1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài Thu hoạch thực tế Trung cấp Chính trị - Bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của người dân tộc tại Sa Pa

15 186 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 861 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thu hoạch thực tế TC LLCT bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của người dân tộc tại sa pa Có thể sử dụng làm bài thu hoạch hoặc tiểu luận 1. Lý do chọn đề tài Đất nước ta đang trong thời kì hội nhập, nền kinh tế ngày càng có nhiều khởi sắc và liên tục tăng trưởng. Đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện cả về vật chất và tinh thần. Những luồng văn hóa hiện đại đã được du nhập vào hòa nhập với nền văn hóa truyền thống của dân tộc. Giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc là một nội dung đã được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm. Đã có nhiều chính sách để bảo tồn và phát huy các văn hóa truyền thống của dân tộc. Trong giai đoạn hiện nay, nhiều địa phương đã có những chính sách để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán đó. Văn hóa, phong tục tập quán Tây Bắc nói chung và Sa Pa của tỉnh Lào Cai nói riêng có rất nhiều nết độc đáo. Trong chuyến đi thực tế tại Sa Pa tôi đã được nghiên cứu và tìm hiểu về văn hóa, phong tục tập quán của người dân nơi đây, tôi thấy nó đã đem lại cho mình thêm nhiều hiểu biết và nhiều điều thú vị đo đó tôi chọn đề tài “ Bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của người dân tộc tại Sa Pa” để viết nội dung thu hoạch của chuyến nghiên cứu thực tế.

Trang 1

A- PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang trong thời kì hội nhập, nền kinh tế ngày càng có nhiều khởi sắc và liên tục tăng trưởng Đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện

cả về vật chất và tinh thần Những luồng văn hóa hiện đại đã được du nhập vào hòa nhập với nền văn hóa truyền thống của dân tộc Giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc là một nội dung đã được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm Đã có nhiều chính sách để bảo tồn và phát huy các văn hóa truyền thống của dân tộc Trong giai đoạn hiện nay, nhiều địa phương đã có những chính sách để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán đó

Văn hóa, phong tục tập quán Tây Bắc nói chung và Sa Pa của tỉnh Lào Cai nói riêng có rất nhiều nết độc đáo Trong chuyến đi thực tế tại Sa Pa tôi đã được nghiên cứu và tìm hiểu về văn hóa, phong tục tập quán của người dân nơi đây, tôi thấy nó đã đem lại cho mình thêm nhiều hiểu biết và nhiều điều thú vị đo đó tôi chọn đề tài “ Bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của người dân tộc tại Sa Pa” để

viết nội dung thu hoạch của chuyến nghiên cứu thực tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu về các nét đặc trưng văn hóa, phong tục, tập quán của người dân tộc tại Sa Pa

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Phong tục tập quán và những lưu ý khi đến và giao tiếp với đồng bào dân tộc tại Sa Pa

- Phạm vi nghiên cứu: Đồng bào dân tộc thiểu số tại Thị xã Sa Pa – Lào Cai

Trang 2

B- PHẦN NỘI DUNG Chương I Quan niệm về bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới

1 Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nền, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm đà trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo

2 Vị trí của bản sắc văn hóa dân tộc.

Bản sắc văn hóa dân tộc giữ vị trí rất quan trọng Chính bản sắc văn hóa dân tộc đảm bảo cho dân tộc tồn tại, đứng vững và phát triển qua các biến động của lịch sử Nhờ bản sắc văn hoa dân tộc, chúng ta biểu lộ được trọn vẹn sự hiện diện của một bản sắc trong giao lưu với quốc tế Mục tiêu của giao lưu là thông qua giao lưu với nền văn hóa mới, ta hội nhập với văn hóa thế giới Chỉ giữ được bản sắc văn hóa dân tộc thì ta mới có điều kiện giao lưu bình đẳng với các nền văn hóa thế giới Còn sao chép, trở thành "cái bóng", "cái đuôi" của người ta thì không còn có gì mà hội nhập bình đẳng

Trước yêu cầu của thời kỳ phát triển mới, trước nguy cơ "đồng nhật" về văn hóa thực chất là sự thống trị của văn hóa nước lớn, nước giàu thì bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa cực kỳ lớn

3 Bản sắc dân tộc - hệ giá trị

Văn hóa, theo UNESCO, là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của một xã hội thể hiện trên mặt vật chất và tinh thần, tri thức và tình cảm, văn hóa mang bản sắc dân tộc

Bản sắc dân tộc đó giữ được tính duy nhất (tính độc đáo), tính thông nhất, tính nhất quán so với bản thân mình Bản sắc dân tộc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống - ý thức thuộc về một dân tộc (cội nguồi), cách tư duy, cách sống, cách dựng nước, giữ nước, cách sáng tạo văn hóa, khoa học, văn nghệ Bản sắc dân tộc thể hiện trong giá trị của dân tộc, nó là cốt lõi của một văn hóa Hệ giá trị là những gì nhân dân quan tâm, tin tưởng thuộc phạm vi tốt và xấu, mong muốn hoặc không đáng tin tưởng thuộc phạm vi tốt và xấu, mong muốn hoặc không đáng mong muốn Nó là những giá trị và những niềm tin, mà nhân dân cho là thiêng liêng, bất khả xâm phạm

Hệ giá trị biểu hiện trong tư tưởng triết học (thế giới quan) chính trị, văn học nghệ thuật, đạo đức, lối sống (phong tục, tập quán)

Trang 3

Hệ giá trị chuyển thành các chuẩn mực xã hội, nói định hướng cho sự lựa chọn trong hành động của con người, cá nhân và cộng đồng

Hệ giá trị có tính ổn định rất lớn và có tính bền vững tương đối, có sức mạnh

to lớn đối với cộng đồng Trong sự tiến bộ và phát triển của xã hội, các giá trị này thường không biến mất mà hóa thân vào các giá trị của thời sau, theo quy luật kế thừa và tái tạo

Di sản văn hóa là các giá trị văn hóa do lịch sử để lại Các giá trị này sẽ trở thành truyền thống khi được thế hệ sau lựa chọn, tiếp nhận, mô phỏng, làm sống lại

Đó là quan hệ giữa truyền thống và hiện đại Sự thích nghi của các giá trị cũ đối với sự thay đổi của thời đại, là biểu hiện của tính liên tục văn hóa

Chương II: Thực trạng bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của người dân

tộc tại Thị xã Sa Pa tỉnh Lào Cai

1 Khái quát chung về Thị xã Sa Pa

Thị xã Sa Pa nhìn từ trên cao nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, Sa Pa là một huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai, nằm ở độ cao trung bình 1500m - 1800m, nên khí hậu Sa Pa ít nhiều lại mang sắc thái của xứ ôn đới, với nhiệt độ trung bình

15-180C Từ tháng 5 đến tháng 8 có mưa nhiều Là một vùng đất khiêm nhường, lặng lẽ nhưng ẩn chứa bao điều kỳ diệu của cảnh sắc thiên nhiên Phong cảnh thiên thiên của Sa Pa được kết hợp với sức sáng tạo của con người cùng với địa hình của núi đồi, màu xanh của rừng, như bức tranh có sự sắp xếp theo một bố cục hài hòa tạo nên một vùng có nhiều cảnh sắc thơ mộng hấp dẫn

Sa Pa tên gọi này từ tiếng quan thoại Tiếng quan thoại gọi Sa - Pả, "Sa" là cát, "Pả" là bãi Địa danh của "bãi cát" này ở bên phải cầu km 32 từ Lài Cai vào

Sa Pa Ngày xưa chưa có thị trấn Sa Pa, cư dân ở vùng đất này đều họp chợ ở

"bãi cát" đó Do vậy, dân địa phương ai cũng nói là "đi chợ Sa Pả" Từ hai chữ

"Sa Pả", người Phương Tây phát âm không có dấu, nên thành Sa Pa và họ đã viết bằng chữ Pháp hai chữ đó là "Cha Pa" và một thời gian rất lâu người ta đều gọi

"Cha Pa" theo nghĩa của từ tiếng Việt Còn thị trấn Sa Pa ngày nay, trước có một mạch nước đùn lên đục đỏ, nên dân địa phương gọi là "Hùng Hồ", "Hùng" là đỏ,

"Hồ" là hà, là suối, suối đỏ

Sa Pa có đỉnh Phan Si Păng cao 3.143m trên dãy Hoàng Liên Sơn Gọi Hoàng Liên Sơn, bởi duy nhất trên dãy núi này có cây Hoàng Liên, một loại dược liệu quý, hiếm Ngoài ra dãy Hoàng Liên còn là "mỏ" của loài gỗ quý như thông dầu, của bao chim thú, như gà gô, gấu khỉ, sơn dương và của hàng ngàn loại thuốc Khu rừng quốc gia Hoàng Liên SƠn có 136 loài chim, có 56 loài thú, 553

Trang 4

loài côn trùng Có 37 loài thú được ghi trong "sách đỏ Việt Nam Rừng Hoàng Liên Sơn có 864 loài thực vật, trong đó có 173 loài cây thuốc

Ruộng bậc thang Sa Pa có núi Hàm Rồng ở sát ngay thị trấn, bất kỳ du khách nào cũng có thể lên đó để ngắm toàn cảnh thị trấn, thung lũng Mường Hoa,

Sa Pa, Tả Phìn ẩn hiện trong sương khói Hiện nay, với bàn tay tôn tạo của con người, Hàm Rồng thực sự là một thắng cảnh đầy hoa trái của Sa Pa Và nếu ai đã đến Thạch Lâm (Vân Nam, Trung Quốc) thì Hàm Rồng cũng có thể giúp các bạn tưởng tượng là Thạch Lâm được Lên Hàm Rồng, du khách như lạc vào vườn tiên, mây ùa kín thân người, hoa rực rỡ mặt đất

Sa Pa còn có nhà thờ cổ ở ngay thị trấn và từ thị trấn đi ngược về hướng đông bắc trên đường đi tới động Tả Phìn có một tu viện được xây gần toàn như bằng đá tại một sườn đồi quang đãng, thoáng mát Qua tu viện đi bộ ba cây số theo hướng bắc ta đến hang động Tả Phìn với độ rộng có thể đủ chứa một số lượng người cỡ trung đoàn của quân đội Trong hang nhiều ngũ đá tạo nên những hình thù kỳ thú như hình tiên múa, đoàn tiên ngồi, cánh đồng xa, ràng cây lấp lánh

Từ thị trấn Sa Pa, đi về phía tây khoảng 12km trên đường đi Lai Châu, ta sẽ gặp Thác Bạc với những dòng nước đổ ào ào từ độ cao trên 200m tạo thành âm thanh núi rừng đầy ấn tượng

Sa Pa là "vương quốc" của hoa trái, như đào hoa, đào vàng to, đào vàng nhỏ, mậu hậu, mận tím, mận tam hoa, hoa lay dơn, hoa mận, hoa lê, hoa đào, hoa cúc, hoa hồng đặc biệt là hoa bất tử sống mãi với thời gian

Chợ Sa Pa Chợ phiên của Sa Pa họp vào ngày chủ nhật tại huyện lỵ (thị trấn

Sa Pa) Người dân ở vùng xa phải đi từ ngày thứ bẩy Vào tối thứ bảy mọi người cùng thức vui với nhau bằng những bài hát dân ca của trai gái người Mông, người Dao, bằng những âm thanh của đàn môi, của sáo, của khèn Mông, bằng những hát rượu tràn đầy của những người có tuổi và người ta đã đặt cho nó là "Chợ Tình"

Sa Pa nằm cách thành phố Lào Cai 35Km và cách Hà Nội 376km Có: Diện tích: 678,6 km2

Dân số: 38.200 người

Dân tộc: Kinh, Mông, Dao, Xá Phó, Tày, Giáy

2 Bản sắc phong tục tập quán, văn hóa dân tộc của Sa Pa:

2.1 Phong tục tập quán

2.1.1 Lễ hội

Kho tàng di sản văn hoá dân gian giàu bản sắc và khá phong phú gồm

nhiều loại hình khác nhau Lễ hội của các dân tộc ở Sa Pa rất đặc sắc, còn in đậm

Trang 5

nhiều yếu tố tín ngưỡng cổ Lễ hội diễn ra trong những tháng đầu xuân và chủ yếu trong phạm vi một làng Tuy nhiên ở Mường Hoa, một số lễ hội có phạm vi

mở rộng cả một vùng, một mường xưa Người Mông có lễ ”Nào Sồng” (ăn thề đầu năm) được tổ chức vào ngày thìn tháng giêng tại khu rừng cấm của cả làng Sau khi cúng thần, mọi người trong làng đều bàn bạc xây dựng hương ước Một năm người Mông có tới l1 lễ, trong đó có lễ ”Tu su” cúng rồng xanh rất hấp dẫn

Lễ ”Nhặn Sồng” của người Dao tổ chức vào ngày mùng một hoặc mùng hai tết với tổng hợp các loại hình nghệ thuật dân gian, đó là: nghệ thuật múa nhảy đan xen với nghệ thuật âm nhạc (các bài thiên binh, hành quân, trừ tà…), nghệ thuật ngôn từ kể về sự tích của dòng họ Bàn, Triệu, Đặng…, kể về công lao tổ tiên, về

sự tích một số thần thánh trong miếu vạn thần của người Dao Trong số lễ hội của của các dân tộc ở Sa Pa, lễ hội ”Gioóng boọc” của người Giáy có quy mô lớn, thu hút hàng nghìn người Giáy, Mông, Dao ở thung lũng Mường Hoa tham gia Người Xá Phó ở Nậm Sang lại tố chức lễ hội ”quét làng” vào ngày 2/2 âm lịch với nhiều nghi thức nhằm trừ tà, cầu an Hiện nay, quy mô lễ hội truyền thống của các dân tộc càng được mở rộng để thu hút được nhiều khách du lịch

Lễ hội đón xuân vào đầu năm mới

2.1.2 Phong tục

Phong tục các dân tộc ở Sa Pa có nhiều điểm độc đáo, gắn liền với chu kỳ đời người, chu kỳ cây trồng, vật nuôi Cùng một lễ đặt tên cho đứa trẻ sơ sinh nhưng mỗi dân tộc có nghi thức khác nhau Ở người Tày chỉ có bà ngoại mới có

Trang 6

quyền đặt tên cho cháu Ở người Xá Phó, chỉ có thầy cúng hoặc em vợ, anh vợ (ông cậu) mới có quyền đặt tên cho đứa trẻ Người Mông đặt tên cho trẻ sơ sinh trong tiếng nhạc rung, tiếng hát ru con của bà nội Tục cưới xin của các dân tộc cũng rất khác nhau Nghi lễ cưới của người Mông là một sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc Trong lễ cưới của họ có tục ”Kéo vợ”,có các nghi thức hát của ông mối (hát xin mở cửa, hát xin chỗ treo ô, hát xin mời thuốc, mời rượu…) Lễ cưới của người Dao đỏ sử dụng dàn nhạc khá sôi động gồm kèn, trống, chiêng, thanh

la Riêng nhạc kèn có tới 72 bài thổi trong lễ cưới gồm các bài mời tổ tiên, lập bàn kèn, báo tin, chào chủ hôn, chào ông bà mối…đến các bài đón dâu, quây thông gia, trừ tà, chúc rượu… Lễ đón dâu của người Tày rất trang trọng, cô dâu phải cưỡi ngựa hồng, có em chồng dắt dây ngựa đi theo…

2.1.3 Trang phục

Nổi bật trong nghệ thuật tạo hình dân gian của các dân tộc ở Sa Pa là nghệ thuật trang trí trên trang phục.Vì Sa Pa có khí hậu nhiệt đới, mùa đông lạnh và kéo dài nên trang phục của bà con nơi đây cũng mang những nét đặc trưng riêng Người Dao, Xá Phó ưa trang phục có gam màu nóng nổi trội Các băng thêu dải dày được làm bằng màu đỏ, kết hợp với màu vàng, trắng nổi bật trên nền chàm tạo nên vẻ đẹp rực rỡ

Trang phục ngày thường của người Mông chủ yếu là màu chàm sẫm Các hoa văn ở thắt lưng, cổ áo là màu xanh lục, màu vàng Bộ trang phục người Mông (dù là Mông hoa) có sắc thái riêng, không rực rỡ như ở vùng biên giới Nhưng trang phục mặc trong ngày cưới, hoặc mặc trước khi sang thế giới bên kia của người phụ nữ Mông lại rực rỡ sắc màu bởi các băng dải hoa văn màu đỏ, màu vàng ở bả vai, ống tay, thân váy

Nghệ thuật trang trí được thể hiện đậm nét ở nghệ thuật tranh cắt giấy của người Mông trên bàn thờ thầy cúng Bàn thờ thầy cúng phản ánh cả thế giới âm binh thu nhỏ của người Mông gồm 3 tầng : Tầng trên trời có hình mặt trăng, mặt trời, các vì tinh tú và các hình chim mầu trắng đang bay Tầng giữa là thế giới mặt đất có con người, ngựa, gà cặp đôi Thế giới dưới nước là hình các âm binh tượng trưng bằng hình các con cá cặp đôi Tranh cắt giấy của người Mông sinh động và tả thực

2.1.4 Văn học

Văn học dân gian của người Mông, Dao, Tày, Giáy có đầy đủ, các loại hình từ thần thoại, truyện cổ tích, đến tục ngữ, câu đố, thơ ca… Trong đó nổi bật

là kho tàng dân ca người Dao, người Giáy với hàng trăm bài và nhiều thể loại khác nhau Riêng dân ca đám cưới người Dao đỏ có tới 204 bài Nghệ thuật nhẩy múa ở Sa Pa có tới 70 điệu khác nhau Riêng Tết nhảy của người Dao đỏ ở Tả

Trang 7

Phìn có 54 điệu múa nhảy (từ các điệu nhảy nghi lễ đón chào các vị thần đến các điệu nhảy xuất binh, ra tướng, múa còn, múa gà, múa cờ…)

2.1.5 Nghề chuyền thống

Di sản văn hoá các dân tộc ở Sa Pa còn được thể hiện trong một số nghề thủ công tiêu biểu Người Xá Phó có nghề dệt vải, thêu trang phục, đan lát Người Dao có nghề thêu hoa văn thổ cẩm, nấu rượu, làm giấy Người Tày có nghề làm chăn đệm Người Mông có nghề rèn đúc Khảo sát 1 làng Cát Cát còn

có 54 gia đình trồng lanh, dệt vải in sáp ong, 3 lò rèn hành nghề, 1 lò chạm khắc bạc, 5 người làm đồ mộc, 2 người làm đồ đá và một số nghệ nhân làm tranh cắt giấy, đan lát giỏi Các nghề thủ công với những bí quyết mang dấu ấn tộc người thực sự là di sản văn hoá dân gian đặc sắc

2.1.6 Cưới hỏi ma chay

Người Dao nam nữ tìm hiểu, tình yêu đôi lứa là một phần rất quan trọng trong đời sống của làng bản, được mọi người trân trọng Thanh niên tìm bạn tại các phiên chợ, đi đến các bản xa vào các đêm trăng sáng để hát hò, thổi kèn, sáo,

ca múa Đám cưới được mọi người tham dự như một ngày hội Ma chay của mỗi dân tộc có quy cách riêng đã có từ lâu đời tùy thuộc vào văn hóa phong tục của từng dân tộc

a Người H’mong

Vào mỗi mùa xuân trên khắp các cung đường phía Tây bắc Việt Nam đều sặc sỡ sắc mầu cảu những trang phục thổ cẩm của các thiếu nữ dủ nhau xuống chơn Hoặc tham da lễ cưới của những đôi trong bản Người H’mong thường tổ chức hộn lễ vào mùa xuân bởi với họ quan niệm mùa xuân là mùa của vạn vật sinh sôi nảy nở, là lúc thời tiết đẹp nhất trong năm.Để có những cuộc gặp gỡ, giao duyên nên vợn chồng như vậy thì cứ mỗi dịp chợ phiên nhất là dịp tết của người H’mong con gai con gái ở độ tuổi 13-15 lại dủ nhau xuống chợ các thiếu

nữ mặc trên người những bộ quan áo mới và sược sỡ nhất rồi hòa mình vào không khí tấp nập cảu phiên chợ để hẹn hò Các trang trai H’mong thường chọn cho mình 1 cô gái to khỏe, bắp chân bắp tay vạm vỡ, cặp mông mảy Bởi quan niệm của họ những người phụ nữ như vậy vừa biết làm nương, se sơi dẹt vải, lại

đẻ mắn và khéo nuôi con Những vật dụng cần có của người con trai H’mong khi

đi hỏi vợ cần có đó là thịt lợn, thịt gà, tiền mặt và một số vật dụng, thuốc lào và rượu ngô là hai thứ không thể thiếu khi mở đầu câu chuyện Mâm cỗ cúng gia tiên không thể thiếu xôi ngũ sắc và thịt lợn, thường được chính mẹ chú rể hoặc một người phụ nữ lớn tuổi trong gia đình chuẩn bị Theo phong tục của người H’Mông, hôn nhân phải đủ nghi lễ như dạm hỏi, ăn hỏi và lễ đón dâu, tất cả đều được tổ chức vào ngày lành tháng tốt Lễ dạm hỏi bắt buộc phải có hai ông mối

Trang 8

thông thuộc các bài hát nghi lễ cưới xin, kết nối hai nhà để làm thủ tục dạm hỏi

và hẹn ngày đón dâu.Vào ngày cưới, người thân và những người tham dự lễ cưới thường mặc trang phục truyền thống đẹp nhất do chính người phụ nữ H’Mông thêu và may Khi họ hàng chú rể đã tụ tập đông đủ, trưởng họ bàn giao đồ lễ cho ông mối và cùng nhau kiểm tra đồ lễ thật chu đáo, phân công công việc, họ cùng nhau uống rượu

Đám cưới tại Sapa Đám cưới người H’Mông bao giờ cũng có phù rể Sau khi trưởng họ thắp hương trên bàn thờ tổ tiên, trưởng đoàn sẽ hướng dẫn chú rể cùng phù rể vái lạy

tổ tiên trời đất rồi đi một vòng quanh bàn để xin phép Sau đó, họ chuẩn bị lên đường đi đón dâu Sau khi trưởng đoàn hát bài “Xin chiếc ô đen” và nhận từ tay trưởng họ túi vải, ô, đoàn đón dâu sẽ đến cửa nhà gái Người ta quan niệm ô để che mưa nắng trên đường rước râu, còn túi để dựng những vật dụng cần thiết của

cô dâu khi về nhà chồng Khi đến nhà gái, nếu thấy cửa đóng, ông mối sẽ phải hát bài “Xin mở cửa” Thường thì gia đình cô dâu đã mở cửa sẵn sàng đón khách Sau đó, họ mời nhau hút thuốc Lời hát bài “Xin bàn ghế” của ông mối vừa dứt thì bàn rượu được bày ra và gia đình 2 bên cùng nhau uống rượu Ông mối bàn giao đồ lễ cho nhà gái gồm thịt lợn, thịt gà, rượu ngô, cơm xôi, tiền mặt… Cô dâu lúc này cũng đã chuẩn bị xong bộ trang phục truyền thống do chính tay mình may, ở trong phòng riêng, được mẹ đẻ căn dặn kỹ càng trước khi về nhà chồng Sau khi nhà trai xin phép, phù dâu sẽ vào buồng và dắt cô dâu ra ngoài

Theo phong tục, khi cô dâu, chú rể đã ra khỏi cửa thì không được quay đầu nhìn lại nhà cha mẹ cô dâu nữa Đoàn đón dâu đi đến nửa đường phải dừng chân nghỉ

Trang 9

lại, bày đồ ăn thức uống ra để ông mối làm lễ mời các vị thần Phù rể sẽ cùng chú

rể quỳ lạy tổ tiên, vái lạy cha mẹ nhà gái trước khi rước dâu đi Sau khi hoàn tất các thủ tục, cô dâu được 2 anh em trong gia đình dắt tay ra cửa trao cho người đón đâu Đoàn rước dâu sẽ phải đi khắp bản làng để mọi người cùng chứng kiến Trước khi vào nhà trai, cả đoàn phải dừng lại trước cửa để bố của chú rể đón cặp

vợ chồng Trên tay ông cầm sẵn một con gà trống để làm phép, đưa sang trái và phải 3 cái để xua đuổi những điềm không may, đón những điều may mắn và làm

lễ nhập gia cho cô dâu mới Lúc này, người làm mối sẽ trao cô dâu cho họ nhà trai Sau khi báo cáo việc đưa đoàn dẫn dâu thành công, họ lại cùng nhau nâng những chén rượu ngô nồng ấm, chúc tụng những lời tốt đẹp, cầu chúc cho đôi trẻ hạnh phúc bền lâu Cỗ tiệc ở nhà trai lúc này cũng đã được bày sẵn, trưởng họ nhà trai mời tất cả mọi người trong bản, gia đình nhà gái ở lại phá cỗ mừng dâu mới

b Đám ma của người H’mong

Theo phong tục truyền thống, lễ tang của người Mông bao gồm rất nhiều nghi lễ khác nhau Khi gia đình có người thân qua đời, việc đầu tiên là con cháu

sẽ mang súng kíp ra ngoài nhà bắn ba phát để báo hiệu với bà con trong bản biết

là gia đình có người qua đời Con cháu, bà con thôn, bản nghe thấy tiếng súng ở khu vực nào sẽ đổ về gia đình đó để chia buồn, đồng thời xem có việc gì cùng giúp đỡ Người chết được con cháu lau mặt, mũi, chân tay, thay quần áo mới cho sạch sẽ trước khi về với tổ tiên Theo tập tục của người Mông, khi rửa mặt xong, nước rửa mặt cho người chết được đem đổ vào gầm giường nằm của người chết, còn mảnh vải rửa mặt được đem phơi khô để đốt Sau khi tắm rửa cho người chết xong, họ dùng một chiếc ván gỗ đem thi thể người chết đặt giữa nhà rồi người con trai trưởng nhanh chóng đi mời Dở mủ (thầy cúng chỉ đường) về làm lễ “khai kế” đưa đường chỉ lối cho linh hồn người chết về với tổ tiên Đây là nghi lễ không thể thiếu được trong bất cứ đám tang nào của người Mông Gia đình sẽ chuẩn bị một cây nỏ “nỉnh”, một con dao và một con gà để làm lễ với ý nghĩa con dao là dụng cụ phát đường, cây nỏ là vũ khí để bảo người chết trên đường đi, con

gà là người chỉ đường Thầy Dờ mủ làm lễ xong, tiếng trống, tiếng khèn lại tiếp tục thổi các bài khèn “khai kế” (chỉ đường) để chỉ đường đưa người chết về với

tổ tiên

2.2 Một số điều cần lưu ý về phong tục của đồng bào các dân tộc

Khi đến bản làng Trên đường vào nhà người Hà Nhì, khi thấy một cánh

cổng chào dựng tạm phía trên buộc tua tủa những dao gỗ, kiếm gỗ , đầu cánh gà… đó là lúc trong làng đang tổ chức lễ cúng xua đuổi tà ma Tương tự như vậy hàng năm các nghi lễ chung cúng thần làng, xua đuổi ma ác của đồng bào Tày,

Trang 10

Thái, Giáy, Lào, Bố y, Xá Phó… thường được tổ chức vào tháng 2 hoặc tháng 6 , tháng 7 âm lịch Khi cúng đồng bào đặt các dấu hiệu kiêng kỵ cấm người lạ vào làng như buộc chùm lá xanh ở cột cao trên đường vào làng hoặc đan phên mắt cáo, buộc vào đó xương hàm lợn, trâu, bò Cả làng không ai đi làm, không cho người lạ vào làng Nếu người lạ vô tình gồng gánh, đội nón, che ô, đeo gùi, ba lô… vào làng sẽ bị phạt bằng cách nộp đủ số lễ vật để làm lại lễ cúng làng Trường hợp có việc khẩn cấp , muốn vào làng ngay, khách lạ phải bỏ mũ, ba lô, gồng gánh… tất cả đồ đạc đều phải xách tay Như vậy mới mong được giảm hoặc miễn phạt

Khi vào thăm nhà Trước khi vào thăm nhà đồng bào các dân tộc, du

khách cần quan sát kỹ, nếu thấy ở trước cửa nhà, ở đầu cầu thang cắm hoặc treo một cành lá xanh, một cành gai hoặc cắm một tấm phên đan hình mắt cáo… Đó

là những dấu hiệu kiêng cấm, gia đình không muốn người lạ vào nhà Nhà người

Hà Nhì Đen có hai lớp cửa, khách xa tới chỉ nên vào cửa thứ nhất Nếu muốn vào cửa thứ hai thì phải được gia đình chủ đồng ý Nhà người Thái có đầu cầu thang, phụ nữ chỉ được lên cầu thang có sân phải (bên trái), không được lên cầu thang bên phải Ở vị trí quan trọng nhất trong nhà (vách nhà ở gian giữa hoặc góc đầu nhà sàn, là nơi thờ tổ tiên Trang trí nơi thờ tổ tiên mỗi dân tộc có khác nhau, nhưng đều chung một quan niệm: Nơi thờ tổ tiên là chốn linh thiêng nhất Khách không được đặt mũ, nón, tư trang và đồ dùng khác ở nơi đó, không được sờ tay lên các đồ thờ cúng Khi ngồi không được quay lưng vào nơi thờ Ở vùng người Thái Đen, phụ nữ không được đến gian đầu hồi nhà sàn – nơi thờ tổ tiên Bếp lửa vừa là nơi nấu nướng vừa là nơi tiếp khách của đồng bào các dân tộc, đồng thời

là nơi thiêng liêng thờ vua bếp, thần lửa Do đó có nhiều kiêng kị liên quan đến bếp lửa, ngồi cạnh bếp lửa sưởi không đặt chân lên hoặc làm xê địch hòn đá kê làm kiềng , vì theo quan niện của một số dân tộc thì các hòn đá này là nơi trú ngụ của thần lửa Khi đun nấu đồng bào Tày, Thái, Nùng, Giáy, Bố Y, Lào, Lự… đều chú ý đặt chảo, nồi lên bếp không được để hai quay nồi , chảo theo hương cây xà ngang (vì đó là hướng nằm của người chết) mà phải đặt theo hướng đòn nóc nhà Ở vùng đồng bào Mông, Dao, Hà Nhì… khi đưa củi vào bếp, không đưa ngọn vào trước, vì quan niện sợ con gái gia chủ sau này sẽ sinh ngược Khi ngồi gần bếp, du khách không quay lưng và giẫm chân vào bếp Đồng bào dân tộc kiêng không huýt sáo ở trong nhà Trong ngôi nhà đồng bào các dân tộc cửa và cây cột chính cũng là vị trí linh thiêng thờ thần cửa, thần cột cái Vì vậy không nên ngồi bậu cửa hoặc treo mũ nón và tựa lưng vào cột cái Ở vùng người Thái, Tày, Kháng, La Ha, Phú Lá kiêng không đem lá xanh, cành cây xanh, rau xanh

Ngày đăng: 26/04/2021, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w