“Nhà thi sĩ ấy là một chàng trai trẻ hiền hậu và say mê. Tóc như mây vương trên đài trán thơ ngây, mắt như bao luyến mọi người và miệng cười mở rộng như một tấm lòng sẵn sàng ưu ái. Chàng đi trên con đường thơ, hái những bông hoa gặp dưới bước chân, những hương sắc nảy ra bởi ánh sáng của lòng chàng. Thơ thơ là cụm đầu mùa chàng tặng cho nhân gian. Và từ đây chúng ta hãy hiểu con người ấy.” – Đó là những lời hay nhất, đẹp nhất mà Thế Lữ đã ban tặng cho nhà thơ Xuân Diệu khi ông viết lời tựa tập Thơ thơ. Như chúng ta đã biết, Xuân Diệu là một trong số 9 tác gia lớn của nền văn học Việt Nam. Không chỉ là đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới 1932 – 1945 mà còn là một nhà nghiên cứu, phê bình văn học, dịch thuật uyên thâm. Có thể nói Xuân Diệu là một hiện tượng phong phú và đa dạng, không những về thể loại sáng tác, về đề tài phản ánh mà còn về cả bút pháp nghệ thuật. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu đã trở thành đề tài cho biết bao công trình nghiên cứu. Nhiều tác phẩm của Xuân Diệu đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông. Bởi hơn bao giờ hết, những tác phẩm ấy có giá trị nhận thức rất cao.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Thành phố Hồ Chí Minh
MỤC LỤC
Trang 2MỤC LỤC 2
DẪN NHẬP 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
NỘI DUNG 8
I Khái niệm nhân văn 8
II Quan niệm của Xuân Diệu về con người 11
1 Quan điểm nghệ thuật về con người nói chung 11
2 Quan niệm của Xuân Diệu về con người 12
III Cảm hứng nhân văn trong một số tác phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu 15
1 Cảm hứng nhân văn trước yêu cầu giải phóng cá nhân 15
a Cái tôi trong phong trào Thơ mới 15
b Cái tôi trong thơ Xuân Diệu 17
2 Cảm hứng nhân văn trước khát vọng sống của con người 24
a Khát khao giao cảm với đời, say mê cuộc sống và yêu thương con người 24
b Nhu cầu hưởng thụ chính đáng của con người 29
3 Cảm hứng nhân văn trước số phận những con người nhỏ bé 32
a Số phận những con người nghèo khổ, lay lắt, lầm than 32
b Số phận những con người mờ nhạt 35
c Nghệ thuật truyện ngắn 36
KẾT LUẬN 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 3DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
“Nhà thi sĩ ấy là một chàng trai trẻ hiền hậu và say mê Tóc như mây vương trênđài trán thơ ngây, mắt như bao luyến mọi người và miệng cười mở rộng như một tấmlòng sẵn sàng ưu ái Chàng đi trên con đường thơ, hái những bông hoa gặp dưới bước
chân, những hương sắc nảy ra bởi ánh sáng của lòng chàng Thơ thơ là cụm đầu mùa
chàng tặng cho nhân gian Và từ đây chúng ta hãy hiểu con người ấy.” – Đó là nhữnglời hay nhất, đẹp nhất mà Thế Lữ đã ban tặng cho nhà thơ Xuân Diệu khi ông viết lời
tựa tập Thơ thơ
Như chúng ta đã biết, Xuân Diệu là một trong số 9 tác gia lớn của nền văn họcViệt Nam Không chỉ là đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới 1932 – 1945 mà còn
là một nhà nghiên cứu, phê bình văn học, dịch thuật uyên thâm
Có thể nói Xuân Diệu là một hiện tượng phong phú và đa dạng, không những vềthể loại sáng tác, về đề tài phản ánh mà còn về cả bút pháp nghệ thuật Cuộc đời và sựnghiệp sáng tác của Xuân Diệu đã trở thành đề tài cho biết bao công trình nghiên cứu.Nhiều tác phẩm của Xuân Diệu đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông.Bởi hơn bao giờ hết, những tác phẩm ấy có giá trị nhận thức rất cao
Tiểu luận chọn đề tài “Cảm hứng nhân văn trong một số tác phẩm của XuânDiệu” nhằm mục đích thấy được những giá trị đặc sắc, thấy được chức năng giáo dục,thấy được tài năng và tâm huyết của nhà thơ “một người của đời, một người ở giữacuộc đời” Đồng thời khẳng định một lần nữa chức năng, nhiệm vụ cao quý của tácphẩm văn chương “văn học là nhân học”- đúng như lời của nhà văn vô sản vĩ đại củanước Nga- Maxim Gorki
Trong quá trình tìm hiểu, chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Người viết mongnhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn
Trang 42 Lịch sử vấn đề
Là nhà thơ có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam Trong cuộc đời cầmbút của mình Xuân Diệu đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ và đặc sắc,phong phú và đa dạng: thơ, văn xuôi, phê bình, dịch thuật
Như trên đã nói, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu đã trở thành đề tàithu hút sự quan tâm chú ý của giới nghiên cứu Điểm qua những bài viết về phươngdiện mà đề tài tìm hiểu có thể thấy nổi bật lên những vấn đề sau:
Trong cuốn “Sơ thảo Lịch sử văn học Việt Nam 1930 – 1945” của Viện văn học,Nxb Văn học Hà Nội 1946 các tác giả nhận xét “Xuân Diệu có một niềm đau xót nhấtđịnh đối với cuộc sống của những người xấu số”, “Xuân Diệu là một tâm hồn nhạybén”
Phan Cự Đệ trong phần “Nỗi niềm riêng chung” tác giả cho rằng “Nhà thơ nhắcđến những giọt lệ đau buồn ngày xưa… Bấy giờ nhà thơ cũng bị xúc động tràn trề.Nhưng không phải là giọt lệ tê tái, bùi ngùi của ngày xưa mà là giọt lệ bắt nguồn từbao la vĩ đại, từ nghĩa lớn của nhân quần sông núi, chan chứa tình người”
Nguyễn Đăng Mạnh trong phần cuối của bài “Xuân Diệu khát khao giao cảm vớiđời” đã viết: “Không có sự giao cảm giữa những con người thì cuộc đời chỉ là sa mạc,chỉ là hư vô Nào ở đâu, ở đâu có ai còn chưa biết sự có mặt của Xuân Diệu trên đờinày với trái tim tha thiết yêu đương?”
Lưu Khánh Thơ trong bài “Nghệ thuật cấu tứ trong thơ tình Xuân Diệu” cũngnhận xét: “Trong tất cả các nhà thơ hiện đại, có lẽ Xuân Diệu là người đưa lại cho tanhiều hơn cả một nhận thức về tình yêu không phải trong cô đơn và khoảng cách màcòn là trong bù đắp và mất mát, trong hạnh phúc và khổ đau, bởi lẽ trước hết ông là thi
sĩ số một của tình yêu người tràn đầy niềm khao khát giao cảm với đời, ảc tinh thần vàvật chất”
Nguyễn Xuân Sanh khi nghĩ về Xuân Diệu cũng nhận xét: “Tập thơ đầu của XuânDiệu ca ngợi tình yêu và cái bơ vơ cô quạnh thoáng buồn xao xuyến của tình người, cangợi các không gian và thời gian man mác của mùa thu” và khẳng định Xuân Diệu lànhà thơ bảo vệ cho đến cuối đời những giá trị nhân bản, nhân văn và trau dồi phẩm
Trang 5chất cao đẹp của cái đẹp con người, nhân cách cũng như trách nhiệm của nhà thơ, tácgiả”.
Tác giả người Pháp Mirây Găngxen nhận xét: “Tình thương mênh mông cảm xúcluôn mới mẻ, anh mang trong lòng nỗi đau thương của bà mẹ bị vùi dập do lễ giáophong kiến” và tác giả khẳng định: “anh nói về phụ nữ bằng trái tim trẻ thơ, quý trọng
vô cùng và thương yêu dịu dàng”
Như vậy có thể nói việc nghiên cứu về cảm hứng nhân văn trong các sáng tác củaXuân Diệu đã được các tác giả đề cập đến dù ở góc độ này hay ở góc độ khác Tuynhiên, nhìn chung vấn đề ấy chưa được các tác giả đặt ra một cách có hệ thống, chưathực sự trở thành một nội dung có tính chất riêng
Đề tài sẽ làm rõ cảm hứng nhân văn trong một số tác phẩm của Xuân Diệu
3 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung vào một số tác phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu trên cả hai lĩnh vực: thơtrữ tình và văn xuôi
Ở thể loại thơ trữ tình: “Lời kỹ nữ”, “Vội vàng” và một số bài thơ tiêu biểu khác
Ở thể loại văn xuôi: “Toả nhị kiều”, “Thương vay”, “Chó hoang”, “Mèo hoang”
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu về “Cảm hứng nhân văn trong một số tác phẩm của XuânDiệu”, người viết sử dụng phương pháp đọc tài liệu, phân tích, so sánh, tổnghợp
NỘI DUNG
I Khái niệm nhân văn
Nói đến “nhân văn”, không thể không nói đến những thuật ngữ gần nghĩa cóliên quan mật thiết là “nhân bản” và “nhân đạo”
“Nhân bản” là lấy con người làm gốc Chủ nghĩa nhân bản là chủ nghĩa coitrọng con người với thực thể hiện hữu của nó – sự sống còn và bản chất con người.Như vậy, có thể thấy “chủ nghĩa nhân bản” nhấn mạnh đến khía cạnh bản thể của conngười
Trang 6“Nhân đạo” là lòng yêu thương, quý trọng và ưu ái đến số phận con người, nhất
là những số phận bị hắt hủi, đày đọa trong xã hội cũ, đồng thời mong muốn giải thoát,cứu vớt con người, mong mỏi cho con người được sung sướng, được hạnh phúc “Chủnghĩa nhân đạo” nhấn mạnh đến khía cạnh đạo đức của con người
Về thuật ngữ “nhân văn” có thể hiểu theo từng từ tố: “nhân” là người, “văn” là
vẻ đẹp “Nhân văn” có thể hiểu như là những giá trị đẹp đẽ của con người Một tácphẩm văn học có tính nhân văn là tác phẩm văn học thể hiện con người với những nétđẹp của nó, đặc biệt là những giá trị tinh thần như trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, phẩmchất, nhân cách… Tác phẩm đó hướng đến khẳng định, đề cao vẻ đẹp của con người
Như vậy, chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, tình cảmquý trọng các giá trị của con người như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức mạnh, vẻ đẹp.Chủ nghĩa nhân văn không những là một khái niệm đạo đức đơn thuần mà còn baohàm cả cách nhìn nhận, đánh giá con người về nhiều mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bảnchất) trong các quan hệ với tự nhiên, xã hội và đồng loại
Ở phương Tây, khái niệm “nhân văn” được bắt nguồn từ chữ “humanus” trongtiếng Latinh, có nghĩa là coi trọng con người, nhưng mãi tới thế kỷ thứ XVI – XVII,chủ nghĩa nhân văn mới trở thành hệ tư tưởng chủ đạo của nền văn học Phục hưng.Theo Vônghi: “Chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những quan niệm đạo đức, chính trị bắtnguồn không phải từ cái gì siêu nhiên kì ảo hay từ những nguyên lý ngoài đời sốngnhân loại mà từ con người tồn tại thực tế trên mặt đất những nhu cầu, những khả năngtrần thế thiết thực của nó Những nhu cầu, những khả năng ấy đòi hỏi phải được pháttriển đầy đủ, phải được thoả mãn”
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng là chủ trươnggiải phóng con người rời khỏi xiềng xích phong kiến và nhà thờ để họ tự do phát triểnnhững khả năng của mình, trả con người về thế giới trần tục để họ tận hưởng nhữngkhát vọng khổng lồ về vật chất cũng như về tinh thần
Nói tóm lại: Chủ nghĩa nhân văn là lý luận và phương pháp đấu tranh của con
người để mang lại văn minh, hạnh phúc cho con người, cho nhân loại nói chung
Thực ra những nhân tố của chủ nghĩa nhân văn đã từng tồn tại trong nền vănhọc dân gian, trong gia tài văn hoá tinh thần của nhiều dân tộc thời cổ Đó là niềm tin
Trang 7vào sức mạnh và khả năng con người, vào tương lai, lòng nhân ái, đức hy sinh, tìnhcương nghị, óc thông minh và những nguyện vọng về tự do, bình đẳng, công lý…Phản ánh sự trưởng thành của con người trong quá trình lao động, đấu tranh với thiênnhiên, với xã hội Nhưng phải đến thời Phục hưng ở Phương Tây thì chủ nghĩa nhânvăn mới xuất hiện với đầy đủ tư cách là hệ thống những quan điểm bao trùm lên tất cảcác mặt triết học – đạo đức, chính trị - xã hội của nó Và cũng từ đây, thuật ngữ chủnghĩa nhân văn mới thật sự ra đời Ăngghen cho rằng, thế kỷ XV – XVI là thời kỳ Tây
Âu bước vào một “cuộc đảo lộn tiến bộ nhất mà từ xưa đến nay nhân loại chưa từngthấy” Cuộc đảo lộn ấy thể hiện ở chỗ các nhà văn đề cao con người Têrăngxơ “Tôi làmột con người, không có cái gì có tính chất người là xa lạ đối với tôi”; Mirăngđon
“Con người là thợ rèn rèn ra hạnh phúc của mình”, Sếchxpia “ Con người là vẻ đẹpcủa thế gian, kiểu mẫu của muôn loài”
Bằng tình yêu mến con người, đặt toàn bộ niềm tin vào khả năng của conngười, chủ nghĩa nhân văn đã giáng một đòn mạnh mẽ, quyết liệt vào chế độ phongkiến, Giáo hội và hệ tư tưởng tôn giáo, góp phần quan trọng vào việc giải phóng conngười đưa đến tiến bộ xã hội
Có thể nói sự ra đời của chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng là một bước ngoặtquan trọng trong quá trình giải phóng tinh thần và tự ý thức của nhân loại Từ thờiPhục hưng trở về sau, trong văn học nghệ thuật, chủ nghĩa nhân văn đã bước sang mộtgiai đoạn phát triển mới: từng bước gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng con người
về các phương diện chính trị - xã hội và các phương diện khác thuộc nhiều lĩnh vựchoạt động của đời sống Nó trở thành lý tưởng thẩm mỹ có sức định hướng cho nhữngtìm tòi sáng tạo nghệ thuật và quy định bản chất của mỗi nền văn học nghệ thuật
Trong sáng tác văn học nghệ thuật, hình thái và mức độ biểu hiện của chủ nghĩanhân văn hết sức phong phú, đa dạng, độc đáo Vì thế khi tiếp nhận tác phẩm văn họcphải tìm ra những sắc thái biểu hiện tinh tế, độc đáo, cụ thể trong thái độ và cảm xúcthẩm mỹ của tác giả đối với con người và cuộc sống
Nếu chủ nghĩa nhân văn Phương Tây mang đậm tính triết học thiên về vũ trụquan (tức là nêu lên mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, khẳng định con người là
Trang 8trung tâm của vũ trụ) thì Phương Đông nói chung và văn học Việt Nam nói riêng thiên
về đạo đức (tức là nêu lên mối quan hệ giữa con người với con người)
Ở Việt Nam, tư tưởng nhân văn không bộc phát rầm rộ như ở phương Tây thờiPhục hưng mà nó như một dòng mạch, ngấm ngầm chảy trong các giai đoạn văn học
từ xưa đến nay Dòng mạch ấy khởi nguồn từ những dòng sữa ngọt ngào thấm đẫmtình yêu thương của văn học dân gian Có thể nói yếu tố nhân văn trong văn học ViệtNam đã được hình thành, nuôi dưỡng cùng với quá trình dựng nước, giữ nước
Đa số các nhà nghiên cứu thường coi các sáng tác của Hồ Xuân Hương,Nguyễn Du thế kỷ XVII – XIX là đỉnh cao của chủ nghĩa nhân văn trong văn học ViệtNam
Chủ nghĩa nhân văn là dòng suối trong lành chảy qua thời gian, thấm vào trongtừng tác phẩm Đó chính là biểu hiện vẻ đẹp, lòng nhân hậu, năng lực và trí tuệ conngười Việt Nam, văn hoá Việt Nam
Văn học là một môn học về con người, văn học hướng dẫn và tìm hiểu conngười, cho nên từ lâu người ta đã nhấn mạnh tính nhân bản của văn chương nghệthuật, coi chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn là tinh thần của văn chương nghệthuật
Văn chương nghệ thuật giữ gìn và bồi dưỡng chất “người” cho con người, làmcho con người luôn luôn là con “người”; giúp cho con người hiểu về bản thân mìnhhơn, biết thông cảm với những nỗi đau của con người, biết sống ý nghĩa hơn với cuộcđời này, đúng như nhà văn Maxim Gorki đã khẳng định “văn học là nhân học”
II Quan niệm của Xuân Diệu về con người
1 Quan điểm nghệ thuật về con người nói chung
Con người là một thực thể xã hội, mang bản chất xã hội đồng thời lại là mộtthực thể tự nhiên, có cấu trúc sinh vật học Con người có những nhu cầu vật chất cầnđược thỏa mãn trong đó có những lợi ích vật chất chi phối lí trí, tình cảm con người.Con người chịu tác động của xã hội nên bản chất của con người là tổng hoà các mốiquan hệ xã hội
Trang 9Con người vừa mang tính thời đại, vừa mang tính lịch sử Con người bao giờcũng gắn với một thời đại Thời đại nào, con người ấy.
Như chúng ta đã biết, nếu cảm hứng chủ đạo thiên về nội dung tình cảm của tác phẩmthì quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người bộc lộ chiều sâu triết lý của tácphẩm đó Không phải nhà văn nào cũng là một nhà tư tưởng nhưng mỗi tác phẩm đíchthực đều ẩn chứa một nội dung triết lý nhất định Quan niệm nghệ thuật về thế giới vàcon người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lý của tác phẩm Tuy nhiên,chúng ta không nên đồng nhất quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người với quanđiểm sáng tác của nhà văn
Nhà văn không nhằm tái hiện chân xác lịch sử và bình luận về nó như một sửgia mà nhằm bày tỏ một cách nhìn về lịch sử và qua đó gửi gắm tâm sự và ước vọngcủa mình về cuộc đời và con người Nói đến quan niệm nghệ thuật là nói đến ý hướngcủa nhà văn hướng đến thế giới và con người ngay trong khi sáng tác văn học Đâykhông phải là sự cảm thụ hay tiếp nhận cuộc sống đơn thuần mà là một quan niệmnghệ thuật có tính chất độc lập của nhà văn Bởi vì nói đến quan niệm nghệ thuật lànói đến quan niệm của cái tôi, nghĩa là quan niệm của một cá tính sáng tạo Điều này
có nghĩa là đề tài, chủ đề, cảm hứng chủ đạo, quan niệm nghệ thuật trong tác phẩm đềuphải có tính chất độc đáo vì nó được soi sáng bởi cái nhìn riêng về thế giới
2 Quan niệm của Xuân Diệu về con người
“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây gió trăng hoa tuyết núi sông”
Thế giới và con người từ lâu đã trở thành đối tượng để các thi nhân xem xétđánh giá, nhìn nhận Nhưng có điều, ở mỗi thời đại, cách nhìn nhận, đánh giá lại có sựkhác nhau
Trang 10Do bị chi phối bởi dấu ấn của văn học trung đại, nên các nhà thơ trung đại đềunhìn nhận thế giới có sự vận động, đổi thay Nhưng không phải là sự vận động đổithay theo chiều hướng đi lên, đột biến mà là đổi thay trong sự tồn tại, vĩnh hằng của
nó Nghĩa là thế giới vận động theo quy luật khách quan, tuần hoàn:
“Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”
(Nguyễn Trãi)
Hết xuân sang hạ, hết thu sang đông, cỏ cây đất trời cùng tuần hoàn theo chu kỳbởi các nhà thơ xưa tin vào quy luật “vạn vật nhất thể” (thơ Đường), tin vào quy luậtluân hồi, chuyển kiếp trong vũ trụ Chính vì thế giới bao la, vô cùng vô tận như vậynên con người luôn cảm thấy mình nhỏ bé Và đôi lúc, họ cảm thấy một cái gì đó nhưmất mát, như ngậm ngùi, nuối tiếc Hoa đào mỗi năm lại trổ hoa như cũ, hoa đào vẫncòn đó nhưng người xưa bây giờ ở đâu?
Khứ niên kim nhật thử môn trungNhân diện đào hoa tương ánh hồngNhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu xuân phong
(Năm ngoái hôm nay trong cửa này Mặt người và hoa đào màu hồng ánh lẫn nhau Mặt người không biết đi đâu
Hoa đào vẫn cười trước gió xuân cũ)
(Thôi Hộ)
Đến Thơ mới, quan niệm về thế giới và con người đã có nhiều thay đổi LưuTrọng Lư đã nói về sự thay đổi ấy: “Các cụ ta thích cái bóng trăng vàng vọt trên mặtnước, ta lại chỉ thích cái ánh mặt trời buổi sáng lấp lánh, vui vẻ đầu ngọn tre xanh Các
cụ ta chỉ ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt Một dòng máu chảylàm cho các cụ rùng mình thì một quan tài phát giấy đỏ, lững thững đi giữa bóng mặttrời trưa lại làm cho ta rởn óc Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta lại naonao vì tiếng gà gáy lúc đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn ngây thơ, các cụ coi như
Trang 11đã làm một điều tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái
ái tình của các cụ chỉ là sự hôn nhân, với ta thì trăm hình muôn trạng” Và Lưu Trọng
Lư cũng đã giải thích cái sự khác nhau đó: “Các cụ xưa sống trong một cuộc đời giản
dị, êm đềm, sinh hoạt dễ dàng, tiếp xúc ít ỏi cho nên tâm hồn của các cụ cũng đơn sơnghèo nàn, phẳng lặng, khô khan như cuộc đời của các cụ”
Quả vậy! Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX chứng kiến nhiều cuộc biến đổi sâusắc về kinh tế, chính trị, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ Dưới tác động của văn hoáPhương Tây, đặc biệt là văn hoá Pháp, văn học Việt Nam thời kỳ này có nhiều cái
“mới”
Quan niệm về thế giới và về con người đã có nhiều thay đổi Nhưng không phải
là sự thay đổi nhanh chóng, đột ngột Không phải một sớm một chiều có thể phủ nhậntất cả Chính Xuân Diệu đã từng nhìn nhận thế giới tồn tại muôn đời, ấy là ánh trăngvới sự tồn tại mãi mãi:
“Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ”
(Ca tụng)Nhưng nhìn một cách tổng quan, Xuân Diệu nhìn nhận về thế giới và con ngườitrong sự đổi thay Thế giới ấy gắn liền với sự sống, tình yêu và hạnh phúc của conngười Và con người trong thơ Xuân Diệu là một con người “động” Con người ở đâykhông phải là con người như trong văn thơ trung đại: buồn, ngậm ngùi, nuối tiếc chonhân gian, thế sự; con người hướng vào cảnh vật thiên nhiên, con người tồn tại không
có sự thay đổi mà con người ở đây là con người sôi nổi, mạnh mẽ, khát khao sự sống,yêu sự sống đến cháy bỏng Con người ấy cần phải tự khẳng định mình, phải nhậnthức được vị trí và vai trò của mình trước thế giới ấy:
“Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta”
(Hy Mã Lạp Sơn)
Cũng chính vì thế, Xuân Diệu luôn sống trong “vội vàng”, gấp gáp
“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”
(Vội vàng)
Trang 12Và đúng như lời nhận xét: “Thi nhân cơ hồ đã mất hết cái cốt cách hiên ngangngày trước Chữ Ta với họ rộng quá Tâm hồn của họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữTôi Đừng tìm ở họ cái khí phách ngang tàng của một thi nhân đời xưa như Lý TháiBạch, trong trời đất chỉ biết có thơ” Con người phải biết tự khẳng định chính mình,thoát ra khỏi cuộc sống tù đọng, tẻ nhạt:
“Lòng rộng quá không chịu khung nào hết
Chân tự do đạp phăng cả hàng rào
Ta mong hồn trèo lên những đỉnh cao
Để hóng gió của ngàn phương thổi tới”
(Mênh mông)
Con người cần phải sống hết mình, yêu hết mình, phải khát khao giao cảm hếtmình với cuộc đời này Bởi vì:
“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”
III Cảm hứng nhân văn trong một số tác phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu
1 Cảm hứng nhân văn trước yêu cầu giải phóng cá nhân
a Cái tôi trong phong trào Thơ mới
Do ảnh hưởng của tinh thần Phi ngã của Nho giáo và Phật giáo nên nhìn chung
“cái tôi” trong văn học Việt Nam thời trung đại chưa có mặt
Đến Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ ít nhiều “cái tôi” đã cómặt nhưng mới chỉ là “cái tôi cựa quậy”, chỉ mới dừng lại ở chỗ xưng tên tự của mìnhtrước thiên hạ mà thôi:
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi”
Trang 13(Mời trầu – Hồ Xuân Hương)
Hay như Nguyễn Du:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng)
(Độc tiểu Thanh kí)
Lý Hoài Thu cho rằng “Ý thức hệ phong kiến chi phối quan niệm văn chương
đã tạo ra một nền văn học phi ngã theo kiểu Á Đông Một đất nước hàng trăm nămsống lặng lẽ, cam chịu trong những tôn ti trật tự của lễ giáo phong kiến thì việc khẳngđịnh và đề cao “cái tôi”, cái bản ngã cá nhân được coi là trái đạo” Chính vì lẽ đó, ngay
cả những tình cảm riêng tư cũng phải uốn nắn theo một khuôn mẫu sẵn có
Điều này cũng dễ hiểu Bởi một lẽ các cụ ta ngày xưa chỉ biết hàng ngày đóngcửa thư phòng, nghiền ngẫm sách thánh hiền với những đạo lí truyền lại từ ngàn đời.Nào là “Kinh thi”, nào là “Binh pháp tôn tử”, là “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, là “tam tòng,
tứ đức” các cụ không giao lưu với đời sống bên ngoài, không tiếp xúc nhiều với nhândân Bên cạnh đó, những tình cảm riêng tư từ lâu đã được uốn nắn theo một khuôn khổ
có sẵn cho nên chưa có nhà văn, nhà thơ nào dám đi sâu vào những khía cạnh tâm hồn,chưa đào xới được những biểu hiện hết sức phong phú đa dạng của đời sống tình cảmcủa con người nên bức thành phong kiến vẫn ăn sâu bám chặt, neo lại một cách vữngchắc trong quan niệm của một lớp nhà văn nhà thơ ấy Chính vì lẽ đó “cái tôi” cá nhânchưa có điều kiện phát triển Con người phải sống lặng lẽ, cam chịu trong một khuônkhổ có sẵn cho đến hết cuộc đời
Đến phong trào Thơ mới 1932 – 1945, “cái tôi” cá nhân có điều kiện phát triển
và phát triển một cách nhanh chóng, mạnh mẽ hơn bao giờ hết Hoài Thanh gọi đây là
“ một thời đại mới trong thơ ca” Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Phápnhững năm đầu thế kỷ XX đã làm cho xã hội Việt Nam biến đổi một cách sâu sắc
“Một cơn gió mạnh bỗng từ xa thổi đến Cả nền tảng xưa bị một phen điên đảo, lunglay Sự gặp gỡ Phương Tây là một biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấymươi thế kỷ”
Trang 14Xã hội Việt Nam xuất hiện nhiều giai cấp, tầng lớp mới Từ đó nảy sinh một bộphận văn học mới phù hợp với những nhu cầu tâm lí, cách sống mới Trong đó phải kểđến là nhu cầu thoát ra khỏi những khuôn khổ của tình cảm ngày một trở nên gay gắt
và bắt đầu đến cao trào Thanh niên thời này đã tự ý thức được rằng họ “không còn cóthể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu ghét giận hờn nhất nhất nhưngày trước” Họ đi tìm cái bản ngã của mình, cái “thành thực” của mình Họ có khátvọng được bày tỏ, được nói lên những điều sâu kín nhất trong tâm tư, tình cảm củamình Và “một cuộc cách mạng trong thơ ca” đã bắt đầu Đó là cuộc cách mạng vớimục đích cuối cùng là sự giải thoát cho “cái tôi” Giúp “cái tôi” ấy tự đứng lên, tựkhẳng định mình trong cuộc sống một cách táo bạo, chân thành, sôi nổi và tha thiết
Trong cuốn “thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh đã nhận định: “Tôi quyết rằngtrong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa có một thời đại nào phong phú như thời đại này.Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ,
mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như NguyễnNhật Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên
và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” Mỗi nhà Thơ mới một dáng vẻ, mộttính cách Nhưng họ đã gặp nhau một điểm: đó là họ đã nói lên một cách rất đầy đủ
“nhũng tính tình và cảm giác của tâm hồn ta ở thời đại mới” (Huy Cận)
Tóm lại: Thơ mới là thơ của “cái tôi”, là thời đại của “chữ tôi” là một quan
niệm “chưa từng thấy ở xứ sở này” Và “cái tôi” vừa thể hiện niềm vui, khát vọng sốngthiết tha mãnh liệt vừa mang một nỗi cô đơn gắn chặt với số phận mỗi con người
b Cái tôi trong thơ Xuân Diệu
Có thể nói rằng Xuân Diệu là một trong những nhà thơ đi tiên phong trong việc
đề cao con người cá nhân trong thời đại mình Cái tôi của Xuân Diệu là cái tôi độcđáo, mới mẻ là cái tôi yêu thương con người và cuộc sống thiết tha
Như trên đã nói: cái tôi trong Thơ mới vừa thể hiện được niềm vui ước mơ,khát vọng sống, vừa mang một nỗi cô đơn như đã trở thành “nghiệp dĩ” với số phậncon người
Trang 15Cái buồn trong Thơ mới là cái buồn phổ biến “Đời chúng ta nằm trong vòngchữ tôi Mất bề rộng, ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng thấy lạnh Cả trời thựctrời mộng vẫn nao nao theo hồn ta Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất làxôn xao như thế”.
Ấy là Vũ Đình Liên với những nỗi niềm hoài cổ trong “Ông Đồ”, là NguyễnBính, Anh Thơ gắn liền với luỹ tre làng, dòng sông, bến đò xưa, là Thế Lữ nuôi giấcmộng lên tiên với Bồng lai, Hạc trắng, là Chế Lan Viên với ước muốn được ẩn mìnhtrong tinh cầu giá lạnh Ấy là Lưu Trọng Lư chìm đắm trong tình yêu, là Thâm Tâm ấp
ủ giấc mộng ly khách một sáng qua sông không trở lại…
Mỗi nhà thơ đều tìm cho mình một cách thoát ly riêng để trốn đời Nỗi buồncủa họ thật đáng thương Bởi họ mang trong lòng tình yêu thiên nhiên, quê hương, đấtnước nhưng “họ bị giam hãm trong một môi trường thiếu năng lượng, thiếu chất đốttrong lòng tin” Họ chưa đủ sức dấn thân vào con đường cách mạng, họ chưa thực sựgần gũi với nhân dân
Riêng Xuân Diệu, con người yêu đời yêu cuộc sống tha thiết ấy không đi đâu cả
mà ở lại với cuộc đời thực của mình Bởi:
“Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn
Làm dây da quấn quýt cả mình xuân
Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần
Chân hoá rễ để hút mùn dưới đất”
(Thanh niên)Mặc dù, trước đây có lần Xuân Diệu đã quan niệm:
“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”
Cao hơn hết vẫn là một tấm lòng yêu đời, yêu cuộc sống, khát khao giao cảmvới đời một cách nồng cháy, thiết tha Xuân Diệu là “một người của đời, một người ởgiữa loài người Lầu thơ của ông xây trên đất của một tấm lòng trần gian Ông đãkhông trốn tránh mà còn quyến luyến cõi đời” (Thế Lữ)
Chính vì thế mà “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ Ta phiêu lưu trong trường tìnhcùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên” nhưng động tiên
Trang 16đê khĩp, tình yíu không bền, say đắm rồi tỉnh, tỉnh lại bơ vơ Xuđn Diệu đê đốt cảnhbồng lai vă đưa ai nấy về hạ giới.
Bởi trần gian lă thiín đường Lă nơi đẹp nhất của cuộc đời Không nín tìmkiếm đđu xa xôi những ảo tưởng Mă hêy tìm niềm vui ngay chính nơi mình đangsống Nơi ấy có con người, lă trung tđm của vũ trụ, lă đẹp nhất trín hết thảy.Với ông,chỉ có cuộc sống trần gian mới tạo được niềm say mí quyến luyến Vă ông đê tìm đủmọi câch để níu kĩo, để quấn quýt lấy cuộc đời vă con người Ta bỗng nhớ đến Tago.Nhă thơ lỗi lạc của nhđn dđn Ấn Độ Tago cũng cho rằng cuộc đời thực của chúng ta lăthiín đường Vă trong thiín đường ấy, con người lă đẹp nhất, lă cao quý nhất Thiínđường không phải tìm đđu xa xôi Thiín đường ngay trong chính trâi tim người mẹ, lă
nụ cười, lă vòng tay đu yếm của người mẹ, lă vẻ đẹp của thiín nhiín, lă trong ânh mắtngđy thơ của trẻ Tago đê kíu gọi người dđn Ấn Độ - những con người bọ bao phủ bởitôn giâo – những con người suốt cuộc đời thđn hănh trín những con đường dăi để đếnvới dòng nước thiíng liíng của sông Hằng, những con người tự nguyện sống cuộc đờikhổ hạnh để được lín thiín đăng, được đến cõi siíu nhiín – trở về với cuộc sống thựcvới trần gian Về đặc điểm năy giữa Xuđn Diệu vă Tago có sự gặp gỡ tương đồng dùhai nhă thơ ở hai thời đại vă hai đất nước khâc nhau
Vậy con người trong thơ Xuđn Diệu như thế năo? Có những điểm gì nổi bật?Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng “ý nghĩa nhđn bản lớn của tư tưởng Xuđn Diệu” đó lẵng muốn khẳng định câi tôi của mình trong niềm khao khât được hoă nhập với cuộcđời chứ không lẩn trốn cuộc đời Xuđn Diệu đề cao sự tồn tại của con người Conngười trong thơ Xuđn Diệu trước hết lă con người câ nhđn đầy ý thức về sự tồn tại củamình, lă một thực thể độc lập trong vũ trụ
Đối với Xuđn Diệu, con người đang sống, đang hiện hữu lă một tiểu vũ trụ tồntại trong đại vũ trụ của thiín nhiín chứ không lẫn văo thiín nhiín như quan niệm trướcđđy:
“Ta đứng đđy vĩnh viễn giữa mùa đông
Tuyết trín đầu vĩnh viễn choâ từng không
Trân vĩnh viễn nặng mai sầu trâi đất
Ta lă Một, lă Riíng, lă Thứ Nhất
Trang 17Không có chi bè bạn nổi cùng ta
Bởi ghen trời, ta ngạo nghễ xông pha”
(Hi Mã Lạp Sơn)
Hay:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”
(Vội vàng)Một ước muốn táo bạo, muốn đoạt quyền tạo hoá Muốn làm chủ thiên nhiên,muốn “buộc nắng, tắt gió” để khẳng định mình, khẳng định cái tôi tồn tại trong cuộcđời này như là một sự tự ý thức đầy đủ về bản thân mình Ở đây con người làm chủthiên nhiên Con người to lớn, vĩ đại chứ không phải là con người nhỏ bé trong thơ xưanữa Và những con người ấy, đôi khi, sự ý thức về mình của họ đến độ nghênh ngang,ngạo nghễ:
“Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết
Chân tự do đạp phăng cả hàng rào”
(Mênh mông)
Xuân Diệu đề cao con người, khẳng định con người là trung tâm của thế giới, của
vũ trụ Và trong cái thế giới ấy, con người là đẹp nhất, là mẫu mực, là thước đo Đây làmột cách tân nghệ thuật tiêu biểu của phong trào thơ mới mà Xuân Diệu là người đitiên phong “Xuân Diệu đã lấy con người làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của thế giới, của
vũ trụ”
Trong thơ ca truyền thống, do ảnh hưởng của nghệ thuật ước lệ, tượng trưng nênkhi miêu tả con người, các nhà văn, nhà thơ thường dùng hình ảnh của thiên nhiên.Thế giới tự nhiên được xem là chuẩn mực là thước đo cho con người
Chẳng hạn khi miêu tả những cô gái đẹp thì dùng: mây, tuyết, núi, hoa
Trang 18“Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”
(Nguyễn Du)
Miêu tả những trang anh hùng hảo hớn thì dùng :
“Râu hùm, hàm én mày ngài
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao”
“Lá liễu dài như một nét mi”
( Nhị hồ )Hay:
“Em đẹp quá khi mày em nhíu lại
Cặp mày xanh như rừng biếc chen cây”
Con người là chủ thể của thế giới Vẻ đẹp của con người là chuẩn mực của vẻđẹp của thế giới Con người chính là trung tâm của vũ trụ bao la Đó là quan niệm mới
mẻ, đầy chất nhân văn trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Thiên nhiên, tạo vật không chỉ mang nét đẹp, nét duyên của con người mà cònmang cả niềm vui, nỗi buồn, hành động của con người Hành động của con người trởthành chuẩn mực của thiên nhiên:
“Cánh hồng kết những nụ cười tươi”
(Nụ cười xuân)Hay:
“Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối
Vài tiếng đêm u uất lẫn trong cành”
(Tương tư chiều)
Trang 19Vì luôn đề cao con người cá nhân mà trong thơ Xuân Diệu luôn đầy ắp hình ảnhcủa âm:“Những thanh sắc của thời tươi”:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến oanh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
(Vội Vàng)Thiên nhiên cảnh vật trong thơ ông bao giờ cũng thấm đẫm chất say mê củacuộc đời trần gian vì trần gian chính là thiên đường tốt nhất, đáng được hưởng thụnhất Đối với Xuân Diệu, cảm hứng nhân văn trong việc giải phóng cá nhân là phảithoả mãn tối đa những nhu cầu của cuộc sống vật chất, của những tình cảm, cảm giácphức tạp, mãnh liệt của cái tôi Vì thế, thơ Xuân Diệu toát lên một nhu cầu mãnh liệt:được cảm thông Cái tôi ấy không chỉ biết có mình mà còn là một cái tôi rộng mở đốivới cuộc đời Cái tôi ấy “phơi trải”, “trình bày”, “mời mọc”:
“Khách ngồi lại cùng em đây gối lả Tay em đây mời khách ngả đầu say Đây rượu nồng và hồn của em đây
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử”
(Lời kĩ nữ)Cái tôi ấy luôn rộng mở với cuộc đời, mong mỏi được giao cảm với những tâmhồn đồng điệu:
“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều…”
(Vội vàng)