1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN văn học đánh giá về vai trò đóng góp của XUÂN DIỆU đối với nền văn học việt nam

24 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 126,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I Giới thiệu vài nét về Xuân DiệuCha Đàng ngoài, mẹ ở Đàng trong Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏVượt đèo Ngang kiếm nơi cần chữCha Đàng ngoài, mẹ ở Đàng trongHai phía đèo Ngang một mối tơ hồng Xuân Diệu tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, sinh năm 1916, mất 1985, sinh ra và lớn lên ở Quy Nhơn . Ông thừa hưởng từ người cha mình – một ông đồ xứ Nghệ đức tính cần cù, chịu khó để rồi cả cuộc đời sáng tạo “tay siêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm”. Quê mẹ ở Quy Nhơn với ngọn gió biển nồng nàn tha thiết ngày đêm thổi vào hồn thơ Xuân Diệu để rồi tạo nên một Xuân Diệu nồng nàn, mãnh liệt, sôi nổi. Sự kết hợp ấy đã để lại cho đời một thi sĩ lớn. Là người luôn khát khao giao cảm với đời, ông viết văn, làm thơ, rồi đến với cách mạng rất tự nhiên, chân thành và nồng nhiệt. Sự nghiệp sáng tác đồ sộ, phong phú trên nhiều lĩnh vực khác nhau: sáng tác thơ, viết văn xuôi, phê bình văn học.. song thơ ca vẫn là lĩnh vực nổi bật nhất bắc nhịp cho trái tim thi sĩ đến với cuộc đời.

Trang 1

Đánh giá về vai trò đóng góp của XUÂN DIỆU đối với nền

văn học Việt Nam.

I/ Giới thiệu vài nét về Xuân Diệu

Cha Đàng ngoài, mẹ ở Đàng trong Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ

Vượt đèo Ngang kiếm nơi cần chữ Cha Đàng ngoài, mẹ ở Đàng trong Hai phía đèo Ngang một mối tơ hồng

- Xuân Diệu tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, sinh năm 1916, mất 1985, sinh ra

và lớn lên ở Quy Nhơn

- Ông thừa hưởng từ người cha mình – một ông đồ xứ Nghệ - đức tính cần cù,chịu khó để rồi cả cuộc đời sáng tạo “tay siêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm”.Quê mẹ ở Quy Nhơn với ngọn gió biển nồng nàn tha thiết ngày đêm thổi vàohồn thơ Xuân Diệu để rồi tạo nên một Xuân Diệu nồng nàn, mãnh liệt, sôi nổi

Sự kết hợp ấy đã để lại cho đời một thi sĩ lớn

- Là người luôn khát khao giao cảm với đời, ông viết văn, làm thơ, rồi đến vớicách mạng rất tự nhiên, chân thành và nồng nhiệt

- Sự nghiệp sáng tác đồ sộ, phong phú trên nhiều lĩnh vực khác nhau: sáng tácthơ, viết văn xuôi, phê bình văn học song thơ ca vẫn là lĩnh vực nổi bật nhấtbắc nhịp cho trái tim thi sĩ đến với cuộc đời

- Các tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau- Cầm tay (1962), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Thanh ca (1982); các tập văn xuôi Phấn thông

vàng (1939), Trường ca (1945); các tập tiểu luận phê bình nghiên cứu như Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam,…

- Có thể nói Xuân Diệu là một hiện tượng phong phú và đa dạng, không những

về thể loại sáng tác, về đề tài phản ánh mà còn về cả bút pháp nghệ thuật

- Về quá trình đào tạo, Xuân Diệu một mặt là trí thức Tây học, đã hấp thụ ảnhhưởng của tư tưởng và văn hóa Pháp một cách có hệ thống trên ghế nhà trường,mặt khác do xuất thân từ một gia đình nhà Nho (con một ông tú kép “hai lần đỗ

Trang 2

Hán học”) nên lại tiếp thu được một cách tự nhiên ảnh hưởng của nền văn họctruyền thống Vì thế, có thể tìm thấy ở nhà thơ sự kết hợp hai yếu tố cổ điển vàhiện đại, Đông và Tây trong tư tưởng và tình cảm thẩm mĩ Tuy nhiên, văn hóa,văn học phương Tây vẫn có ảnh hưởng sâu đậm hơn.

- Xuân Diệu là một tài năng nhiều mặt Nhưng ông trước hết vẫn là một nhà thơ– một trong những nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nan hiện đại Trong “Thinhân Việt Nam”, Xuân Diệu được mệnh danh là “nhà thơ mới nhất trong cácnhà thơ Mới” (Hoài Thanh) Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp văn học của XuânDiệu, đặc biệt là giai đoạn sáng tác trước cách mạng tháng Tám 1945 (giaiđoạn 1932 – 1945) ta sẽ thấy rõ hơn những đóng góp lớn của Xuân Diệu chonền thơ ca Việt Nam hiện đại Có thể nói rằng, Xuân Diệu đóng vai trò quyếtđịnh trong cuộc cách tân hiện đại hóa thơ ca Việt Nam “Xuân Diệu là ngườimang đến cho thơ ca Việt Nam nhiều cái mới nhất” (Vũ Ngọc Phan)

Trong bài thuyết trình này, chúng tôi tìm hiểu những đóng góp của Xuân Diệuđối với nền thơ ca Việt Nam qua ba phần chính:

 Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người

 Nội dung trữ tình và phương thức trữ tình

 Ngôn ngữ thơ

Sau đây, chúng tôi sẽ đi vào nội dung cụ thể của từng phần

II/ Những đóng góp của Xuân Diệu đối với nền thơ ca Việt Nam hiện đại

1 Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người

Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nhà văn chính là cái nhìncủa nhà văn về thế giới và con người Mỗi nhà văn sẽ có một cái nhìn thế giớikhác nhau và do đó sẽ có một thế giới khác nhau Do vậy, tìm hiểu quan niệmnghệ thuật sẽ chỉ ra được chiều sâu của thế giới và con người mà nhà văn thểhiện trong tác phẩm Nói cách khác, nắm được quan niệm nghệ thuật cũng cónghĩa là nắm được chiều sâu và giới hạn thực tế của tư duy nghệ thuật của mộthiện tượng văn học nào đó Từ đây có thể giúp để giải thích các nguyên tắcnghệ thuật của một hiện tượng văn học Nhờ đó mà có thể thấy được nhữngcách tân của hiện tượng văn học đó trong tiến trình lịch sử văn học

Trang 3

Quan niệm nghệ thuật của Xuân Diệu trước cách mạng đã có những thay đổicăn bản so với thơ ca trước đó và có những biến đổi so với thơ ca đương thời.Những thay đổi đó đã tạo nên những nét đặc sắc riêng trong thơ ông giai đoạnnày.

Thế giới và con người từ lâu đã trở thành đối tượng để các thi nhân xem xétđánh giá, nhìn nhận Nhưng có điều, ở mỗi thời đại, cách nhìn nhận, đánh giálại có sự khác nhau

Do bị chi phối bởi dấu ấn của văn học trung đại, nên các nhà thơ trung đại đềunhìn nhận thế giới có sự vận động, đổi thay Nhưng không phải là sự vận độngđổi thay theo chiều hướng đi lên, đột biến mà là đổi thay trong sự tồn tại, vĩnhhằng của nó Nghĩa là thế giới vận động theo quy luật khách quan, tuần hoàn:

“Sen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”

(Nguyễn Trãi)

Hết xuân sang hạ, hết thu sang đông, cỏ cây đất trời cùng tuần hoàn theo chu

kỳ bởi các nhà thơ xưa tin vào quy luật “vạn vật nhất thể” (thơ Đường), tin vàoquy luật luân hồi, chuyển kiếp trong vũ trụ Chính vì thế giới bao la, vô cùng vôtận như vậy nên con người luôn cảm thấy mình nhỏ bé Và đôi lúc, họ cảm thấymột cái gì đó như mất mát, như ngậm ngùi, nuối tiếc Hoa đào mỗi năm lại trổhoa như cũ, hoa đào vẫn còn đó nhưng người xưa bây giờ ở đâu?

Khứ niên kim nhật thử môn trungNhân diện đào hoa tương ánh hồngNhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu xuân phong

(Năm ngoái hôm nay trong cửa này

Mặt người và hoa đào màu hồng ánh lẫn nhau Mặt người không biết đi đâu

Hoa đào vẫn cười trước gió xuân cũ)

(Thôi Hộ)Đến Thơ mới, quan niệm về thế giới và con người đã có nhiều thay đổi LưuTrọng Lư đã nói về sự thay đổi ấy: “Các cụ ta thích cái bóng trăng vàng vọt

Trang 4

trên mặt nước, ta lại chỉ thích cái ánh mặt trời buổi sáng lấp lánh, vui vẻ đầungọn tre xanh Các cụ ta chỉ ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanhnhạt Một dòng máu chảy làm cho các cụ rùng mình thì một quan tài phát giấy

đỏ, lững thững đi giữa bóng mặt trời trưa lại làm cho ta rởn óc Các cụ bângkhuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà gáy lúc đúng ngọ.Nhìn một cô gái xinh xắn ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi, tathì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụchỉ là sự hôn nhân, với ta thì trăm hình muôn trạng” Và Lưu Trọng Lư cũng đãgiải thích cái sự khác nhau đó: “Các cụ xưa sống trong một cuộc đời giản dị,

êm đềm, sinh hoạt dễ dàng, tiếp xúc ít ỏi cho nên tâm hồn của các cụ cũng đơn

sơ nghèo nàn, phẳng lặng, khô khan như cuộc đời của các cụ”

Quả vậy! Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX chứng kiến nhiều cuộc biến đổi sâusắc về kinh tế, chính trị, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ Dưới tác động của văn hoáPhương Tây, đặc biệt là văn hoá Pháp, văn học Việt Nam thời kỳ này có nhiềucái “mới”

Quan niệm về thế giới và về con người đã có nhiều thay đổi Nhưng không phải

là sự thay đổi nhanh chóng, đột ngột Không phải một sớm một chiều có thểphủ nhận tất cả Chính Xuân Diệu đã từng nhìn nhận thế giới tồn tại muôn đời,

ấy là ánh trăng với sự tồn tại mãi mãi:

“Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ”

(Ca tụng)Nhưng nhìn một cách tổng quan, Xuân Diệu nhìn nhận về thế giới và con ngườitrong sự đổi thay Thế giới ấy gắn liền với sự sống, tình yêu và hạnh phúc củacon người Và con người trong thơ Xuân Diệu là một con người “động” Conngười ở đây không phải là con người như trong văn thơ trung đại: buồn, ngậmngùi, nuối tiếc cho nhân gian, thế sự; con người hướng vào cảnh vật thiênnhiên, con người tồn tại không có sự thay đổi mà con người ở đây là con ngườisôi nổi, mạnh mẽ, khát khao sự sống, yêu sự sống đến cháy bỏng Con người ấycần phải tự khẳng định mình, phải nhận thức được vị trí và vai trò của mìnhtrước thế giới ấy:

“Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất

Trang 5

Không có chi bè bạn nổi cùng ta”

(Hy Mã Lạp Sơn)

Cũng chính vì thế, Xuân Diệu luôn sống trong “vội vàng”, gấp gáp

“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”

(Vội vàng)

Và đúng như lời nhận xét: “Thi nhân cơ hồ đã mất hết cái cốt cách hiên ngangngày trước Chữ Ta với họ rộng quá Tâm hồn của họ chỉ vừa thu trong khuônkhổ chữ Tôi Đừng tìm ở họ cái khí phách ngang tàng của một thi nhân đời xưanhư Lý Thái Bạch, trong trời đất chỉ biết có thơ” Con người phải biết tự khẳngđịnh chính mình, thoát ra khỏi cuộc sống tù đọng, tẻ nhạt:

“Lòng rộng quá không chịu khung nào hết Chân tự do đạp phăng cả hàng rào

Ta mong hồn trèo lên những đỉnh cao

Để hóng gió của ngàn phương thổi tới”

Do ảnh hưởng của tinh thần Phi ngã của Nho giáo và Phật giáo nên nhìn chung

“cái tôi” trong văn học Việt Nam thời trung đại chưa có mặt

Đến Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ ít nhiều “cái tôi” đã cómặt nhưng mới chỉ là “cái tôi cựa quậy”, chỉ mới dừng lại ở chỗ xưng tên tựcủa mình trước thiên hạ mà thôi:

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi”

(Mời trầu – Hồ Xuân Hương)

Trang 6

Hay như Nguyễn Du:

“Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữaNgười đời ai khóc Tố Như chăng)

(Độc tiểu Thanh kí)

Lý Hoài Thu cho rằng “Ý thức hệ phong kiến chi phối quan niệm văn chương

đã tạo ra một nền văn học phi ngã theo kiểu Á Đông Một đất nước hàng trămnăm sống lặng lẽ, cam chịu trong những tôn ti trật tự của lễ giáo phong kiến thìviệc khẳng định và đề cao “cái tôi”, cái bản ngã cá nhân được coi là trái đạo”.Chính vì lẽ đó, ngay cả những tình cảm riêng tư cũng phải uốn nắn theo mộtkhuôn mẫu sẵn có

Điều này cũng dễ hiểu Bởi một lẽ các cụ ta ngày xưa chỉ biết hàng ngày đóngcửa thư phòng, nghiền ngẫm sách thánh hiền với những đạo lí truyền lại từngàn đời Nào là “Kinh thi”, nào là “Binh pháp tôn tử”, là “nhân, nghĩa, lễ, trí,tín”, là “tam tòng, tứ đức” các cụ không giao lưu với đời sống bên ngoài,không tiếp xúc nhiều với nhân dân Bên cạnh đó, những tình cảm riêng tư từlâu đã được uốn nắn theo một khuôn khổ có sẵn cho nên chưa có nhà văn, nhàthơ nào dám đi sâu vào những khía cạnh tâm hồn, chưa đào xới được nhữngbiểu hiện hết sức phong phú đa dạng của đời sống tình cảm của con người nênbức thành phong kiến vẫn ăn sâu bám chặt, neo lại một cách vững chắc trongquan niệm của một lớp nhà văn nhà thơ ấy Chính vì lẽ đó “cái tôi” cá nhânchưa có điều kiện phát triển Con người phải sống lặng lẽ, cam chịu trong mộtkhuôn khổ có sẵn cho đến hết cuộc đời

Đến phong trào Thơ mới 1932 – 1945, “cái tôi” cá nhân có điều kiện phát triển

và phát triển một cách nhanh chóng, mạnh mẽ hơn bao giờ hết Hoài Thanh gọiđây là “một thời đại mới trong thơ ca” Công cuộc khai thác thuộc địa của thựcdân Pháp những năm đầu thế kỷ XX đã làm cho xã hội Việt Nam biến đổi mộtcách sâu sắc “Một cơn gió mạnh bỗng từ xa thổi đến Cả nền tảng xưa bị mộtphen điên đảo, lung lay Sự gặp gỡ Phương Tây là một biến thiên lớn nhấttrong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”

Trang 7

Xã hội Việt Nam xuất hiện nhiều giai cấp, tầng lớp mới Từ đó nảy sinh một bộphận văn học mới phù hợp với những nhu cầu tâm lí, cách sống mới Trong đóphải kể đến là nhu cầu thoát ra khỏi những khuôn khổ của tình cảm ngày mộttrở nên gay gắt và bắt đầu đến cao trào Thanh niên thời này đã tự ý thức đượcrằng họ “không còn có thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước,yêu ghét giận hờn nhất nhất như ngày trước” Họ đi tìm cái bản ngã của mình,cái “thành thực” của mình Họ có khát vọng được bày tỏ, được nói lên nhữngđiều sâu kín nhất trong tâm tư, tình cảm của mình Và “một cuộc cách mạngtrong thơ ca” đã bắt đầu Đó là cuộc cách mạng với mục đích cuối cùng là sựgiải thoát cho “cái tôi” Giúp “cái tôi” ấy tự đứng lên, tự khẳng định mình trongcuộc sống một cách táo bạo, chân thành, sôi nổi và tha thiết.

Trong cuốn “thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh đã nhận định: “Tôi quyết rằngtrong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa có một thời đại nào phong phú như thời đạinày Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mởnhư Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trongsáng như Nguyễn Nhật Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính,

kì dị như Chế Lan Viên và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” Mỗinhà Thơ mới một dáng vẻ, một tính cách Nhưng họ đã gặp nhau một điểm: đó

là họ đã nói lên một cách rất đầy đủ “những tính tình và cảm giác của tâm hồn

ta ở thời đại mới” (Huy Cận)

Vậy “cái tôi” trong thơ Xuân Diệu có gì đặc biệt?

Có thể nói rằng Xuân Diệu là một trong những nhà thơ đi tiên phong trong việc

đề cao con người cá nhân trong thời đại mình “Cái tôi” của Xuân Diệu là cáitôi độc đáo, mới mẻ là cái tôi yêu thương con người và cuộc sống thiết tha

Đề cao sự tồn tại của con người

Như trên đã nói: cái tôi trong Thơ mới vừa thể hiện được niềm vui ước mơ,khát vọng sống, vừa mang một nỗi cô đơn như đã trở thành “nghiệp dĩ” với sốphận con người

Cái buồn trong Thơ mới là cái buồn phổ biến “Đời chúng ta nằm trong vòngchữ tôi Mất bề rộng, ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng thấy lạnh Cả

Trang 8

trời thực trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta Thực chưa bao giờ thơ Việt Nambuồn và nhất là xôn xao như thế”.

Ấy là Vũ Đình Liên với những nỗi niềm hoài cổ trong “Ông đồ”, là NguyễnBính, Anh Thơ gắn liền với luỹ tre làng, dòng sông, bến đò xưa, là Thế Lữ nuôigiấc mộng lên tiên với Bồng lai, Hạc trắng, là Chế Lan Viên với ước muốnđược ẩn mình trong tinh cầu giá lạnh Ấy là Lưu Trọng Lư chìm đắm trong tìnhyêu, là Thâm Tâm ấp ủ giấc mộng ly khách một sáng qua sông không trở lại…Mỗi nhà thơ đều tìm cho mình một cách thoát ly riêng để trốn đời Nỗi buồncủa họ thật đáng thương Bởi họ mang trong lòng tình yêu thiên nhiên, quêhương, đất nước nhưng “họ bị giam hãm trong một môi trường thiếu nănglượng, thiếu chất đốt trong lòng tin” Họ chưa đủ sức dấn thân vào con đườngcách mạng, họ chưa thực sự gần gũi với nhân dân

Riêng Xuân Diệu, con người yêu đời yêu cuộc sống tha thiết ấy không đi đâu

cả mà ở lại với cuộc đời thực của mình Bởi:

“Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn Làm dây da quấn quýt cả mình xuân Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần Chân hoá rễ để hút mùn dưới đất”

(Thanh niên)Mặc dù, trước đây có lần Xuân Diệu đã quan niệm:

“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”

Cao hơn hết vẫn là một tấm lòng yêu đời, yêu cuộc sống, khát khao giao cảmvới đời một cách nồng cháy, thiết tha Xuân Diệu là “một người của đời, mộtngười ở giữa loài người Lầu thơ của ông xây trên đất của một tấm lòng trầngian Ông đã không trốn tránh mà còn quyến luyến cõi đời” (Thế Lữ)

Chính vì thế mà “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ Ta phiêu lưu trong trường tìnhcùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên nhưngđộng tiên đã khép, tình yêu không bền, say đắm rồi tỉnh, tỉnh lại bơ vơ XuânDiệu đã đốt cảnh bồng lai và đưa ai nấy về hạ giới”

Trang 9

Bởi trần gian là thiên đường Là nơi đẹp nhất của cuộc đời Không nêntìm kiếm đâu xa xôi những ảo tưởng Mà hãy tìm niềm vui ngay chính nơimình đang sống Nơi ấy có con người, là trung tâm của vũ trụ, là đẹp nhất trênhết thảy.Với ông, chỉ có cuộc sống trần gian mới tạo được niềm say mê quyếnluyến Và ông đã tìm đủ mọi cách để níu kéo, để quấn quýt lấy cuộc đời và conngười Ta bỗng nhớ đến Tago Nhà thơ lỗi lạc của nhân dân Ấn Độ Tago cũngcho rằng cuộc đời thực của chúng ta là thiên đường Và trong thiên đường ấy,con người là đẹp nhất, là cao quý nhất Thiên đường không phải tìm đâu xa xôi.Thiên đường ngay trong chính trái tim người mẹ, là nụ cười, là vòng tay âuyếm của người mẹ, là vẻ đẹp của thiên nhiên, là trong ánh mắt ngây thơ của trẻ.Tago đã kêu gọi người dân Ấn Độ - những con người bọ bao phủ bởi tôn giáo –những con người suốt cuộc đời thân hành trên những con đường dài để đến vớidòng nước thiêng liêng của sông Hằng, những con người tự nguyện sống cuộcđời khổ hạnh để được lên thiên đàng, được đến cõi siêu nhiên – trở về với cuộcsống thực với trần gian Về đặc điểm này giữa Xuân Diệu và Tago có sự gặp gỡtương đồng dù hai nhà thơ ở hai thời đại và hai đất nước khác nhau.

Vậy con người trong thơ Xuân Diệu như thế nào? Có những điểm gì nổi bật?Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng “ý nghĩa nhân bản lớn của tư tưởng Xuân Diệu

đó là ông muốn khẳng định cái tôi của mình trong niềm khao khát được hoànhập với cuộc đời chứ không lẩn trốn cuộc đời Xuân Diệu đề cao sự tồn tạicủa con người Con người trong thơ Xuân Diệu trước hết là con người cá nhânđầy ý thức về sự tồn tại của mình, là một thực thể độc lập trong vũ trụ”

Đối với Xuân Diệu, con người đang sống, đang hiện hữu là một tiểu vũ trụ tồntại trong đại vũ trụ của thiên nhiên chứ không lẫn vào thiên nhiên như quanniệm trước đây:

“Ta đứng đây vĩnh viễn giữa mùa đông Tuyết trên đầu vĩnh viễn choá từng không Trán vĩnh viễn nặng mai sầu trái đất

Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta Bởi ghen trời, ta ngạo nghễ xông pha”

Trang 10

(Hi Mã Lạp Sơn)Hay:

“Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi”

(Vội vàng)Một ước muốn táo bạo, muốn đoạt quyền tạo hoá Muốn làm chủ thiên nhiên,muốn “buộc nắng, tắt gió” để khẳng định mình, khẳng định cái tôi tồn tại trongcuộc đời này như là một sự tự ý thức đầy đủ về bản thân mình Ở đây conngười làm chủ thiên nhiên Con người to lớn, vĩ đại chứ không phải là conngười nhỏ bé trong thơ xưa nữa Và những con người ấy, đôi khi, sự ý thức vềmình của họ đến độ nghênh ngang, ngạo nghễ:

“Lòng rộng quá chẳng chịu khung nào hết Chân tự do đạp phăng cả hàng rào”

(Mênh mông)

Lấy vẻ đẹp của con người làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của thế giới

Xuân Diệu đề cao con người, khẳng định con người là trung tâm của thế giới,của vũ trụ Và trong cái thế giới ấy, con người là đẹp nhất, là mẫu mực, làthước đo Đây là một cách tân nghệ thuật tiêu biểu của phong trào thơ mới màXuân Diệu là người đi tiên phong “Xuân Diệu đã lấy con người làm chuẩnmực cho vẻ đẹp của thế giới, của vũ trụ”

Trong thơ ca truyền thống, do ảnh hưởng của nghệ thuật ước lệ, tượng trưngnên khi miêu tả con người, các nhà văn, nhà thơ thường dùng hình ảnh củathiên nhiên Thế giới tự nhiên được xem là chuẩn mực là thước đo cho conngười

Chẳng hạn khi miêu tả những cô gái đẹp thì dùng: mây, tuyết, núi, hoa

“Làn thu thuỷ nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”

(Nguyễn Du) Miêu tả những trang anh hùng hảo hớn thì dùng :

Trang 11

“Râu hùm, hàm én mày ngài Vai năm tấc rộng thân mười thước cao”

(Nguyễn Du)Đến Xuân Diệu, ông đã đảo ngược trở lại Trong con mắt thẩm mỹ của nhà thơ,

vẻ đẹp của con người đã trở thành thước đo, chuẩn mực cho thế giới:

“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

(Vội vàng)Hay :

“Lá liễu dài như một nét mi”

( Nhị hồ )Hay:

“Em đẹp quá khi mày em nhíu lại Cặp mày xanh như rừng biếc chen cây”

Con người là chủ thể của thế giới Vẻ đẹp của con người là chuẩn mực của vẻđẹp của thế giới Con người chính là trung tâm của vũ trụ bao la Đó là quanniệm mới mẻ, đầy chất nhân văn trong thơ trữ tình Xuân Diệu

Thiên nhiên, tạo vật không chỉ mang nét đẹp, nét duyên của con người mà cònmang cả niềm vui, nỗi buồn, hành động của con người Hành động của conngười trở thành chuẩn mực của thiên nhiên:

“Cánh hồng kết những nụ cười tươi”

(Nụ cười xuân)Hay:

“Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối Vài tiếng đêm u uất lẫn trong cành”

(Tương tư chiều)

Vì luôn đề cao con người cá nhân mà trong thơ Xuân Diệu luôn đầy ắp hìnhảnh của âm:“Những thanh sắc của thời tươi”:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến oanh này đây khúc tình si

Trang 12

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

(Vội Vàng)Thiên nhiên cảnh vật trong thơ ông bao giờ cũng thấm đẫm chất say mê củacuộc đời trần gian vì trần gian chính là thiên đường tốt nhất, đáng được hưởngthụ nhất “Cái tôi” trong thơ Xuân Diệu không chỉ biết có mình mà còn là một

“cái tôi” rộng mở đối với cuộc đời Cái tôi ấy “phơi trải”, “trình bày”, “mờimọc”:

“Khách ngồi lại cùng em đây gối lả Tay em đây mời khách ngả đầu say Đây rượu nồng và hồn của em đây

Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử”

(Lời kĩ nữ)Cái tôi ấy luôn rộng mở với cuộc đời, mong mỏi được giao cảm với những tâmhồn đồng điệu:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều…”

Trong bài “Lời kĩ nữ” ông đã miêu tả sâu sắc nỗi lòng cô đơn của người kĩ nữ:

Ngày đăng: 01/09/2021, 08:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w