Các truyện “Đôi chim thành”, “Con mã mái”, “Chó săn”… .tuy nghiêng nhiều về phía phong tục, trình bày cặn kẽ những thú chơi lành mạnh kể trên, nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Đăng Điệp
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Đăng
Điệp, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu,
thực hiện đề tài khoa học này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Tổ Lí luận văn học, KhoaNgữ Văn, cán bộ Phòng Sau đại học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điềukiên thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên,giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Diễm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của bản thân, không saochép của người khác Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu,thông tin được xuất bản trong các sách, báo, tạp chí và trên các trang website theodanh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Đóng góp mới của luận văn 10
8 Cấu trúc nội dung của luận văn 10
CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC 11 CỦA NHÀ VĂN KIM LÂN 11
1.1 Quan niệm nghệ thuật của nhà văn Kim Lân 11
1.1.1 Khái niệm về quan niệm nghệ thuật 11
1.1.2 Quan niệm của Kim Lân về cái đẹp văn hóa, phong tục làng quê 12
1.1.3 Quan niệm của Kim Lân về việc viết văn 19
1.2 Hành trình sáng tác của Kim Lân 22
1.2.1 Sáng tác của Kim Lân trước Cách mạng tháng Tám 1945 23
1.2.2 Sáng tác của Kim Lân sau Cách mạng tháng Tám 1945 26
Tiểu kết 29
CHƯƠNG 2 CÁC BÌNH DIỆN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA, PHONG TỤC LÀNG QUÊ TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN 30
2.1 Cái nhìn đa chiều về văn hóa, phong tục trong sáng tác của Kim Lân 30
2.1.1 Bức tranh quê hương và không gian làng - xóm 30
2.1.2 Cái nhìn đa diện về văn hóa, phong tục làng quê .39
2.2 Văn hóa, phong tục làng quê trong sáng tác Kim Lân 40
2.2.1 Các sắc màu văn hóa 40
2.2.2 Phong tục làng quê trong sáng tác Kim Lân 51
Tiểu kết 60
Trang 5CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN VĂN HÓA, PHONG TỤC TRONG
SÁNG TÁC CỦA KIM LÂN 61
3.1 Tình huống truyện 61
3.1.1 Tình huống về nhận thức 62
3.1.2 Tình huống về hành động 64
3.2 Xây dựng biểu tượng 68
3.2.1 Biểu tượng làng quê 69
3.2.2 Biểu tượng chợ 73
3.3 Ngôn ngữ nghệ thuật 74
3.3.1 Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên 75
3.3.2 Từ ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh 76
3.4 Giọng điệu 76
3.4.1 Giọng điệu dí dỏm, hóm hỉnh 77
3.4.2 Giọng điệu trầm buồn, thủ thỉ gần với giọng cổ tích hay truyền thuyết 81
3.4.3 Giọng điệu thân mật, suồng sã 84
3.4.4 Giọng điệu mỉa mai, hài hước, phê phán nhẹ nhàng 85
3.4.5 Giọng điệu đôn hậu, cảm thương 87
Tiểu kết 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 61
Trang 71 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
1.1 Văn học Việt Nam hiện đại từ đầu thế kỷ XX đến nay đã có những bước
đi mới và có được nhiều thành tựu so với thời kỳ văn học trước đó Các nhà văn đisâu khám phá nhiều mảng hiện thực khác nhau Đặc biệt chủ đề văn hóa, phong tụclàng quê là mảng đề tài thu hút được nhiều cây bút lớn như: Ngô Tất Tố, Nam Cao,Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Kim Lân Đây không phải là đề tài mới xuấthiện trong văn học Việt Nam hiện đại Chủ đề văn hóa, phong tục làng quê là mảngphổ biến trong văn học Việt Nam từ xưa đến nay Tuy nhiên cũng cần nhận thấy,chủ đề này trong văn học hiện đại Việt Nam đã có những bước phát triển mới.Nghiên cứu những tác giả hiện đại có sở trường về đề tài này có thể thấy được xuhướng vận động của chủ đề làng quê trong văn học Việt Nam thế kỷ XX
1.2 Với một hướng tiếp cận như vậy về nhà văn Kim Lân, các sáng tạo củaông được hình dung ở hai cấp độ: văn hóa, phong tục vừa là mạch nguồn sâu xa chiphối sự sáng tạo của nhà văn, và văn hóa, phong tục như một đối tượng miêu tả trựctiếp Tiếp cận các sáng tác của Kim Lân dưới góc nhìn văn hóa, phong tục sẽ giúpngười đọc thấy được những tầng sâu ý nghĩa tiềm ẩn trong sáng tác của nhà văn
Toàn bộ sáng tác của Kim Lân chủ yếu xoay quanh đời sống văn hóa phongtục của xứ Bắc, đặc biệt là Kinh Bắc
Bằng vốn sống và sự hiểu biết của mình, nhà văn Kim Lân đã đem đến mộtcái nhìn độc đáo, hấp dẫn về những phong tục sinh hoạt văn hóa cổ truyền ở làngquê như chọi gà, thả chim, đánh vật… Vì vậy ông được mệnh danh là nhà văn củathú phong lưu đồng ruộng
Vì vậy tôi đã mạnh dạn lựa chọn tác giả này để nghiên cứu với đề tài: "Văn
hóa, phong tục làng quê trong sáng tác của Kim Lân" làm luận văn thạc sỹ
chuyên ngành lý luận văn học của mình
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về văn hóa, phong tục làng quê trong sáng tác kim lân, chúng tôikhông bắt đầu công việc trên mảnh đất trống Bởi từ khi nhà văn xuất hiện trên vănđàn vào đầu những năm 40 của thế kỷ XX, đã thu hút được sự quan tâm của đông
Trang 8đảo độc giả và các nhà nghiên cứu, phê bình Có thể chia ra làm 2 giai đoạn nghiêncứu về văn hóa, phong tục làng quê trong sáng tác Kim Lân trước và sau đổi mới từnăm 1986 như sau:
* Giai đoạn trước thời kỳ đổi mới 1986
Giai đoạn trước đổi mới, trước cách mạng tháng Tám có Lữ Quốc Văn, VũBằng, Nguyên Hồng Chúng tôi chưa tìm văn bản chính xác của Lữ Quốc Văn viết
về Kim Lân, nhưng trong lời giới thiệu Tuyển tập Kim Lân 1996 Lữ Quốc Văn đã
khẳng định: Người đã thành công trong một loạt truyện ngắn về thú chơi đặc biệtnổi tiếng với các truyện viết về phong tục làng quê là Kim Lân [38, tr.18]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã nói rằng “mỗi nhà văn đều có chấtdính riêng” Cái “chất dính riêng” tạo nên trong con người và trong trang văn củaKim Lân là chất “thuần hậu nguyên thủy”, “một lòng đi về với đất với người”, làbình dị, đôn hậu Kim Lân có một hoàn cảnh sống rất đặc biệt và chính hoàn cảnhsống này đã có ảnh hưởng rất lớn đến nhà văn Nếu như Nguyễn Tuân yếu tố thờiđại có tác động đến văn chương thì nhà văn Kim Lân yếu tố gia đình lại có ảnhhưởng rất lớn đến nhà văn Kim Lân sinh ra trong một gia đình không có hạnhphúc Mẹ ông là người vợ lẽ ngụ cư, quê gốc ở Kiến An - Hải Phòng Người chacủa ông là người rất sành chơi, dù có hai vợ nhưng vẫn lấy mẹ ông về để giúp việctrong nhà Thân phận con của người vợ lẽ, của dân ngụ cư đã trở thành nỗi ám ảnhvới Kim Lân từ khi ông sinh ra Cuộc sống sau này của nhà văn còn có nhiều nỗi cơcực, tủi nhục hơn thế Người cha mất sớm, ông phải bỏ học kiếm sống giúp giađình Cho đến khi trở thành nhà văn nổi tiếng, Kim Lân vẫn phải lăn lộn, chịu nhiềubất hạnh tủi cực Thế nhưng, hoàn cảnh sống đã giúp Kim Lân, một người luôn có
sự ý thức về thân phận và cuộc sống của mình biết vượt lên số phận, vượt lên cuộcsống để hiểu cuộc đời hơn và sống có ý nghĩa hơn Và cũng bởi vậy, trong đời sốngtình cảm, Kim Lân được xem là người sống có tình nghĩa nhất Với gia đình, vớianh em bạn bè và rộng hơn nữa chính là với cuộc đời này, đặc biệt là những conngười lao động nghèo khổ mà ông gắn bó rất sâu sắc và hiểu về họ
Con người Kim Lân là vậy! Chính con người của đời sống ấy đã đi vào vănchương, chi phối đến quan niệm sáng tác của nhà văn để từ đó hóa thân thành
Trang 9những cuộc đời, những nhân vật rất gần gũi Đối với văn chương, nhà văn quan
niệm rằng: “Văn chương là một thứ đạo, đạo làm người, như một thứ tôn giáo Mà
tôn giáo cũng đòi hỏi sự yêu thương giữa con người với con người, đòi hỏi con người có quyền làm người, bình đẳng tự do bác ái… Cái đạo này mỗi người truyền một cách, mỗi người một ý kiến khác nhau, muốn cho con người được sống ra con người, sống tốt hơn… Văn chương còn là thứ giải trí làm cho người ta vui thích, yêu đời, thư giãn sau những mệt mỏi….” Như vậy, với Kim Lân văn chương là
phải gắn bó với cuộc đời, nơi đó con người thể hiện tình người, tình đời để cuộcsống có ý nghĩa nhất Ngoài ra văn chương còn mang lại cho con người ta ý nghĩasống, đó là cách thư giãn hiệu quả nhất mà Kim Lân mong muốn Trong cách viếtKim Lân cũng có quan niệm giống với Nguyễn Tuân Nhà văn muốn khi viết văncần phải “thôi xao kĩ lưỡng”, “đẽo gọt” Nhà văn quan niệm “văn chương khôngcần đánh bóng mạ kền” và tôi xem văn như người… Điều quan trọng là vănchương phải thật, phải “giản dị” Nhà văn đã “thôi xao kĩ lưỡng” trong cách viếtkhông phải để đạt tới khát vọng của cái Đẹp mà điều ông muốn hướng đến là sự “bình dị, chất phác pha chút hóm hỉnh” Những điều mà nhà văn đã quan niệm trong
văn chương như vậy cũng bởi cái đích sáng tác của nhà văn đó là:“viết văn là cách
đòi cho mình một nhân phẩm, một chỗ đứng trong cuộc sống bé nhỏ, quẩn quanh”.
Và hơn thế nữa nhà văn muốn hướng tới hơn cả, đó là “sống và viết đều vì cuộc
đời, vì con người, vì cái đẹp, cái thực” Hơn cả, Kim Lân muốn hướng đến trong
cuộc đời và trong những trang viết của mình là sự công bằng và cái tình người, cáitâm của con người sống trong xã hội Đó cũng là đặc điểm nổi bật nhất, làm nên nétrất riêng trong một nhà văn hiện thực chân chất như Kim Lân
Hiểu được con người Kim Lân một cách đây tâm huyết như vậy, cho nên đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá về ông trên các phương tiệnkhác nhau Các bài viết, các công trình nghiên cứu này đã làm sáng tỏ được nhiềunét đặc sắc trong sự nghiệp sáng tác, cùng những thành công của nhà văn trênphương diện nội dung và nghệ thuật biểu hiện của tác phẩm [70]
Sau cách mạng tháng Tám có nhiều bài viết sâu sắc, thuyết phục về sáng táccủa Kim Lân và những tác phẩm của ông Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh
Trang 10trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30b, NXB KHXH,1980 nhận xét: “Văn Kim
Lân tỏ ra độc đáo và hấp dẫn hơn khi ông viết về những cái gọi là “Thú đồng quê” hay “Phong lưu đồng ruộng” Đó là những phong tục ăn chơi hay đúng hơn những sinh hoạt văn hóa của dân quê, như trồng cây cảnh, đánh vật, chơi chim bồ câu,
nuôi chó săn, gà chọi Đuổi tà, Đôi chim thành, Con mã mái…, sở dĩ có sức hấp
dẫn, không phải vì ở đấy những tập quán ngộ nghĩnh kì lạ, những thú chơi phiền phức, cầu kì được trình bày cặn kẽ, mà chính nhà văn đã làm hiện lên những con người của làng quê Việt Nam độc đáo kia, tuy nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời”.
Nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá viết: “Ông (Kim Lân) được dư luận chú ý
nhiều hơn khi đi vào đề tài độc đáo; ghi nhận sinh hoạt văn hóa phong phú của thôn quê ( đánh vật, chọi gà, thả chim….) Các truyện “Đôi chim thành”, “Con mã mái”, “Chó săn”… tuy nghiêng nhiều về phía phong tục, trình bày cặn kẽ những thú chơi lành mạnh kể trên, nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước cách mạng, những người sống cực nhọc, khổ nghèo, nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, thông minh, tài hoa… Cả hai giai đoạn sáng tác, tuy viết không nhiều nhưng Kim Lân đều có những đóng góp tích cực trong thể tài truyện ngắn viết về đề tài nông thôn Ông viết về mảng hiện thực này bằng tình cảm, tâm hồn của một con người vốn là con đẻ của đồng ruộng ”.
Nhà giáo Đỗ Kim Hồi khi viết về Vợ nhặt, đã nhân đó nói nhiều hơn về Kim
Lân Ngoài việc khẳng định Kim Lân là một trong những nhà văn viết ít mà ngàycàng được khâm phục, và Kim Lân là nhà văn có hai trong bốn tác phẩm được coi
là “thần bút”, còn nhấn mạnh: “Phần tâm huyết sâu sa nhất của tác giả Vợ nhặt,
chắc hẳn đã không được dồn cho việc làm biểu hiện những nét thấp kém của con người bộc lộ qua nhân hình và nhân cách Ngược lại với việc đặt nhân vật vào một khoảng sáng và tối, lay lắt, nhà văn đã tìm được cơ hội vô song để biểu hiện sự bất diệt của nỗi khát thèm được sống, được thương yêu và hi vọng… niềm ao ước ấy cứ
âm thầm vươn lên từ đói khát, tối tăm và chính bởi thế mà nó trở nên đáng cảm
động và đáng quý” và “….cũng có thể nói điều nữa về Vợ nhặt Như về cái vốn
liếng ngôn ngữ giàu có đặc sắc của Kim Lân, cái lối viết văn tưởng như dễ dàng mà
Trang 11không dễ phỏng theo, giản dị vô cùng mà sao cứ thấy ánh lên chất hào hoa Kinh Bắc” Và để khẳng định tài năng của Kim Lân, Đỗ Kim Hồi nêu rõ: “Nhưng cái đọng lại cuối cùng trong tôi vẫn là cách nhìn đời, nhìn người đầy xót xa, thương yêu của nhà văn, là niềm tin mà dường như ông muốn trao gửi đến tất cả chúng ta qua thiện truyện ngắn Rằng dù cuộc sống có bi thảm đến đâu thì cái cội nguồn lưu giữ trong nhân dân vẫn là bất diệt”.
* Giai đoạn sau đổi mới từ năm 1986 đến nay
Giai đoạn sau đổi mới, từ năm 1986 đến nay Những nghiên cứu đầu tiên vềsáng tác Kim Lân phải nói đến đó là Lại Nguyên Ân với bài viết Văn xuôi Kim Lân,đăng trên Tạp chí Văn học, số 6 -1986 đã phân tích lý giải một cách kĩ lưỡng đầy đủ
về thế giới nhân vật Kim Lân: “Đọc văn xuôi Kim Lân, ta bắt gặp cái thế giới
nghèo khổ vốn là hạng hạ lưu ở xã hội cũ, những người nông dân miền xuôi mất nhà, mất đất xiêu dạt lên miền ngược, núp vào một xóm chợ ven sông, một góc phố núi hay ven một đồn điền; một xó trại tiếp tục vật lộn với miếng sống sơ đẳng hàng ngày… Tất nhiên các truyện ngắn của Kim Lân không chỉ có những phương diện tố khổ Hiểu biết sâu sắc cảnh nghèo và người nhèo còn lộ rõ ở những trang khắc họa tâm lý và tính cách họ Các nhân vật nghèo, chủ yếu là nông dân trong các truyện ngắn của ông đều được ông tả hết sức chân thật từ cách nghĩ, cách ứng xử đến lời
ăn tiếng nói…” Ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác kim lân cũng là một vấn đề được
nhiều nhà nghên cứu quan tâm Vẫn trong “Văn xuôi Kim Lân”, Lại Nguyên Ân khẳng định: “Một trong những đặc sắc của văn xuôi Kim Lân là ngôn ngữ Nói
chung đây là ngôn ngữ của văn xuôi phong tục, nó của văn xuôi nghệ thuật Tiếng Việt với những cách xử lí khác nhau của nhiều nhà văn khác nhau và có nhiều thành công đáng kể” Hoài Việt trong đôi điều về Kim Lân nhận xét: “ Văn Kim Lân không đao to búa lớn, chữ chữ hàng hàng chân chất như củ khoai củ sắn, lời văn trong lối kể cũng không ồn ào, cứ rỉ rả, rỉ rả mà lại thánh thót mới tài chứ Kim Lân không ưa đánh bóng, mạ kền con chữ, hàng chữ Ông có cái nhìn, cái óc nghĩ, cái lối diễn đạt của người xứ quê Nó bình dị chất phác, pha chút hóm hỉnh nữa Nhưng bình dị, chất phác mà không nôm na đâu Nó rất “văn”, chững chạc, trong
Trang 12sáng, tươi tắn nữa” Hay nói như Nguyên An: Ông là nhà văn kĩ lưỡng, tinh tế trong việc lựa chọn chi tiết, kỳ khu và tài hoa trong việc lựa chọn ngôn từ, hình ảnh” Kể từ đó trở đi, Kim Lân ngày càng được đông đảo bạn đọc, giới văn nghệ sĩ,
phóng viên, nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn, nhất từ khi 1996 khi Tuyển tập
Kim Lân do Lữ Huy Nguyên tuyển chọn ra đời Càng ngày các bài viết về Kim Lân
càng đa dạng về hình thức và nội dung Có thể kể ra bốn loại bài viết chủ yếu sau:
1_ Những bài ghi chép, phỏng vấn, trò truyện với nhà văn Kim Lân trên cácbáo tạp chí
2_Những bài viết mang tính chất đánh giá, nhận xét về con người và sựnghiệp sáng tác của Kim Lân
3_Những bài phân tích, bình giá, phát hiện những nét đặc sắc trong các tácphẩm tiêu biểu của Kim Lân, chủ yếu in ở các sách giảng văn dùng cho học sinhphổ thông, hoặc các tài liệu tham khảo môn văn
4_Các công trình nghiên cứu khoa học, chủ yếu ở những luận văn cấp thạc sĩ.Loại bài thứ nhất chủ yếu ghi chép lại những lời trò truyện, tâm sự của Kim Lân
qua các cuộc tiếp xúc, phỏng vấn Nội dung thường đề cập đến: quan niệm viết văn
của Kim Lân, lí do đến với văn chương và lí do “gác bút”, những kỉ niệm hồi viết
văn trong kháng chiến, tình bạn với các nhà văn cuộc sống của ông trước khi mất
Loại bài thứ hai và thứ ba nghiêng về ca ngợi những thành công của Kim
Lân với “cách viết độc đáo”, “gây ấn tượng” mà lại “không cầu kì”, khiến người đọc như “mê đi ” trước sự dẫn dắt tài tình, đầy “ma lực” của một tâm hồn “vốn là
con đẻ của đồng quê”.
Đến năm 1997, trong bài Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật đặc sắc của sáng tác
kim lân, tác giả Bảo Nguyên cũng đã chỉ ra thành công của nhà văn ở các phương
diện: sử dụng ngữ âm và từ vựng: “Kim Lân đã dùng hàng loạt từ láy: xác xơ, heo
hút, ngăn ngắt, úp súp, sù sì, dật dờ, thê thiết (…) Từ láy đã góp phần tích cực tạo
ra âm điệu trầm, nhịp ngôn ngữ chậm, có tác dụng nhấn mạnh những đặc tính cần miêu tả (…) Ông lựa chọn những từ ngữ còn mang hơi thở của cuộc sống hàng ngày, để diễn đạt chúng đúng cái cuộc sống miền quê với những con người quê
Trang 13giản dị và đáng yêu (…) Trong việc sử dụng từ ngữ, Kim Lân đặc biệt chú ý những thành ngữ, những từ đệm vốn là những từ ngữ cửa miệng của người dân: “giời đất cha mẹ ơi”, “cụ bảo thì là dân ta”, “dầu bây giờ đắt gớm”(…) Những từ ngữ này đặt đúng hoàn cảnh đã tạo ra tác dụng vừa khắc hoạ tính cách nhân vật vừa gợi nên nét đời thường rất phù hợp với cuộc sống miền quê”[83].
Bên cạnh đó, khi nhận xét về giọng văn của Kim Lân, ngoài việc thốngnhất với đánh giá của Lại Nguyên Ân, Bảo Nguyên rất tinh tế khi bổ sung thêm:
“Giọng văn chủ đạo của ông thường trầm sáng như giọng ca dao, cổ tích Nhịp văn
của ông chậm gọn… Đó là một thứ giọng đệm phù hợp với quang cảnh nông thôn, với văn minh nông nghiệp (…) Yêu thương, ca ngợi là nét giọng chủ đạo trong các sáng tác kim lân Song ở mỗi truyện, ở mỗi hoàn cảnh, ở mỗi nhân vật, trong từng điều kiện, Kim Lân sử dụng các giọng khác nhau để miêu tả Giọng phẫn uất lẫn
mỉa mai trong Đứa con người vợ lẽ giọng cảm thương và mỉa mai trong Con chó
xấu xí giọng cảm thông lẫn kính phục trong Thượng tướng Trần Quang Khải Trạng Vật (…) Trong các truyện tâm lí xã hội của Kim Lân ta thường bắt gặp một
-giọng kể, -giọng tả đồng tình, cảm thương” Từ những ý kiến đánh giá trên, tác giả
đã đưa ra kết luận khái quát: “Ngữ âm từ vựng, giọng điệu được bàn tay nhà nghệ sĩ
tài ba Kim Lân đã sắp đặt tạo ra một thứ ngôn từ mang đậm chất “văn xuôi” Đó là một đoá hoa tạo nên sức hút ban đầu cho các độc giả Đó là phong cách giản dị mà độc đáo của Kim Lân” [4].
Ngoài ra còn những luận văn thạc sĩ nghiên cứu về tác phẩm của Kim lânnhư sau:
+) Những giá trị tiêu biểu về tư tưởng và nghệ thuật của truyện ngắn Kim
Lân _ĐHSPHN_1997 của Nguyễn Văn Bao.
+) Khuynh hướng phong tục trong sáng tác trước 1945 của Tô Hoài, Bùi
Hiển, Kim Lân _ĐHSPHN_1999 của Trần Văn Hồng.
+) Những đặc sắc truyện ngắn Kim Lân _ĐHSPHN_2002 của Nguyễn
Tiến
Đức
Trang 14+) Nông thôn và hình ảnh người nông dân trong sáng tác của Kim Lân
Chẳng hạn như luận văn “Phong cách nghệ thuật Kim Lân” của Nguyễn Thị Thu
đã phân tích, lý giải sự hình thành phong cách nghệ thuật Kim Lân về nhữngphương diện cơ bản (cái nhìn nghệ thuật, đặc điểm cốt truyện, nghệ thuật khắc họa
nhân vật….) của phong cách nghệ thuật nhà văn Hoặc luận văn “Sáng tác kim lân
nhìn từ phong cách thể loại” chủ yếu đề cập đến cách xây dựng nhân vật, tình
huống độc đáo của truyện ngắn… Những công trình khoa học có ý nghĩa và hếtsức quý báu để người viết kế thừa, phát triển Nhưng cũng cần phải thừa nhận rằng
“Không một nhà nghiên cứu nào dù tài năng tới đâu cũng không có khả năng khám phá hết những giá trị vốn rất tiềm tàng trong sáng tác của một nhà văn lớn” Vì
thế, tuy đã nghiên cứu về các phương diện của văn chương Kim Lân, nhưng nhữngcông trình này về mặt nào đó vẫn chưa thể khai thác hết vẻ đẹp độc đáo và tài năng
nghệ thuật của nhà văn đồng quê với lối viết giản dị, mộc mạc, mà “chữ chữ hàng
hàng chân chất như củ khoai củ sắn, lời văn trong lối kể cũng không ồn ào, cứ rỉ
rả, rỉ rả mà lại thánh thót mới tài chứ”.
Tuy có khá nhiều công trình, bài viết đánh giá về sáng tác của Kim Lânnhưng hầu hết mới chỉ dừng lại ở một số phương diện hoặc một khía cạnh nào đó
mà chưa có công trình nghiên cứu nào về sáng tác của ông dưới góc độ quan điểmnghệ thuật về văn hóa, phong tục Chính vì vậy, trên cơ sở học tập và tiếp thu kết
quả nghiên cứu của các tác giả đi trước tôi chọn và nghiên cứu: “Văn hóa, phong
tục làng quê trong sáng tác Kim Lân”.
Trang 153 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn chỉ ra những phương diện cơ bản vềvăn hóa, phong tục và một số đặc sắc nghệ thuật thể hiện văn hóa phong tục trongsáng tác của Kim Lân
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ trọng tâm nghiên cứu nội dung và hình thức các sáng tác viết vềvăn hóa, phong tục làng quê của Kim Lân
Vận dụng lý thuyết về quan điểm nghệ thuật để khám phá bức tranh hiệnthực về thiên nhiên, thế giới nhân vật và các biện pháp nghệ thuật của nhà văn
Nghiên cứu làm rõ mảng đề tài viết về văn hóa, phong tục làng quê qua cáchnhìn của Kim Lân trong các thời kỳ lịch sử khác nhau
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Văn hóa, phong tục trong sáng tác của Kim Lân
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn tập trung khảo sát, nghiên cứu những sáng tác
của Kim Lân: Làng (1955), Tập truyện ngắn Nên vợ nên chồng (1955), Ông lão
hàng xóm (1957), Tập truyện ngắn Vợ nhặt (1983), Tuyển tập Kim Lân (1996) và Kim Lân tác phẩm chọn lọc.
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống: Để có một cái nhìn tổng quát tiến hành tập hợpnhững sáng tác trực tiếp hoặc gián tiếp viết về văn hóa, phong tục làng quê của nhàvăn
- Phương pháp phân tích tác phẩm: Phân tích lần lượt từ bức tranh hiện thựcđến thế giới nhân vật ở cả bình diện nội dung và nghệ thuật từ đó có cái nhìn toàndiện về các phương diện nội dung và nghệ thuật về đề tài văn hóa, phong tục làngquê trong sáng tác của Kim Lân
- Phương pháp so sánh liên ngành: Nghiên cứu sáng tác viết về văn hóa,phong tục làng quê của Kim Lân, có đối sánh với tác phẩm viết về làng quê của các
Trang 16tác giả cùng thời Đồng thời có những nhận định chung nhất về thành công và hạn chế của Kim Lân khi viết về đề tài này.
- Phương pháp thi pháp học miêu tả: Theo đó, phương pháp nghiên cứu cấutrúc - hệ thống sẽ được sử dụng để xác lập các nguyên tắc tư duy nghệ thuật củaKim Lân về văn hóa, phong tục làng quê
7 Đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu tương đối hệ thống những thành tựu trong sángtác viết về văn hóa, phong tục làng quê của Kim Lân Với công trình này mongmuốn góp phần làm sáng tỏ thêm vai trò của đề tài trong tác phẩm văn học vànhững đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại
Đồng thời chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việcgiảng dạy tốt hơn những tác phẩm của Kim Lân trong trường phổ thông hiện nay
8 Cấu trúc nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được triển khaithành 3 chương
Chương 1: Quan niệm nghệ thuật và hành trình sáng tác của nhà văn Kim LânChương 2: Các bình diện đời sống văn hóa phong tục làng quê trong sáng táckim lân
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện văn hóa, phong tục làng quê trong sáng táccủa Kim Lân
Trang 17CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC
CỦA NHÀ VĂN KIM LÂN
1.1 Quan niệm nghệ thuật của nhà văn Kim Lân
1.1.1 Khái niệm về quan niệm nghệ thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, quan niệm nghệ thuật được cho là: “nguyên
tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho
nó có khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [10, tr.222] Như thế,
quan niệm nghệ thuật của nhà văn cũng chính là cách nhìn, cách hiểu của nhà văn
đó về cuộc đời, về con người mà họ đã thể hiện một cách nghệ thuật trong tácphẩm Đây được xem như điểm xuất phát để tìm hiểu nội dung và nghệ thuật củamột tác phẩm, một tác giả văn học
Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật của nhà văn Kim Lân, chúng tôi cố gắngkhông chỉ đưa ra các luận điểm, mô tả đặc trưng quan niệm của nhà văn mà xin gópphần bước đầu chỉ ra những quan hệ, chi phối lẫn nhau giữa các đặc điểm ấy
Tiếp cận phong cách và giá trị nghệ thuật trong sáng tác của một nhà văn,người ta không thể không tìm kiếm, xác định, trước hết là quan niệm nghệ thuật củanhà văn ấy (quan niệm về công việc viết văn, về con người, về thế giới)
Tất cả các quan niệm của nhà văn suy cho cùng là thuộc về ý thức nghệthuật, nó bao hàm cái nhìn độc đáo của nhà văn ấy, về con người (và về thế giới).Theo nguyên tắc mà nói, nhà văn nhìn con người và thế giới như thế nào thì sẽ mô
tả như thế ấy trong các sáng tác của mình Tìm hiểu cái nhìn ấy (và rộng hơn là ýthức nghệ thuật của nhà văn) cần phải lưu ý mấy điều có tính nguyên tắc:
Thứ nhất, đây là cái nhìn mang tính mỹ học, tính triết luận trước thế giới và
con người, một cái nhìn, nói như Trần Đình Sử “Cung cấp một mô hình nghệ thuật
về thế giới có tính chất công cụ để thể hiện cuộc sống cần phải có mang tính khuynh hướng khác nhau” [99]; cái nhìn ấy có khả năng mở ra theo nó cả một thế
giới nghệ thuật riêng biệt độc đáo của nhà văn [107]
Trang 18Ngoài ra, khi nghiên cứu khảo sát phong cách nghệ thuật Kim Lân trên bìnhdiện quan niệm nghệ thuật về con người (và thế giới), luận văn cho rằng, vấn đềkhông chỉ là đề xuất các luận điểm, miêu tả đặc trưng quan niệm nghệ thuật của nhàvăn mà còn góp phần chỉ ra các chiều hướng quan hệ chi phối lẫn nhau giữa các đặcđiểm ấy Trong đó việc nhìn sâu vào đời sống tâm tư tình cảm, hoàn cảnh sống củacon người và việc tìm kiếm cái đẹp của phong tục văn hoá làng quê theo quan niệmcủa ông, có một ý nghĩa rất đặc biệt.
1.1.2 Quan niệm của Kim Lân về cái đẹp văn hóa, phong tục làng quê
Goethe đã từng nói: “Sáng tác nghệ thuật là bữa ăn ngon, là hoa tươi dâng
bạn bè tôi” Người nghệ sĩ sáng tạo ra nghệ thuật là sáng tạo ra cái đẹp, đó là thiên
tư và thiên chức cao quý Nhưng không có cái đẹp nào xa rời cái có ích, xa rời cuộcsống của con người Trong văn chương cũng vậy, cái đẹp là sự sống được cảmthấy Cho nên với nghệ sĩ vấn đề là tìm kiếm vẻ đẹp nào? Tìm kiếm ở đâu?
Có thể nói từ xưa đến giờ, trong văn chương Việt Nam không ít người tìm
kiếm cái đẹp vốn tiềm tàng khuất lấp (như Thạch Lam, Nguyễn Minh Châu), tìm kiếm cái đẹp tài tử siêu phàm - “Vang bóng một thời” (như Nguyễn Tuân) Cũng
có những người tìm kiếm đề cao cái đẹp hoang dại, nguyên sơ đôi khi gắn với bản
năng, phi lý tính (như Khái Hưng), lại có những người chỉ đến với cái đẹp của những kiếp lầm than đau khổ (như Nam Cao)
Kim Lân cũng đi tìm cái đẹp nhưng với ông, cái đẹp vốn là những phong tụcsinh hoạt văn hoá lành mạnh của người nông dân ở làng quê nông thôn Việt Nam.Nghĩa là nhà văn đi tìm cái đẹp ngay trong cuộc sống hàng ngày Cái đẹp vốnkhông bị giới hạn, khuôn hẹp trong một không gian, thời gian nào, nó thật sự phongphú đa dạng chất chứa trong cuộc sống quanh ta Và với Kim Lân, cái đẹp chính lànhững thú chơi tao nhã, những sinh hoạt văn hoá lành mạnh của người dân ở làngquê nông thôn mà nhà văn cần quan sát và chỉ ra vẻ đẹp ấy bằng cảm nhận vớinhững rung động thành thật, sâu xa và bằng một thái độ trân trọng hiếm có Có thểnói, chính quan niệm về cái đẹp như thế thật sự đã giúp Kim Lân trở thành mộttrong những đại biểu xuất sắc cho khuynh hướng phong tục làng quê trong văn xuôi
Trang 19Việt Nam Qua những trang văn của mình, Kim Lân đã “tìm” và “phát biểu” được
biết bao vẻ đẹp của phong tục văn hoá làng quê Việt Nam
Khi viết về các phong tục dân gian, trước hết Kim Lân muốn khẳng định cái
đẹp trong tâm hồn của người nông dân Đọc các truyện “Đôi chim thành”, “Con
mã mái”, “Thượng tướng Trần Quang Khải- Trạng vật” , ta thấy cái đẹp ở đây
chính là cuộc sống nông thôn, cuộc sống thôn quê lành mạnh Bao nhiêu nỗi nhọcnhằn thường ngày của người dân trước những khó khăn giờ đây nhường chỗ cho sựthảnh thơi trong cuộc sống thanh bình, yên ả Họ đã suy nghĩ tái tạo gìn giữ và làmgiàu có, phong phú thêm các trò chơi vui: thả chim, chọi gà, đánh vật những tròchơi gợi ta nghĩ đến cái đẹp của tinh thần văn hoá phương Đông Những trò chơiphải chăng đã nảy sinh từ những công việc lao động vất vả thường ngày Tinh thầncủa nền văn minh nông nghiệp đã được lưu giữ bảo tồn bằng những phong tục vănhoá lành mạnh Kim Lân đã quan sát và tìm ra được vẻ đẹp này ở các phong tục vănhoá và khéo léo dựng lên những hình tượng văn học để bảo tồn lưu giữ
Thú chơi của con người xuất phát từ nhu cầu con người cần được chơi Chơichính là biểu hiện của một nhu cầu thám hiểm và thỏa mãn tính tò mò của conngười Chơi còn được hiểu là khát vọng thuần túy về một cuộc sống, nó cho phépcon người lúc đó rũ bỏ được mọi câu thúc, ràng buộc của cuộc sống thường ngày
Đó cũng là một vẻ đẹp trong cuộc sống Con người khao khát được chơi và cảmthấy được thỏa mãn khao khát ấy trong bản thân việc chơi, chứ không đòi hỏi gì ởbên ngoài Nó không đòi hỏi phải mang lại lợi ích vật chất, hoặc mục đích thựcdụng nào khác Người ta tham gia hết vào cuộc chơi trong một trạng thái tự do caonhất và khi đó thì cái phận vị của con người được tạm thời quên đi, ranh giới có tínhđẳng cấp giữa các thành viên trong cuộc chơi tạm thời được xóa nhòa Điều này chothấy nó cũng phản ánh một cách vô thức cái khát vọng dân chủ thường ngày, màngay trong cuộc sống thường ngày ấy con người ít khi đạt được
Nhìn vào các trò chơi, cách chơi và người chơi trong các trang văn của KimLân ta thấy, tất cả đều toát lên một vẻ đẹp - vẻ đẹp của tình yêu quê hương làng quêtrong tâm hồn người nông dân Nhà văn miêu tả trò chơi trong tinh thần khẳng định
Trang 20danh tiếng của làng Danh dự của làng là một giá trị tối thượng Nếu vì một lý donào đó mà thua cuộc, thì cái danh dự của làng, uy tín của làng, tư thế của làng bịkém giá, bị suy sụp Cho nên nhất nhất mọi sự chuẩn bị, mọi hy vọng đều thuộc vềnhóm những người đam mê, có cùng sở thích chơi - có tính đại diện cho làng Đi
chơi chọi gà chẳng hạn, có phải một mình ông Cả Chuẩn đâu, mà có cả những “tay
chơi” sành sỏi và những cổ động viên nhiệt thành như: hương Chế, ông Tư, ông đồ
Thảo, cả Sầy, hương Thân, tư Chuyên Tất cả mọi người đều lo lắng, hồi hộp đến
ngạt thở trong cuộc tranh hùng của “mã mái ”; rồi cuối cùng đều vỡ oà trong niềm
vui chiến thắng Mọi người đều hướng về cái danh tiếng của làng Đơn cử một ví dụ
về làng vật “Người ta bảo làng Cẩm Giang có đất vật, nhiều đô nổi Nên bọn con
trai làng gắng công luyện tập dưới sự trông nom, chỉ bảo của đô Cót để giữ tiếng cho sân mình” [65] Đô Cót đi khoe miên man những sự tích thú vị của làng vật với
một sự khoái chí ra mặt, không hề giấu diếm Cái sự khoe khoang đó có cái vẻ đángyêu:
“Uống luôn ba bát nước một cách chậm chạp, đô Cót thở dài kể lể:
- Các cụ truyền lại: làng tôi ngày xưa được ông Tả Ao để cho ngôi đất phát
to lắm “Văn tể tướng Võ quận công” Thời bấy giờ các quan võ phần nhiều là đô vật Làng tôi cũng có mấy ông được tiến cử vào trong kinh đô.
Nhưng lúc vua ngự giá đi đâu thì ngồi lên cánh tay một đô vật Cậu thử tưởng tượng xem: một người to lớn đẫy đà, đầu đội mũ lưỡi búa, mình đóng khố bao, khăn vắt Một tay khuỳnh ra làm ngai cho vua ngự, còn một tay cầm tàn che,
có phải oai phong lẫm liệt biết là bao nhiêu không Vì thế làng tôi thời ấy mới có mấy ông đô như: đô Tàn, đô Lọng, đô Kiệu, đô Cờ
Dứt lời, đô Cót liếc tôi tủm tỉm cười một cách tự đắc, sự hân hoan rạng rỡ trên nét mặt” [65]
Trong một câu chuyện khác, nhà văn miêu tả cái cảnh hát tuồng của làngđang có nguy cơ rã đám, tàn lụi trước sự tấn công của tận nhạc và lối sống mới Sânkhấu dân gian cũng là một thú chơi sang trọng của văn hoá làng truyền thống
Trước nguy cơ tàn lụi, các cụ trong làng cùng đồng lòng: “Làng ta đất tuồng,
không nhẽ đình đám bỏ tẻ ngắt ( ) Sợ rằng hàng xứ người ta chê bai, nên các cụ bỏ
Trang 21tiền ra nuôi thầy dạy” [65] Kết cục cái mong muốn khôi phục truyền thống hát
tuồng không thành tạo nên nỗi buồn chung cho cả làng, nhất là lớp người không còntrẻ tuổi, hay sống bằng niềm hoài cổ như cụ trùm Trạch Nhưng điều đó lại thể hiệnđược cái đẹp trong tâm hồn của người nông dân đối với văn hoá truyền thống ở làngquê
Xin đơn cử thêm một trường hợp nữa ở truyện ngắn “Đuổi tà”, ngay từ tựa
đề chúng ta cứ nghĩ truyện mang khuynh hướng phục cổ hoặc đả phá những hủ tục
cổ ở làng quê Nhưng đi sâu vào nội dung truyện chúng ta thấy “đuổi tà” là một tập
tục trừ ma sống động của những người dân quê và rất quen thuộc với những cư dân
đồng bằng Bắc Bộ “Đuổi tà” là để giã từ năm cũ đón chào năm mới; “đuổi tà” là
để “trục ma đói, ma khát ra khỏi làng, năm mới đây dân làng làm ăn thịnh đạt” hơn; “đuổi tà” là để cuộc sống của con người sang năm mới được thuận lợi hơn, tốt đẹp hơn Và “đuổi tà” hàng năm, rõ ràng đã trở thành một thuần phong mĩ tục của
con người Việt Nam với một mục đích, một ước mơ cao cả trong tâm hồn mà ai ai
cũng đều hào hứng tham gia “ Trẻ con, người lớn à à theo sau reo hò ầm ĩ” Tất
cả dường như đã ăn sâu bám rễ vào đời sống tâm linh, đời sống tinh thần của người
dân quê Như vậy, qua “Đuổi tà” Kim Lân muốn khẳng định cái đẹp trong tâm hồn
của người nông dân: dù cuộc sống khó khăn, vất vả nhưng họ vẫn có niềm tin vàluôn hướng về một tương lai tốt đẹp hơn
Chính điều này cũng đã thể hiện ý thức nghệ thuật sâu sắc của nhà văn - ýthức về giá trị văn hóa cổ truyền, ý thức bảo vệ, ngợi ca và tôn vinh sức sống, sứcmạnh của văn hóa dân tộc Việt Nam trong tâm hồn của người nông dân
Bên cạnh đó Kim Lân còn chỉ ra cho người đọc những nét tài hoa của ngườinông dân Việt Nam Bao nhiêu phong tục là bấy nhiêu cách nghĩ, cách tổ chức,cách dàn dựng, cách nhìn thẩm mỹ: chọi gà, thả chim, đánh vật, đi săn Hãy đọcmột đoạn văn để thấy con mắt thẩm mỹ của người dân lao động Chẳng hạn khi đọc
lại đoạn văn miêu tả vườn cây cảnh của ông Cả Chuẩn trong truyện “Con mã mái”,
ta thấy cái đẹp hết sức đa dạng Tác giả của vườn cây cảnh phải là người tài hoa có
óc tưởng tượng, có khiếu thẩm mỹ, có bàn tay khéo léo mới tạo nên một vẻ đẹp nhưvậy Bổ sung thêm cho nét tài hoa này, trong nhiều tác phẩm văn xuôi phong tục,
Trang 22Kim Lân cho ta thấy người nông dân còn biết bao khéo léo, đó là kỹ thuật nuôitrồng, từ chọn giống đến chăm lo, nuôi dạy, chữa bệnh, lĩnh vực nào cũng am
tường Nhiều khi ta thấy họ như những nhà nông học thật sự Họ chọn giống: “chó
giống cha, gà giống mẹ ”, gà “mặt tông siết”, “thứ nhất ăn sâu, thứ nhì chầu mỏ” (Con mã mái) Trong các cuộc chơi có biết bao khâu, biết bao luật lệ, bao thuật ngữ,
song họ vẫn hiểu, vẫn dùng một cách thành thạo, chính xác Ví dụ, các từ trong hội
thả chim: “trung chính, thượng tiểu tùy”, “vần thượng”,“đại tùy” (Đôi chim
thành); trong chọi gà “đòn linh”, “vỗ”,“bằng trang hơn xương” (Con mã mái); trong đấu vật “bá tai tư”, “miếng móc quai xanh”, “xới vả”, “tấm vật” (Trạng vật),
Viết lên những điều này nhà văn muốn khẳng định cái đẹp trong tâm hồn củangười dân thôn quê - những con người hiền lành bình dị nhưng thật phong phú vềtâm hồn, thật khéo léo và tiềm ẩn nhiều tài năng Thật vậy, đọc các truyện viết vềphong tục của Kim Lân, ta thấy được cái đẹp của tình cảm sâu đậm giữa con ngườiđối với con người, đối với con vật nuôi và thiên nhiên cây cối của người nông dânnhư đã đề cập ở trên Ở điểm này, ta thấy được sự khác biệt giữa Kim Lân so vớicác nhà văn khác Có những nhà văn chỉ ngồi ở thành phố nhưng lại cầm bút viết vềlàng quê, viết về người nông dân Do vậy, người nông dân của họ thật khờ khạcđáng thương, lại có những nhà văn còn xem người nông dân như những con vậthình người, nhìn người nông dân với cái nhìn trịch thượng, thái độ thương hại Đốichứng vậy ta càng thấy rõ tinh thần nhân bản cao cả của Kim Lân Ý thức tráchnhiệm, sự kính trọng cùng tình yêu con người đã giúp nhà văn, khám phá đời sống,
xã hội và con người một cách thấu đáo Điều này đã khẳng định nhãn quan thẩm mỹtinh tường của nhà văn Ông đã nhìn thấy người nông dân không những phong phú
về tâm hồn mà còn có bàn tay khéo léo tài hoa Cách nhìn, cách nghĩ trên đã giúpKim Lân tạo dựng được những hình tượng văn học đáng nhớ Qua đó, người đọc cóthể cảm nhận được một cách toàn diện hơn về vẻ đẹp của con người ở làng quê:hiền lành, chất phác mà cũng thật tinh tế tài hoa
Viết về các phong tục văn hóa dân gian, ngoài việc tìm cái đẹp trong tâm hồnphong phú, trong sáng, lành mạnh, trong sự tài hoa khéo léo của người nông dân
Trang 23thôn quê, Kim Lân còn muốn tìm cái đẹp trong niềm tự hào dân tộc của mình.
Một dân tộc nếu để mất tiếng nói, để mất văn hóa thì đã coi như để mất đi vẻriêng của mình Dân tộc Việt Nam ta tồn tại có bản sắc một phần là nhờ có tiếng nóiriêng, một thứ của cải vô cùng lâu đời, quý báu, và thật sự giàu đẹp Cùng với tiếngnói là lịch sử, là văn hóa Vì thế, theo ông, chúng ta cần thấy vẻ đẹp của lịch sử dântộc, của tâm hồn cha ông, chúng ta cần giáo dục cháu con bằng các phong tục vănhoá
Mỗi một phong tục văn hoá đều bắt nguồn từ lịch sử của đời sống xã hội.Bao nhiêu ngành nghề có bấy nhiêu lễ hội Làng chài có lễ hội làng chài, làng nghềchạm bạc, chạm gỗ có lễ hội làng nghề chạm bạc, chạm gỗ Nghề nông có lễ hộixuống đồng, lễ cơm gạo mới, hội chọi trâu Rồi các lễ hội về lịch sử như hộiGióng, hội đền Hùng, hội đền Kiếp Bạc; các lễ hội văn hoá như hội Lim, hội hátxoan, hát dặm Bao nhiêu lễ hội là bấy nhiêu vẻ đẹp, mỗi vẻ đẹp là một chứng tíchlịch sử của cha ông về cách nghĩ, cách làm, lời nhắn gửi truyền lại cho con cháu
Đọc các truyện “Con mã mái”, “Đôi chim thành” người đọc nhận ra dấu ấn
xa xưa có từ nền văn minh nông nghiệp Đọc “Thượng tướng Trần Quang Khải
-Trạng vật”, “Ông Cản Ngũ” ta lại nghĩ về truyền thống thượng võ của cha ông.
Ta thấy đánh vật là một thú vui phổ biến trên đất nước Việt Nam - một thú vui vừarèn luyện thể lực, vừa rèn luyện trí tuệ Một dân tộc luôn đồng cam hiệp lực đểchống trả sự tàn bạo của giặc ngoại xâm thì sức khỏe, trí tuệ vô cùng cần thiết
Người dân Việt Nam đã khéo léo tạo ra những thú vui hữu ích Trong “Trạng vật”, Kim Lân đã nói rõ ý này: “Trong nước tuy đã yên ổn thái bình nhưng thái sư Trần
Thủ Độ vẫn không một lúc nào không lo toan chỉnh chu binh bị Mỗi năm một lần tuyển những binh tráng sang làm lính Những người lính này phần nhiều là đô vật
Từ kẻ chợ đến thôn quê đâu đâu cũng náo nức tập vật” [65] Như vậy, các phong
tục văn hoá chính là dấu ấn lịch sử, là cái đẹp của cha ông để lại Chọn các phongtục văn hoá để viết, dùng phong tục khám phá nhìn nhận, Kim Lân muốn nhắc nhởmọi người hãy tôn trọng lịch sử dân tộc, hãy biết giữ gìn và bảo vệ các phong tụcvăn hóa Đó là một vẻ đẹp truyền thống của quê hương Tự hào về nền văn hoá dântộc, Kim Lân cũng nhận thấy được cái đẹp của sức mạnh cộng đồng qua các truyền
Trang 24thống văn hoá đó Các phong tục văn hóa không chỉ là sức mạnh, là kết quả của trítuệ, sức lực tập thể mà còn là nơi gắn kết cộng đồng, nơi tô đậm thêm những tìnhcảm giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, đất nước NgườiViệt Nam đến với các phong tục văn hoá là để tiếp xúc, để chia sẻ niềm vui, đểcống hiến tài năng, cống hiến trí tuệ tập thể Tính cộng đồng được rèn giũa và ngày
càng bền chặt qua các lễ hội Đây có lẽ cũng là một nguyên nhân tạo cho người Việt
Nam phẩm chất nhân nghĩa, đoàn kết Đọc truyện ngắn “Đôi chim thành” ta càng thấy rõ điều này, Kim Lân đã chú ý miêu tả đám đông để làm rõ tính cộng đồng “ Cái tiếng quần chim của Trưởng Thuận ăn khao “liên tam trúng, nức cả hàng phủ thật là một thành tích vẻ vang chưa từng có.”, “khách mỗi lúc một đông thêm, gian nhà vừa lụp xụp vừa chật chội bộn lên những người, tiếng cười nói xôn xao ầm
ĩ ” Còn trong “Con mã mái” thì “Cu Trạm lách qua dòng người chạy ra gọi đồ Thảo khoe rối rít dòng người xô lại” Trong “Thượng tướng Trần Quang Khải - Trạng vật”: “Cờ xí, đàn quạt rợp trời, nam phụ lão ấu đứng vây quanh xem đông như kiến, có đô vật các loại ngồi hai bên trên ghế chờ xướng đến tên mà ra thi sức cứ lần lượt hết cặp này đến cặp khác ra vật” [65].
Có thể nói qua các tác phẩm viết theo khuynh hướng phong tục, Kim Lân đãchứng tỏ sự hiểu biết sâu sắc của mình về làng quê Việt Nam, về người nông dân,đồng thời thể hiện sự đồng cảm, tình yêu mến, sự kính trọng đối với những ngườidân bình thường giản dị mà trong sáng tài hoa Khẳng định những phẩm chất quýbáu của người nông dân, Kim Lân cũng đã khẳng định cái đẹp của văn hoá dân tộcđược tạo dựng lên từ những con người chịu nhiều vất vả nhưng rất chăm chỉ, sáng
dạ Ý thức dân tộc đã tạo nên niềm tự hào dân tộc thuyết phục người đọc Bằng vănhọc, ông đã khơi dậy ở người đọc tình cảm, ý thức với đất nước, với dân tộc Quacác tác phẩm của mình nhà văn còn nói đến các tầng văn hoá làng quê, đến nhu cầuthưởng thức văn hoá, từ đó thấy được giá trị của văn hoá dân tộc nói chung Tất cả
vẻ đẹp, sức hấp dẫn của những trang văn Kim Lân phải chăng chính là cái đẹp củaphong tục văn hoá làng quê qua nhãn quan thẩm mỹ của nhà văn tài hoa xứ KinhBắc Như vậy cái đẹp của Kim Lân hiện diện ở khắp làng quê nông thôn Việt Nam
Trang 25Đó là cái đẹp của thực tại đời thường, cái đẹp bình dị Nó không giống với cái vẻ
đẹp thiêng liêng sang trọng kiểu như vẻ đẹp “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân, lại càng không giống với cái đẹp của “Đời mưa gió”, “Lạnh lùng” của Nhất
Linh, Khái Hưng Cái đẹp của Kim Lân là cái đẹp của văn hoá lịch sử làng quê ViệtNam Cái đẹp đó người ta không thể quên được bởi nó chính là cội nguồn, là gốc rễcủa làng quê cổ truyền Việt Nam ngàn đời
Trên đây, luận văn đã khảo sát một vài nét chủ yếu trong quan niệm nghệthuật của Kim Lân: quan niệm về con người - mối quan hệ giữa con người với conngười; quan niệm về cái đẹp của phong tục văn hoá làng quê - cái đẹp bình dị trong
cuộc sống đời thường gắn với những thú chơi tao nhã “phong lưu đồng ruộng” của
người nông dân, cái đẹp trong tâm hồn của người dân lao động Từ đó luận văn chỉ
ra nét đặc sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới trong tác phẩmcủa Kim Lân Đó cũng chính là một trong những mặt biểu hiện cụ thể và chủ yếuthuộc về ý thức nghệ thuật hay hẹp hơn, cái nhìn độc đáo của nhà văn về thế giới,cuộc sống và con người Những nét đặc sắc này sẽ chi phối sâu sắc và có hiệu lựcđến cách lựa chọn nội dung và hình thức tự sự của nhà văn
1.1.3 Quan niệm của Kim Lân về việc viết văn
Nhà văn Kim Lân từng kể về đời mình: “Tôi không được học đến nơi đến
chốn Đang học dở lớp nhất ở trường huyện thì bố tôi mất, tôi bỏ nhà, xuống Hải Phòng tìm việc làm, không được, lại quay về làng Tôi đi học nghề sơn guốc của một ông hoạ sĩ làng bên Trong sự rẻ rúng của gia đình (ông là con trai người vợ ba cụ thân sinh), nhiều bạn bè đồng học vẫn đi,về, đèn sách nhởn nhơ, tôi buồn bực vô cùng Đúng ra là tự ái Tự nhiên tôi nhìn xung quanh thấy nhiều sự nhăng nhít, vô lý
và nhất là lòng ham viết, thích viết của tôi lại càng nung nấu “Ta cũng chẳng kém
gì các người ” - cái ý nghĩ cương quyết, ngây thơ đó đã khiến tôi cầm bút” (Chặng đầu đi tới) [24, tr 598] Như vậy, Kim Lân viết văn, trước hết, có hai động lực khởi
nguồn: lòng “ham viết, thích viết” trước “nhiều sự nhăng nhít, vô lý” của cuộc sống
xung quanh nhà văn lúc ấy Sau nữa, việc cầm bút viết văn của người thợ sơn guốc
đó có ý nghĩa lớn lao, mang tính nhân văn, đó là: “đòi cho mình một thân phận, một
Trang 26nhân phẩm, một chỗ đứng trong cuộc sống nhỏ bé quẩn quanh của quê hương”.
Như mọi nhà văn chân chính, mối quan tâm lớn, trước hết, ở Kim Lân làquan hệ giữa văn học với đời sống, với thời đại Ngay từ thời kỳ đầu cầm bút, ông
đã quan niệm: điều quan trọng là văn chương “phải thật, phải giản dị” và “trong
văn phải có cái tâm” Từ tác phẩm đầu tay Đứa con người vợ lẽ cho đến những tác
phẩm sau cuối, trang văn của ông ngập tràn muôn mặt những cảnh đời, cảnh sống,đầy ắp những không khí của thời cuộc Trước Cách mạng tháng Tám, nhà văn viếtnhiều về những day dứt của cuộc sống con người trong dòng xoáy xã hội nơi cái
khuôn làng bé nhỏ của mình Từ những cái “nhăng nhít, vô lý” của cuộc sống cá nhân đến cái “nhăng nhít, vô lý” của xung quanh đều thấy hiện diện trong các tác
phẩm Đâu đó là thân phận kẻ “thừa" trong những gia đình lắm vợ lẽ, con thêm
-đứa con đẻ của hôn nhân thời phong kiến (Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô
đầu, Thượng tướng Trần Quang Khải - Trạng Vật) Lại có cả những thói tật của
người nông dân với nỗi lòng luyến tiếc, hoài cổ cái nhã thú văn hóa cổ truyền (gánh
hát tuồng của làng) gặp phải sự dửng dưng của lớp thanh niên trẻ (Người kép già), chuyện thách đố trêu chọc đám con gái nhà lành của đám thanh niên (Nỗi này ai có
biết), chuyện đi trả lại đòn thù truyền đời truyền kiếp của những trang “hảo hán
làng” (Trả lại đòn), hay cả chuyện đối xử của những thành viên trong gia đình với nhau (Cơm con) Chừng ấy chuyện trên trang sách cũng là chừng ấy chuyện trên
trang đời mà ông hằng trải qua hay chứng kiến Sau Cách mạng, nhà văn còn đưavào tác phẩm của mình rất nhiều những sự kiện gắn với những dấu mốc quan trọng
của lịch sử đất nước như chuyện tản cư (Làng), chuyện cải cách ruộng đất (Nên vợ
nên chồng), chuyện nông dân vào hợp tác xã (Ông Cả Luốn gốc me) Mỗi câu
chuyện, Kim Lân đều viết bằng một lối văn mộc mạc, bình dị, như chính con ngườiông Tất cả, đó là những chuyện, những người mà ông đã từng gặp, từng trải qua,từng quen biết và gần gũi Dù có quan niệm rằng: không thể dung nạp được cái thứ
văn “kêu quá, bóng bẩy quá, cứ như là đánh bóng mạ kền ” thì văn Kim Lân vẫn
có một sức hút riêng Có được điều đó không phải từ những câu chữ đẽo gọt chămtỉa mà từ chính cái chất của người nông dân mà nhà văn đã thổi được vào tác phẩm
Trang 27Là người viết không nhiều nhưng Kim Lân luôn được bạn văn nể trọng, bạn
đọc lưu nhớ Sở dĩ có được điều đó là bởi ông luôn tâm niệm “chỉ viết những gì
mình nắm chắc” Con người ấy đã gạt bỏ mọi sự lôi cuốn của nhịp sống thời đại để
giữ cho mình một lối viết rất riêng, chậm rãi, cẩn trọng và đậm chất nông nhàn Khixung quanh ông, những Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan xoáy sâu vàonhững mâu thuẫn, những mặt trái của xã hội thực dân thì Kim Lân lại đi vào một
mảng riêng biệt, cái thú “ phong lưu đồng ruộng” Nhìn suốt các sáng tác của nhà
văn, đâu đâu bạn đọc cũng bắt gặp những không gian, những sự việc gắn với ngườinông dân, trong mọi hoàn cảnh của đời sống Đó chính là cái “chiếu” riêng của ông,chính là lĩnh vực mà ông am hiểu sâu sắc, cũng chính là nơi ông có thể mặc sức gửigắm cái tình yêu làng lắm lắm của mình
Là một con người chịu nhiều thua thiệt, việc viết văn, với ông, còn là niềmkhao khát được thể hiện rõ nét chính con người mình trên trang giấy Ông đã tự
nhận rằng: “xem văn như người Văn tôi giống tôi trước hết là cách nói, cách
nghĩ, cách xử sự Văn của tôi đã nói được tiếng nói và sự suy nghĩ của tôi Nhiều khi cách xử sự của nhân vật trong truyện cũng là cách xử sự của tôi trong cuộc sống hàng ngày” [8, tr 36,94] Con người ông, dù với người hay với
đời, với văn chương, luôn có ý thức và thực sự đã là “một người tử tế” như từ chính
ông đã sử dụng Cái chất tử tế trong việc viết văn có khi là cái nhận thức đúng đắn
về tài năng và nhân cách của người cầm bút; cũng có khi lại chính là việc họnên biết điểm dừng của mình trên lộ trình sáng tạo nghệ thuật Ông đã từng cho
rằng: “Viết văn phải có tài Cái tài đến với nhà văn rất tự nhiên, mất đi cũng rất tự
nhiên Tôi thấy nhiều nhà văn lúc chưa biết nghề nếp tẻ ra sao, hồn nhiên, thoải mái, viết cái mình yêu, mình thích, thì viết lại rất hay, đến lúc hiểu kỹ về nghề thì viết lại tồi đi rất nhiều Hay chăng cái mình biết đã gò bó cái tự nhiên của mình Những hiểu biết về nghề văn là rất cần Nó nâng tầm nhà văn lên, nhưng nếu để
nó khống chế mình, làm mất cái thiên bẩm của mình đi thì nhà văn ấy không còn
là chính mình nữa” Và khi lý giải việc tạm ngừng sáng tác một thời gian dài của
mình, ông cũng nói trên cái quan niệm rất táo bạo mà chuẩn xác đó: “Cái đáng
viết thì đã viết rồi, còn
Trang 28cái không đáng viết thì viết làm gì Viết nhiều mà nhạt thì thà không viết còn hơn,
vả lại giời cũng chỉ cho mình có thế, muốn hơn cũng không được Viết được thì viết, không viết được thì thôi Những cái cố gượng viết đều giả, đều khô khan, đọc lại thấy xấu hổ lắm ! ”.
Tất cả cái bản tính ấy ông đều Và như thế, nhà văn Kim Lân đã giữ trọn vẹncái Tâm của người cầm bút trên suốt hành trình cống hiến nghệ thuật của bản thân.Xin được mượn lời đánh giá của nhà văn Trung Trung Đỉnh để khép lại vấn đề về
quan niệm sáng tạo nghệ thuật của ông: “Ông già đa cảm, đa chuyên, ham sống,
thích vui, hết lòng vì bạn, chơi với bạn, dù trẻ, dù già, lấy cái chữ Tin nhau, Yêu nhau làm trọng Bản tính ông là thế!" [25, tr 647] mang cả vào mỗi trang văn tươi
rói của mình
1.2 Hành trình sáng tác của Kim Lân
Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 01 tháng 08 năm
1920 tại một miền quê giàu truyền thống văn hóa, làng Phù Lưu, xã Tận Hồng,
huyện Từ S ơn, t ỉnh B ắ c Ninh Xứ Kinh Bắc quê hương ông vốn là đất nghìn nămvăn hiến, nơi từng phát tích vương triều, nơi có bề dày lịch sử, có truyền thống vănhóa lâu đời với những hội hè, đình đám cũng là nơi có những làn điệu dân ca quan
họ ngọt ngào, sâu lắng đắm mê lòng người Cậu bé Tài đã được nuôi dưỡng tài năngtrong một không gian sinh thành đậm chất văn hóa nghệ thuật như thế Và chính cái
bút danh của ông cũng phần nào là hệ quả tất yếu từ không gian đó Kim Lân chính
là sự lựa chọn rút ngắn từ tên một nhân vật trong vở tuồng nổi tiếng mà ông đam
mê từ những buổi hội làng thuở bé: Đổng Kim Lân trong vở tuồng Sơn Hậu.
Là con của một người vợ lẽ trong một gia đình bình dân, hồi nhỏ, cậu bé Tàichỉ được học hết bậc Tiểu học Rồi cụ thân sinh mất, cậu phải đi phụ việc cho cáclớp thợ đàn anh để giúp gia đình kiếm sống bằng rất nhiều nghề khác nhau Nhữngtháng ngày lang bạt này cũng chính là một nguồn tư liệu dồi dào về muôn mặt cuộcsống, thôi thúc một anh Tài với lòng ham viết, thích viết cầm bút để khẳng định mộtđiều gì đó với cuộc đời, với xung quanh
Kim Lân đến với Cách mạng khá sớm Năm 1944, ông đã được giác ngộ vàtham gia Hội Văn hóa cứu quốc Cách mạng tháng Tám thành công, ông tiếp tục
Trang 29cống hiến tích cực cho đất nước Môi trường sống mới này cũng giúp ông có cái nhìn dày dặn và sâu sắc hơn về con người trong cuộc sống.
Và bản sắc văn hóa quê hương, trải nghiệm cuộc đời cùng với niềm yêuthích văn chương đã hun đúc nên một con người, một nhà văn Kim Lân khá kínđáo, nhẹ nhàng nhưng không kém phần sâu sắc, đặc biệt, gắn bó máu thịt với mảnhđất dưỡng nuôi mình
Gia tài văn chương của Kim Lân không nhiều Ông bắt đầu viết truyện ngắn
từ năm 1942 và viết đều tay cả sau Cách mạng tháng Tám Ông là một trong số ít
nhà văn trung thành suốt đời với một thể loại sáng tác: truyện ngắn, thể loại “tập
cho người viết nhiều nết quý” nhưng cũng là một hình thức khó khăn với những đòi
hỏi riêng biệt Kim Lân để lại khoảng trên 30 tác phẩm Tuy không đồ sộ, nhưngtruyện ngắn của ông luôn có một dấu ấn đặc biệt trong đời sống văn học dân tộc
Năm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
1.2.1 Sáng tác của Kim Lân trước Cách mạng tháng Tám 1945
Truyện ngắn đầu tay của Kim Lân có tên là Đứa con người vợ lẽ Viết xong, ông gửi cho báo Trung Bắc chủ nhật và được đăng trên số 120 ra ngày 26-7-1942.
Câu chuyện phản ánh tình trạng đa thê và thân phận tủi nhục của những đứa conngười vợ lẽ, một hiện tượng khá phổ biến trong xã hội thời ấy Tác phẩm ngay lậptức đã có một tiếng vang nhất định bởi tính chân thực và khái quát của nó Cũngkhông khó để bạn đọc nhận ra câu chuyện có ít nhiều dáng dấp từ cuộc đời thựccủa nhà văn Bởi vậy, nó cũng là một dấu mốc quan trọng trong nghiệp văn của ông,gắn ông với một lối viết đặc trưng mà sau này ông theo đuổi: lấy chính chuyện củamình, quanh mình làm đề tài cho tác phẩm Thành quả là hàng loạt truyện ngắn
mang khuynh hướng xã hội ra đời sau đó như: Đứa con người cô đầu, Cô Vịa, Cơm
con,
Một năm sau, cũng tờ báo Trung Bắc chủ nhật đã khơi một nguồn cảm hứng
mới cho nhà văn: đặt ông viết một truyện ngắn cho số đặc biệt về chủ đề thú chơiđồng ruộng Liên hệ với những hội hè nơi làng chợ Giầu trù phú ấy, Kim Lân đã
viết Đôi chim thành, câu chuyện về thú chơi thả chim bồ câu của quê hương đầy tao
nhã Đọc tác phẩm, bạn đọc không chỉ hiểu về một nét văn hóa đặc thù của làng quê
Trang 30mà còn cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn đầy chất nghệ sĩ của những con người làmnên thú chơi ấy Câu chuyện đã nhanh chóng lọt vào “mắt xanh” của nhà văn, nhà
báo Vũ Bằng Ông khuyến khích Kim Lân: “hãy viết về thú chơi và phong tục nông
thôn thì một mình ông một chiếu” và mời ông cộng tác với Tiểu thuyết thứ bảy.
Thành quả là hàng loạt tác phẩm đã ra đời, đóng đinh nhà văn Kim Lân trên “chiếu” phong tục tập quán làng quê Bắc Bộ: Đuổi tà, Con Mã Mái, Người kép già, Thượng
tướng Trần Quang Khải - Trạng Vật,
Dù không có những lời tuyên chiến mạnh mẽ như những nhà văn cùng thời,song đọc tác phẩm của Kim Lân giai đoạn này, chúng ta vẫn có thể thấy chất hiệnthực hiện lên rất rõ nét và sâu sắc Ông không có những trang văn phê phán, những
thái độ lên án, đả kích gay gắt như những Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao , cũng không có những tiếng cười trào phúng kiểu Số đỏ (Vũ Trọng Phụng) Nhà văn gần như không đi sâu khai thác mâu
thuẫn xã hội đặc thù của thời đại, mâu thuẫn giữa người nông dân với tầng lớp thựcdân, địa chủ phong kiến như các bạn văn thời ấy Trang văn của ông nhẹ nhàng,bình lặng mà vẫn đầy ắp những vấn đề nhức nhối, đầy ắp những trái ngang do xãhội đương thời đẩy xô tới số phận những con người nghèo khổ
Ngay từ tác phẩm đầu tay Đứa con người vợ lẽ, người đọc đã cảm nhận được
cái không khí cuộc sống đầy bức bối thuở đương thời Cái lề thói phong kiến, cái hủtục đa thê đã đẻ ra cái phận người bị hắt hủi: phận người làm lẽ Vợ lẽ, tất yếu sẽsinh ra những “đứa con lẽ”, nếu có thể gọi như vậy Bi kịch của con người đôi khilại bắt nguồn từ chính cái xuất thân ấy Tư, nhân vật trong câu chuyện đã có một
tuổi thơ thua thiệt của phận “con vợ ba”, một chuỗi ngày dài mẹ con lâm vào cảnh
thất nghiệp khi thày và mẹ cả mất, nhà không làm ruộng nữa, cũng đồng nghĩa với
người “vợ ba” lấy về “không phải đôi bên bác mẹ gả bán, không phải nhà hiếm hoi,
cũng không phải tình yêu”, chỉ đơn thuần là “cáng đáng việc đồng” kia trở nên vô
dụng Mẹ con phận lẽ thua thiệt ấy giờ lại sống trong cảnh “anh em họ mạc thờ ơ
lạnh nhạt, họ coi hình như không có mẹ con Tư trong nhà nữa" Và nỗi mệt mỏi
trong anh không chỉ là từ cơn đói mang lại, nó còn là từ những tủi hận của phận
“con vợ lẽ, không phải vì hương khói, chỉ là thằng thừa" mà anh đau đớn cảm nhận
được
Trang 31Không dừng ở đó, trang văn Kim Lân còn đề cập tới những mảnh đời vốn dĩrất nhạy cảm trong bối cảnh xã hội phong kiến dù đã ảnh hưởng nhiều của thói thực
dân Đó là những kiếp cô đầu (Đứa con người cô đầu), những kiếp kép hát (Người
kép già), những người phụ nữ “chửa hoang" (Nỗi này ai có biết, Thượng Trần Quang Khải - Trạng Vật), hay cả những “tay anh chị" (Trả lại đòn) Viết về họ,
nhà văn không đi khai thác sâu vào cuộc sống lam lũ mà họ phải đối mặt Điều ôngđau đáu chính là sự xô đẩy của thói tật xã hội lên những phận người ấy Một Thạ
(Đứa con người cô đầu) trở nên tiều tụy không hẳn vì mẹ không gửi tiền về mà còn
vì sự ghẻ lạnh của chính những người sống xung quanh Một Lan (Nỗi này ai có
biết) thùy mị, đẹp nết, đẹp người phải bỏ nhà ra tỉnh theo người bạn làm cô đầu chỉ
vì mấy trò thách đố chim chuột của đám trai làng rỗi việc Rồi một ông kép Trạch
từng nổi danh (Người kép già) với bao háo hức, mê say, bao kỳ vọng khôi phục lại
truyền thống đất tuồng, phải rơi vào cảnh dở khóc dở cười: không có người tập hát,chỉ vì những lời hứa hươu vượn của lũ thanh niên “nhãi ranh" trong làng Cuộcsống đầy những hờn tủi, chua xót chốn làng quê Bắc Bộ xưa kia đã hiện lên khá chitiết qua những câu chuyện, những lát cắt cuộc đời tưởng chừng đơn giản, vụn vặtnhư thế Những tập tục cổ hủ, những nếp nghĩ cục bộ, cay nghiệt của một bộ phậnngười nông dân xưa cũng đủ sức dồn đẩy con người ta ghê gớm lắm, chẳng kém gìnhững chính sách, những mưu mô xảo quyệt của bộ máy xã hội thực dân phongkiến Nó ngấm ngầm ăn sâu, gặm nhấm, bào mòn cái đời sống tinh thần của conngười Nó cũng khiến con người ta bị tha hóa, biến chất, bị dồn đẩy vào chốn cùngđường không giữ nổi cả nhân phẩm Chất hiện thực toát ra từ trang văn Kim Lâncũng nhẹ nhàng như chính con người ông vậy
Bên cạnh đó, Kim Lân cũng viết khá nhiều tác phẩm ngợi ca những thú chơivăn hóa cổ truyền đầy tự hào của vùng quê Kinh Bắc văn vật của ông Đọc nhữngchùm truyện ngắn này, người đọc như được đắm mình vào một nhịp sống náo nức,sôi động của một miền nông thôn trù phú Đó là nhịp sống của một vùng miền triềnmiên hội hè đình đám những ngày xuân năm mới, là không khí ngọt ngào củanhững câu hát quan họ giao duyên, là không gian tưng bừng nhộn nhịp của những
Trang 32trò chơi dân gian ngày hội Ngay cả những nghi thức cúng tế dân gian cũng đượcông đề cập trên trang viết với một sự hiểu biết cặn kẽ và một niềm yêu thích tự hào.
Đuổi tà là một câu chuyện như thế Nhà văn đã giúp cho bạn đọc hiểu được một tập
tục rất quen thuộc trong đời sống làng xã Việt xưa: trừ tà ma đầu năm và đón lộcxuân năm mới Dưới ngòi bút của ông, chuyện cúng tế trừ tà không còn là chuyện dịđoan mê tín, nó là chuyện của ước mơ, của hi vọng, của niềm tin thiêng liêng chomột năm mới thịnh đạt, bình an mà người dân nông thôn quê ông đã gửi gắm
Cũng với một tâm thế ấy, những thú chơi trong ngày hội trên quê hương ông
đã nghiễm nhiên đi vào trang sách như một nét đẹp văn hóa cổ truyền lâu đời cần
gìn giữ: thú thả chim trong Đôi chim thành, thú đấu vật trong Thượng tướng Trần
Quang Khải - Trạng Vật, thú chọi gà trong Con Mã Mái Đời sống của người nông
dân xưa như đã bớt nghèo, bớt khổ bởi những thú chơi tao nhã ấy
Viết về đề tài này, nhà văn như đã bộc lộ trọn vẹn con mắt tinh tường và sự
am hiểu sâu sắc về chúng, cũng bộc lộ một niềm yêu, niềm tự hào sâu sắc và một ýthức gìn giữ truyền thống văn hóa quê hương Những tâm huyết này giúp Kim Lântạo được một dấu ấn rất riêng không trộn lẫn trên văn đàn: nhà văn của những thú
phong lưu đồng ruộng.
Cho dù viết ở mảng đề tài nào, bạn đọc vẫn thấy từ sáng tác kim lân toát lênhình ảnh những con người nông dân dù nghèo khổ nhưng thuần hậu, chất phác, lạcquan, yêu cuộc sống Nhà văn không đi sâu khai thác hoặc xây dựng nhân vật củamình bị dồn đẩy đến cùng đường không lối thoát, cũng không đề cập nhiều tớinhững mâu thuẫn xã hội đặc thù của thời đại Người nông dân trong tác phẩm củaông giai đoạn này cứ bình lặng, dung dị như chính cái không gian đời sống làng xãViệt bao đời nay vậy
1.2.2 Sáng tác của Kim Lân sau Cách mạng tháng Tám 1945
Sau Cách mạng tháng Tám, Kim Lân tiếp tục làm báo, viết văn Ông tích cực
hoạt động trong hội Văn hóa cứu quốc và vẫn chuyên về truyện ngắn, vẫn chuyên
về làng quê Việt Nam - mảng hiện thực mà từ lâu ông đã hiểu biết sâu sắc Thời đại,cuộc sống, tư tưởng mới đã khiến những tác phẩm của nhà văn mang những hơi thở
Trang 33mới, hơi thở của thời đại làm chủ, dựng xây và đổi đời nhờ Cách mạng Tác phẩm
của ông đến với bạn đọc cũng dày dặn hơn với Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 19 6 2) Ngoài ra còn một số truyện ngắn
viết cho thiếu nhi như Anh chàng hiệp sĩ gỗ (1958), Ông Cản Ngũ (1984)
Kim Lân vẫn viết về làng quê, về những cảnh đời nghèo khổ, nhưng bằng cáinhìn của con người đã chứng kiến tất cả sức mạnh của người nông dân trong cuộcCách mạng vĩ đại tháng Tám 1945 Vì vậy, các nhân vật của ông thường có nhữngbước chuyển mình đáng kể, từ tư tưởng đến lối sống, đến việc làm Đặc biệt, nhàvăn thường đi sâu vào khám phá và thể hiện những thay đổi tình cảm của họ trongnhững bối cảnh lịch sử mới của dân tộc Nổi bật hơn cả ở giai đoạn này là hai
truyện ngắn nhà văn viết năm 1948: Làng và Vợ nhặt Tác phẩm đã thực sự mở ra
cho rất nhiều thế hệ bạn đọc một cái nhìn khác về hình ảnh người nông dân trong
cuộc sống Ở Làng, đó là sự đổi mới nhận thức và tình cảm của người nông dân về
thời cuộc đất nước, về quê hương xứ sở và về cả chính bản thân họ Thông qua câuchuyện nhân vật ông Hai tự hào rồi đau đớn, rồi lại tự hào, hãnh diện về làng ChợGiầu của mình trong kháng chiến, nhà văn đã dựng lên được chân dung người nôngdân trong thời đại mới bình đẳng, tự tin, trách nhiệm trong từng việc làm, từng nếp
nghĩ Đến Vợ nhặt, câu chuyện lại gợi ra nhiều điều thật ý nghĩa, thật lớn lao Một
anh cu Tràng ngụ cư thô kệch, một chị con gái đói, nghèo theo không về làm vợ,một người mẹ già cũng nghèo xơ xác và một nạn đói quắt quay đang bủa vây quanh một đám cưới Mượn cái đói, nhà văn đã vừa đề cao được nhân phẩm conngười, vừa nói lên được niềm tin vào tương lai tươi sáng Người nông dân lao động,
dù họ có rơi vào hoàn cảnh hết sức bi đát thì cũng vẫn hướng tới cuộc sống giađình, vẫn muốn cưu mang nhau và vẫn không thôi hi vọng
Nên vợ nên chồng, tác phẩm được viết năm 1954, ngay sau Cải cách ruộng
đất đã phản ánh rất đậm không khí của đất nước, không khí của sự đổi đời chonhững thân phận người bị hắt hủi Nhà văn đã có những cái nhìn rất tinh tế và thểhiện cái thời cuộc một đi không trở lại đó của đất nước một cách đa dạng Có thể đó
là cái nhìn mang đậm màu sắc chính trị của thời điểm hiện tại, cũng có thể chỉ cần
Trang 34sau đó vài năm, Kim Lân đã nhìn cuộc cải cách đó khác đi (Ông lão hàng xóm),
nhưng những gì viết trong tác phẩm thực sự là nguồn tư liệu quý báu với bạn đọc vềkhông khí làng xã thời ấy
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, Kim Lân có viết một số truyện dàihơi hơn Và cũng vẫn những vấn đề nóng hổi của thời cuộc lại được đưa vào trangsách, nhưng thường là những vấn đề dưới góc nhìn của một người nông dân, mộtngười dân bình thường của cuộc sống thời chiến Điều được ông quan tâm hơn cảchính là đời sống của họ ở hậu phương Họ cũng như những chiến sĩ nhưng là trênmặt trận xây dựng đất nước và điểm tựa cho tiền tuyến Cuộc sống của họ cũng sôinổi không kém nơi chiến trường Cái tài tình của nhà văn là ở chỗ ông đã đi sâukhám phá cuộc sống, công việc của những con người rất bình dị mà lớn lao, lặngthầm mà không kém phần ý nghĩa Đó là những ông Cả Luốn với phong trào ra
nhập Hợp tác xã (Ông Cả Luốn gốc me), là ông Tư Mủng với cái việc tưởng nhỏ
nhoi lại hóa ra vô cùng quan trọng: đánh kẻng báo tin cho dân làng mỗi khi có máy
bay càn qua (Bố con ông gác máy bay trên núi Côi- kê), rồi bà mẹ bộ đội tận tình vá
áo cho các anh (Bà mẹ Cẩn).
Cũng trong thời gian này, nhà văn có một số sáng tác dành cho đối tượng
khá đặc biệt: thiếu nhi (Ông Cản Ngũ, Anh chàng hiệp sĩ gỗ) Dù hướng tới những
độc giả nhỏ tuổi nhưng không khó để nhận ra rằng, tác phẩm của Kim Lân vẫn đauđáu một nỗi niềm hướng tới việc hoàn thiện nhân cách con người và khơi gợi, vunđắp ý thức các em hướng vào không khí của thời cuộc, của đất nước
Bút pháp nghệ thuật sáng tác kim lân giai đoạn này cũng có những đổi thayđáng kể Đặc biệt là việc tạo dựng những bước ngoặt cho cuộc đời, số phận cácnhân vật và cách thức tổ chức cốt truyện có những gấp khúc, đan xen đa dạng nhằm phù hợp với vấn đề biểu hiện trong tác phẩm
Trong cả hai giai đoạn sáng tác, Kim Lân viết chuyên về truyện ngắn và viếtkhông nhiều Tuy nhiên, ở chặng đường nào, ông cũng có tác phẩm hay dành chobạn đọc Nhắc đến văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX, đặc biệt là nhắc đến truyện ngắn,không thể không nhắc đến Kim Lân bởi những đóng góp của ông Dường như ở
Trang 35mỗi trang văn ấy, “ta lại cảm thấy không có một bước ngoặt, một chặng đường nào
của con người Việt Nam trong gần nửa thế kỷ qua mà Kim Lân không đả động tới, dẫu chỉ bằng sự chạm trổ hết sức khiêm tốn là truyện ngắn” [17] Ông chính là
minh chứng tiêu biểu cho quan điểm quý hồ tinh bất quý hồ đa từ thuở cha ông
ngày trước
Tiểu kết
Trong đội ngũ nhà văn hiện đại Việt Nam, Kim Lân thuộc nhóm các nhà vănviết ít nhưng đóng góp không nhỏ cho thể tài truyện ngắn Cả đời văn, Kim Lânthủy chung với làng quê, với những người lao động nghèo Đọc sáng tác kim lân,chúng ta không khỏi xót xa, thông cảm cho những mảnh đời “đầu thừa đuôi thẹo”nhưng đằng sau những giọt nước mắt khổ đau là niềm vui khi khám phá ra ở họnhững nét đẹp, nét quý tiêu biểu cho truyền thống đạo lý của người Việt Nam Sángtác kim lân lôi cuốn, hấp dẫn vì nó được chắt ra từ chính cuộc đời nhà văn, được kếttinh từ những yếu tố văn hóa làng quê, cộng đồng và thời đại Thành công của sángtác kim lân không chỉ dựa vào vốn sống dày dặn, sự am hiểu tinh tế mà còn phụthuộc vào rất nhiều vào cái tài biến hóa chữ nghĩa và nghệ thuật dựng truyện theophong cách riêng của ông
Văn hóa, phong tục làng quê trong các sáng tác văn học là đề tài không mới,nhưng những sáng tác về làng quê của Kim Lân mang hơi thở của thời đại - đó làmột văn hóa, phong tục trong thời kỳ kháng chiến Đây là cái nhìn mới của KimLân so với các nhà văn trước cách mạng, qua đó người đọc thấy được thế vận động,
đi lên của những số phận con người trong sáng tác của Kim Lân, biểu hiện đượcniềm tin của con người trong kháng chiến, gắn những vui buồn, cảm xúc, tình cảm
cá nhân với tình yêu nước, yêu quê hương
Trang 36CHƯƠNG 2 CÁC BÌNH DIỆN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA, PHONG TỤC LÀNG QUÊ
TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN
2.1 Cái nhìn đa chiều về văn hóa, phong tục trong sáng tác của Kim Lân
Nếu nói Nguyễn Khuyến là nhà thơ của nông thôn làng quê Việt Nam thìKim Lân chính là nhà văn của nông thôn làng quê ấy Bởi trong toàn bộ các sáng
tác của Kim Lân luôn có sự hiện diện của một kiểu “thế giới”, một khoảng trời
riêng dường như chỉ có trong văn của ông Đó là cái thế giới mà nhiều người đã nóitới: nông thôn Việt Nam - làng quê của Kim Lân Quan sát kỹ bức tranh nông thônlàng quê ấy, người ta còn nhận ra rằng đó không phải là nông thôn làng quê nóichung mà là làng Việt cổ truyền, làng xóm tản cư của nông thôn Việt Nam trongnhững năm trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Đây có thể xem như làmột cấu trúc không gian đặc thù của nông thôn làng quê với nhiều vẻ đẹp bình dịcủa con người, của phong tục văn hóa làng Việt mà bất kỳ ai cũng cảm nhận được
Nó đòi hỏi nhà văn phải có một sự nhạy bén, tinh tế, một cách tinh vi điềm tĩnh, soingắm từ nhiều phía, nhiều tầng để cảm nhận Có thể nói rằng, chính nét đặc thù nàycủa phạm vi hiện thực mà nhà văn lựa chọn đã mở ra một cái nhìn nhiều phía vềcon người trong văn xuôi nghệ thuật Kim Lân
2.1.1 Bức tranh quê hương và không gian làng - xóm
Kim Lân là nhà văn của nông thôn làng quê Việt Nam nói chung, của nôngthôn làng quê Bắc Bộ nói riêng Vốn sinh ra và lớn lên ở một làng quê thuộc khônggian Kinh Bắc giàu truyền thống văn hóa, văn vật với các tập tục lễ tết, lễ hội, âmnhạc, sân khấu dân gian Nên có thể nói, nhà văn được ấp ủ, được nuôi dưỡng vàđược tưới tắm đời mình từ nhỏ đến lớn giữa cái nôi văn hóa của làng quê ấy Vàđây được xem như một quá trình thấm thấu để hình thành một hồn văn Kim Lânđộc đáo Tuy nhiên làng quê trong sáng tạo của Kim Lân lại không được đặc tảhoặc nhấn mạnh cái nét đặc trưng Kinh Bắc, mà nhà văn lại hướng tới không gianlàng quê Bắc Bộ nói chung
Trang 37Do đó, thế giới trong văn xuôi nghệ thuật Kim Lân về căn bản là thế giới
nhìn từ nông thôn làng quê, hay từ một mô hình “nông thôn làng Việt” mang bản
sắc rất riêng
Có rất nhiều người đã viết về làng quê Việt Nam xưa kia, từ kho tàng đồ sộcủa văn học dân gian với những ca dao, tục ngữ, những khảo cứu phong tục tậpquán, những phóng sự việc làng cho đến những tác phẩm trong văn học viết củaNgô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan mà trong đó làng không phải chỉ là một đơn vịhành chính, địa lý mà còn là tất cả cuộc sống xã hội đối với người nông dân xưa Vàcái làng quê trong sáng tác kim lân cũng thế Tuy nhiên, nhà văn đã tạo một linhhồn riêng cho tác phẩm của mình, ông đã đưa vào văn học một bức chân dung rất
sống động, một vẻ đẹp rất riêng, rất “nguyên thủy” mà cũng rất đặc thù của nông
thôn làng quê Việt Nam nói chung Chúng ta thấy Kim Lân có một sự tiếp nối xuấtsắc của các nhà văn đàn anh như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan nhưng Kim Lânkhông lặp lại lối mòn của họ bởi Kim Lân tiếp cận làng quê trên bình diện phongtục sinh hoạt văn hóa cùng với những câu chuyện đời tư, đời thường sau lũy trexanh Ở đó, người đọc không thấy được cái lo âu sợ hãi vì gánh nặng của lệ làng,của hủ tục mà chỉ thấy người nông dân hòa niềm vui vào trong không khí tưng bừngcủa những lễ hội sinh hoạt văn hóa làng quê để quên hết những lo âu, vất vả củacuộc sống thường ngày Do vậy, không gian làng quê trong sáng tác kim lân có thểhiểu đó là không gian cộng sinh, cộng sản, một không gian văn hóa
Hơn ba mươi truyện ngắn của Kim Lân đều miêu tả hoặc gợi nhắc đến cuộcsống muôn màu, muôn vẻ của người dân quê trong làng mạc, thôn xóm ngày xưa
Từ những truyện ngắn: Đôi chim thành, Con mã mái, Cầu đánh vật, Thượng tướng
Trần Quang Khải - Trạng vật, đến Làng, Thư phát động, Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê, Ông lão hàng xóm., tất cả đều chứa đựng một không gian làng nói
chung mang đậm màu sắc địa phương bởi những yếu tố phong tục, những sinh hoạt
văn hóa làng xã gắn liền với những thú chơi tao nhã, “phong lưu đồng ruộng”, với
những buồn vui thế sự, những số phận, những tâm tình của con người Việt Namtrước và sau Cách mạng tháng Tám nói chung
Trang 38Có thể nói, cái làng quê ấy của Kim Lân chính là một không gian vừa là làngViệt cổ truyền, vừa là làng xóm tản cư thời kháng chiến với những biểu hiện cụ thểcủa nó Không gian làng đi vào trang văn của Kim Lân với tất cả sự sống động củanó.
Đầu tiên là làng Việt cổ truyền Đó cũng chính là làng quê gốc gác lâu đờigắn liền với các tên chữ trang trọng do các bậc Nho học của làng đã đặt ra ngay từ
ngày mới lập làng như làng Trang Liệt, Đại Đình, Hạ Dương (Đôi chim thành), Đại Sơn, Dưỡng Mông (Chó săn), Cẩm Giang, Từ Sơn, Đình Tràng, Phù Trẩn, Phù Ninh, Đồng Kỵ (Cầu đánh vật), Cổ Pháp Đình Bảng, Bỉnh Hạ, Hàm Long (Thượng
tướng Trần Quang Khải ), chùa Vân Điềm, làng Vân Điềm (Đuổi tà), Trang Liệt,
Phủ Từ, Hà Đông, Yên Thế, Ngân Sơn (Trả lại đòn) Ở đó có những phong tục,
những sinh hoạt văn hóa, những trò chơi dân gian như chọi gà, thả chim, đi săn, đấu
vật, lễ tết lễ hội và cùng các tập tục tín ngưỡng khác Đó là thú “phong lưu đồng
ruộng” thân thuộc có từ ngàn đời Làng trong sáng tác kim lân quả thật là một thực
thể sống động ẩn chứa nhiều trữ lượng văn hóa
Thực ra, trong văn chương Việt Nam, không riêng gì Kim Lân sở trường vềcác thú chơi tao nhã của người xưa mà còn có nhiều cây bút cự phách khác cũng rất
sở trường trong lĩnh vực này Mỗi người một vẻ, họ đã làm đẹp thêm bản sắc vănhóa của dân tộc mình qua văn chương chữ nghĩa như Nguyễn Tuân, Vũ Bằng.Nhưng nếu Nguyễn Tuân đã làm sống lại những nét son xưa của lịch sử văn hóaViệt Nam qua những thú chơi tao nhã cao đẹp; Vũ Bằng nâng chuyện ẩm thực lên
thành một nghệ thuật tạo nên những trang viết xuất thần về “miếng ngon Hà Nội”, thì Kim Lân, qua những thú chơi tao nhã “phong lưu đồng ruộng”, đã giúp người
đọc hình dung được những tố chất và vẻ đẹp của con người quê hương ông Nhữngtrang viết của ông trở thành những chỉ dẫn văn hóa về các ngón chơi của những caothủ làng vật, hay chọi gà Cái tinh thần thượng võ, niềm say mê trong những cuộcthi tài đấu trí mang đậm bản sắc dân gian từ chính cuộc sống, sinh hoạt thường ngàycủa xứ sở Kinh Bắc quê hương ông
Phía ngoài rìa các không gian làng Việt cổ truyền có gốc gác từ lâu đời đó là
không gian tá túc của những “xóm ngụ cư” Đây là không gian của bóng đen, của
Trang 39cái chết nặng mùi tử khí Cái không gian của mảnh đất “đầu thừa đuôi thẹo” - đó là
nơi rìa làng, đầu bãi mom sông, chó ăn đá, gà ăn sỏi, đất xấu, người thưa trộm cướp
hoành hành nên thường thì nó không có địa danh (Vợ nhặt, Người chú dượng ) Và
ở đó thường dành riêng cho những mảnh đời “đầu thừa đuôi thẹo” sống, chết, làm
lụng, vui buồn, hy vọng Ở điểm này Kim Lân cũng có một sự tiếp nối sâu sắc củacác nhà văn đàn anh, nhưng ở ông cũng có một sự khác biệt khá rõ Nếu như khônggian ngụ cư trong tác phẩm của Ngô Tất Tố và Nam Cao mang màu sắc tối tămngột ngạt đến bế tắc và những người dân ngụ cư của họ hiện ra như một nạn nhâncủa sự áp bức bóc lột dẫn đến sự thoái hóa thậm chí đánh mất nhân cách, thì đếnlượt Kim Lân như chúng ta đã thấy, cũng vẫn là không gian ấy, nhưng nó không bếtắc, những con người ngụ cư thì dám chống chọi với hoàn cảnh để giữ gìn nhâncách, khẳng định sức sống và quyền sống của mình Trong những lúc cuộc đời tămtối nhất, con người vẫn luôn khao khát hạnh phúc, vẫn luôn hướng tới ánh sáng, đặtniềm tin vào tương lai Điều đặc sắc nhất trong ngòi bút của Kim Lân là tác phẩmcủa ông mang âm hưởng đan xen giữa hiện thực và lãng mạn, giữa tiếng khóc vàtiếng cười, giữa bóng tối và ánh sáng để cuối cùng mở ra một không gian sáng lóa -không gian của sự sống, của niềm tin ở con người Đây cũng là những biểu hiệnsống động của văn hóa làng quê truyền thống người Việt
Và trên cái nền của làng cổ truyền ấy, nhà văn còn mở ra một không gianlàng trong cơn bão cải cách ruộng đất Đó là những làng quê có sự xuất hiện của
cán bộ cách mạng làm công tác cải cách ruộng đất, lao vào đổi đời cho những người
mang thân phận “đầu thừa đuôi thẹo” (Thư phát động, Nên vợ nên chồng, Tìm em,
Chị Nhâm, Ông lão hàng xóm )
Theo những biến thiên của lịch sử, những tao loạn của đất nước, tiếp nối vàgắn liền với không gian làng Việt cổ truyền trong sáng tác kim lân là không gianlàng tản cư, hay nói một cách xác định hơn đó là những làng kháng chiến thờichống Pháp Loại không gian này thì Kim Lân miêu tả không nhiều Chúng ta chỉ
thấy thấp thoáng ở các truyện: Người chú dượng, Con chó xấu xí, Làng Trong đó truyện ngắn “Làng” mới là một minh chứng cụ thể nhất Ở đó, chúng ta có thể thấy
Trang 40nổi lên các vấn đề được đề cập đến thường xảy ra đó là mối quan hệ giữa người tản
cư với người bản địa, giữa người tản cư với nhau, và giữa người tản cư với quêhương bản quán của họ
Thứ nhất, ở mối quan hệ giữa người tản cư với người bản địa, Kim Lân cónhắc đến hình ảnh bà chủ nhà của vợ chồng ông Hai trong truyện ngắn Làng Mụ là
người đàn bà “tham lam, tinh quái”, “thần gian”, “tính nết lành chanh lành chói”,
“không phải là người đứng đắn” “Ông Hai chưa thấy người đàn bà nào tham lam, tinh quái như mụ ta Người gầy đét như thanh củi khô Cái miêng mỏng lèo lèo, nói cứ liến đi, mà chúa là thần gian Không vào nhà thì thôi, động vào là nhòm.
Mụ nhòm xó này một tí, nhòm xó kia một tí, rồi lục Mụ đưa lọ tương lên ngắm rồi đặt xuống, mụ mở thạp gạo ra xem, lại đậy vào, mụ lục bồ moi chiếc áo ướm thử vào người, rồi ném trả Đồ ăn thức đựng của mụ, mụ cất kỹ đi Con dao, cái chậu
bó củi của người ta mụ dùng tự nhiên, hồ cất đi mụ lại lôi ra Không nhìn thấy thì
mụ nói móc, nói máy như chính mụ bị người ta hà hiếp Đến cả cái ăn, cái uống mụ cũng rây phần vào Có cái nồi nước giải mua để tăng gia một tí, mụ cũng lấy hết” [56] Những thói tật đó không phải người dân nào cũng mắc phải, nhưng nó cũng lại rất tiêu biểu cho những thói tật phổ biến của người thôn quê Nhất là khi thấy người khác nhờ vả mình, mụ chủ nhà lắm khi lên mặt tự phụ, thậm chí cho mình cái quyền nhiễu sách, cạnh khóe vặt vãnh Những người trực tính, trung hậu như ông Hai rất khó có thể cảm thông, hòa hợp được với một người như mụ Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đất nước đang loạn lạc, mụ lại có nhận thức khá là đúng đắn Mụ ghét những người nào, làng nào theo Tề, theo Ngụy, nên mụ mới ghét luôn
cả gia đình ông Hai
- người của cái làng bị quy là đã trở thành làng tề Việt gian bán nước Chính vì thế
mà người đọc có thể hiểu và cảm thông cho mụ, dẫu sao đó vẫn là một con người
có tâm - cái tâm của con người yêu nước.
Thứ hai, đối với mối quan hệ giữa những người tản cư với nhau, nhà văn đãnhắc đến nhân vật Nhược Dự - một nhà văn tản cư lên vùng kháng chiến sống xalánh bà con, trốn tránh công việc kháng chiến, quen tiêu xài hưởng thụ, tác phong
kiểu cách, giả dối (Con chó xấu xí) Nói đến nhân vật này ta liên tưởng đến nhân vật