1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài quản trị chuỗi cung ứng (cung ứng heo thịt an toàn)

54 1,1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản trị chuỗi cung ứng (cung ứng heo thịt an toàn)
Tác giả Võ Hồ Kim Uyên
Người hướng dẫn TS. Hồ Tiến Dũng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 499,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

là mắt xích cuối cùng của chuỗi.Nói cách khác, chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanhcung cấp một sản phẩm hay một dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phân

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA SAU ĐẠI HỌC

Tiểu luận môn học:

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

Đề tài: QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG

Giáo viên hướng dẫn: TS Hồ Tiến Dũng

Sinh viên: Võ Hồ Kim Uyên

Lớp: Quản trị Kinh doanh

Đêm 1, K17

Trang 2

TP Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2009

Trang 3

MỤC LỤC

(Trang 1 tính từ Chương I, theo đó số trang trên file tại Mục lục này cộng 5 là đúng trang )

Trang 4

1 Khái niệm chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1

2 Phân biệt chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng với các hình thức khác 2

1 Những đặc tính năng động của chuỗi cung ứng 3

3 Các tiêu chuẩn đo lường hiệu quả thực hiện chuỗi cung ứng 4

3.5 Ví dụ đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng qua 4 tiêu chuẩn 5

4 Các phương thức cải tiến chuỗi cung ứng 74.1 Cải tiến cấu trúc và phương thức cải tiến cấu trúc chuỗi cung ứng 74.2 Cải tiến bộ phận và phương thức cải tiến bộ phận chuỗi cung ứng 84.3 Kết luận về cải tiến cấu trúc, bộ phận chuỗi cung ứng và phương thức cải

2 Tình hình nuôi heo tại Đồng Nai và một số tỉnh, thành phố lân cận 15

1 Năng lực sản xuất heo thịt của ngành chăn nuôi phía Nam và Đồng Nai 16

Trang

2 Thị trường tiêu thụ heo thịt Phía Nam và tỉnh Đồng Nai 17

3 Các hình thức phổ biến trên thị trường về mua-bán, liên kết chăn nuôi heo 17

4 Diễn biến giá cả thị trường heo thịt 20

1 Thực trạng hệ thống giết mổ heo trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 21

2 Thực trạng hệ thống giết mổ heo thịt hiện nay của thành phố Hồ Chí Minh 23

2 Hệ thống siêu thị và các cửa hàng tiện lợi 25

3 Thực trạng về hệ thống tổ chức lưu thông vận chuyển thịt heo 26

Chương III:

GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG

NGUYÊN LIỆU HEO THỊT AN TOÀN

28

Trang 5

I Dự báo tình hình 28

1 Tăng trưởng kinh tế và phát triển chăn nuôi 28

3 Hợp đồng trong sản xuất nông nghiệp 31

3 Phương thức đánh giá chất lượng heo thịt 36

5 Quy trình ký kết hợp đồng đầu tư, thu mua nguyên liệu 38

VI Phương án đầu tư phát triển vùng nguyên liệu và thu mua nguyên

liệu heo thịt

39

1 Căn cứ xác định nhu cầu nguyên liệu 39

Trang

2 Nhu cầu vốn đầu tư cho các nhà cung cấp 44

Trang 6

là mắt xích cuối cùng của chuỗi.

Nói cách khác, chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanhcung cấp một sản phẩm hay một dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phânphối đến người tiêu dùng cuối cùng

Mô hình của chuỗi cung ứng điển hình

- Quản trị chuỗi cung ứng :

Quản trị chuỗi cung ứng là hoạch định, thiết kế, kiểm soát luồng thông tin vànguyên vật liệu theo chuỗi cung ứng nhằm đạt được yêu cầu của khách hàng mộtcách có hiệu ở hiện tại và trong tương lai

Qua đó, ta thấy quản trị chuỗi cung ứng khác với chuỗi cung ứng rằng Quảntrị chuỗi cung ứng đòi hỏi sự chú ý đến cả luồng thông tin và nguyên vật liệu Sựphản hồi thông tin là quan trọng đối với việc quản trị chuỗi cung ứng; Nếu thông tinphản hồi chậm dẫn đến sự thay đổi bất thường của đơn đặt hàng và sự vận chuyểnkhông hiệu quả của nguyên vật liệu

Nhà kho

Nhà bán phân phối (bán

sỉ, lẻ)

Khách hàng cuối cùng

Trang 7

2 Phân biệt chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng với các hình thức khác:

Chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng được hiểu như trình bày tại Điểmmột Chương này, sau đây xin trình bày một hình thức điển hình khác để chúng ta cóthể phân biệt rõ chung như sau:

2.1 Kênh phân phối:

Kênh phân phối là quá trình từ nhà sản xuất đến khách hàng thông qua nhàphân phối

Như vậy, kênh phân phối chỉ là một bộ phận trong chuỗi cung ứng, nó là mộtcông đoạn từ nhà sản xuất đến khách hàng Tức kênh phân phối là các hệ thống bánhàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng

2.2 Quản trị nhu cầu:

Quản trị nhu cầu là quản lý nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ theo chuỗi cungứng Nhu cầu có thể được quản lý thông qua cơ chế như là sản phẩm, giá cả, khuyếnmại và phân phối, nhìn chung đây là những nhiệm vụ chủ yếu là thuộc về marketing

Quản trị nhu cầu thì khá quan trọng nhưng thường hay bị bỏ sót trong quátrình quản trị chuỗi cung ứng Nó là một bộ phận nhỏ của quản trị chuỗi cung ứngnhưng nó thật cần thiết trong việc kiểm soát các mức nhu cầu của hệ thống Chúng

ta phải xem xét quản trị nhu cầu có vai trò quan trọng như quản trị nguồn nguyên vậtliệu và dịch vụ trong quản trị chuỗi cung ứng

2.3 Quản trị logistics:

Khi quản trị logistics được hiểu theo nghĩa rộng thì nó là quản trị chuỗi cungứng Một số nhà quản trị định nghĩa logistics theo nghĩa hẹp khi chỉ liên hệ đến vậnchuyển bên trong và phân phối ra bên ngoài, trong trường hợp này thì nó chỉ là một

bộ phận của quản trị chuỗi cung ứng

Logistics là một lĩnh vực đang ở giai đoạn có nhiều sự quan tâm một cáchmới mẻ đến nhà quản trị chuỗi cung ứng Logistics xuất hiện từ những năm thậpniên 60, khi mà ý tưởng về Logistics hiện đại theo cùng với các chủ đề tương tự nhưmôn động lực học công nghiệp đã nêu bật lên những tác động giữa các bộ phận củachuỗi cung ứng và chúng có thể ảnh hưởng đến quyết định của các bộ phận khácnhư trong quy trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 8

II CÁC ĐẶC TÍNH, TIÊU CHUẨN ĐO LƯỜNG VÀ PHƯƠNG THỨC CẢI TIẾN CHUỖI CUNG ỨNG:

1 Những đặc tính năng động của chuỗi cung ứng:

Chuỗi cung ứng có 3 đặc tính năng động được sau:

- Chuỗi cung ứng là một hệ thống có tính tương tác rất cao Các quyết định ởmỗi bộ phận của chuỗi cung ứng ảnh hưởng đến các bộ phận khác

- Chuỗi cung ứng có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi của nhu cầu Kho

và nhà máy phải đảm bảo để đáp ứng đầy đủ đối các đơn đặt hàng Thậm chí nếu cácthông tin hoàn hảo tại tất cả các kênh, sẽ có một phản ứng nhanh trong chuỗi cungứng từ thời gian bổ sung

- Cách tốt nhất để cải thiện chuỗi cung ứng là rút ngắn thời gian bổ sung vàcung cấp thông tin về nhu cầu thực tế đến tất cả các kênh phân phối Thời gian trongchuỗi cung ứng chỉ dùng để tạo ra sự thay đổi trong các đơn đặt hàng và hàng tồnkho Dự đoán sự thay đổi nhu cầu cũng có thể làm giảm ảnh hưởng của những thayđổi thực tế, và quản trị nhu cầu có thể làm ổn thỏa những thay đổi của nhu cầu

2 Tính phối hợp của chuỗi cung ứng:

- Một trong những cách tốt nhất để đạt được những thay đổi cần thiết trongquá trình quản trị chuỗi cung ứng một cách hiệu quả là tăng sự phối hợp trong bộphận và giữa các tổ chức

- Để có được những cải tiến, điều quan trọng là phải tăng cường sự phối hợp

cả trong nội bộ của công ty và giữa các công ty với nhau Các công ty có thể tổ chứcnhiều nhóm chức năng (phòng, ban …), những nhóm chức năng này sẽ quản lýnhững lĩnh vực khác nhau trong chuỗi cung ứng Khi các bộ phận này thiếu sự phốihợp sẽ gây ra kết quả tồi tệ trong chuỗi cung ứng đó cũng như các đối tác khác cóliên quan

- Có một số cách để tăng cường sự phối hợp, bao gồm lập các đội/nhóm giữacác đơn vị chức năng, tạo mối quan hệ hợp tác với khách hàng và với nhà cung cấp,cải tiến hệ thống thông tin tốt hơn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ hơn … Mỗi bộ phậntrong cơ chế này nhằm hướng con người làm việc tập thể với nhau, vì một mục tiêuchung hơn là vì mục tiêu của cá nhân hay của phòng ban riêng biệt Khi làm đượcđiều đó những cải tiến trong chuỗi cung ứng sẽ đạt hiệu quả tốt hơn

Trang 9

3 Các tiêu chuẩn đo lường hiệu quả thực hiện chuỗi cung ứng:

Để đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng là công việc rất cần thiết nhằm hướngđến việc cải tiến và đạt mục tiêu cho việc cải tiến chuỗi cung ứng Có 4 tiêu chuẩnđánh giá hiệu quả thực hiện chuỗi cung ứng, đó là: giao hàng, chất lượng, thời gian

và chi phí

3.1 Tiêu chuẩn Giao hàng:

Tiêu chuẩn này đề cập đến giao hàng đúng hạn được biểu hiện bằng tỉ lệ %của các đơn hàng được giao đầy đủ về số lượng và đúng ngày khách hàng yêu cầutrong tổng số đơn hàng Chú ý các đơn hàng không được tính là giao hàng đúng hạnkhi chỉ có một phần đơn hàng được thực hiện và khi khách hàng không có hàngđúng thời gian yêu cầu Đây là một tiêu thức rất chặt chẽ, khắc khe và khó nhưng nó

đo lường hiệu quả thực hiện trong việc giao toàn bộ đơn hàng cho khách khi họ yêucầu

3.2 Tiêu chuẩn Chất lượng:

- Chất lượng được đánh giá ở mức độ hài lòng của khách hàng là sự thỏa mãncủa khách hàng về sản phẩm Đầu tiên chất lượng có thể được đo lường thông quanhững điều mà khách hàng mong đợi

- Để đo lường được thỏa mãn của khách hàng mong đợi về sản phẩm ta thiết

kế bảng câu hỏi trong đó biến độc lập từ sự hài lòng của khách hàng Ví dụ, mộtcông ty hỏi khách hàng của mình: “Chúng tôi đã đáp ứng nhu cầu của quý khách tốtđến mức nào?” Những câu trả lời được đánh giá bằng thang đo Likert 5 điểm: (5)

vô cùng hài lòng, (4) rất hài lòng, (3) hài lòng, (2) chưa hài lòng lắm, (1) thất vọng.Nếu các câu trả lời (4), (5) điểm chiếm tỉ lệ cao trong tổng các câu trả lời, như thếcho thấy công ty đã đáp ứng hơn mong đợi của khách hàng

- Một cách khác, để đo lường sự hài lòng của khách hàng là hỏi khách hàng

về một hay nhiều câu hỏi dưới đây:

+ Quý khách hài lòng như thế nào về tất cả các sản phẩm quý khách đã sử dụng?

+ Quý khách đã giới thiệu bạn bè mua hàng của chúng tôi như thế nào?

+ Quý khách còn có thể mua lại sản phẩm của chúng tôi lần nữa khi cần?

Trang 10

Lòng trung thành của khách hàng là điều mà các công ty cần quan tâm để đạtđược, bởi vì tìm kiếm khách hàng mới tốn kém hơn nhiều so với giữ khách hànghiện tại Mặt khác, các công ty cần so sánh lòng trung thành và mức độ hài lòngkhách hàng của mình so với các đối thủ cạnh tranh khác, từ đó họ sẽ xem xét cải tiếnchuỗi cung ứng của công ty một cách liên tục.

3.3 Tiêu chuẩn thời gian:

- Tổng thời gian bổ sung hàng có thể tính từ một cách trực tiếp từ mức độ tồnkho

Thời gian tồn kho = mức độ tồn kho/mức độ sử dụng

Thời gian tồn kho sẽ được tính cho mỗi mắc xích trong chuỗi cung ứng (nhàcung cấp, nhà sản xuất, người bán sỉ, bán lẻ) và cộng hết lại để có thời gian bổ sunghàng lại

- Thời gian thu hồi công nợ: Số ngày tồn kho cộng số ngày chưa thu hồi tiền

nợ bằng tổng thời gian của một chu ký kinh doanh để tạo ra sản phẩm và nhận đượctiền

Chu ký kinh doanh = số ngày tồn kho + số ngày công nợ 3.4 Tiêu chuẩn chi phí:

Có hai cách để đo lường chi phí:

- Công ty đo lường tổng chi phí bao gồm chi phí sản xuất, phân phối, chi phítồn kho và chi phí công nợ, thường những chi phí riêng bịêt này thuộc trách nhiệmcủa những nhà quản lý khác nhau và như vậy không giảm được tối đa tổng chi phí

- Tính chi phí cho cả hệ thống chuỗi cung ứng để đánh giá hiệu quả giá trị giatăng và năng suất sản xuất Phương pháp đo lường hiệu quả như sau :

Hiệu quả = doanh số - chi phí nguyên vật liệu chi phí lao động + chi phí quản lý

Chỉ tiêu đánh giá này có giá trị gia tăng ở tử số và tổng chi phí làm gia tănggiá trị mẫu số

3.5 Ví dụ đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng thông qua 4 tiêu chuẩn:

Chúng ta có thể đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng với 4 tiêu chuẩn vừa trìnhbày trên theo Bảng 1 như sau:

Trang 11

Bảng 1 CHỈ TIÊU

NHÀ CUNG CẤP

NHÀ

Chi phí mua hàng (triệu đồng) 10 20 60 80

sự thỏa mãn trung bình của các mắc xích trong chuỗi cung ứng

Mức thỏa mãn trung bình của khách hàng (%) : (50+80+70+80)/4 = 70

- Thời gian có thể được đo lường bằng 2 cách, bằng tổng thời gian bổ sunghàng lại (thời gian tồn kho) và bằng tổng số ngày phải thu nợ

Tổng thời gian bổ sung hàng lại (ngày) : 20+60+30+20 = 130Tổng thời gian thu nợ (ngày) : 20+40+30+50 =140Tổng chu kỳ kinh doanh (ngày) : 130+140 =270

- Chi phí có thể được đo bằng tổng chi phí giao hàng bằng một tỷ lệ phầntrăm nào đó của doanh số và bằng hiệu quả của giá trị gia tăng Những con số nàyđược thể hiện Bảng một cho mỗi mắc xích trong chuỗi cung ứng và đối với toàn bộchuỗi cung ứng

Sau khi xây dựng xong những chỉ tiêu đo lường này, công ty phải đặt ra mụctiêu để kiểm soát những chỉ tiêu này Ví dụ, công ty có thể quyết định cắt giảmlượng tồn kho đi còn một nửa, cắt giảm 1/5 ngày công nợ cải thiện hiệu quả 20%nữa, tăng tỷ lệ giao hàng đúng hạn lên 95% và cải thiện sự thỏa mãn của khách hàng

Trang 12

ở mức cao hơn đối thủ cạnh tranh Những mục tiêu đề ra phải phù hợp với chiếnlược kinh doanh và nhu cầu kinh doanh tổng thể.

Công ty cũng nên gặp khách hàng, nhà cung cấp và tạo nhóm này thành mộtchuỗi cung ứng (nhà cung cấp – công ty – khách hàng), điều quan trọng là cả tổngthể chuỗi cung ứng phải được cải tiến chứ không cải tiến từng phần Tương tự nhưthế, cải tiến trong một bộ phận của công ty trong chuỗi cung ứng có thể sẽ làmphương hại đến công ty khác và cần phải hợp tác vì lợi ích chung của cả tập thể Nếumột công ty đơn phương cắt lượng tồn kho thành phần của họ, điều đó có thể làm cắtgiảm chi phí của họ nhưng làm ảnh hưởng đến khả năng cung cấp hàng cho kháchhàng

Như vây, bất kỳ mục tiêu được đặt ra cho việc cải tiến cũng nên được đổithành các chỉ tiêu tài chính Có thể làm bằng cách lấy những mục tiêu hoạt độngđược mô tả ở trên và chuyển thành báo cáo thu nhập và cân đối kế toán Kết quả là

nó có thể xác định hiệu quả về thu nhập ròng, về tài sản và về chỉ tiêu tài chính nhưlợi nhuận trên tổng tài sản, lợi nhuận trên vốn cổ phần, tiền mặt, giá trị gia tăng vềmặt kinh tế

Tóm lại, những cải tiến trong hoạt động quản trị điều hành phải tính về mặt

tài chính cho mỗi mắc xích trong chuỗi cung ứng

4 Phương thức cải tiến chuỗi cung ứng:

Có hai cách đề cải tiến chuỗi cung ứng, bằng cách thay đổi cấu trúc hoặc thayđổi các bộ phận của chuỗi cung ứng Những thay đổi trong cấu trúc liên quan đếnnhững thay đổi về vật chất, kỹ thuật trong khi đó thay đổi các bộ phận thì liên quanđến con người và hệ thống

4.1 Thay đổi cấu trúc và phương thức thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng: 4.1.1 Thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng:

Thay đổi cấu trúc bao gồm những thay đổi về máy móc thiết bị, công suất, kỹthuật và công nghệ … Những thay đổi này thường là thay đổi mang tính chất dài hạn

và cần một nguồn vốn đáng kể Những thay đổi về cấu trúc, sắp xếp lại các yếu tốtrong chuỗi cung ứng thường là sự thay đổi lớn và sâu rộng

4.2 Phương thức thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng:

Có 5 phương thức thay đổi cấu trúc chuỗi như sau:

Trang 13

- Thống nhất từ khâu đầu đến khâu cuối theo quy trình khép kín:

Cách thức này chỉ ra việc sở hữu trong chuỗi cung ứng Nếu một nhà sản xuấtquyết định mua một công ty phân phối và phân phối sản phẩm của mình chỉ quacông ty đó thôi, thì sự thống nhất này là hướng về thị trường Mặc khác, nếu nhà sảnxuất mua một công ty cung ứng sản phẩm, thì sự thống nhất này là lùi về phía saucủa chuỗi cung ứng Nếu một công ty sở hữu cả chuỗi cung ứng thì công ty nàyđược hợp nhất theo chiều dọc

- Đơn giản hóa quá trình chủ yếu:

Phương thức này được sử dụng để cải tiến chuỗi cung ứng khi quá trình quáphức tạp hay quá lỗi thời khi đó cần sự thay đổi Trong quá trình này người ta điềuchỉnh lại những chỗ bị lỗi mà không quan tâm đến quá trình hiện tại Việc này dẫnđến những thay đổi lớn về trình tự và nội dung các công việc được tiến hành trongquá trình cũng như những thay đổi về hệ thống

- Thay đổi số lượng nhà cung cấp, nhà máy, nhà kho, cửa hàng bán lẻ:

Đôi khi hệ thống phân phối không còn giữ hình thức giống ban đầu Ví dụ,nhiều công ty nhận định rằng họ có quá nhiều nhà cung cấp và họ hướng đến việcgiảm số lượng nhà cung cấp bằng cách chọn những nhà cung cấp tốt nhất để đảmbảo giao hàng đúng hạn, và cung cấp nguyên liệu có nguồn gốc rõ ràng Hoặc là, khithị trường có sự thay đổi, nhiều công ty nhận thấy rằng họ cần có vài nhà máy vànhà kho ở địa điểm khác, do vậy họ định hình lại hệ thống phương tiện sản xuất vàphân phối

- Thiết kế sản phẩm chính:

Phương thức này thường được sử dụng để cải tiến chuỗi cung ứng Trongthực tế, nhiều công ty họ nhận thấy họ có quá nhiều chủng loại hàng hóa, trong đó

có vài loại bán rất chậm, vì vậy các sản phẩm này phải được chọn lọc và thiết kế lại

- Chuyển quá trình hậu cần của công ty cho bên thứ ba:

Vài công ty chỉ đơn giản là chọn phương án tốt nhất chuyển tất cả các khâu từquản lý tồn kho, phân phối và hậu cần cho bên thứ ba Ví dụ, Điện tử Biên Hòa tậptrng vào sản xuất mặt hàng điện tử các loại Khi sản phẩm được sản xuất ra họ giaocho Thiên Hòa lưu kho và phân phối

4.2 Thay đổi bộ phận và phương thức thay đổi bộ phận chuỗi cung ứng: 4.2.1 Thay đổi bộ phận chuỗi cung ứng:

Trang 14

Thay đổi các bộ phận của chuỗi cung ứng bao gồm con người, hệ thống thôngtin, tổ chức, quản lý sản xuất và tồn kho, hệ thống quản lý chất lượng Những thayđổi này là những thay đổi mang tính chất nhạy cảm trong chuỗi cung ứng, nhà quảntrị thay đổi họat động cung ứng trong những cấu trúc đã thực hiện.

4.2.2 Phương thức thay đổi bộ phận của chuỗi cung ứng:

Mục tiêu của việc thay đổi bộ phận cũng tương tự như thay đổi trong cấutrúc, đó là hoàn thiện những hạn chế không rõ ràng, không chắc chắn từ chuỗi cungứng Có 5 cách thể hiện điều này:

- Sử dụng đội chức năng chéo:

Phương thức này áp dụng rộng rãi trong nhiều công ty hiện nay Mục đíchcủa nó là để phối hợp các chức năng đan chéo của rất nhiều phòng ban và bộ phậnchức năng của một công ty Chẳng hạn, đội chức năng chéo thường sử dụng để lập

kế hoạch và kiểm soát lịch sản xuất Đội sẽ bao gồm đại diện các bộ phận như tiếpthị, sản xuất, nhân sự, kế toán tài chính … Đội có nhiệm vụ dự báo nhu cầu trongtương lai, lập kế hoạch về công suất sản xuất và kế hoạch đặt hàng của khách hàng,mọi người khi đó phải đồng ý thực hiện kế hoạch này Chức năng và nhiệm vụ củatừng thành viên trong Đội phải được phân định rõ ràng như: tiếp thị thực hiện dựbáo nhu cầu, bộ phận sản xuất lên kế hoạch sản xuất, bộ phận tài chính đảm bảo đủvốn để sản xuất…

- Thực hiện sự cộng tác mang tính đồng đội:

Tính hợp tác giữa những nhà cung cấp và khách hàng mang đến sự phối hợpcác công ty chéo giống như đội chức năng chéo thực hiện sự phối hợp trong công ty.Tính hợp tác giữa các công ty bắt đầu bởi các hợp đồng liên kết bền chặt được thiếtlập trong mối quan hệ kinh doanh lâu dài gắn liền với lợi ích của nhau Các đối tácphải được xây dựng trên sự tin tưởng nhau để thực hiện công việc này Cũng nhưtrên, những đối tác sẽ thiết lập những đội chức năng của các nhân viên từ nhiều công

ty khác nhau, làm việc cùng với nhau trong dự án cải tiến quan trọng Chẳng hạnnhư một sản phẩm mới được phát triển trong suốt vài tháng bởi một nhóm kỹ sư từmột công ty thiết bị và địa điểm triển khai tại những khách hàng then chốt Đội nàylàm việc rất hiệu quả với nhau và làm báo cáo cuối cùng tới quản lý cấp cao của haibên nhà máy Nhà quản trị điều hành của đội không nên phân biệt những nhân viên

Trang 15

nào là của bạn và nhân viên nào là của chúng tôi mà phải hòa nhập để thực hiện mụctiêu chung.

- Giảm thời gian khởi động của máy móc thiết bị:

Trong việc cải thiện chuỗi cung ứng, giảm thời gian khởi động của trang thiết

bị thật là cần thiết cho những lô sản phẩm nhỏ hơn, có thể tiết kiệm được chi phí sảnxuất Ngay khi kích thước của lô hàng giảm, tồn kho sẽ giảm, hàng hóa sẽ được luânchuyển nhanh hơn, từ đó hàng hóa sẽ đáp ứng được với nhu cầu thị trường

Giảm thời gian sắp đặt đòi hỏi khả năng sáng tạo và có thể thực hiện bởi bất

cứ phần nào của thiết bị sản xuất bởi sự giản đơn cho sự thay đổi thiết bị trước khimáy móc dừng lại và thực hiện sự thay đổi nhanh chóng ngay khi máy không cònchạy nữa, vì vậy nó có thể đưa vào sản xuất càng sớm càng tốt

- Hoàn thiện hệ thống thông tin:

Cải tiến hệ thống thông tin là vấn đề quan trọng trong chuỗi cung ứng Mộttrong những thay đổi xảy ra trong công nghệ là việc dành lấy dữ liệu kinh doanh từkhách hàng và phát triển thông tin này đưa trở lại phục vụ cho chuỗi cung ứng Nhàcung cấp không những chỉ biết nhận đơn hàng của khách hàng của mình mà cũngphải biết nơi kinh doanh và vị trí kho của khách hàng

- Xây dựng các trạm giao hàng chéo:

Hàng hóa giao đan xen ở nhiều trạm là một cuộc cách mạng trong vận chuyểnđối với nhiều công ty Ý tưởng căn bản là việc giao hàng của nhà cung cấp đượcdiễn ra từ nhiều trạm khác nhau Những công việc này không tiêu tốn thời gian choviệc kiểm kê kho, nó cũng đơn giản cho việc duy chuyển từ trạm này sang một trạmkhác

4.3 Kết luận về thay đổi cấu trúc, bộ phận và phương thức thay đổi chúng trong chuỗi cung ứng:

- Về thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng và bộ phận trong chuỗi cung ứng:Cho dù cải tiến cấu trúc hay bộ phận, công ty cũng nên giảm thời gian dựphòng và thời gian bổ sung hàng lại Thời gian dự phòng có thể giảm trong thời giancung ứng nhằm đảm bảo nhu cầu của cả chuỗi cung ứng và như thế dẫn đến nhu cầutồn kho

Trong trường hợp nhu cầu dự phòng bằng 0 và thời gian bổ sung hàng lại thìhoàn toàn đáng tin cậy thì chúng ta không cần đến hàng tồn kho ngoại trừ hàng đang

Trang 16

trên đường vận chuyển Nguyên vật liệu có thể được lên lịch trình chỉ đến ngay lúckhách hàng cần.

Giảm thời gian bổ sung hàng là một phương pháp chính đề cải tiến chuỗicung ứng Nó cho phép chuỗi cung ứng thích nghi nhanh chóng với những thay đổicủa nhu cầu thị trường và giảm lượng hàng tồn kho ở mức cần thiết Thời gian bổsung hàng lại có thể giảm bằng cách thay đổi cơ cấu hoặc thay đổi bộ phận cả chuỗicung ứng

- Về cải tiến cấu trúc chuỗi cung ứng và cải tiến bộ phận chuỗi cung ứng:

Có thể kết luận rằng, vừa cải tiến cấu trúc, vừa cải tiến cơ sở hạ tầng có thểtạo ra sự thay đổi chính trong chuỗi cung ứng Nó có thể giúp doanh nghiệp làmgiảm tình trạng không chắc chắn, không rõ ràng hay giảm thời gian cung ứng.Những sự thay đổi này rất có hiệu quả nhưng đòi hỏi sự phối hợp rộng khắp vừa bêntrong công ty và thông qua nhiều công ty khác nhau Có như vậy việc cải tiến mớithành công một cách trọn vẹn

Trang 17

CHƯƠNG II:

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG

Theo Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và PTNT), mặc dù mức tiêu thụ thịtcủa người Việt Nam năm 2005 đã tăng hơn 4,6 lần so với 20 năm trước, nhưng mứctiêu thụ thịt bình quân của người Việt Nam hiện nay mới chỉ đạt 25,9kg thịtxẻ/người/năm (thịt heo: 18,9kg; thịt gia cầm: 2,94kg; thịt trâu, bò và thịt khác:

4,06kg); trong đó tỷ lệ các sản phẩm thịt qua chế biến công nghiệp chỉ chiếm

khoảng 2% So với mức tiêu thụ thịt bình quân toàn thế giới: 41,6kg thịt

xẻ/người/năm (thịt heo: 16,3kg; thịt bò: 12,6kg; thịt gia cầm: 9,9kg; thịt khác:2,8kg), vậy mức tiêu thụ thịt của người Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với bìnhquân của thế giới (khoảng 62%)

Trong thời gian tới, với sự duy trì tăng trưởng cao về kinh tế, thu nhập bìnhquân đầu người của Việt Nam tiếp tục tăng, đời sống vật chất và tinh thần tiếp tụcđược cải thiện Dự báo nhu cầu tiêu thụ thực phẩm sẽ tăng với tốc độ nhanh cảlượng và chất

Cùng với việc gia tăng về số lượng, người tiêu dùng đang đòi hỏi thực phẩm

phải ngon hơn, dinh dưỡng cao hơn, giá cả hợp lý và an toàn vệ sinh thực phẩm

phải là điều kiện tiên quyết Trong khi đó, tình hình giết mổ gia súc ở Đồng Nai nóiriêng, Việt Nam nói chung chủ yếu theo phương pháp giết mổ thủ công, không đảmbảo an toàn vệ sinh thực phẩm Những yêu cầu cấp thiết của người tiêu dùng đặt ra,muốn giải quyết phải có một giải pháp toàn diện, có sự liên kết chặt chẽ giữa nhàchăn nuôi – nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y – nhà giết mổ, chế biến –nhà phân phối với sự hỗ trợ vốn vay của Ngân hàng thương mại, sự quản lý của các

cơ quan Nhà nước, sự trợ giúp của các nhà khoa học nhằm tạo ra chuỗi sản phẩm

an toàn “Từ trang trại đến bàn ăn” Đây cũng chính là mục tiêu của Nhà máy Chế

biến thực phẩm Đồng Nai (D&F), đó là một thương hiệu mới – một nhà cung cấpthực phẩm an toàn, chất lượng cao, giá cả hợp lý cho người tiêu dùng

I THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI HEO:

1 Tình hình chung:

Theo Cục Chăn nuôi, trong giai đoạn 2001-2006, tốc độ tăng trưởng sản

Trang 18

lượng thịt gia súc, gia cầm của Việt Nam đạt bình quân 8,9%/năm Trong đó, sảnlượng thịt heo tăng 10,3% Phương thức chăn nuôi trang trại phát triển nhanh về sốlượng và quy mô Năm 2006, cả nước có 17.721 trang trại chăn nuôi, tong đómiềnBắc: 6.313 trang trại, miền Nam: 11.408 trang trại

Về tình hình chăn nuôi heo: trong giai đoạn 2001-2006, tổng đàn heo trongnước có tốc độ tăng nhanh, tổng đàn từ 21,8 triệu con năm 2001 tăng lên 28,3 triệucon năm 2006, tăng bình quân đạt 6,4%/năm Đây là vật nuôi quan trọng nhất củangành chăn nuôi Việt Nam, chiếm 75-76% tổng sản lượng thịt

Đối với các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng phía Nam và các tỉnh lân cận, tuytập trung ưu tiên đầu tư phát triển công nghiệp – dịch vụ, nhưng ngành nông nghiệpnói chung, ngành chăn nuôi heo vẫn khá phát triển Năm 2006, tổng đàn heo của 10tỉnh là 3,896 triệu con (Ninh Thuận: 0,1 triệu con; Bình Phước: 0,193 triệu con; BàRịa – Vũng Tàu: 0,208 triệu con; thành phố Hồ Chí Minh: 0,22 triệu con; Tây Ninh:0,23 triệu con; Bình Thuận: 0,29 triệu con; Long An: 0,356 triệu con; Bình Dương:0,526 triệu con; Tiền Giang: 0,53 triệu con; Đồng Nai: 1,243 triệu con)

Đây là khu vực có chất lượng đàn gia heo cao nhất cả nước, tập trung nhiềudoanh nghiệp sản xuất con giống đứng đầu về chất lượng và số lượng, như:

Tại tỉnh Bình Dương: Công ty Công ty San Migel, Công ty Đài Việt, Công tyKim Long (Bình Dương);

Tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn, TổngCông ty Nông nghiệp Sài Gòn;

Tại Tỉnh Đồng Nai: Công ty TNHH Chăn nuôi CP Việt Nam, Công ty Cổphần Chăn nuôi heo Phú Sơn, Công ty cổ phần Nông súc sản Đồng Nai, Công tyTNHH Emivest Việt Nam, Công ty TNHH Thanh Bình…

1.1 Năng suất, chất lượng nuôi heo:

Theo Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), mặc dù đã cónhiều tiến bộ nhưng nhìn chung năng suất, chất lượng đàn heo của Việt Nam vẫn

còn thấp, cụ thể:

- Cơ cấu giống heo: Hiện nay đã được cải thiện tích cực, hầu hết các giốngheo co năng suất và chất lương cao trên thế giới đã nhập khẩu vào nước ta nhưLandrace, Torkshire, Pietrain, Duroc Số lượng đàn heo nái ngoại khoảng 400.000con chiếm tỷ lệ 12% tổng đàn nái, tốc độ tăng trưởng heo nái ngoại trong giai đoạn

Trang 19

2001 -2006 đạt 14,5%/năm.

- Năng suất cho thịt: Khối lợng thịt sản xuất/nái/năm hiện nay còn thấp Năm

2005, sản lợng thịt sản xuất trung bình đạt 589 kg/nái (nái ngoại đạt 1.423 kg/nái;lợn lai nội ngoại 563 kg/nái, lợn nội 248 kg/nái), trong khi đó các nớc có trình độchăn nuôi lợn tiên tiến là 1.800-1.900 kg/nái/năm Trong các vùng chăn nuụi, đạt caonhất là Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long tơng ứng sản lợng bình quân là866,5kg/nái và 737,9kg/nái, tiếp theo là các vùng Đồng bằng sông Hồng, TâyNguyên tơng ứng đạt 606,5kg/nái và 627,4kg/nái

- Chất lượng heo: Số lợng lợn thịt/nái/năm bình quân cả nớc cha cao, năm

2005 bình quân đạt 9,3 con/nái (nái ngoại đạt 17,6 con/nái; heo lai nội ngoại 9,7 con/nái, lợn nội 6,7 con/nái), trong khi đó các nớc có trình độ chăn nuôi heo tiên tiến là18-22 con/nái/năm Trong các vùng sinh thái, cao nhất là vùng Đồng bằng sôngHồng, Tây Nguyên 10,8 con/nái, tiếp theo là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông CửuLong đạt tơng ứng 10 và 9,4 con/nái; thấp nhất là vùng Tây Bắc và Duyên hải Miền

Trung, tơng ứng là 4,4 con/nái và 7,6 con/nái.

1.2 Phương thức chăn nuụi:

Chăn nuôi heo của Việt Nam thời gian qua đã đạt đợc những tiến bộ rất đáng

kể, nhiều phơng thức và công nghệ tiên tiến đã đợc áp dụng trong sản xuất Tuy chănnuôi trang trại và gia trại đã có nhiều phát triển nhng hình thức chăn nuôi heo theotruyền thống, phân tán nhỏ lẻ trong các nông hộ vẫn là chủ yếu, cụ thể:

- Chăn nuôi truyền thống, tận dụng:

Đây là phơng thức chăn nuôi đang tồn tại ở hầu khắp các tỉnh, thành phốtrong cả nớc, chiếm khoảng 75-80% về đầu con nhng sản lợng chỉ chiếm khoảng 65-70% tổng sản lợng thịt heo sản xuất cả nớc

Quy mô chăn nuôi dao động từ 1-10 con, thức ăn đầu t chủ yếu là tận dụngsản phẩm nông nghiệp sản xuất và khai thác tại chỗ hoặc tận dụng các sản phẩmtrồng trọt và sản phẩm ngành nghề phụ (làm đậu, nấu rợu, làm mì )

Con giống chủ yếu là giống địa phơng hoặc giống có tỷ lệ máu nội cao (F1:nội x ngoại)

Năng suất chăn nuôi thấp, sản lợng xuất chuồng bình quân dới 50 kg/con

- Chăn nuôi gia trại:

Đõy là phương thức chăn nuụi đang phỏt triển trong những năm gần đây,chiếm khoảng 10-15% đầu con

Quy mô chăn nuôi phổ biến là từ 1030 nái, hoặc từ 1050 heo thịt có mặt th ờng xuyên, ngoài các phụ phẩm nông nghiệp thì có khoảng 40% thức ăn công nghiệp

-đợc sử dụng cho heo

Con giống chủ yếu là con lai có từ 50-75% máu heo ngoại trở lên; công tácthú y và chuồng trại chăn nuôi đã đợc coi trọng hơn chăn nuôi truyền thống

Trang 20

Năng suất chăn nuôi đã có tiến bộ, khối lợng xuất chuồng bình quân 70-75kg/con.

- Chăn nuôi trang trại:

Đây là phơng thức chăn nuôi đợc phát triển mạnh trong vài năm gần đây, đặcbiệt các tỉnh Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long(ĐNB có 2.268 trang trại, ĐBSH có 1.254 trang trại, ĐBSCL có 748 trang trại),chiếm khoảng 10% về đầu con, 20-25% về sản lợng thịt

Quy mô từ trên 20 nái hoặc trên 100 heo thịt có mặt thờng xuyên; hoàn toàn

sử dụng thức ăn công nghiệp

Con giống chủ yếu là heo ngoại 2 máu hoặc 3 máu; các công nghệ chuồngtrại nh: chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng có hệ thống làm mát và sởi ấm cho heocon, hệ thống máng ăn, máng uống tự động đã đợc áp dụng

Năng suất chăn nuôi cao, khối lợng xuất chuồng bình quân 80-85 kg/con

2 Tỡnh hỡnh chăn nuụi heo ở Đồng Nai và một số tỉnh, thành phố lõn cận:

- Theo số liệu của Sở Nụng nghiệp và Phỏt triển Nụng thụn Đồng Nai cuốinăm 2006 tụ̉ng đàn heo của Đồng Nai khoảng 1,2 triệu con, trong đú đàn heo nỏikhoảng 160.000 con Tốc độ tăng trưởng đàn heo của tỉnh trong cỏc năm qua đạtbỡnh quõn trờn 8%/năm Đàn heo của Đồng Nai được đỏnh giỏ cú chất lượng caohàng đầu Việt Nam (chỉ xếp sau thành phố Hồ Chớ Minh)

- Tỡnh hỡnh cỏc trang trại chăn nuụi heo: toàn tỉnh cú 1.201 trang trại chăn nuụiheo, với tụ̉ng đàn : 418.392 con (bỡnh quõn 348 con/trang trại); trong đú đàn nỏi:66.210 con (bỡnh quõn 55 con/ trang trại)

- Tỡnh hỡnh cỏc doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực chăn nuụi heo: trờn địa bàn tỉnh

cú 08 doanh nghiệp chăn nuụi heo (trực tiếp chăn nuụi hoặc gia cụng), với tụ̉ng đàncon: 162.509 con; trong đú đàn nỏi, nọc: 18.044 con, cụ thể:

+ Cụng ty Cụ̉ phần Chăn nuụi heo Phỳ Sơn: tụ̉ng đàn 32.000 con, trong đú:đàn heo nỏi 3.600 con

+ Cụng ty Cụ̉ phần Nụng sỳc sản Đồng Nai: tụ̉ng đàn 6.596, trong đú: đàn heonỏi, nọc 1.024 con

+ Cụng ty Sản xuất Thương mại Dịch vụ Đồng Nai (trại heo Sụng Ray): tụ̉ngđàn 1.000 con, trong đú: đàn heo nỏi 150 con

+ Cụng ty TNHH một thành viờn Thọ Vực (trại heo Xuõn Phỳ): tụ̉ng đàn3.000 con, trong đú: đàn heo nỏi 630 con

Trang 21

+ Công ty TNHH Thanh Bình: tổng đàn 12.500, trong đó: đàn nái 1.500 con.+ Công ty TNHH Chăn nuôi CP Việt Nam: 118 trang trại gia công (trại heonái: 31; trại heo thịt: 87), với tổng đàn 102.000 con, trong đó: đàn nái 10.440 con + Công ty TNHH Japfa Việt Nam: 3 trang trại gia công, với tổng đàn: 1.888heo thịt.

+ Công ty France Hybrid: tổng đàn 4.425 con, trong đó: đàn nái: 700 con

Ngoài ra, Công ty TNHH Green Feed Việt Nam (trụ sở chính tại Long An): đãđầu tư xây dựng trại nuôi heo giống và sản xuất tinh heo tại Cẩm Mỹ, với tổng vốnđầu tư 1,16 triệu USD;

Trong khu vực Đông Nam Bộ, có nhiều doanh nghiệp chăn nuôi heo quy môlớn như: Công ty San Migel (Bình Dương): 134.000 con heo, Công ty Đài Việt(Bình Dương): 36.000, Công ty Kim Long (Bình Dương): 25.000 con heo, TổngCông ty Nông nghiệp Sài Gòn: 24.000 con, Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn:9.428 con…

II THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG HEO THỊT:

1 Năng lực sản xuất heo thịt của ngành chăn nuôi phía Nam và Đồng Nai:

- Theo số liệu thống kê, hàng năm các tỉnh thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm phíaNam và lân cận (10 tỉnh, thành phố) sản xuất: 359.926 tấn thịt heo hơi, tương đương 4,5triệu con heo xuất chuồng có trọng lượng bình quân 80kg

- Tỉnh Đồng Nai chiếm khoảng 30% sản lượng thịt heo của các tỉnh thuộc VùngKinh tế trọng điểm phía Nam và lân cận, với sản lượng heo hơi của Tỉnh khoảng110.000 tấn/năm, tương đương 1.375.000 con heo xuất chuồng có trọng lượng bìnhquân 80kg

2 Thị trường tiêu thụ heo thịt phía Nam và tỉnh Đồng Nai:

- Thị trường tiêu thụ chủ yếu của ngành chăn nuôi công nghiệp là thành phố HồChí Minh Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, hiệnnay thành phố Hồ Chí Minh sử dụng đến 90% nguồn gia súc từ các tỉnh

Trang 22

- Theo Chi cục Thú y Đồng Nai, bình quân hàng ngày Đồng Nai xuất về thànhphố Hồ Chí Minh khoảng 2.000-3.000 con heo (khoảng 700.000 con/năm) Số lượngheo xuất sang các tỉnh khác là không đáng kể

- Như vậy, thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn tiêu thụ chủ yếu nguồn heo thịtcủa tỉnh Đồng Nai và tỉnh Đồng Nai cũng là địa phương cung cấp heo thịt chủ yếu chothành phố Hồ Chí Minh, ước tính khoảng 27% lượng heo thịt

3 Một số hình thức phổ biến trên thị trường về mua-bán, liên kết chăn nuôi heo:

3.1 Tự đầu tư chăn nuôi:

- Các hộ, cơ sở chăn nuôi tự quyết định quy mô, cơ cấu chăn nuôi và bán sảnphẩm Việc bán sản phẩm được tiến hành theo phương thức bán thẳng cho cơ sở giếtmổ hoặc thông qua trung gian thương lái chuyên kinh doanh thú sống

- Sản phẩm có thể được bán cho một hoặc nhiều thương lái, tùy thuộc vàophân khúc thị trường của thương lái (mua có chọn lọc hoặc mua toàn bộ) Giá cảthông qua việc trao đổi, thỏa thuận trực tiếp giữa người chăn nuôi và thương lái tạithời điểm mua bán Việc mua bán thông qua hợp đồng tiêu thụ chưa được thực hiện

- Nguyên tắc định giá do người mua và người bán thỏa thuận căn cứ trên cơ

sở đánh giá chất lượng heo thịt (tỷ lệ nạc, độ lớn của heo, độ đồng đều…) theo cảmquan của người mua và giá cả thị trường trong khu vực

- Hình thức này đòi hỏi người chăn nuôi đầu tư toàn bộ vốn Người chăn nuôi

có thể có lợi nhuận, nhưng cũng có thể bị lỗ do giá thấp hoặc khi bị thương lái épgiá, ép cấp hoặc chậm mua sản phẩm

3.2 Hợp tác chăn nuôi:

- Hiện nay, trên thị trường Đồng Nai đã xuất hiện hình thức hợp tác chăn nuôigiữa thương lái kinh doanh thú sống và các hộ chăn nuôi Hình thức này thực hiệntrên nguyên tắc cùng đầu tư chăn nuôi:

+ Thương lái kinh doanh thú sống đầu tư con giống, thức ăn chăn nuôi và baotiêu toàn bộ sản phẩm theo giá thỏa thuận (thường thấp hơn giá thị trường) Việccung ứng thức ăn chăn nuôi do các đại lý thức ăn gia súc đảm nhận thông qua hợpđồng với các thương lái

Trang 23

+ Người chăn nuôi đầu tư chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, thuốc thú y, laođộng, đồng thời phải đặt cọc cho thương lái một khoản tiền

- Trong trường hợp này, người chăn nuôi chỉ phải bỏ một phần vốn đầu tư,đảm bảo được đầu ra của sản phẩm Tuy nhiên, lợi nhuận không cao do phải trả cáckhoản lãi vốn đầu tư (qua con giống, thức ăn…) của thương lái và việc bán sảnphẩm thấp hơn giá thị trường

3.3 Hình thức gia công:

- Loại hình chăn nuôi gia công cũng đang phát triển khá mạnh Hiện nay, trênđịa bàn tỉnh có các Công ty đầu tư chăn nuôi gia công: Công ty TNHH Chăn nuôi

CP Việt Nam, Công ty Japfa, Công ty CJ, Công ty Thanh Bình Đây là những Công

ty đầu tư khép kín từ: sản xuất thức ăn chăn nuôi, con giống, tổ chức chăn nuôi giacông và thu lại sản phẩm (để vừa chế biến, vừa kinh doanh thú sống như CP, Japfa;

+ Tiền công chăn nuôi: được tính trên mỗi kg tăng trọng của vật nuôi

+ Tiền vệ sinh chuồng trại: được tính trên mỗi kg tăng trọng của vật nuôi.+ Tiền hỗ trợ bán heo (cắt cám đúng giờ): được tính trên mỗi kg tăng trọngcủa vật nuôi

+ Tiền hỗ trợ do có hệ thống xử lý nước thải tốt và có hệ thống phòng dịchbệnh theo quy trình của bên gia công: được tính trên mỗi kg tăng trọng của vật nuôi

+ Chi phí điện nước: được tính trên mỗi kg tăng trọng của vật nuôi

Ngoài ra, số tiền gia công bên nhận gia công được nhận cao hay thấp còn tùythuộc một số đặc điểm sau:

+ Tỷ lệ heo nuôi chết: Tỷ lệ chết cao, số tiền nhận gia công giảm Trongtrường hợp tỷ lệ chết quá cao, bên gia công có quyền ngưng hợp đồng

Trang 24

+ Tỷ lệ tiêu tốn thức ăn: Được tính theo công thức số kg thức ăn tiêu tốn/số

kg tăng trọng Tỷ lệ tiêu tốn thức ăn cao, số tiền gia công giảm Trong trường hợp tỷ

lệ tiêu tốn thức ăn quá cao, bên gia công có quyền ngưng hợp đồng

Nhìn chung, mặc dù xảy ra nhiều vụ tranh chấp hợp đồng giữa bên gia công

và bên nhận gia công, nhưng hình thức gia công phát triển mạnh trong thời gian gầnđây, đặc biệt là tại những địa bàn mới phát triển chăn nuôi Nguyên nhân chủ yếu dovốn đầu tư cho chăn nuôi lớn, lợi nhuận không cao, nên những người mới bước vàonghề chăn nuôi lựa chọn hình thức chăn nuôi gia công để giảm thiểu rủi ro

Sơ đồ 1: Các hình thức thu mua heo hiện nay

(1) Thu mua trực tiếp:

(2) Thu mua gián tiếp:

Cơ sở giết mổ

Trang 25

(4) Gia công:

4 Diễn biến giá cả thị trường heo thịt:

- Diễn biến giá heo thịt vật cho thịt liên quan từ tháng 01/2005 đến tháng04/2007:

Giá heo biến động khá lớn: thấp nhất 14.000 đồng kg (tháng 9, 10/2006) vàcao nhất 23.500 đồng/kg (tháng 01/2005) Mức giá trung bình: 18.000-19.000 đồng/

Cơ sởchăn nuôi

Heo thịt

Thế chấp bằng tài sản hoặc bằng tiền

Trang 26

Diễn biến giá cả thị trường năm 2005-2007:

III THỰC TRẠNG CƠ SỞ GIẾT MỔ GIA SÚC:

1 Thực trạng hệ thống giết mổ heo trên địa bàn tỉnh Đồng Nai:

1.1 Theo báo cáo của Chi cục Thú y Đồng Nai:

Cuối năm 2006 toàn tỉnh có 280 cơ sở giết mổ heovới công suất giết mổ hàngđêm bình quân 900-990 con heo, trong đó có một số cơ sở có công suất lớn như:

- Công ty TNHH Rạng Đông: 100-150 con heo/ngày

- HTX Tân Mỹ: 70-90 con heo/ngày

- Hộ Phan Hữu Thảnh (Bắc Sơn – Trảng Bom): 20 con heo/ngày

- Hộ Nguyễn Quang Thọ (Bàu Trâm – Long Khánh): 12 con heo/ngày

- Các cơ sở giết mổ heo còn lại, có công suất giết mổ <10 con/ngày, chủ yếucung cấp nhu cầu tại địa phương

Đây là những cơ sở được ngành thú y quản lý Bên cạnh đó, còn tồn tại một

số điểm giết mổ trái phép, ngoài sự kiểm soát của cơ quan chức năng và chưa có sốliệu thống kê về số lượng heo thịt do các điểm giết mổ trái phép thực hiện

Trang 27

1.2 Theo kết quả điều tra:

Theo kết quả điều sơ bộ về điều kiện vệ sinh thú y của Chi cục Thú y ĐồngNai ở 103 cơ sở giết mổ tại thành phố Biên Hòa và một số địa phương trong tỉnh chothấy:

a Diện tích:

Tổng diện tích bình quân của 01 cơ sở giết mổ heo là: 360m2, trong đó diệntích khu vực giết mổ của cơ sở giết mổ heo: 40m2

b Công suất giết mổ theo thiết kế và thực tế:

- Tổng công suất giết mổ thiết kế: 1.035 con heo/ngày Công suất giết mổtheo thiết kế trung bình của cơ sở giết mổ heo ở Biên Hòa: 100-200 con heo/ngày

- Tổng số gia súc giết mổ thực tế: 245 con heo/ngày, bằng 23,65% công suấtthiết kế Trung bình mỗi ngày cơ sở giết mổ heo ở Biên Hòa giết mổ: 50-70 con heo

c Hình thức giết mổ:

- 100% cơ sở giết mổ heo bằng phương pháp thủ công

- 1/103 cơ sở giết mổ heo theo hình thức treo; 80/103 cơ sở giết mổ heo trên

bệ xi-măng; 22/103 cơ sở giết mổ trên nền cơ sở (chiếm 21% số cơ sở)

d Nước sử dụng trong cơ sở giết mổ:

39/103 cơ sở giết mổ heo sử dụng nước giếng đào và 64/103 cơ sở giết mổheo sử dụng nước giếng khoan

f Đánh giá chung:

- Số heo giết mổ thực tế mà cơ quan Thú y kiểm soát chỉ khoảng 30-40%công suất thiết kế của các cơ sở

- Hầu hết các cơ sở giết mổ heo đều nằm trong khu dân cư hoặc sát khu dân

cư, không đảm bảo khoảng cách theo quy định

- Việc xử lý chất thải đã được quan tâm đầu tư, nhưng tình trạng nước thảichưa xử lý, thải thẳng ra ngoài môi trường vẫn còn xảy ra ở một số cơ sở

Ngày đăng: 30/12/2013, 15:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 CHỈ TIÊU - Đề tài quản trị chuỗi cung ứng (cung ứng heo thịt an toàn)
Bảng 1 CHỈ TIÊU (Trang 11)
Sơ đồ 1: Các hình thức thu mua heo hiện nay - Đề tài quản trị chuỗi cung ứng (cung ứng heo thịt an toàn)
Sơ đồ 1 Các hình thức thu mua heo hiện nay (Trang 24)
Sơ đồ 2: Quy trình kiểm tra vệ sinh thú y thú sống tại cơ sở chăn nuôi - Đề tài quản trị chuỗi cung ứng (cung ứng heo thịt an toàn)
Sơ đồ 2 Quy trình kiểm tra vệ sinh thú y thú sống tại cơ sở chăn nuôi (Trang 42)
Sơ đồ 3: Quy trình thương thảo ký kết hợp đồng thu mua - Đề tài quản trị chuỗi cung ứng (cung ứng heo thịt an toàn)
Sơ đồ 3 Quy trình thương thảo ký kết hợp đồng thu mua (Trang 44)
Bảng 1:  Nhu c u heo th t c  n m tính theo s  gi  s n xu t ầu heo thịt cả năm tính theo số giờ sản xuất ịt cả năm tính theo số giờ sản xuất ả năm tính theo số giờ sản xuất ăm tính theo số giờ sản xuất ố giờ sản xuất ờ sản xuất ả năm tính theo số giờ sản x - Đề tài quản trị chuỗi cung ứng (cung ứng heo thịt an toàn)
Bảng 1 Nhu c u heo th t c n m tính theo s gi s n xu t ầu heo thịt cả năm tính theo số giờ sản xuất ịt cả năm tính theo số giờ sản xuất ả năm tính theo số giờ sản xuất ăm tính theo số giờ sản xuất ố giờ sản xuất ờ sản xuất ả năm tính theo số giờ sản x (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w