Đối với người dân tộc Thái, những cư dân nông nghiệp lúa nước thì nước là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong đời sống của họ.. Vì thế qua thời gian, cách ứng xử, thích nghi để sống hài
Trang 1 Lý do chọn đề tài
Tri thức dân gian là những sản phẩm văn hóa vật chất, tinh thần; phản ánh hiện thực khách quan về môi trường sống, mối quan hệ giữa tự nhiên với con người Đối với người dân tộc Thái, những cư dân nông nghiệp lúa nước thì nước là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong đời sống của họ Vì thế qua thời gian, cách ứng xử, thích nghi để sống hài hòa với điều kiện tự nhiên nói chung và Nước nói riêng được hình thành, tích lũy thành một kho tàng tri thức dân gian phong phú, góp phần tạo nên bản sắc riêng của người dân tộc Thái
Dù xã hội phát triển như thế nào thì nước không thể thiếu trong đời sống của người dân tộc Thái Hiểu được tri thức dân gian về nước của họ sẽ giúp chúng ta phần nào thấy được những nét đẹp trong văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Thái cũng như những nhận thức quá thiêng về mê tín, thần bí; từ đó có nhận thức đúng, đánh giá đúng để bảo tồn, phát huy nét độc đáo của văn hóa Thái; góp phần bảo vệ, tận dụng và khai thác nguồn nước về lâu dài một cách hiệu quả
Trong phạm vi đề cương môn học, tôi xin phép chỉ giới thiệu về tri thức dân gian trong đời sống tinh thần của người dân tộc Thái Vùng Tây Bắc mà thôi
I KHÁI QUÁT CHUNG
Tây Bắc là vùng núi phía Tây Bắc Bộ, có đường biên giới giáp Lào và Trung Quốc Đây là vùng núi cao hiểm trở và là ngã ba sông của sông Hồng, sông Mã và sông Đà
Hình 1 : Bản đồ vùng Bắc bộ Hình 2: Người dân tộc Thái
Vùng Tây Bắc có trên 20 dân tộc, trong đó người Thái là chủ yếu Có hai
nhóm là Thái đen (Tày Đăm) và Thái trắng (Tày Khao) Người Thái nói ngôn ngữ
Tày-Thái, thuộc ngữ hệ Nam Á
Người Thái thường định cư ở những vùng thung lũng màu mỡ và ven các sông suối Họ là những cư dân nông nghiệp canh tác lúa nước khá lâu đời, có nhiều kinh nghiệm về đào mương, đắp phai, làm các con nước và máng để dẫn nước vào ruộng, từ đó dần hình thành hệ thống trị thủy khá phổ biến là hệ thống mương, phai, lái, lịn
Hôn nhân của người Thái là hôn nhân phụ quyền Việc dựng vợ, gả chồng trước đây, thường do bố mẹ quyết định với sự đồng ý của hai họ Tiêu chuẩn chọn
Trang 2vợ, chọn chồng là phải có sự môn đăng hộ đối giữa hai dòng họ, và địa vị xã hội của hai gia đình
Theo tín ngưỡng truyền thống, người Thái tin rằng có Then Luông, và ma (phỉ), đó là những lực lượng vô hình phù hộ và bảo vệ cuộc sống của họ và cả phá phách, quấy nhiễu, mang đến điều không may cho họ
Người Thái nổi tiếng với chiếc khăn piêu, với những điệu xòe cùng kho tàng văn học nghệ thuật phong phú
II. TRI THỨC DÂN GIAN VỀ NƯỚC TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN NGƯỜI THÁI VÙNG TÂY BẮC
1 Tri thức dân gian về nước trong phong tục, tập quán
Người Thái tin rằng nước có linh hồn nên mỗi dòng sông, con suối đều có một vị thần cai quản Muốn sử dụng nước họ phải xin phép thần, nếu làm trái ý thần
họ sẽ bị trừng phạt bằng lũ lụt, hạn hán, bệnh tật…Vì thế, hàng năm người Thái thường tổ chức cúng thần nước Người ở bản, mường nào thì cúng thần nước ở sông, suối chảy qua bản mường đó
Nước được xem là biểu tượng của sự thanh khiết, nên có thể thanh tẩy những điều xấu Đầu năm mới, người vợ thường dậy rất sớm, ra suối lấy một ống nước đem về cho con cháu rửa mặt Hoặc trong một số nghi lễ, người Thái thường thả xuống sông những tấm bè được kết từ tre với ý niệm những điều xấu, không may sẽ theo bè trôi đi theo nước Hay trong tang ma, người Thái trắng thường dùng nước lá bưởi để rửa mặt cho người vừa chết, làm cho hồn ma sạch sẽ để đi qua cửa nhà Then hoặc dùng nước để đánh thức hồn người chết, xem họ đã chết thật hay chưa
Trong tâm thức của người Thái, sông suối không chỉ có ở thế giới của con người mà có cả ở nhà Then Người chết cũng phải đi qua các con sông, con suối của Nhà Then như một thử thách trước khi về với tổ tiên
Không chỉ vậy, người Thái còn cho rằng nước chính là khởi thủy của con người Thần nước (tô ngược) được xem là tổ tiên của người Thái với nhiều truyền thuyết về nguồn gốc loài người có liên quan đến những vị thần nước
Khi chọn đất dựng nhà, người Thái thường chọn nơi gần nguồn nước Họ thường tụ cư ở những vùng thung lũng, lòng chảo như Mường Thanh, Mường Lò, Mường Than, Mường Tấc Con sông, con suối chảy qua bản mường của họ đều được gắn với từ “Nặm” hay “Huổi” như Nặm Na, Nặm núa, Huổi Luông, Huổi Lèng…Mảnh đất nơi họ ở phải có đủ nước để làm ruộng và cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Họ tối kỵ nơi miệng khe, vực vì cho đó là đường đi của “phi” (ma) Dựng nhà ở những nơi này thường sẽ bị đau bệnh, tai nạn không lường trước được Thật ra, nếu giải thích theo cơ sở khoa học thì miệng khe, vực là túi gió, nơi gió xoáy, nước lũ tháo đổ đột ngột, dựng nhà ở đây sẽ phải hứng các luồng gió hoặc
bị lũ cuốn Họ cho rằng dựng nhà ở nơi có nguồn nước ngầm thì ở đó sẽ có của cải
vô tận, còn nhà nơi mỏm đá cao thì quanh năm trơ trọi, nghèo khó
2 Tri thức dân gian về nước trong văn học dân gian
Trang 3Theo thống kê của Hội văn nghệ dân gian, khoảng 90% các tác phẩm văn học dân gian Thái có nhắc đến yếu tố nước, thường là giải thích về nguồn gốc, tên gọi các con sông, con suối; các vị thần canh giữ sông suối; đặc biệt là mô tả các con sông, con suối của thế giới thần thánh
Có nhiều câu chuyện giải thích về sự hợp giao các con sông như : Ngày xưa
sông suối cũng như con người, biết nói năng, hờn giận Sông Đà và sông Mã do Then sinh ra, Then cho lấy nhau nên cả hai đều chờ đợi nhau, đợi mãi không thấy nên giận nhau và không bao giờ gặp nhau nữa Khi sông Đà làm lễ cưới cho con mình, sông Nặm Pan (Yên Châu) cố gắng lên Mường Lay để ăn cưới Chảy mãi đến Mường Bú, sông Nặm Pan gặp chim họa mi Họa mi bảo không đi được đâu vì xa lắm Mệt mỏi quá nên Nặm Pan đành quay hướng chảy về phía Đông, không lên Mường Lay nữa.
Ngoài các tác phẩm dân gian, người Thái còn đúc kết những quy luật của tự
nhiên có liên quan đến nước qua tục ngữ, thành ngữ như “Huổi hong cạn mí tưa lay
quái - Khe vực cạn có lúc làm trôi trâu”, “mí nặm chẳng pên na, mí na chẳng pên khẩu – Có nước mới có ruộng, có ruộng mới lên lúa”, “Pú tai khứ pha lớ - Phai vỡ như cha chết”…
Người Thái canh tác chủ yếu trên ruộng nương, mặc dù có nhiều kinh nghiệm trong kỹ thuật làm nông nghiệp lúa nước nhưng xét về mặt khoa học kỹ thuật thì chưa đạt trình độ cao, vì vậy việc trồng trọt phụ thuộc gần như hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên Để tồn tại họ phải dựa vào tự nhiên, phải tìm cách sống chan hòa với
tự nhiên, chế ngự tính “ương bướng” của tự nhiên Để giải thích các hiện tượng tự nhiên, họ đã hình tượng hóa nước thành những vị thần có sức mạnh, quyền năng và
cả thế lực ma quỷ gây chết chóc cho con người Điều này không khó lý giải khi người Thái cố gắng tìm hiểu và chinh phục môi trường tự nhiên bằng vốn sống và
sự hiểu biết của mình
3 Các nghi lễ liên quan đến nước
Lễ cầu mưa
Lễ cầu mưa hay còn gọi là “Xo nặm pôn” được tổ chức vào khoảng tháng 4 (theo lịch Thái)
Hình thức của lễ cầu mưa sau: Vào dịp lễ, người Thái tổ chức một đoàn người lần lượt đến từng nhà hát những bài hát cầu mưa Họ sẽ hát đến khi nào chủ nhà ra
và té nước vào mới đi Kết thúc, họ sẽ kéo nhau ra bến tắm rửa, té nước vào nhau và
mở quà cùng ăn uống vui vẻ Cách thức mô phỏng lại một trận mưa
Một vài nơi thì cho rằng lễ cầu mưa là do Then phạt các cô gái chửa hoang nên để trần gian hạn hán, vì vậy những phụ nữ chửa hoang và góa chồng phải đảm nhận việc đến từng nhà xin nước Đó là cách giáo dục con cháu không được vi phạm những điều cấm kỵ của luật tục bản mường Có nơi thì quan niệm rằng lễ cầu mưa để cho mưa thuận gió hòa, mùa màng được tươi tốt nên tất cả nam nữ thanh niên đều có thể tham gia để tạo không khí náo động, lời hát vang đến được với Then
và Then sẽ ban mưa cho bản mường
Trang 4Lễ cầu mưa là một lễ nghi nông nghiệp của người Đông Nam Á Do đó, không chỉ ở người Thái mà những người dân tộc khác như Tày hay Lào hàng năm đều tổ chức lễ hội này Song mỗi nơi đều có những nét riêng, không nơi nào giống nơi nào, ngay trong lễ của người Thái ở vùng khác nhau cũng đã có nhiều quan niệm khác nhau Chính nhờ điều này càng cho thấy tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Thái, một trong những đặc trưng của văn hóa Việt Nam
Hình 3: Lễ cầu mưa của người
Cúng mương phai trong dịp tết xíp xí của người Thái trắng
Lễ được tổ chức vào khoảng giữa tháng 7 âm lịch cũng với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, cuộc sống no ấm Lễ vật thường là 2 con vịt, một con đã luộc chín và một con để sống, buộc chân Sau khi thầy cúng đọc xong bài cúng, con vịt sống sẽ được thả xuống mương hoặc suối, người đi theo reo hò và xua cho vịt bơi vào mương, vào ruộng lúa Điều ấy có nghĩa là thần nước đã mang nước về cho ruộng và năm đó lúa sẽ tươi tốt
Mương, phai, lái, lịn là những yếu tố trong hệ thống dẫn thủy của người Thái
Hệ thống này giúp dẫn nước về ruộng, tưới tiêu cho hoa màu, cung cấp nước để sinh hoạt Nó vừa mang tính truyền thống (kinh nghiệm) vừa có những yếu tố hiện đại (khoa học) Nguồn nước quan trọng, nhưng để đưa được nước về thì không thể phủ nhận vai trò của hệ thống dẫn thủy này Từ quan niệm nước có linh hồn, người Thái thần thánh hóa yếu tố “mương, phai, lái, lịn”, cho rằng chúng đều có thần cai quản Và vì thế, họ phải cúng hàng năm để mong các vị thần che chở, đưa nước về cho bản làng, không để hạn hán mất mùa
Lễ hội hoa ban trên sông Nặm Na (Lai Châu)
Lễ hội diễn ra trong khung cảnh êm đềm, trữ tình trên những con sông, con suối Mùa xuân, trai gái người Thái ngồi hát giao duyên, đánh đàn tính tẩu trên những con thuyền đuôi én, rồi cập bến để lên bờ hái hoa ban Bài hát là ước mơ về cuộc sống, hạnh phúc bình dị của đôi trai gái
Lễ hội chèo thuyền qua sông Nặm Na của người Thái trắng
Dịp đầu năm, mỗi bản mường sẽ cử một đội gồm các trai làng khỏe mạnh để thi bơi hoặc chèo thuyền qua sông Trước lễ, người dân làng phải làm lễ xin phép thần sông, đến khi mặt trời mọc thì cuộc thi bắt đầu Lễ hội chèo thuyền là rèn luyện
kỹ năng cho những trai làng bởi người thái sống ven sông, suối nên phải giỏi bơi, chèo để có thể chèo thuyền, đi đánh bắt cá…Bên cạnh đó, lễ hội còn mang đậm tín
Trang 5ngưỡng dân gian với ý nghĩa cầu mong mưa gió thuận hòa Đội nào thắng thì xem như năm ấy, bản đó thu được nhiều thóc lúa, cá tôm
Ngoài các lễ hội trên, trong các như lễ “Xên bản”, “Xên Mường” của người Thái đen, lễ gọi hồn người chết đuối, gọi vía người chết hụt… cũng có một số nghi thức liên quan đến nước, có thể là tổ chức tại đầu nguồn nước, có thể là cúng thần sông, thần suối hoặc những con vật thiêng dưới nước
Người Thái cho rằng có hai thế giới cùng tồn tại, thế giới thần linh, ma quỷ
và thế giới của con người Trong thế giới thần linh, ma quỷ thì những vị thần sông, suối cũng như lực lượng “phỉ” chiếm phần đông và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người Thái Hầu hết các lễ hội đều có những nghi thức liên quan đến nước, đến các vị thần của sông nước Điều đó cho thấy, nước không chỉ là yếu tố quan trọng trong đời sống vật chất mà quan trọng trong cả đời sống tinh thần Nước không còn
là một yếu tố tự nhiên mà là một yếu tố tâm linh trong tâm thức của họ Từ nhận thức về nước đã hình thành những cách ứng xử khác nhau, vừa mang tính khoa học vừa mang tính tâm linh, tất cả đều hướng đến mục đích cuối cùng là cuộc sống no
ấm, mùa màng tốt tươi
Kết luận
Chỉ với nước, qua tín ngưỡng về phong tục tập quán, qua kho tàng văn học dân gian và qua các hoạt động lễ hội cho thấy tri thức dân gian về nước của người Thái là vô cùng phong phú Nó thể hiện cách ứng xử của người Thái với môi trường
tự nhiên nơi họ sinh sống Cách ứng xử linh hoạt đó không chỉ giúp họ thích nghi được với điều kiện tự nhiên, tận dụng tự nhiên mà vô hình đã hình thành một bản sắc riêng của người Thái trong cộng đồng dân tộc Việt Hiểu được phong tục, tập quán, lễ hội, ý nghĩa của những bài văn vần, những huyền thoại, truyền thuyết, chúng ta hiểu được suy nghĩ, tình cảm của họ đối với nước, với dòng sông con suối nơi họ sống
Hiểu được tầm quan trọng của nước đối với nghề trồng lúa, người Thái đã đề
ra những luật tục để bảo vệ nguồn nước của mình như luật tục Hịt Khoong trong
từng bản mường, quy định trách nhiệm và hình phạt đối với người vi phạm Họ cấm phá rừng đầu nguồn, không giặt giũ những thứ bẩn thỉu ở đầu nguồn nước, dân làng phải góp tiền bạc, lễ vật để cúng thần nước và làm sạch nơi nguồn nước vào dịp đầu
năm Nhờ vậy trong một thời gian dài rừng đầu nguồn và nguồn nước được bảo vệ
Hiện nay trong quan niệm của người Thái có nhiều thay đổi, một số phong tục tập quán cũ không còn được duy trì, nhiều quan niệm mới xuất hiện nhưng nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người Thái
Tài liệu tham khảo
1 Đặng Thị Oanh, Tri thức dân gian về nước của người thái ở Điện Biên xưa,
Nxb Thời Đại
2 Đinh Văn Lành, Bước đầu tìm hiểu thần thoại dân tộc Thái ở Tây Bắc, Nxb
Văn hóa dân tộc, 2000
Trang 63 Cầm Trọng – Phan Hữu Dật, Văn hóa Thái ở Việt Nam, Nxb văn hóa dân tộc,
1995
4 Ngô Đức Thịnh, Tri thức dân gian và phát triển,VHNT, Hà Nội, số 9
5 http://www.cinet.gov.vn/