều mang tính quốc tế Một mặt đưa lại các cơ hội để các quốc gia đang phát triển có khả năng hội nhập hữu hiệu vào hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng

và phát triển kinh tế - xã hội; nhưng mặt khác toàn cầu hóa cũng có xu hướng làm tăng khoảng cách phát triển giữa các quốc gia, do vậy nó cũng đặt ra nhiều thách thức lớn đối với các nước đang phát triển

Toàn cầu hóa là một quá trình đầy mâu thuẫn, trước hết đó là mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với bất công xã hội, với sự suy thoái đạo đức, phai nhạt bản sắc văn hóa; mâu thuẫn áp lực của tư bản độc quyền xuyên quốc gia với sự lựa chọn con đường đi lên các nước đang phát triển; mâu thuẫn giữa các lực lượng lợi dụng toàn cầu hóa để mở rộng sự bóc lột về kinh

tế, áp đặt về chính trị với các lực lượng lợi dụng toàn cầu hóa để mở rộng sự bóc lột về kinh tế, áp đặt về chính trị với các lực lượng đấu tranh chống toàn cầu phi nhân bản, bảo vệ độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội…

Trước những biến đổi to lớn trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hóa, tất cả các nước trên thế giới đều tiến hành điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đổi mới chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tạo ra sự thông thoáng cho việc trao đổi

Trang 24

hàng hóa dịch vụ, luân chuyển vốn, lao động và kỹ thuật trên phạm vi toàn cầu, mở đường cho kinh tế phát triển

Mỗi nước cũng tích cực tham gia các cơ cấu tổ chức kinh tế - thương mại và tài chính - tiền tệ toàn cầu, thích ứng với “luật chơi chung” của thế giới Trong đó, việc tham gia Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) trước đây và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sau đó có ý nghĩa hết sức quan trọng WTO đảm nhiệm chức năng điều tiết không chỉ trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, mà còn mở rộng sang cả thương mại dịch vụ, đầu

tư, quyền sở hữu trí tuệ

Cùng với sự lan tỏa mạnh mẽ của toàn cầu hóa, quá trình hợp tác liên kết khu vực cũng tiếp tục phát triển rất sôi động tại khắp các châu lục Quá trình này đã đưa đến sự xuất hiện hoặc nâng cấp của hàng loạt các tổ chức hợp tác quốc tế về kinh tế, thương mại Xu thế phát triển hợp tác khu vực đều hướng tới mục tiêu đẩy mạnh hợp tác, thực hiện tự do hóa thương mại, đầu tư

và dịch vụ, tạo lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế Mỗi tổ chức hợp tác liên kết khu vực đều chú trọng lựa chọn những lĩnh vực mà mình có lợi thế hơn để tập trung nguồn lực, thúc đẩy hợp tác theo chiều sâu, theo những phương thức

đa dạng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong cạnh tranh riêng cho khu vực Đây là xu thế vừa thuận chiều, vừa ngược chiều với quá trình toàn cầu hóa kinh tế Thuận chiều theo nghĩa khu vực hóa là một bước, một khâu đệm trong lộ trình gia nhập vào hệ thống kinh tế thế giới của mỗi nước Ngược chiều ở chỗ với các quy tắc mở cửa tự do hóa và quan hệ bình đẳng giữa các nước trong quá trình toàn cầu hóa, thì khu vực hóa lại có nghĩa là phân chia thế giới theo khối, tạo ra sự phân biệt đối xử mang tính khu vực trong cuộc cạnh tranh trên những cơ sở không ngang bằng giữa các nước trong một khu vực với các nước và nhóm nước ngoài khu vực hai chiều thuận - nghịch của tiến trình khu vực hóa cho thấy bên trong tiến trình này, xét trên quan điểm

Trang 25

cạnh tranh khu vực cũng như lợi ích của các nước tham gia, đang đặt ra nhiều vấn đề

Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, đã có nhiều biến chuyển quan trọng trong quan hệ quốc tế, cán cân quyền lực cũng đã có nhiều sự thay đổi giữa các quốc gia, với sự nổi lên nhanh chóng của “người khổng lồ mới” - Trung Quốc Chính sự phát triển nhanh chóng của đất nước này, đã đưa Trung Quốc trở thành một đối thủ cạnh tranh vị trí dẫn đầu với Mỹ Tuy nhiên, Mỹ luôn thể hiện được vị thế siêu cường duy nhất mà chưa một nước nào có thể qua mặt [11, tr.209]

Tóm lại, tuy có những sự chuyển dịch mạnh mẽ trong tương quan so sánh lực lượng nhưng bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, cục diện thế giới đa cực ngày càng bộc lộ rõ nét hơn cùng với sự phát triển của xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế, giao lưu quốc tế được đẩy mạnh, ưu tiên phát triển kinh tế Phương thức tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế trở nên rất cơ động, linh hoạt, vừa có bước hợp tác vừa có đấu tranh [22, tr.29]

- Tình hình khu vực:

Một yếu tố quan trọng có tác động tới mối quan hệ chính trị Việt Nam - Singapore đó chính là tình hình khu vực Đông Nam Á, Châu Á-Thái Bình Dương Đây là khu vực có vị trí địa chiến lược quan trọng và được coi là khu vực phát triển kinh tế năng động nhất thế giới, khu vực này cũng là nơi được đánh giá là tương đối ổn định về chính trị Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển nổi lên như một xu thế chủ đạo ở đây khi các nước trong khu vực đều muốn có một môi trường hòa bình để tập trung phát triển kinh tế Đây là điều kiện và là cơ sở hết sức quan trọng thúc đẩy mối quan hệ ngoại giao trên tất

cả các mặt giữa các nước trong khu vực, Việt Nam và Singapore cũng không

nằm ngoài xu thế đó

Đông Nam Á là chỗ giao nhau của nhiều mảng địa chất có núi lửa và động đất hoạt động mạnh Các quốc gia của khu vực được chia ra làm

Trang 26

hai nhóm chính: Myanma, Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam nằm

ở Đông Nam Á lục địa, còn gọi bán đảo Trung Ấn, các quốc gia còn lại tạo thành Đông Nam Á hải đảo Các quốc gia thuộc Đông Nam Á hải đảo: Malaysia, Singapore, Brunei, Indonesia, Philipine, Đông Timor Trong 11 nước Đông Nam Á, thì có 10 quốc gia có hải giới, trừ Lào Philippines và Singapore là nước trong khu vực này không có địa giới chung với bất kỳ quốc gia nào

Được thành lập từ năm 1967 với 5 thành viên ban đầu, đến nay, sau 50 năm, ASEAN đã trở thành một cộng đồng khu vực thành công, được cộng đồng thế giới ghi nhận và được coi là một hình mẫu cho nhiều khu vực mong muốn thúc đẩy hợp tác và liên kết, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh 50 năm qua cũng đã chứng kiến nhiều thay đổi trong quan

hệ Việt Nam - ASEAN Trước khi hội nhập ASEAN, Quan hệ Việt Nam và ASEAN chưa thực sự tốt đẹp, còn nhiều nghi kỵ, ngờ vực Tuy nhiên, khi trở thành thành viên của ASEAN, Việt Nam đã thể hiện được vai trò tích cực, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của ASEAN, đặc biệt là trên lĩnh vực chính trị an ninh

Trên con đường phát triển, vị trí chiến lược của ASEAN ngày càng trở nên quan trọng trên bản đồ chính trị thế giới Với diện tích khoảng 4,7 triệu

triển kinh tế- xã hội khác nhau Dân số của ASEAN hiên lên tới hơn 500 triệu người, trong đó 85% dân số tập trung ở 4 nước là Indonesia, Việt Nam, Thái Lan và Philippines Đây cũng là 4 nước trong số 22 nước trên thế giới có dân

số trên 50 triệu người Mật độ dân số trung bình của ASEAN khoảng trên 100

731 tỷ USD, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm khoảng 339,2 tỷ USD, nền

Trang 27

kinh tế đang từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh Cùng với sự phát triển kinh tế, ASEAN với dân số đông hơn Bắc Mỹ và Tây Âu trở thành một thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng chưa được khai thác một cách triệt để

Xét trên phương diện địa - chiến lược, các nước ASEAN án ngữ vị trí

vô cùng quan trọng với hệ thống cảng biển, eo biển và đường hàng hải thuận tiện nhất từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương Khu vực này trở thành mắt khâu then chốt của cầu nối giữa hai châu lục Âu - Á, giữa Tây Nam Á, trung cận Đông, Bắc Phi với Đông Bắc Á và Bắc Mỹ Do vậy, tuy là những nước không lớn hoặc rất nhỏ, nhưng đây là khu vực chiến lược có quan hệ về lợi ích với tất cả các các cường quốc trên thế giới và do đó khu vực các nước ASEAN cũng trở thành địa bàn giành giật ảnh hưởng của nhiều nước lớn từ rất sớm trong lịch sử

Chiều sâu văn hóa đã hun đúc tinh thần dân tộc quật cường, mà nhờ đó các nước Đông Nam Á đã lần lượt giành độc lập sau quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ chống ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân Sự vận động của lịch

sử các nước trong khu vực đã từng chứng tỏ, sau khi giành được quyền tự quyết định vận mệnh của mình, các quốc gia - dân tộc ở đây đều chú trọng chấn hưng và mở mang mối bang giao láng giềng thân thiện, coi đó là tiền đề

để cho sự hưng thịnh của mỗi quốc gia Vì vậy, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đã đưa các nước ASEAN đến trước những cơ hội thuận lợi cho bước hội

tụ mới trong hợp tác và phát triển; đồng thời nâng cao vị thế của ASEAN, nhất là từ khi Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar lần lượt trở thành hội viên chính thức, ASEAN có quy mô bao trùm toàn bộ các nước Đông Nam Á lúc đó, càng góp phần tăng cường vị trí chiến lược của hiệp hội

Bên cạnh đó những chuyển biến tích cực trong đời sống an ninh, chính trị các nước ASEAN sau Chiến tranh lạnh đã tác động mạnh đến quan hệ hợp tác quốc tế của hiệp hội Như vậy, chính quá trình phát triển của ASEAN trong tính năng động của nó đã và đang làm thay đổi vai trò, vị trí quốc tế của

Trang 28

khu vực Đông Nam Á ASEAN ngày càng trở nên quan trọng hơn không chỉ xét trên góc độ địa - chính trị và quân sự - chiến lược như trước đây,mà cả ý nghĩa địa - kinh tế và địa - lịch sử, văn hóa đối với thế giới đương đại

Mặt khác, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng là khu vực còn tồn tại nhiều tranh chấp và nhiều vấn đề phức tạp do lịch sử để lại, đe dọa tới an ninh hòa bình ở khu vực Có thể kể tới như vấn đề bán đảo Triều Tiên, tranh chấp trên Biển Đông, tranh chấp biên giới Nga - Trung…Cùng với đó là các nguy cơ an ninh mới phát sinh trong tiến trình khu vực hóa và toàn cầu hóa như căng thẳng chính trị, mẫu thuẫn xung đột, vấn đề môi trường, an ninh kinh tế, khủng bố quốc tế, tội phạm quốc tế, buôn bán vũ khí…

1.2.3 Tình hình Việt Nam - Singapore từ năm 2001 -2016

Hơn 40 năm qua, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Singapore đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật Vào tháng 12 năm 2003 hai nước quyết định miễn thị thực cho công dân của nhau, quyết định mang một ý nghĩa chính trị

to lớn không những tác động đến các nước trong khu vực, mà cả các nước khác quan tâm đến Đông Nam Á

Đặc biệt, trong những năm đầu thế kỷ XXI, quan hệ hai nước phát triển hết sức tốt đẹp, ngày càng hiệu quả sau khi hai nước ký “Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện trong thế kỷ XXI" nhân chuyến thăm và làm việc tại Singapore của Thủ tướng Phan Văn Khải (3/2004) và Hiệp định khung về kết nối hai nền kinh tế Việt Nam - Singapore (12/2005) trên 6 lĩnh vực hợp tác là: tài chính, đầu tư, thương mại - dịch vụ, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông - công nghệ thông tin và giáo dục - đào tạo Từ đó đến nay, quan

hệ hai nước đã có những bước phát triển hết sức mạnh mẽ và toàn diện Singapore luôn là một trong những đối tác thương mại, nhà đầu tư lớn nhất của Việt Nam

Trên cơ sở những thành tựu quan trọng đạt được giữa hai nước 40 năm (1973 - 2013), nhận thấy mối quan hệ nồng ấm và đã chín muồi, ngày

Trang 29

11/9/2013, hai bên đã chính thức ký nâng cấp quan hệ Hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam - Singapore thành Quan hệ Đối tác Chiến lược nhân dịp Thủ tướng Lý Hiển Long sang thăm và làm việc tại Việt Nam Nội hàm Quan

hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam - Singapore bao trùm 5 trụ cột, đó là: 1) Làm sâu sắc thêm quan hệ chính trị tin cậy lẫn nhau; 2) Tăng cường hợp tác kinh tế; 3) Nâng cao hợp tác an ninh quốc phòng; 4) Thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực khác (giáo dục, pháp luật, y tế, văn hóa - nghệ thuật - thể thao); 5) Tăng cường hợp tác tại các diễn đàn quốc tế và khu vực

Đây là dấu mốc quan trọng có ý nghĩa cả về thời gian, không gian và tính chất quan hệ cũng như ý nghĩa thời sự của sự hợp tác giữa hai nước Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và yếu tố ảnh hưởng của người láng giềng khổng lồ ngày càng gia tăng đối với khu vực và thế giới, nhất là vấn đề tranh chấp trên biển Đông giữa các nước khu vực Đông Nam Á với Trung Quốc; thêm vào đó là sự quan tâm ngày càng nhiều của các nước lớn đối với địa - chính trị khu vực châu Á nói chung, với các nước Đông Nam Á và cụ thể là ASEAN nói riêng

Thế kỷ XXI, đánh dấu tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng diễn ra nhanh chóng Singapore là nước chủ trương đẩy nhanh quá trình liên kết ASEAN vừa vì lợi ích riêng vừa muốn giữ được vai trò chủ đạo của ASEAN trong quan hệ quốc tế tại khu vực Về phần mình Việt Nam cũng thấy hội nhập khu vựa là yêu tiên hàng đầu trong “đường lối đối ngoại độc lập

tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển” và “chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam là bạn, đối tác, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực” Trong bối cảnh đó, hai nước càng tăng cường việc trao đổi đoàn cấp cao và các bộ như Ngoại giao, Công an và Quốc phòng, quan hệ hai nước ngày càng phát triển toàn diện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu theo tinh thần cùng có lợi và vì lợi ích chung của cả ASEAN

Trang 30

Nhìn nhận một cách tổng thể về tương quan sức mạnh toàn cầu, hầu hết các đánh giá đều cho rằng đến năm 2020, Mỹ vẫn giữ được vị trí vượt trội về sức mạnh so với các cường quốc khác Tuy nhiên, dù có ảnh hưởng lớn nhất trong hệ thống quốc tế trong vòng 10- 20 năm tới nhưng vị trí, quyền lực của

Mỹ sẽ suy giảm tương đối so với nhiều thập kỷ qua; song song với đó là sự gia tăng sức mạnh của các cường quốc, các trung tâm quyền lực khác Trong

xu thế này, đáng chú ý nhất là ba sự trỗi dậy: thứ nhất là sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ - hai cường quốc châu Á; thứ hai là sự tái khẳng định vai trò của Liên minh châu Âu (EU) và thứ ba là sự trở lại của nước Nga hùng

Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 và toàn cầu hóa trở thành một đặc điểm nổi bật của thế giới trong giai đoạn hiện nay Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 4.0, với nội dung chủ yếu là là cách mạng trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano và công nghệ vật liệu mới, có đặc trưng nổi bật là sự xâm nhập ngày càng nhanh của tri thức và công nghệ cao và tất cả các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội trên thế giới Tri thức, khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thứ nhất, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển

Trang 31

của mỗi quốc gia, tạo ra bước ngoặt mạng ý nghĩa lịch sử hình thành một tiêu chí, thước đo hàng đầu về sự phát triển của mỗi quốc gia hiện nay Tuy nhiên, những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ lại chủ yếu thuộc về các nước phát triển do họ có thực lực kinh tế, tiềm lực khoa học hùng mạnh cùng với mạng lưới công ty xuyên quốc gia vươn rộng khắp hành tinh Các nước đang phát triển do những hạn chế về nhiều mặt nên không dễ dàng có thể tiếp cận được với những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, thậm chí đứng trướcnguy cơ trở thành nơi thu nhận những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường được chuyển giao từ các nước phát triển

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa kinh tế xuất hiện với tư cách một cấp độ mới cao hơn về chất của quá trình quốc tế hóa của lực lượng sản xuất vốn có trước đó Toàn cầu hóa không chỉ tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúc đẩy mối quan hệ liên quốc gia gia tăng cả về bề rộng lẫn bề sâu Tự do hóa kinh tế và cải cáchthị trường trên toàn cầu diễn ra phổ biến Các nền kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng Toàn cầu hóa kích thích tăng tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy các doanh nghiệp cải tiến công nghệ và quản lý; cạnh tranh quốc tế

và tự do hóa thương mại trong các khối kinh tế khu vực và trên cả phạm vi toàn cầu tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại, sự thay đổi cơ cấu kinh tế -

kỹ thuật và chính trị trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa, tạo nên một mạng lưới thương mại và chuyển dịch vốn đầu tư đan xen nhau chằng chịt, do vậy nền kinh tế mỗi nước ở mức độ khác nhau đều mang tính quốc tế Một mặt đưa lại các cơ hội để các quốc gia đang phát triển có khả năng hội nhập hữu hiệu vào hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội; nhưng mặt khác toàn cầu hóa cũng có xu hướng làm tăng khoảng cách phát triển giữa các quốc gia, do vậy nó cũng đặt

ra nhiều thách thức lớn đối với các nước đang phát triển

Trang 32

Toàn cầu hóa là một quá trình đầy mâu thuẫn, trước hết đó là mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với bất công xã hội, với sự suy thoái đạo đức, phai nhạt bản sắc văn hóa; mâu thuẫn áp lực của tư bản độc quyền xuyên quốc gia với sự lựa chọn con đường đi lên các nước đang phát triển; mâu thuẫn giữa các lực lượng lợi dụng toàn cầu hóa để mở rộng sự bóc lột về kinh

tế, áp đặt về chính trị với các lực lượng lợi dụng toàn cầu hóa để mở rộng sự bóc lột về kinh tế, áp đặt về chính trị với các lực lượng đấu tranh chống toàn cầu phi nhân bản, bảo vệ độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội…

Trước những biến đổi to lớn trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hóa, tất cả các nước trên thế giới đều tiến hành điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đổi mới chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tạo ra sự thông thoáng cho việc trao đổi hàng hóa dịch vụ, luân chuyển vốn, lao động và kỹ thuật trên phạm vi toàn cầu, mở đường cho kinh tế phát triển

Mỗi nước cũng tích cực tham gia các cơ cấu tổ chức kinh tế - thương mại và tài chính- tiền tệ toàn cầu, thích ứng với “luật chơi chung” của thế giới Trong đó, việc tham gia Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) trước đây và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sau đó có ý nghĩa hết sức quan trọng WTOđảm nhiệm chức năng điều tiết không chỉ trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, mà còn mở rộng sang cả thương mại dịch vụ, đầu

tư, quyền sở hữu trí tuệ

Cùng với sự lan tỏa mạnh mẽ của toàn cầu hóa, quá trình hợp tác liên kết khu vực cũng tiếp tục phát triển rất sôi động tại khắp các châu lục Quá trình này đã đưa đến sự xuất hiện hoặc nâng cấp của hàng loạt các tổ chức hợp tác quốc tế về kinh tế, thương mại Xu thế phát triển hợp tác khu vực đều hướng tới mục tiêu đẩy mạnh hợp tác, thực hiện tự do hóa thương mại, đầu tư

và dịch vụ, tạo lợi thế cạnh tranh trên trường quốc tế Mỗi tổ chức hợp tác liên kết khu vực đều chú trọng lựa chọn những lĩnh vực mà mình có lợi thế hơn để

Trang 33

tập trung nguồn lực, thúc đẩy hợp tác theo chiều sâu, theo những phương thức

đa dạng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong cạnh tranh riêng cho khu vực Đây là xu thế vừa thuận chiều, vừa ngược chiều với quá trình toàn cầu hóa kinh tế Thuận chiều theo nghĩa khu vực hóa là một bước, một khâu đệm trong lộ trình gia nhập vào hệ thống kinh tế thế giới của mỗi nước Ngược chiều ở chỗ với các quy tắc mở cửa tự do hóa và quan hệ bình đẳng giữa các nước trong quá trình toàn cầu hóa, thì khu vực hóa lại có nghĩa là phân chia thế giới theo khối, tạo ra sự phân biệt đối xử mang tính khu vực trong cuộc cạnh tranh trên những cơ sở không ngang bằng giữa các nước trong một khu vực với các nước và nhóm nước ngoài khu vực hai chiều thuận - nghịch của tiến trình khu vực hóa cho thấy bên trong tiến trình này, xét trên quan điểm cạnh tranh khu vực cũng như lợi ích của các nước tham gia, đang đặt ra nhiều vấn đề

Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, đã có nhiều biến chuyển quan trọng trong quan hệ quốc tế, cán cân quyền lực cũng đã có nhiều sự thay đổi giữa các quốc gia, với sự nổi lên nhanh chóng của “người khổng lồ mới” - Trung Quốc Chính sự phát triển nhanh chóng của đất nước này, đã đưa Trung Quốc trở thành một đối thủ cạnh tranh vị trí dẫn đầu với Mỹ Tuy nhiên, Mỹ luôn thể hiện được vị thế siêu cường duy nhất mà chưa một nước nào có thể qua mặt [11, tr.209]

Tóm lại, tuy có những sự chuyển dịch mạnh mẽ trong tương quan so sánh lực lượng nhưng bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, cục diện thế giới đa cực ngày càng bộc lộ rõ nét hơn cùng với sự phát triển của xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế, giao lưu quốc tế được đẩy mạnh, ưu tiên phát triển kinh tế Phương thức tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế trở nên rất cơ động, linh hoạt, vừa có bước hợp tác vừa có đấu tranh [22, tr.29]

Trang 34

và khu vực vì lợi ích của cộng đồng quốc tế và của từng quốc gia, tiếp tục diễn ra phức tạp

Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á, tiếp tục

là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa kinh tế - chính trị chiến lược ngày càng quan trọng trên thế giới Đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn, có những yếu tố tiềm ẩn bất ổn Tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiếp tục diễn

ra gay gắt, phức tạp ASEAN trở thành cộng đồng, tiếp tục phát huy vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác, liên kết kinh tế trong khu vực, nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức cả bên trong và bên ngoài Đại hội XII của Đảng ta đã nhận định:

Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri

Trang 35

thức tiếp tục được đẩy mạnh Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á đã trở thành một cộng đồng, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa - kinh tế - chính trị chiến lược ngày càng quan trọng; đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn,

có nhiều nhân tố bất ổn; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ VIỆT NAM - SINGAPORE

TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ TỪ NĂM 2001 – 2016

2.1 Đối thoại và hợp tác song phương Việt Nam - Singapore

2.1.1 Thể hiện thông qua quan hệ Đảng

Cùng với sự tăng cường và phát triển mối quan hệ giữa hai Nhà nước, quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với những đảng phái chính trị hàng đầu ở Singapore cũng ngày càng tốt đẹp

Về mặt tổ chức, hệ thống chính trị Singapore tồn tại cơ chế đa đảng nhưng chỉ có một đảng nổi bật Mặc dù có rất nhiều đảng chính trị tồn tại ở Singapore, nhưng chỉ có một đảng mạnh tuyệt đối liên tục nắm quyền trong suốt hơn 50 năm qua Các đảng đối lập hoạt động rất yếu ớt và không đồng nhất, phần nhiều trong đó hiện chỉ tồn tại trên giấy tờ hoặc là công cụ cho những người đứng đầu Việc có nhiều đảng phái chính trị hoạt động không nói lên được sức mạnh của phe đối lập trong hệ thống chính trị Singapore Ngoài Đảng Nhân dân hành động(PAP), các đảng khác không có ảnh hưởng

gì đáng kể đến hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị Singapore là hệ thống chính trị đa nguyên, đa đảng với một đảng nổi trội có vị trí vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Một đảng lớn là nhân tố quan trọng bảo đảm ổn định chính trị - xã hội ở Singapore trong thời gian lâu dài PAP là một đảng chính trị thành công trong việc lãnh đạo đất nước Mặc dù là đảng nắm quyền điều hành đất nước trong thời gian dài nhưng PAP vẫn luôn lớn mạnh và luôn luôn thay đổi để đáp ứng với những thay đổi của tình hình trong nước và quốc tế

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền tại Việt Nam hiện nay theo Hiến pháp (bản 2013), đồng thời là chính đảng duy nhất được phép hoạt động trên đất nước Việt Nam, và được đảm bảo bằng điều 4 Hiến pháp năm

Trang 37

1980 Theo Cương lĩnh và Điều lệ chính thức được công bố, Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam

cho mọi hoạt động của Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng chính

trị Đảng chính trị là một khái niệm của khoa học chính trị Cụ thể là của Chính trị học Nó nói về việc tập hợp của những người cùng chí hướng (nhất

là chí hướng lợi ích) lấy trung tâm là lực lượng của một giai tầng xã hội cụ thể

mà khoa học mácxit xác định là một giai cấp nhất định

Một trong những phương thức biểu hiện quan trọng trong quan hệ chính trị quốc tế song phương đó là quan hệ giữa hệ thống các Đảng phái chính trị của hai nước với nhau Đảng phái chính trị (sau đây gọi là Đảng) là một thiết chế tổ chức quy tụ những người có chung lợi ích và khuynh hướng

tư tưởng nhằm vươn tới quyền lực chính trị để thực hiện hóa lợi ích cũng như khuynh hướng đó trên quy mô xã hội

Trong quan hệ chính trị quốc tế song phương hiện nay, quan hệ Đảng luôn đóng vai trò hết sức quan trọng, là một thành tố phối hợp chặt chẽ với quan hệ về mặt Nhà nước và giữa các tổ chức chính trị - xã hội để thực hiện tốt nhất lợi ích quốc gia, dân tộc

Nhận thức được tầm quan trọng về vai trò của quan hệ Đảng nên hiện nay trong quan hệ chính trị quốc tế song phương, các quốc gia đều hết sức quan tâm và phát triển quan hệ này Tùy vào từng trường hợp và bối cảnh khác nhau hai nước thường tiến hành song song các cuộc gặp gỡ cấp cao về mặt Nhà nước và Đảng nhằm thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ chính trị giữa hai nước, trên cơ sở đó góp phần đẩy mạnh sự hợp tác trên tất cả các lĩnh vực Ngày 12-14/9/2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long; hội kiến Tổng thống Tony Tan Keng Yam; Chủ tịch Đảng Hành động Nhân dân Khaw Boon Wan.Qua các cuộc hội đàm, hội kiến, các nhà lãnh đạo cấp cao hai nước đã trao đổi về những

Trang 38

phương hướng và biện pháp lớn, nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam-Singapore cả trên phương diện song phương và đa phương

Hai bên nhất trí cao về chủ trương nâng quan hệ hai nước lên tầm đối tác chiến lược và tích cực chuẩn bị để ký kết Hiệp định về Đối tác Chiến lược Việt Nam-Singapore vào năm 2013 nhân dịp kỷ niệm 40 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước

Hai quốc gia cũng đã nhất trí trong thời gian tới tiến hành thường xuyên hoạt động trao đổi đoàn các cấp, nhằm tiếp tục tăng cường tình hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời không ngừng nâng cao vai trò, phát huy hiệu quả của các cơ chế hợp tác giữa hai Đảng cầm quyền, hai Quốc hội Hai bên nhất trí sẽ tăng cường hợp tác, phối hợp tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, tích cực góp phần tăng cường đoàn kết, hợp tác, xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN vào năm 2015

Ngày 23/3/2017 trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Singapore

Lý Hiển Long ông đã thể hiện quan điểm coi trọng thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược với Việt Nam, về phía Việt Nam Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng những thành quả to lớn nhân dân Singapore đạt được dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Lý Hiển Long và Đảng Hành động Nhân dân Singapore, hai nước cần tiếp tục chú trọng triển khai nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược, đưa hợp tác giữa hai nước đi vào chiều sâu, thực chất theo đúng tinh thần quan hệ Đối tác chiến lược

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá cao sự hỗ trợ quý báu trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực mà Chính phủ Singapore dành cho Việt Nam; đánh giá cao quan hệ hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam

và Đảng Hành động Nhân dân Singapore; mong hai Đảng tiếp tục hợp tác chặt chẽ hơn thông qua trao đổi đoàn và chia sẻ kinh nghiệm

Trang 39

2.1.2 Thông qua đối ngoại Đảng

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là đảng lãnh đạo, vừa là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo mọi mặt đời sống chính trị xã hội Ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có các tổ chức chính trị xã hội khác: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội có chức năng phản biện, giám sát xã hội, góp phần vào việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Ở Singapore, về mặt tổ chức, hệ thống chính trị của Singapore tồn tại

cơ chế đa đảng nhưng chỉ có một đảng chính trị tồn tại ở Singapore và có quyền mạnh tuyệt đối liên tục lắm quyền trong suốt hơn 50 năm qua Các đảng đối lập hoạt động rất yếu ớt và không đồng nhất, phần nhiều trong số đó hiện chỉ tồn tại trên giấy tờ hoặc là công cụ cho những người đứng đầu Việc

có nhiều đảng phái chính trị hoạt động không nói lên được sức mạnh của phe đối lập trong hệ thống chính trị Singapore Ngoài Đảng Nhân dân hành động (PAP) các đảng khác không có ảnh hưởng gì đáng kể đến hệ thống chính trị Đảng Hành động Nhân dân (PAP) ban đầu tuân theo kiểu một tổ chức đảng Leninist truyền thống, với lực lượng tiên phong từ những nhà hoạt động trong phong trào công nhân và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Ban chấp hành Đảng sau đó trục xuất phái tả khuynh vào năm 1958, đưa ý thức hệ cơ bản của đảng chuyển sang trung dung, và sau đó trong thập niên

1960 thì chuyển xa hơn về hữu khuynh Vào lúc đầu, có khoảng 500 cán bộ

nòng cốt và đăng ký cán bộ nòng cốt được giữ trong bí mật Năm

Trang 40

1988, Hoàng Căn Thành tiết lộ rằng có trên 1.000 cán bộ nòng cốt Các thành viên nòng cốt có quyền tham dự các đại hội đảng và bầu cử cùng ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương (CEC), thể chế tối cao của đảng Để trở thành một cán bộ nòng cốt, một đảng viên đầu tiên cần phải được nghị viên trong chi bộ đề cử Ứng cử viên sai đó trải qua ba phiên phỏng vấn, mỗi phiên với bốn hoặc năm bộ trưởng hoặc nghị viên, và sau đó được Ban Chấp hành Trung ương bổ nhiệm Khoảng 100 ứng cử viên được đề cử mỗi năm

Quyền lực chính trị trong đảng tập trung tại Ban Chấp hành Trung ương (CEC), do Tổng Bí thư lãnh đạo, nhân vật này là thủ lĩnh của đảng Do Đảng Nhân dân hành động thắng cử trong mội kỳ tổng tuyển cử kể từ năm

1959, Thủ tướng Singapore luôn là Tổng bí thư của Đảng Nhân dân hành động kể từ đó Hầu hết thành viên của Ban chấp hành Trung ương cũng là các thành viên nội các Từ năm 1957 trở đi, quy tắc được đưa ra là Ban chấp hành Trung ương sắp mãn nhiệm sẽ tiến cử một danh sách các ứng cử viên, từ đó các thành viên nóng cốt có thể bỏ phiếu bầu Ban chấp hành Trung ương khóa tới Điều này bị cải biến gần đây khi Ban Chấp hành Trung ương đề cử tám thành viên và hội nghị đảng đoàn chọn mười thành viên còn lại

Trên phương diện lịch sử, vị trí Tổng bí thư không đương nhiên là giữ chức Thủ tướng Thay vào đó, Ban Chấp hành Trung ương tổ chức một cuộc bầu cử để lựa chọn Thủ tướng Từng có một cuộc tranh đua giữa Tổng Bí thư

Lý Quang Diệu và thủ quỹ ngân sách của PAP là Vương Vĩnh Nguyên Lý Quang Diệu giành chiến thắng và trở thành thủ tướng đầu tiên của Singapore Kể từ đó, theo truyền thống thì thủ tướng của Singapore là Tổng

Bí thư của Đảng

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ giữa hai Nhà nước, Chính phủ, quan hệ giữa giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng Nhân dân hành động (PAP) từ năm 2001 đến nay cũng phát triển tốt đẹp

Ngày đăng: 24/11/2021, 23:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w