Mặc dù đóng vai trò quan trọng nhất trong chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt, bản thân các hộ nông dân lại không ý thức được tiềm năng của mình mà còn phụthuộc vào trung gian để tiêu thụ sản phẩm
Trang 1-CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”
TÊN CÔNG TRÌNH:
HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG HOA ĐÀ LẠT
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
Trang 2TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
I Lý do chọn đề tài
Đúng với tên gọi “Thành phố ngàn hoa”, thành phố Đà Lạt nổi tiếng với khí hậu trong lành, mát mẻ, là thiên đường tụ hội của trăm hoa đua sắc Những đóa hoa rực rỡkhông chỉ mang đến vẻ đẹp lãng mạn, kiêu sa cho thành phố Đà Lạt mà còn là một nguồn thu nhập không nhỏ cho người dân nơi đây Thương hiệu hoa Đà Lạt không chỉ nổi tiếng
ở trong nước mà còn được rất nhiều thị trường trên thế giới biết đến như Hoa kỳ, Nhật Bản và các nước Châu Âu.Tuy nhiên, trong suốt 10 năm qua, tỷ trọng hoa xuất khẩu của
Đà Lạt vẫn rất thấp so với lượng hoa sản xuất Nguyên nhân là do chất lượng hoa của Đà Lạt vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn thế giới mặc dù sản lượng rất lớn
Phần lớn diện tích sản xuất hoa ở Đà Lạt là của các hộ gia đình Hộ sản xuất nhỏ lẻkhông thể giải quyết được các khó khăn về vốn đầu tư, áp dụng công nghệ mới và thịtrường tiêu thụ mới Mặc dù đóng vai trò quan trọng nhất trong chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt, bản thân các hộ nông dân lại không ý thức được tiềm năng của mình mà còn phụthuộc vào trung gian để tiêu thụ sản phẩm Quá trình bảo quản hoa sau thu hoạch cũng như việc đóng gói, vận chuyển vẫn chưa được người trồng hoa quan tâm đúng mức trong khi đó hoa là sản phẩm dễ bị hư hại trong khâu vận chuyển Khâu thanh toán giữa các hộnông dân và trung gian thu mua còn tồn tại nhiều bất cập, giá thành sản phẩm cũng bấp bênh khiến nhiều hộ nông dân điêu đứng khi dồn hết vốn liếng vô vụ mùa
Vì vậy, để góp phần hoàn thiện chuỗi cung ứng Đà Lạt, nhóm chúng tôi quyết định thực hiện bài nghiên cứu “Hoàn thiện chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt”
II Mục tiêu nghiên cứu
‐ Lý thuyết cơ bản về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng
‐ Tìm hiểu về chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt, các yếu tố hình thành nên chuỗi cung ứng
‐ Tìm hiểu các kênh phân phối hoa hiện có Trong đó tập trung vào các kênh phân phối qua trung gian, khâu bảo quản và quá trình thanh toán của các hộ nông dân ở các kênh phân phối trên
Trang 3III Phương pháp nghiên cứu:
Thảo luận nhóm: Thu thập thông tin từ phía nông dân trồng hoa Phỏng vấn và thảo
luận với họ những vấn đề liên quan đến việc trồng và tiêu thụ hoa nhằm xác định những thuận lợi cũng như khó khăn, đồng thời thu thập nguyện vọng, ý kiến của người dân đểtổng hợp và phân tích chuyên sâu
Phỏng vấn chuyên sâu: Phỏng vấn trực tiếp một số chủ doanh nghiệp thu mua, các
cá nhân có liên quan trong chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt, các cán bộ phụ trách về việc phát triển chuỗi cung ứng hoa ở Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Lâm Đồng, những người bán sỉ, bán lẻ và người tiêu dùng Các thông tin trên sẽ được tổng hợp để phục vụcho mục đích của bài nghiên cứu
Bảng câu hỏi: Thu thập thông tin từ phía những người mua hoa lẻ trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh như thong tin giá mua, tần suất mua, loại hoa hay mua nhằm xác định những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng hoa tươi Đà Lạt trong phạm vi thành phố.Các phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh bằng công cụ SPSS
IV Nội dung nghiên cứu:
Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt bao gồm các yếu tốđầu vào, quá trình sản xuất hoa của hộ nông dân, quá trình thu hoạch, bảo quản, vận chuyển tiêu thụ và các hình thức thanh toán Đưa ra các số liệu cụ thể đáng tin cậy liên quan đến chuỗi cung ứng, từ đó rút ra những nhận xét về những vấn đề còn tồn tại và đưa
ra một số giải pháp cải thiện vấn đề
Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến thị hiếu của người tiêu dùng từ đó đưa ra các thống kê nhằm giúp người nông dân hoạch định được các kế hoạch trồng hoa
V Đóng góp của đề tài
Đối với tác giả:
Củng cố và nâng cao kiến thức đã học ở giảng đường về quản trị chất lượng, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng cũng như khả năng thống kê, mô tả và phân tích thông tin
Trang 4Áp dụng tổng hợp những kiến thức đã học được vào thực tiễn và thu thập những kinh nghiệm quý giá từ quá trình tìm hiểu, tiếp xúc với các doanh nghiệp, hộ gia đình,…Đây cũng chính là tiền đề để tác giả có thể tiếp tục đào sâu nghiên cứu vấn đề trọng tâm cũng như có cái nhìn đa chiều đối với ngành kinh doanh hoa tươi ở Đà Lạt.
Đối với hộ nông dân:
Hỗ trợ hộ nông dân trong khâu thanh toán, tổ chức kế hoạch sản xuất.Giúp người nông dân có cái nhìn tổng quát về chuỗi cung ứng hoa tươi
Đối với nhà phân phối, khách hàng:
Tìm ra vấn đề còn tồn tại đang làm hạn chế khả năng cung cấp sản phẩm hoa tươi một cách hiệu quả, kịp thời đến tay người tiêu dùng, tăng cường sự thỏa mãn của người tiêu dùng
VI Hướng phát triển của đề tài:
Đề tài còn nhiều thiếu sót như không đưa ra được mô hình hồi quy, số mẫu khảo sát
hộ nông dân còn hạn chế Chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt quá lớn và phức tạp đòi hỏi cần nhiều thời gian và công sức để có thể miêu tả một cách kỹ lưỡng.Những thiếu sót ít nhiều tồn tại thể hiện trong bài nghiên cứu hy vọng sẽ được khắc phục trong các nghiên cứu sau
Trang 5Mục Lục
1.Khái niệm và vai trò chuỗi cung ứng 9
1.1.Khái niệm 9
1.2.Hoạt động của chuỗi cung ứng 10
1.3.Những đối tượng tham gia chuỗi cung ứng 10
1.4.Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng 11
2.Kinh nghiệm xây dựng chuỗi cung ứng 11
2.1.Những vấn đề chung: 12
2.2.Cấu trúc thị trường các khu vực tại Ấn Độ: 12
2.2.1.Cấu trúc thị trường bán buôn ở Delhi: 12
2.2.2.Chợ buôn ở Connaught Place 13
2.2.3.Chợ buôn ở Mehrauli 13
2.2.4.Chợ buôn của hoa truyền thống: 13
2.3.Mô hình cấu trúc thị trường: 13
2.4.Quản trị chuỗi cung ứng: 14
2.5.Bài học kinh nghiệm: 15
1.Giới thiệu chung về thành phố Đà Lạt 16
1.1.Điều kiên tự nhiên 16
Vị trí địa lý 16
Địa hình, thổ nhưỡng 17
Khí hậu 17
1.2.Điều kiện kinh tế-xã hội 18
1.2.1.Dân số: 18
1.2.2.Các chỉ tiêu kinh tế: 18
2.Sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao ở Đà Lạt 21
2.1.Tình hình chung 21
2.2.Tình hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất ở Đà Lạt 22
2.2.1.Công ty Dalat Hasfarm 22
2.2.2.Vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng công nghệ cao 22
3.Tình hình sản xuất hoa ở Đà Lạt 23
3.1.Lịch sử ngành trồng hoa Đà Lạt 23
3.2.Tình hình phân bố các loại hoa 25
Trang 63.3.Diện tích canh tác và sản lượng hoa Đà Lạt những năm gần đây: 26
4.Tình hình tiêu thụ hoa Đà Lạt những năm gần đây 27
4.1.Thị trường nội địa 27
4.2.Thị trường xuất khẩu 30
5.Phân tích chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt 34
5.1.Các yếu tố đầu vào: 34
5.1.1.Quỹ đất 35
5.1.2.Nguồn nước 35
5.1.3.Nguồn giống 36
5.1.4.Phân bón 37
5.1.5.Thuốc trừ sâu 38
5.2.Quy mô 38
5.3.Phương thức và trình độ canh tác 38
5.4.Thu hoạch và đóng gói 40
5.5.Tiêu thụ 42
5.6 Khách hàng và giao dịch 44
5.7 Hợp đồng và thanh toán 44
5.8.Chất lượng sản phẩm và chứng thực 46
5.9.Thương hiệu, nhãn hiệu 46
6 Định hướng, mục tiêu phát triển của Thành phố Đà Lạt đến năm 2015 48
6.1.Mục tiêu phát triển 48
Định hướng phát triển 49
7.Phân tích SWOT về chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt 51
1.Tổng hợp một số vấn đề còn tồn tại trong sản xuất hoa Đà Lạt: 54
1.1.Những hạn chế về các các yếu tố đầu vào, phương thức và trình độ canh tác và khả năng thu hoạch, bảo quản: 54
Những hạn chế trong khâu vận chuyển: 54
Những hạn chế trong khâu tiêu thụ, tìm kiếm thị trường: 55
2 Đề xuất giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt 56
2.1.Hoàn thiện các yếu tố đầu vào 56
2.2.Hoàn thiện phương thức, trình độ canh tác 57
2.2.1.Về phía người nông dân: 57
Trang 72.2.2.Về phía các cơ quan chức năng: 57
2.3.Hoàn thiện khâu thu hoạch, bảo quản 58
2.4.Hoàn thiện khâu giao dịch, thanh toán 58
2.5.Hoàn thiện khâu tiêu thụ 59
2.5.1.Hoàn thiện công tác nghiên cứu thị trường: 59
2.5.2.Hoàn thiện công tác phân phối sản phẩm 59
2.6.Hoàn thiện công tác xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm 60
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
BIỂU ĐỒ 1.1: CƠ CẤU CÁC NGÀNH KINH TẾ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT NĂM 2010 19
BIỂU ĐỒ 1.2: DIỆN TÍCH CÁC LOẠI CÂY TRỒNG TP ĐÀ LẠT NĂM 2010 20
BIỂU ĐỒ 3.1: DIỆN TÍCH GIEO TRỒNG VÀ SẢN LƯỢNG HOA ĐÀ LẠT 26
BIỂU ĐỒ 4.1: SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ HOA CỦA THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 27
BIỂU ĐỒ 4.2: NƠI MUA HOA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 28
BIỂU ĐỒ 4.3: CÁC LOẠI HOA THƯỜNG MUA 28
BIỂU ĐỒ 4.4: MỤC ĐÍCH MUA HOA TƯƠI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 29
BIỂU ĐỒ 4.5: YẾU TỐ NGƯỜI TIÊU DÙNG QUAN TÂM KHI MUA HOA 29
BIỂU ĐỒ 4.6: SẢN LƯỢNG VÀ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HOA CỦA ĐÀ LẠT 30
BIỂU ĐỒ 4.7: CÁC THỊ TRƯỜNG CỦA HOA ĐÀ LẠT XUẤT KHẨU 31
BIỂU ĐỒ 4.8: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HOA ĐÀ LẠT TẠI CÁC THỊ TRƯỜNG 31
BIỂU ĐỒ 4.9: CÁC CÔNG TY XUẤT KHẨU HOA ĐÀ LẠT 32
BẢNG 5.1: DIỆN TÍCH GIEO TRỒNG HOA Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG 35
BẢNG 5.2: CÁC YẾU TỐ KHÍ HẬU NĂM 2011 ĐÀ LẠT 36
BIỂU ĐỒ 5.3: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG GIỐNG CÁC NÔNG HỘ 36
BẢNG 5.4: CÁC LOẠI HOA PHỔ BIẾN ĐƯỢC TRỒNG Ở ĐÀ LẠT 39
BẢNG 5.5: NHIỆT ĐỘ VÀ THỜI GIAN BẢO QUẢN HOA THÍCH HỢP 41
BẢNG 5.6:THÀNH PHẦN THUỐC BẢO QUẢN HOA THƯỜNG DÙNG 41
BẢNG 5.7: KẾT QUẢ KHẢO SÁT CÁC NÔNG HỘ 42
BẢNG 5.8: BẢNG PHÂN BỐ CÁC KÊNH TIÊU THỤ HOA 43
BIỂU ĐỒ 5.9: GIÁ HOA TẠI VƯỜN TRUNG BÌNH TRONG THÁNG TẠI ĐÀ LẠT 44
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, để cạnh tranh thành công trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó Bởi lẽ, khi doanh nghiệp muốn đáp ứng sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng họ buộc phải quan tâm sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu; cách thức thiết kế, đóng gói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp; cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm hoàn thành và những mong đợi thực sự của người tiêu dùng hoặc khách hàng cuối cùng vì thực tế là có nhiều doanh nghiệp có thể không biết sản phẩm của họ được sử dụng như thế nào trọng việc tạo ra sản phẩm cuối cùng cho khách hàng
Chính vì vậy, quản trị chuỗi cung ứng ngày càng là nhu cầu tất yếu cho tất cả các lĩnh vực sản xuất hiện nay Tuy nhiên, một trong những thách thức liên quan đến quản trịchuỗi cung ứng mà nhiều doanh nghiệp đang phải đối diện đó là cách thức đánh giá đầy
đủ, toàn diện hiệu suất trong một chuỗi cung ứng toàn cầu và rõ ràng là cực kỳ phức tạp
Vì vậy, lấy ví dụ một chuỗi cung ứng điển hình là chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt, chúng tôi cố gắng phân tích các yếu tố hình thành cũng như yếu tố tác động vào chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt để hiểu được chính xác những yếu tố cần khắc phục, cải thiện trong chuỗi cung ứng Từ đó, dưa ra những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt, để những bông hoa tươi Đà Lạt của nước ta không chỉ tiêu thụ nhanh trong nước mà còn vươn rộng ra thị trường nước ngoài
Công trình nghiên cứu “Hoàn thiện chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt” của nhóm chúng tôi chỉ giới hạn ở hoa tươi Đà Lạt đã cắt cành bao gồm 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG HOA ĐÀ LẠT
Chương 2: THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG HOA ĐÀ LẠT
Chương3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG HOA
ĐÀ LẠT
Trang 10CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC HOÀN THIỆN
CHUỖI CUNG ỨNG HOA ĐÀ LẠT
1.Khái niệm và vai trò chuỗi cung ứng
1.1.Khái niệm
“Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường” – “Fundaments of Logistics Management” của Lambert, Stock và
Elleam (1998, Boston MA: Irwin/McGraw-Hill, c.14)
“Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng” –
“Supplychain management: strategy, planing and operation” của Chopra Sunil và Pter Meindl, (2001, Upper Saddle Riverm NI: Prentice Hall c.1)
“Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” – “An introduction to supply chain management” Ganesham, Ran and Terry P.Harrison, 1995
SƠ ĐỒ 1.1: 5 TÁC NHÂN THÚC ĐẨY CHUỖI CUNG ỨNG
Trang 111.2.Hoạt động của chuỗi cung ứng
Mục đích then chốt của bất kỳ chuỗi cung ứng nào là nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính doanh nghiệp Các hoạt động chuỗi cung ứng bắt đầu với đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ
Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản phẩm hoặc cung cấp dịch chuyển
từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất rồi đến nhà phân phối và đến nhà bán lẻ đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng Điều quan trọng là chúng ta phải mường tượng dòng thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hướng của chuỗi này Trong thực tế, nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ vài nhà cung cấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối
Vì vậy, đa số các chuỗi cung ứng thực sự là các mạng lưới Đây chính là lý do mà người ta thường xem chuỗi cung cấp như là mạng lưới hậu cần Có 5 lĩnh vực mà các công ty có thể quyết định nhằm xác định năng lực của chuỗi cung ứng: sản xuất, tồn kho, địa điểm, vận tải và thông tin Các lĩnh vực này là tác nhân thúc đẩy hiệu quảchuỗi cung ứng của công ty
1.3.Những đối tượng tham gia chuỗi cung ứng
Với hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng bao gồm công ty, các nhà cung cấp và khách hàng của công ty đó Đây là tập hợp những đối tượng tham gia cơ bản
để tạo ra một chuỗi cung ứng cơ bản Những chuỗi cung ứng mở rộng có ba loại đối tượng tham gia truyền thống:
Loại thứ nhất là nhà cung cấp của các nhà cung cấp hay nhà cung cấp cuối cùng ở vị trí bắt đầu của chuỗi cung ứng mở rộng
Loại thứ hai là khách hàng của các khách hàng hay khách hàng cuối cùng ở
vị trí kết thúc của chuỗi cung ứng
Loại thứ ba là tổng thể các công ty cung cấp dịch vụ cho những công ty khác trong chuỗi cung ứng Đây là các công ty cung cấp dịch vụ về hậu cần, tài chính, tiếp thị và công nghệ thông tin
Trang 12Trong chuỗi cung ứng cũng có sự kết hợp của một số công ty thực hiện những chức năng khác nhau Những công ty đó là nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ và khách hàng cá nhân hay khách hàng là tổ chức Những công ty thứ cấp này sẽ có nhiều công ty khác nhau cung cấp hàng loạt những dịch vụ cần thiết
1.4.Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, trong giai đoạn hội nhập, vai trò của chuỗi cung ứng rất quan trọng Nhắc đến việc chuỗi cung ứng quyết định sự thành công của thương hiệu, không thể không đề cập hai thương hiệu nổi tiếng là Wal-Mart
và Kmart Năm 1962, khi Wal-Mart ra đời, lúc đó Kmart đã có 63 cửa hàng Đến năm
2002, Kmart phá sản, Wal-Mart trở thành nhà bán lẻ lớn nhất thế giới Nói về sự thất bại của Kmart, Tổng Giám đốc Chuck Conaway phải thừa nhận: “Tôi cho rằng chính chuỗi cung ứng là gót chân Archilles của Kmart”
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Minh, Tổng Giám đốc Công ty CP Đầu tư và Phát triển
hệ thống phân phối VN – VDA, cũng cho rằng: Nếu quản trị chuỗi cung ứng tốt, chi phí thấp sẽ dẫn đến giá sản phẩm thấp, tạo thế mạnh cạnh tranh Nếu như chi phí cung ứng của Mỹ năm 2005 là 1.183 tỉ USD (chiếm 9,5% GDP), tại Nhật là 11% GDP, Trung Quốc là 21,6% GDP thì theo thống kê chưa chính thức tại VN, chi phí cung ứng dao động từ khoảng 19% - 25% GDP, chính vì vậy giá sản phẩm đến tay người tiêu dùng còn rất cao Các công ty áp dụng một chuỗi cung ứng hoàn thiện có lợi nhuận cao hơn 12 lần so với các công ty có chuỗi cung ứng không hoàn thiện
2.Kinh nghiệm xây dựng chuỗi cung ứng
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tham khảo một số bài viết vềchuỗi cung ứng hoa cắt cành ở một số nước trên thế giới như Brazil, Kenya, Mỹ, Pháp,
Ấn Độ,…Đây là nguồn tài liệu tham khảo cực kì có ích để định hướng quá trình hoàn thiện bài nghiên cứu cũng như giúp chúng tôi học được những kinh nghiệm từ các nước để áp dụng vào vấn đề này ở Việt Nam, cụ thể là Đà Lạt
Trong số những nước được đề cập trên đây, bài viết về chuỗi cung ứng hoa cắt cành tại Ấn Độ có thể nói là phù hợp đối với phạm vi và điều kiện nghiên cứu của
Trang 13chúng tôi hơn cả Ngoài ra, Ấn Độ cũng là đất nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam như khí hậu nóng ẩm, hệ sinh thái đa dạng, dân số - mật độ dân số ở mức cao.Đây là cơ sở giúp chúng tôi dễ dàng hơn trong việc tiếp cận vấn đề còn khá mới
mẻ này ở Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng kiến thức để giải quyết những vấn đềtương tự tại Đà Lạt và có những sánh tạo riêng của mình
Với nhan đề “Báo cáo dự án về quản trị chuỗi cung ứng hoa cắt cành ở thị trường Ấn Độ”, bài viết đã giới thiệu một cách sinh động, cụ thể về thị trường hoa cắt
cành ở nhiều khu vực tại Ấn Độ và có những phát hiện mới mẻ về mô hình chuỗi cung ứng, về chi phí tiếp thị, khả năng hoàn vốn đầu tư, và về những vấn đề Ấn Độđang vấp phải trong quá trình phát triển ngành trồng hoa với những giải pháp ngắn gọn nhưng thiết thực
2.1.Những vấn đề chung:
Các loại hoa cắt cành đang thống trị thị trường Ấn Độ là: hoa cẩm chướng, hoa hồng, hoa lay-ơn, hoa lan và hoa lys Ngoài mục đích trang trí và thưởng thức, những sản phẩm từ hoa còn là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp nước hoa
Những năm gần đây, tốc độ phát triển của nghề trồng hoa đang chậm lại do ít ứng dụng khoa học kĩ thuật vào trồng trọt, cũng như công tác vận chuyển,bảo quản sản phẩm đến tay người tiêu dùng kém hiệu quả Ngoài ra, việc chọn vị trí thị trường không thích hợp đã gây cho khó khăn cho khâu tiêu thụ sản phẩm
Bài này nghiên cứu này cũng phân tích những khía cạnh về quản trị chuỗi cung ứng và tiếp thị của hoa cắt cành ở thị trường Ấn Độ: kênh tiếp thị, chi phí phát sinh và lợi nhuận biên của hoa cắt cành Từ đó chứng minh vấn đề tiếp thị đang gặp phải và
đề xuất chiến lược để vượt qua trở ngại
2.2.Cấu trúc thị trường các khu vực tại Ấn Độ:
2.2.1.Cấu trúc thị trường bán buôn ở Delhi:
Thị trường tương đối mở và chưa có nơi quy định, kiểm soát để bán hàng, thiếu cơsở vật chất để cất trữ, thiếu khu vực đóng gói và buôn bán thì gặp nhiều khó khăn do mưa,
Trang 14độ ẩm và hơi nóng Không có hệ thống thành viên hay cam kết với bất kì tổ chức nào Hoa được thải ra ngay trên mặt đất, trong khi hoa tươi tiếp xúc với sức nóng ghê gớm của Mặt trời làm giảm đáng kể chất lượng hoa Thị trường đa dạng về giá và ít sự phân biệt nên người sản xuất không hề biết về giá trị thực của sản phẩm, điều này ảnh hưởng đến thu nhập của họ.
2.2.2.Chợ buôn ở Connaught Place
Có khoảng 50 nhà bán buôn và đại lí hoa hồng xúc tiến việc buôn bán nông sản.Đại lí hoa hồng sẽ tính phí hoa hồng 15% trên giá bán.Theo quan sát thì trung bình hàng ngày, lượng nông sản của ít nhất 100 hộ nông dân được đem đến đây Nguồn hoa chủ yếu là từ Maharashtra, Karnataka, Sikkim, Utter Pradesh,…
2.2.3.Chợ buôn ở Mehrauli
Chợ này nằm gần Qutab Minar với chủng loại hoa bị giới hạn chủ yếu bởi hoa hồng, hoa lay-ơn, hoa huệ và các loại hoa mùa đông khác Nguồn hoa chủ yếu là từ Gurgaon, Chhatarpur Có khoảng 15 đến 20 nhà bán buôn và đại lí hoa hồng trong chợ Ở đây, hầu hết người trồng hoa tự bán sản phẩm của họ và vào mùa cao điểm thì con số này là 150-
200 người
2.2.4.Chợ buôn của hoa truyền thống:
Chỉ có tại Fatepuri – Khari Baoli, ở khu vực Old Delhi 11 giờ sáng thì diễn ra việc bán hoa thông qua đấu giá và bán trực tiếp Trong hệ thống đấu xảo, người bán phải trả hoa hồng 6.25% trên giá bán cho người đem đấu giá.Có hơn 12 chủng loại hoa được tiếp thị quanh năm ở đây
2.3.Mô hình cấu trúc thị trường:
Do người tiêu thụ ở rất xa người sản xuất nên ít có cơ hội tiếp xúc, và vai trò của những trung gian là rất lớn, họ là những người tạo nên cơ chế về giá của sản phẩm Các kênh phân phối được lựa chọn ở nhiều vùng là:
Nhà sản xuấtĐại lí bán buônNhà bán lẻNgười tiêu dùng
Trang 15 Nhà sản xuấtĐại lí chuyển tiếpĐại lí bán buônNhà bán lẻNgười tiêu dùng
Nhà sản xuấtCơ quan phát triển vùng Nông thôn (District Rural Development Authority) Đại lí bán buônNhà bán lẻNgười tiêu dùng
Nhà sản xuấtHợp tác xã Đại lí bán buônNhà bán lẻNgười tiêu dùng
Nhà sản xuấtNhà bán lẻNgười tiêu dùngViệc lựa chọn kênh phân phối nào phụ thuộc vào kích cỡ kinh doanh, sự ổn định của
bộ phận tiếp thị, vị trí kinh tế, cầu tiền tệ và sự liên kết của người sản xuất với bên trong
và bên ngoài nông trại
2.4.Quản trị chuỗi cung ứng:
Cửa hàng bán lẻ là bộ phận kết nối quan trọng nhất của chuỗi cung ứng vì nó kết nối người tiêu dùng với người bán thành phẩm; chính người bán lẻ là bộ phận có trách nhiệm
đo lường mong muốn và nhu cầu của người tiêu dùng, làm việc với các thành phần khác của chuỗi cung ứng như người bán buôn, người sản xuất, công ty vận chuyển,…để đảm bảo luôn có thành phẩm khi khách hàng cần Người bán lẻ đang ngày càng nắm giữ vai trò quyết định trong chuỗi cung ứng vì kiến thức họ có được về người tiêu dùng, các giao dịch đóng vai trò đặc biệt quan trọng và các thông tin này có thể chia sẻ với nhà cung cấp
để lập kế hoạch sản xuất, chiêu thị, phân phối, đóng gói và mức độ dự trữ:
- Nâng cao sự sẵn có của sản phẩm: một chuỗi cung ứng hiệu quả giúp giảm lượng hàng tồn kho, sắp xếp hàng hóa cho phù hợp với nhu cầu khách hàng, nơi
họ cần
- Nâng cao hiệu quả đầu tư (ROI): Doanh thu thuần nâng cao bằng cách phân loại sản phẩm cho phù hợp nhu cầu khách hàng Lợi nhuận thuần có thể tăng lên bằng cách tăng lợi nhuận biên hoặc giảm chi phí Đồng thời cần tăng vòng quay hàng tồn kho
Trang 162.5.Bài học kinh nghiệm:
Theo kết quả khi nghiên cứu tại thị trường Ấn Độ thì kênh bán lẻ là nơi có tỷ suất sinh lợi lớn nhất (chiếm 85.35% lợi nhuận), các hộ nông dân chủ yếu tiếp thị hoa cắt cành của họ cho người bán buôn (hơn 65% người được phỏng vấn), và lợi nhuận biên
từ việc tiếp thị thì thấp hơn giá bán thành phẩm Đây cũng chính là thực tế đang xảy
ra tại Việt Nam, nơi mà nền kinh tế thị trường còn khá manh mún dẫn đến những góc nhìn khá thiên lệch khi bàn về vấn đề tiếp thị Tuy nội dung nghiên cứu của chúng tôi không tập trung nhiều vào vấn đề này, nhưng đây vẫn là những kiến thức thực sự bổ ích trong bức tranh tổng thể của một chuỗi cung ứng quan trọng tại Đà Lạt
Ngoài ra, bài báo cáo này cũng có những phát hiện mới mẻ về những trục trặc nảy sinh trong khâu tiếp thị tại thị trường Ấn Độ, mà phần lớn cũng là những điều mà thị trường Việt Nam đang tìm cách giải quyết để cải thiện chất lượng sản phẩm từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ Ứng dụng vào đề tài nghiên cứu, theo quan điểm của chúng tôi, thì những hạn chế sau đây là đáng quan tâm và có ảnh hưởng lớn đến chiến lược phát triển ngành trồng hoa tại Đà Lạt:
Chi phí vận chuyển lớn và có xu hướng tăng cao trong thời gian tới
Cách thức đóng gói hoa thành phẩm còn yếu kém, dễ hư hỏng khi vận chuyển
Do cung và cầu hoa biến động thất thường, dẫn đến thu nhập bấp bênh cho
hộ nông dân và giá cả lên xuống làm nản lòng người tiêu dùng
Trang 17CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG HOA ĐÀ LẠT
1.Giới thiệu chung về thành phố Đà Lạt
1.1.Điều kiên tự nhiên
Trang 18và xói mòn trong mùa mưa.Khả năng giữ nước và dinh dưỡng không cao.
Khí hậu
Đà Lạt nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng bị chi phối bởi cao
độ và địa hình tự nhiên nên khí hậu mang tính chất đặc thù so với những vùng lân cận.Nhiệt độ trung bình năm là 18,30C, biên độ nhiệt trong ngày 11-120C Khí hậu Đà Lạt chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau Lượng mưa bình quân hàng năm ở
Đà Lạt đạt 1800 mm
Do đặc điểm về khí hậu và thổ nhưỡng nên sự phân bố thảm thực vật tự nhiên tại
Đà Lạt rất phong phú và đa dạng với nhiều kiểu rừng khác nhau Chúng vừa mang tính chất của thảm thực vật nhiệt đới ẩm, vừa mang tính chất của vùng á nhiệt đới ẩm Trong đó, chiếm ưu thế là rừng lá kim với đặc trưng là rừng thông 3 lá
Tóm lại, Đà Lạt là nơi được thiên nhiên ưu đãi cho việc phát triển ngành trồng hoa Với truyền thống và kinh nghiệm sản xuất lâu đời, kết hợp với ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật Đà Lạt có đầy đủ các yếu tố để sản xuất các loại hoa có nguồn gốc ôn đới, chất lượng cao, đáp ứng thị hiệu ngày càng cao của người tiêu dùng
Trang 191.2.Điều kiện kinh tế-xã hội
1.2.1.Dân số:
Từ năm 1990 đến nay, dân số Đà Lạt tăng khá nhanh; theo thống kê năm 2010, dân số Đà Lạt là 209.173 người, mật độ 469 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,28%
Các thống kê năm 2010 cho thấy:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Trong 5 năm ( 2006- 2010) tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 16%/năm; thu ngân sách nhà nước đạt 2.025 tỷ đồng; vốn đầu tư toàn xã hội đạt 8.640 tỷ; kim ngạch xuất khẩu 132 triệu USD, tăng 17,2%năm; GDP bình quân đầu người đến cuối năm 2009 đạt 21 triệu đồng/người/năm
Dưới đây là các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2010:
‐ Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2010 đạt 16,2%
‐ Tổng vốn đầu tư toàn xã hội: 2.500 tỷ đồng
‐ GDP bình quân đầu người: 21,4 triệu đồng/người/năm Trong khi
đó, so sánh với GDP của cả nước (22,8 triệu đồng/người/năm) thì Đà Lạt vẫn thấp hơn 1,4 triệu đồng
‐ Tổng kim ngạch xuất khẩu 35 triệu USD
‐ Tổng thu ngân sách địa phương quản lý 595.500 triệu đồng, chi ngân sách địa phương 275.325 triệu đồng
Cơ cấu kinh tế:
Trang 20Dưới đây là cơ cấu kinh tế các ng
‐ Công nghiệp - Xây d
‐ Nông Lâm nghiệp chiếm
Sau hơn 20 năm đầu tư xây d
Đồng đã nỗ lực trong việc thiết lập hệ thống đ
phân bố đều khắp các vùng trong t
tỉnh, mặt khác đặt Lâm Đồng vào v
Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ H
tuyến với quốc lộ 1A, Lâm Đồng có thể dễ d
Diện tích, năng suất, sả
15.70%
11%
73.30%
CN - XD NLN
DL - DV
ịch dịch vụ, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, nông
ệp công nghệ cao vẫn là những ngành kinh tế mũi nhọn của địa ph
ợt khách đến Đà Lạt thì đến năm 2009 tăng lên 2,1 tri
ấu kinh tế các ngành năm 2010Xây dựng chiếm 15,7%
xây dựng và phát triển trong hoàn cảnh hoà bình,
ỗ lực trong việc thiết lập hệ thống đường bộ có chất lượng tương đ
ùng trong tỉnh, một mặt đảm bảo giao thông thuận lợi trong nội
g vào vị trí cầu nối giữa các tỉnh Tây Nguyên vỉnh Nam Bộ Hơn nữa, với hệ thống quốc lộ chạy qua v
ến với quốc lộ 1A, Lâm Đồng có thể dễ dàng giao lưu với các tỉnh khác trong cả n
ản lượng một số cây trồng chủ yếu
ệp chế biến nông sản thực phẩm, nông
ế mũi nhọn của địa phương Năm
ên 2,1 triệu lượt
Ế TẠI THÀNH
ồn: Tổng cục thống kê Lâm Đồng
à bình, Đà Lạt-Lâm ương đối tốt và ỉnh, một mặt đảm bảo giao thông thuận lợi trong nội
ên với Thành phố
ữa, với hệ thống quốc lộ chạy qua và việc nối
ới các tỉnh khác trong cả nước
Trang 21Hàng năm, Đà Lạt cung cấp cho thị trường khoảng 230-240 ngàn tấn rau và trên 650 triệu cành hoa các loại.Năm 2010, diện tích các loại rau, hoa, cây trồng…được gieo trồng tại thành phố Đà Lạt được thống kê:
+ Diện tích cây rau, đậu các loại 7.201,1 ha, năng suất 656,2 tạ/ha, sản lượng ước đạt 206.161 tấn
+ Diện tích hoa các loại 3.141,7 ha
+ Diện tích cây lương thực các loại 238,4 ha
BIỂU ĐỒ 1.2: DIỆN TÍCH CÁC LOẠI CÂY TRỒNG TP ĐÀ LẠT NĂM
2010
Nguồn: Tổng cục thống kê Lâm Đồng
Nhìn chung, trình độ thâm canh cũng như ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân thuộc TP Đà Lạt thuộc mức cao hơn so với trung bình của tỉnh Lâm Đồng TP Đà Lạt có nhiều cơ quan nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật công nghệ: Trung tâm nghiên cứu rau thuộc Viện khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nông nghiệp Lâm Đồng, các doanh nghiệp sản xuất hoa công nghệ cao hàng đầu Châu Á: Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm, Bonie Farm…và Trường Đại Học Đà Lạt
Diện tích rau Diện tích hoa Diện tích cây
lương thực Diện tích cây CN lâu năm
Trang 222.Sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao ở Đà Lạt
2.1.Tình hình chung
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang đi vào xu hướng hòa nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp Hiện nay, trên thế giới nông nghiệp đã tiến một bước khá dài trong việc ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ, tạo ra bước đột phá trong nông nghiệp, giảm thiểu sự lệ thuộc vào tự nhiên vốn dĩ tồn tại lâu đời ở các quốc gia nông nghiệp
Chính vì thế, việc ứng dụng mô hình phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệcao vào nước ta là một xu hướng tất yếu
Theo đánh giá của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, các loại hình nông nghiệp phát triển theo hướng công nghệ cao ở Việt Nam có thể tạm thời chia ra như sau:
Các khu “Nông nghiệp công nghệ cao”:
Các mô hình này chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, thực tế hiện chỉ có ở TP.HồChí Minh và tỉnh Lâm Đồng Đặc điểm của mô hình này là Nhà nước quy hoạch thành khu tập trung với quy mô từ 100 ha trở lên Tiến hành thiết kế quy hoạch phân khúc chức năng theo hướng liên hoàn từ nghiên cứu, sản xuất, chế biến, giới thiệu sản phẩm Các tổchức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được quyền đăng ký và đầu tư vào khu đểphát triển sản phẩm
Các mô hình sản xuất nông nghiệp “công nghệ cao”
Các mô hình thông thường do một công ty đầu tư, quy mô tùy theo khả năng đầu tư vốn và sản phẩm của mô hình là sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp Các công ty đã áp dụng thành công mô hình này có thể kể đến như là: Đà Lạt Hasfarm, Công ty Liên doanh hạt giống Đông Tây, Công ty giống cây trồng Hà Nội
Vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng “công nghệ cao”
Đây là lọai hình phổ biến và mang tính đại trà, có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp của nước ta trong điều kiện hiện nay Đây là loại hình cần khuyến khích phát triển ở các tỉnh nông nghiệp tùy theo điều kiện về tự nhiên, về lao động và thế mạnh của địa phương
Trang 232.2.Tình hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất ở Đà Lạt
2.2.1.Công ty Dalat Hasfarm
Công ty Dalat Hasfarm sản xuất các lọai hoa ôn đới cao cấp Sản phẩm chính là hoa cắt cành, bao gồm hoa hồng, lily, cúc đơn, cúc chùm, cẩm chướng đơn, cẩm chướng chùm, đồng tiền, baby, sao tím, salem và các loại lá trang trí, hoa trồng chậu Ngoài việc cung cấp cho thị trường trong nước, thông qua mạng lưới phân phối vững chắc và rộng khắp, Dalat Hasfarm còn xuất khẩu sang Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Đài Loan, Kampochea, v.v
Hiện tại, công ty có 3 trang trại tại Đà Lạt, Đa Quí và Đơn Dương rộng hơn 250 ha, trong đó có hơn 41 ha nhà kính Các loại hoa được trồng trong nhà kính ở Đà Lạt với công nghệ hiện đại và theo quy trình hết sức nghiêm ngặt Trong đó, từ diện tích kho lạnh 600m2 có đầy đủ trang thiết bị để giữ hoa tốt nhất, đến quy trình đóng gói, bảo quản và vận chuyển liên hoàn
2.2.2.Vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng công nghệ cao
Các công nghệ tại đây được ứng dụng nhiều như trồng rau, hoa trong nhà lưới, nhà màng, sử dụng màng phủ, tưới phun sương, tưới nhỏ giọt Phần lớn số hộ trồng hoa sửdụng nhà màng, nhà lưới để canh tác hoa
Hoa trồng trong nhà có mái che chủ yếu là các loại hoa cúc, salem, hồng, đồng tiền, cẩm chướng, phong lan, địa lan Những năm gần đây, hàng lọat các giống hoa mới đã được du nhập và trồng ở Đà Lạt, điển hình là các giống hoa lily và cát tường Người trồng hoa có thể đạt bình quân thu nhập hàng năm đến 625 triệu đồng, dao động từ 208 đến 783 triệu đồng/ha/năm
Tóm lại, TP Đà Lạt là một địa phương đi đầu cả nước trong việc áp dụng các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.Đây có thể xem là một thế mạnh của TP Đà Lạt trong phát triển năng suất, chất lượng và chủng loại sản phẩm, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường
Trang 243.Tình hình sản xuất hoa ở Đà Lạt
Qua những phân tích ở trên, ta có thể thấy rằng Đà Lạt là địa phương có điều kiện thuận lợi về khí hậu, đất đai cho nghề trồng hoa phát triển, đặc biệt là các loại hoa cao cấp Trong những năm qua, nông dân Đà Lạt đã từng bước tiếp thu khoa học kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm dưới nhiều hình thức, từ đó giúp cho diện tích trồng hoa ngày càng được mở rộng và hình thành nên những vùng chuyên canh, vùng sản xuất hoa hàng hóa
có quy mô lớn, chất lượng cao
3.1.Lịch sử ngành trồng hoa Đà Lạt
Năm 1938, nghề trồng hoa tại Đà Lạt đã bắt đầu hình thành và phát triển, cung cấp cho thị trường hàng trăm loài hoa khác nhau Sau nhiều thăng trầm, nghề trồng hoa của Đà Lạt đã có những bước phát triển mạnh mẽ, tạo dựng được uy tín lớn tại thị trường trong nước cũng như quốc tế với chất lượng hoa tốt, sự đa dạng phong phú về chủng loại, thương hiệu “Hoa Đà Lạt” từ lâu đã nằm trong tiềm thức của người dân Việt Nam và nay bắt đầu bước chân ra thị trường quốc tế
Giai đoạn 1975-1985:
Vào thời điểm 1977, Đà Lạt có 6/9 phường sản xuất hoa cắt cành với tổng diện tích
30 ha; năm 1985 là 30 ha.Sản xuất hoa trong giai đoạn này chủ yếu sử dụng các giống trồng trọt đã có từ trước, với những kỹ thuật sản xuất truyền thống phục vụ cho nhu cầu
lễ tết trong nước
Năm 1984, chương trình nghiên cứu về cây lan Đà Lạt (Cymbidium) được khởi động Với kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật, hàng trăm ngàn cây địa lan cấy mô với các giống quý hiếm đã được nhân nhanh và phục vụ kịp thời cho nhu cầu giống của địa phương
Giai đoạn 1986-1995:
Có thể xem đây là giai đoạn trở mình và chuẩn bị cho bước phát triển mới của nghề
trồng hoa tại Đà Lạt Dự án LĐ-05 được triển khai vào năm 1984, với mục tiêu “Sản xuất được một triệu cành lan vào năm 1990” đã làm hồi sinh ngành trồng hoa Đà Lạt.
Trang 25Diện tích canh tác hoa cắt cành tại Đà Lạt trong giai đoạn này có tăng nhưng với tốc
độ rất chậm (1,6 lần trong 10 năm); sản lượng hoa trong giai đoạn này có bước phát triển đột phá từ 2,4 triệu cành năm 1984 đã đạt đến mức 26 triệu cành năm 1995
Giai đoạn 1996-2005:
Chính sách mở cửa của nhà nước đã thu hút nhiều nhà đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp của Đà Lạt Quá trình đầu tư và phát triển của Dalat Hasfarm trên đất Đà Lạt đã làm thay đổi cách nhìn về định hướng phát triển của ngành hoa Đà Lạt Bên cạnh đó, với tinh thần cầu tiến, ham học hỏi và mạnh dạn đầu tư, nhiều nông hộ sản xuất hoa đã nghiên cứu và tiếp cận các thông tin mới trong công nghệ sản xuất hoa chất lượng cao thông qua nhiều kênh khác nhau và ứng dụng ngay vào thực tế sản xuất
Năm 2004, Đà Lạt đã bắt đầu xuất khẩu cây giống hoa, cây cảnh sang một số nước ởkhu vực châu Âu như Bỉ, Hà Lan… mà bước khởi đầu là công ty cổ phần Công nghệsinh học Rừng hoa Đà Lạt với việc đầu tư thiết bị, công nghệ và kỹ thuật tiên tiến trên lĩnh vực nuôi cấy mô thực vật vào sản xuất
Giai đoạn 2005 đến nay:
Sau 20 năm tập trung phát triển sản xuất hoa theo hướng hàng hóa, hàng loạt các quy trình kỹ thuật canh tác chuẩn cho từng giống hoa như: cúc, đồng tiền, lyly, cẩm chướng, đồng tiền, bibi, salem, hồng, cát tường, hồng môn, địa lan….đã được nghiên cứu và ban hành rộng rãi đến người dân Kỹ thuật canh tác hoa của nông dân ngày càng hoàn thiện, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm hoa Đà Lạt Hiện nay, giá trị sản xuất hoa theo hướng nông nghiệp công nghệ cao tại Đà Lạt đã đạt 400-500 triệu đồng/ha/năm; với những chủng loại hoa đặc biệt có thể có doanh thu đạt trên 1 tỷ đồng/ha/năm
Tóm tại: Có thể nói trong thời gian qua (1975-2011) là một chặng đường dài cho ngành hoa Đà Lạt khẳng định vị trí của mình Qua một quá trình hình thành và phát triển, ngày nay nói đến Đà Lạt người ta sẽ liên tưởng ngay đến một “Thành phố ngàn hoa” với nhiều chủng loại hoa chất lượng cao.Trong giai đoạn hội nhập sắp tới, cùng với những chính sách, giải pháp phù hợp sẽ tạo những bước phát triển mạnh mẽ cho ngành hoa Đà Lạt
Trang 263.2.Tình hình phân bố các loại hoa
Các loại hoa chính được trồng ở Đà Lạt là: hoa cúc, hoa hồng, hoa Lay-ơn, hoa Lys,
và những loại hoa khác Theo nghiên cứu, mỗi loại hoa sẽ có những đặc điểm gieo trồng, thời vụ thu hoạch khác nhau
Hoa cúc: được trồng phổ biến trên hầu hết các diện tích canh tác toàn thành phố do
đặc điểm dễ trồng, thời vụ ngắn, nguồn cầu ổn định.Trong đó nhiều nhất là ở khu vực Thái Phiên, Nam Hồ, Xuân Thọ Các hộ nông dân trồng hoa cúc thường xuyên xen canh các loại hoa màu, cây trồng họ đậu khác trên cùng diện tích đất nhằm mục đích cải tạo đất, vì thế công tác thống kê diện tích, sản lượng hàng năm thường gặp khó khăn Việc sản xuất giống hoa cúc cũng khá đơn giản, có rất nhiều cơ sở sản xuất giống hoa cúc tư nhân trên địa bàn Đà Lạt cung cấp giống thường xuyên và đa dạng, nhiều hộ có diện tích trồng lớn còn tự trồng cây giống
Hoa Lay-ơn: thường được trồng xen canh giữa các vụ rau do doanh thu trên cùng
một diện tích thấp hơn các loài hoa khác và thời gian sinh trưởng ngắn Ngoài ra Lay-ơn lại là loài hoa ưa nắng nên các diện tích đã cất nhà kính thì không thể sử dụng để trồng Lay-ơn được nữa Chính vì vậy nên sản lượng lay-ơn ở Đà Lạt đã giảm khá nhiều so với những năm trước Ngoài ra, việc cung cấp giống lay-ơn yêu cầu những phương pháp xử
lý phức tạp cũng khiến cho loài hoa này ít được các hộ nông dân canh tác
Hoa Hồng: là loại hoa lâu năm được canh tác rộng rãi duy nhất tại Đà Lạt Do thời
gian canh tác thường kéo dài từ 10 năm trở lên, việc đầu tư một diện tích đất trồng hoa hồng thường khá phức tạp và tốn kém Diện tích hoa hồng Đà Lạt tập trung chủ yếu ở khu vực Vạn Thành, Nam Ban với nhiều hộ dân có kinh nghiệm trồng hoa lâu năm
Hoa Lys: là một trong những loại hoa cao cấp được trồng phổ biến tại Đà Lạt Tuy
nhiên do giống hoa đắt và nguồn cung thường là do nhập ngoại, việc đầu tư, chăm sóc phức tạp, giá cả lại dao động tùy thời điểm nên chỉ có một số ít hộ đầu tư chuyên canh Hoa lys được trồng phân bố rải rác với những diện tích nhỏ trên những khu đất có chất lượng tốt nhất
Trang 27Các loại hoa khác: đồng tiền
phân bố rải rác với sản lượng biến động
hoặc tận dụng diện tích đất thừa
3.3.Diện tích canh tác và sản lư
BIỂU ĐỒ 3.1: DIỆN TÍCH GIEO TRỒNG V
Qua số liệu thống kê từ năm 2005 đ
Lạt tăng 311, 68% từ 882 ha năm 2005 đ
cũng tăng đều qua các năm, từ
Thông qua những đánh giá t
phát triển to lớn của ngành hoa Đà L
càng mạnh mẽ hiện nay
đồng tiền, cẩm chướng, cát tường, sao tím, salephân bố rải rác với sản lượng biến động, chủ yếu là được trồng xen canh để cải tạo đất
n tích đất thừa
n lượng hoa Đà Lạt những năm gần đây:
m gần 40% diện tích và trên 70% sản lượng hoa c
u tư nước ngoài chiếm gần 150 ha diện tích canh tác, chi
ng 18 % sản lượng, chủ yếu là hoa chất lượng cao; ph
u vào các nông hộ, các công ty TNHH trong nư
ỂU ĐỒ 3.1: DIỆN TÍCH GIEO TRỒNG VÀ SẢN LƯỢNG HOA Đ
Nguồn:Phòng
năm 2005 đến 2011, diện tích gieo trồng hoa c
882 ha năm 2005 đến 3631 ha năm 2011 Và sản lư
ừ 330 triệu cành năm 2005 đến 1180 triệu cành năm 2011
ng đánh giá từ nhiều năm qua, có thể khẳng đ
a ngành hoa Đà Lạt trong điều kiện hội nhập kinh t
, salem được trồng chủ yếu là được trồng xen canh để cải tạo đất
ng hoa cả tỉnh; trong canh tác, chiếm
ng cao; phần diện tích , các công ty TNHH trong nước và các trang
Trang 284.Tình hình tiêu thụ hoa Đà L
4.1.Thị trường nội địa
Đến nay, hoa Đà Lạt vẫn ch
trường nội địa chiếm khoảng 85% t
thành trong cả nước, nổi bật là
Theo kết quả khảo sát năm 2012, chúng tôi c
dùng của người dân TP Hồ Chí Minh khi ch
ỢNG TIÊU THỤ HOA CỦA THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
Nguồn: Tổng cục thống kê Lâm Đ
Chí Minh là một thị trường lớn nhất trong nước cho hoa c
i hoa Hồ Thị Kỷ, Đầm Sen và Hậu Giang tại TP.HCM nh4.000 thùng hoa tươi (1-2 triệu cành) từ Đà Lạt để cung cấp cho c
n Tây, qua Campuchia, gửi đi Trung, ra Hà Nội Ngày lễ tết con s
o sát năm 2012, chúng tôi cũng rút ra vài nhận xét về
Chí Minh khi chọn mua hoa tươi như sau:
416.500 451.863 435.219
721.880
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Sản lượng tiêu thụ (triệu cành)
Trang 29BIỂU ĐỒ 4.2: N
Những nơi người tiêu dùng mua hoa thư
tươi (30%), người tiêu dùng ít khi mua
mua hoa tại các điểm chợ đầu m
tiêu dùng vẫn thích chọn mua
BIỂU ĐỒ 4.3: CÁC LOẠI HOA TH
Theo khảo sát, có 28% đáp viên tr
hồng
Ồ 4.2: NƠI MUA HOA CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
Nguồn: Khả
mua hoa thường là các chợ gần nhà (45%) và các shop hoa
i tiêu dùng ít khi mua ở các chợ đầu mối hay lề đường
u mối sẽ có giá mềm hơn, nhưng đổi lại sự timua tại các chợ gần nhà và shop hoa tươi hơn
ỂU ĐỒ 4.3: CÁC LOẠI HOA THƯỜNG MUA
n: Khảo sát năm 2012
, và 24% chọn đáp án là hoa
Trang 30BIỂU ĐỒ 4.4: MỤC ĐÍCH MUA HOA T
Mục đích tiêu dùng cũng r
người tiêu dùng chọn mua hoa
dùng chọn nhiều nhất là phục v
cũng khá hợp lý khi loại hoa mà ngư
biến được phục vụ cho việc th
BIỂU ĐỒ 4.5: YẾU TỐ NG
ỂU ĐỒ 4.4: MỤC ĐÍCH MUA HOA TƯƠI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
Nguồn: Khả
ũng rất khác nhau, trên đây là những lý do ph
n mua hoa Trong quá trình khảo sát, những lý do đư
c vụ cho việc thờ cúng, các dịp lễ, và sinh nh
i hoa mà người tiêu dùng mua nhiều nhất là hoa cúcthờ cúng
ỂU ĐỒ 4.5: YẾU TỐ NGƯỜI TIÊU DÙNG QUAN TÂM KHI MUA HOA
t là hoa cúc-loại hoa phổ
ÊU DÙNG QUAN TÂM KHI MUA HOA
ảo sát năm 2012
Trang 31Trong tất cả các yếu tố, khách hàng đ
thuận tiện Dễ thấy rằng chất lư
thế người sản xuất, cũng như các đ
nguồn cung của mình
Tuy nhiên, trong gần đây, th
cung vượt cầu, dẫn đến tình tr
sản xuất So với nghề trồng hoa trên th
thấp hơn rất nhiều Chính vì th
vấn đề cấp thiết của ngành hiệ
4.2.Thị trường xuất khẩu
BIỂU ĐỒ 4.6: SẢN LƯỢNG V
Mức tăng trưởng kim ngạ
quân đạt 147%, cao hơn mức tăng trư
có thể nói kim ngạch xuất khẩ
khẩu năm 2011cũng tăng 2,77
, khách hàng đặc biệt quan tâm đến yếu tố ch
t lượng là sự quan tâm hàng đầu của đến 48%
ư các đại lý bán sỉ, lẻ cần phải cải tiến hơn n
n đây, thị trường nội địa đã có hiện tượng bão hoà, th
n tình trạng giá cả rất thấp làm ảnh hưởng đến thu nh
ng hoa trên thế giới thì thu nhập của người trồ
u Chính vì thế, việc mở rộng hướng đi sang thị trường xu
ện nay
ỢNG VÀ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HOA CỦA Đ
LẠT
Nguồn: Sở Công Thương Lâm Đ
ạch xuất khẩu giai đoạn 2006 - 2011 của hoa Đà L
c tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của năm 2010 đ
ẩu hoa đạt mức kỷ lục từ trước đến nay Sản lư
ẠCH XUẤT KHẨU HOA CỦA ĐÀ
Công Thương Lâm Đồng
a hoa Đà Lạt bình
a năm 2010 đến 101%,
n lượng hoa xuất
Trang 32như Việt Nam có cơ cấu hoa ph
này Ngoài ra, các sản phẩm hoa từ các n
phải chịu thuế nhập khẩu
BIỂU ĐỒ 4.8: KIM NG
ụ trong nước, ngành sản xuất hoa Đà Lạt không ngừng vờng rộng lớn đầy tiềm năng, kể cả việc chinh phục những thị tr
ật Bản, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, EU, Australia…
: CÁC THỊ TRƯỜNG CỦA HOA ĐÀ LẠT XUẤT KHẨU
Nguồn: Sở công thương Lâm Đ
Theo các chuyên gia ngành hoa Nhật Bản và Tây Âu, với cơ cấu trên 35
à 30% tổng diện tích trồng hoa cúc, Đà Lạt – Lâm Đ
ấu hoa phù hợp với thị hiếu nhập khẩu hoa
ản phẩm hoa từ các nước đang phát triển nhập khẩu v
: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HOA ĐÀ LẠT TẠI CÁC THỊ
ợp với thị hiếu nhập khẩu hoa của các nước
ớc đang phát triển nhập khẩu vào EU không
ẠT TẠI CÁC THỊ
Phòng kinh tế Đà Lạt
Trang 33Những năm qua, việc xuất khẩu hoa Đ
là lượng hoa xuất khẩu được chủ yếu l
như Công ty Hasfarm, Công ty Boniefarm… chi
Các công ty xuất khẩu hoa tr
Hasfarm) đạt trên 9,1 triệu USD năm 2008, chi
toàn tỉnh; công ty TNHH Apollo đ
Công nghệ Sinh học Rừng Hoa Đà L
TNHH Hoa lan Lâm Thăng, công ty TNHH Vi
đến dưới 3% tổng kim ngạch xu
BIỂU ĐỒ 4.9: CÁC CÔNG TY XU
Từ những thông tin và số li
được những kết quả vượt trội, tuy nhiên ngư
phải đối mặt với những vấn đề
Sản phẩm hoa Đ
xuất khẩu trực tiếp hàng năm c
vốn đầu tư nước ngoài thực hiện
ững năm qua, việc xuất khẩu hoa Đà Lạt tuy có những thay đổi, nhưng m
ợc chủ yếu là của các công ty lớn có vốn đầu tnhư Công ty Hasfarm, Công ty Boniefarm… chiếm tỷ lệ 98%
u hoa trực tiếp có thể kể đến là công ty TNHH Agrivina (Dalat
u USD năm 2008, chiếm trên 90% kim ngạch xunh; công ty TNHH Apollo đạt trên 238 ngàn USD, chiếm 2,3%; các công ty CP
ng Hoa Đà Lạt, công ty TNHH Hoa Trường Xuân, công ty TNHH Hoa lan Lâm Thăng, công ty TNHH Việt Nam Thành Công… chi
ch xuất khẩu hoa
CÁC CÔNG TY XUẤT KHẨU HOA ĐÀ L
Ngu
liệu nêu trên, ta thấy rằng ngành sản xuất hoa Đà L
i, tuy nhiên người dân và doanh nghiệp sản xu
ề nan giải:
ản phẩm hoa Đà Lạt hiện nay vẫn tiêu thụ nội địa là chính, s
àng năm còn rất khiếm tốn và phần lớn do các doanh nghiệp có
ực hiện
ưng một thực tế
ủa các công ty lớn có vốn đầu tư nước ngoài
n là công ty TNHH Agrivina (Dalat
ch xuất khẩu hoa
Trang 34 Vấn đề liên kết, hợp tác để cùng phát triển giữa các nhà sản xuất, giữa sản xuất với thị trường, giữa khoa học và thực tiễn sản xuất, giữa cơ chế nhà nước với đời sống… vẫn còn đang còn gặp nhiều hạn chế
Tính chất nhỏ lẻ, manh mún thể hiện rất rõ ở lối sản xuất tự phát của các nông hộ, dẫn đến tình trạng hoa Đà Lạt không đủ khả năng đáp ứng được những hợp đồng xuất khẩu với những yêu cầu nghiêm ngặt về số lượng và chất lượng
Sản xuất hoa tăng nhanh về sản lượng, chủng loại nhưng giá trị gia tăng của hoa Đà Lạt vẫn còn thấp, chưa tạo ra được chuỗi giá trị làm cơ sở của một lợi thế cạnh tranh vững chắc trong xuất khẩu hoa ra thị trường thế giới
Trang 355.Phân tích chuỗi cung ứng hoa Đà Lạt
5.1.Các yếu tố đầu vào:
Thực tế, hiệu quả sản xuất hoa cắt cành phụ thuộc vào các yếu tố:
‐Những điều kiện tự nhiên: đủ ánh sáng, nước tưới, đất sạch, thời tiết thuận lợi;
Trang 36‐Nhận thức tốt về bảo quản chất lượng trong quá trình sản xuất cũng như sau thu hoạch.
Trong đó, ta nhận thấy rằng các yếu tố đầu vào như: đất đai, nguồn nước, nguồn giống, phân bón, thuốc trừ sâu… đóng một vai trò rất quan trọng trong việc quyết định chất lượng hoa cắt cành Dưới đây là những đặc điểm chính của các yếu tố đầu vào tại Đà Lạt-Lâm Đồng
5.1.1.Quỹ đất
Theo báo cáo của Phòng nông nghiệp thành phố Đà Lạt, diện tích gieo trồng hoa của
Đà Lạt năm 2011 là 3631 ha tăng 8% so với năm 2010, chiếm 66,67% diện tích hoa của tỉnh Lâm Đồng Trong đó, diện tích hoa được trồng trong nhà lưới nhà kính là 1.242,1 ha
BẢNG 5.1: DIỆN TÍCH GIEO TRỒNG HOA Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG TỈNH
LÂM ĐỒNG
Diện tích
(ha)
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011Tỉnh
Trang 37BẢNG 5.2: CÁC YẾU TỐ KHÍ HẬU NĂM 2011 ĐÀ LẠT
Nguồn: Sở nông nghiệp Lâm Đồng
Từ bảng số liệu, ta nhận thấy khí hậu Đà Lạt phân hóa thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa
và mùa khô Độ ẩm trung bình tương đối cao, kết hợp với khí hậu mát mẻ, rất thích hợp cho việc trồng những giống hoa ôn đới Tuy nhiên mùa khô kéo dài nhiều ngày dễ dẫn đến tình trạng thiếu nước tưới cho khu vực
5.1.3.Nguồn giống
BIỂU ĐỒ 5.3: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG GIỐNG CÁC NÔNG HỘ
Nguồn: khảo sát 2012
Theo kết quả khảo sát, nguồn gốc sử dụng giống trong các hộ nông dân chủ yếu từ các
cơ sở sản xuất tư nhân, hoặc do họ tự tổ chức ươm và cung ứng cho các hộ khác Đa sốnông dân thường dựa vào uy tín của các cơ sở cung cấp để quyết định mua giống
Theo xu hướng mới, hiện nay công tác nhân giống đã ứng dụng một số kỹ thuật mớinhư: vi thủy canh (micro phonics), nhân giống invitro…Theo tài liệu điều tra của Trung
Trang 38tâm nghiên cứu Khoai tây-rau-hoa Đà Lạt, 75% nông hộ ở Đà Lạt cho biết họ thích dùng giống nhập nội, 25% có khuynh hướng dè dặt đưa giống mới và sản xuất do chưa chắn chắc am hiểu kỹ thuật trồng trọt; 63,5% nông hộ cho biết họ sẵn sàng mua giống khi nhận thấy rằng sẽ bán được giá cao khi thu hoạch.
Hoa cúc, cẩm chướng: được nhân giống bằng kỹ thuật cấy mô bằng phương pháp tỉa
chồi:
Cây do tỉa chồi thường mọc khoẻ nên đảm bảo tính chất của cây mẹ cho hoa tốt Muốn có nhiều chồi non tốt cần vun gốc và chăm sóc cây mẹ đầy đủ
Hoa hồng: hiện nay các giống hoa hồng được trồng phổ biến tại Đà Lạt là: Đỏ Ý, đỏ
Hà lan, đỏ Pháp, Xanh dâu (hồng xanh), Tỷ muội(hoa chùm), Vàng titi, Trắng xanh, Song hỷ Các giống này hầu hết được nhập nội trong những năm gần đây, cho năng suất cao và chất lượng bông tốt, đáp ứng được những yêu cầu khác nhau của thị trường tiêu thụ Về đặc điểm sinh thái thì thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng ở Đà Lạt
Hoa lys: giống nhập nội từ Hà Lan, Nhật Bản với giá rất cao Phần lớn lượng vốn của
người trồng lys nằm ở củ giống,thường có hai loại là lys trắng và lys màu
Hoa lay-ơn: nguồn giống từ củ hoa sau khi thu hoạch.
Hoa đồng tiền: giống nhập nội từ Hà Lan, màu sắc đa dạng, phong phú.
5.1.4.Phân bón
Phân bón được cung cấp từ các cửa hàng thuốc bảo vệ thực vật phân bố rải rác và rộng khắp trên địa bàn Đà Lạt Các loại phân thường gặp là: NPK, phân vi lượng bổ sung, Vôi, Phân hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ và các loại phân bón lá Tùy từng loại phân, từng thời điểm mà có cách bón phân khác nhau Nhìn chung các hộ nông dân tương đối nắm vững quy trình, phương thức bón từng loại phân và sử dụng khá hiệu quả, tuy nhiên do nằm ở địa thế cao và ngành chăn nuôi hạn chế nên thường xuyên xảy ra hiện tượng khan hiếm phân hữu cơ Điều này dẫn đến việc bón nhiều phân vô cơ dẫn đến hiện tượng đất bịthoái hóa, rửa trôi
Trang 395.1.5.Thuốc trừ sâu
Sâu bệnh hại cây trồng luôn là vấn đề muôn thuở của nhà nông, và ngành trồng hoa cũng không tránh khỏi vấn nạn này Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để tiêu diệt sâu hại ở hoa là rất phổ biến, tuy nhiên các tiêu chuẩn dùng ở hoa thường không phức tạp như
ở rau, quả hoặc các loại nông sản thực phẩm trực tiếp khác Hơn nữa, việc áp dụng trồng hoa trong nhà kính cũng hạn chế phần nào tác động của sâu hại.Tuy nhiên, các hộ nông dân thường sử dụng thuốc trừ sâu một cách tùy tiện Theo khảo sát, có 30% số hộ nông dân sử dụng thuốc trừ sâu theo hướng dẫn của cán bộ nông nghiệp, phần còn lại là do tựtìm hiểu, học hỏi lẫn nhau hoặc có sự hướng dẫn của người bán hoặc trên bao bì sản phẩm
5.2.Quy mô
Hoạt động sản xuất hoa hiện nay ở Đà Lạt chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình Diện tích trồng hoa của các hộ dao động từ 1000m 2đến 5000m2 , một số ít hộ có quy mô trên 5000m2 Đại đa số nông dân còn thiếu vốn để đầu tư ứng dụng khoa học kỹ và các công nghệ mới, mức đầu tư phát triển sản xuất thấp, chưa cân đối… Diện tích áp dụng công nghệ mới còn chiếm tỷ lệ thấp, thiếu tập trung, không đồng bộ gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý và giảm sức thu hút đối với doanh nghiệp, chưa tạo được động lực phát triển công nghệ chế biến
5.3.Phương thức và trình độ canh tác
Nông hộ tăng cường kiến thức sản xuất hoa chủ yếu qua kênh tham gia câu lạc bộkhuyến nông và kênh truyền hình- đài phát thanh Các hoạt động mang tính chất hỗ trực tiếp cho nông dân như tham gia tập huấn, tiếp xúc thường xuyên với khuyến nông, tham gia hội thảo khuyến nông và hội thảo đầu bờ để trực tiếp nắm bắt kỹ thuật sản xuất, các kinh nghiệm, các khoa học kỹ thuật mới tỷ lệ được tham gia còn thấp; tỷ lệ này là 48,33% /46,67% /20%
Các loại hoa ở Đà Lạt chủ yếu được trồng trong nhà kính có trang bị hệ thống tưới tự động Nhờ vậy, công tưới tiêu giảm được nhiều nhờ hệ thống phun nước tự động, lượng nước cần thiết cũng giảm nhiều giúp các hộ nông dân có thể gieo trồng trong mùa khô